Phá HÀNH
Giải
thích đề tựa
HÀNH
có 2 nghĩa : Thiên lưu và tạo tác. THIÊN LƯU là chỉ cho sự
lưu chuyển biến dịch không ngừng của pháp hữu vi. TẠO
TÁC là chỉ cho sự tạo tác của thân, khẩu và ý. Vì thế
luận Đại Trí Độ ghi “Phật có khi nói hết thảy pháp
hữu vi đều là hành, hoặc có khi nói 3 hành là thân hành,
khẩu hành và ý hành”. HÀNH trong phẩm này nói về pháp hữu
vi và sự chuyển dịch không ngừng của nó. Sự chuyển dịch
đó nói lên mặt không tánh của vạn pháp. Không tánh thì
như mộng huyễn. Song ta không thấy được tính huyễn mộng
ấy, vẫn cho pháp hữu vi là CÓ, sự chuyển dịch là lẽ tự
nhiên. PHÁ, để nêu bày thực tướng của chúng.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
如佛經所說
Như kinh Phật đã nói
虛誑妄取相
Pháp bị cướp là dối
諸行妄取故
Các hành bị cướp đoạt
是名為虛誑
Cho nên là hư dối (1)
虛誑妄取者
Hư dối bị cướp đoạt
是中何所取
Cái gì bị cướp đoạt
佛說如是事
Phật dạy việc như thế
欲以示空義
Muốn chỉ bày nghĩa không (2)
PHÁP
BỊ CƯỚP là chỉ cho việc vạn pháp bị vô thường chi phối.
Nói vô thường là Phật muốn nêu bày nghĩa không của vạn
pháp. Vì sao? Vì vô thường là không thường. Nếu có tánh
thì pháp phải thường. Nhưng pháp không thường, nên biết
pháp không tánh.
諸法有異故
Vì các pháp có khác
知皆是無性
Biết đều là không tánh
無性法亦無
Pháp không tánh cũng không
一切法空故
Vì tất cả pháp không (3)
CÓ
KHÁC là nói đến sự biến dị thay đổi liên tục ở vạn
pháp. Nếu pháp có tánh thì tướng sẽ duy nhất và thường
trụ, không xảy ra tình trạng thay đổi liên tục từ nhỏ
đến lớn, từ trẻ đến già, từ sanh đến diệt, như tướng
của vạn pháp hiện nay. Vì vậy biết pháp là không tánh.
Nên nói “Vì các pháp có khác, biết đều là không tánh”.
Song
nói KHÔNG TÁNH là do đối với CÓ TÁNH mà nói, không phải
pháp thực không tánh. Nếu cho pháp thực không tánh là ta đã
chấp CÓ một cái không tánh. Tức đã đi ngược lại với
pháp không tánh, nên nói “Pháp không tánh cũng không, vì tất
cả pháp không”. Vì tất cả pháp không, nên ngay cái không
tánh ấy cũng phải không. Nghĩa là, không tánh cũng không,
mà có tánh cũng không.
諸法若無性
Nếu các pháp không tánh
云何說嬰兒
Làm sao nói anh nhi?
乃至於老年
Cho đến lúc lão niên
而有種種異
Mà có các thứ khác? (4)
Đây
là nghe nói VÌ CÁC PHÁP ĐỀU KHÔNG, liền nghĩ ngay đến cái
thực không đối với thực có, tức rơi vào ngoan không, nên
mới lý luận “Nếu các pháp không tánh, làm sao …” : Mọi
thứ nếu không, làm sao vạn pháp có thể xuất hiện và biến
dịch như hiện nay? Làm sao con nít có thể thành thiếu niên
rồi thành người già mà vẫn giữ nguyên bản chất của nó?
若諸法有性
Nếu các pháp có tánh
云何而得異
Làm sao mà khác được
若諸法無性
Nếu các pháp không tánh
云何而有異
Làm sao mà có khác (5)
Cho
các pháp là không, thì trái với sự hiện khởi lưu chuyển
hiện nay của vạn pháp. Nhưng nếu cho các pháp là có, thì
tướng phải duy nhất và thường trụ. Nếu tướng đã duy
nhất và thường trụ, thì cũng không có sự thay đổi từ
nhỏ đến già, từ sanh tới diệt v.v… như hiện nay. KHÁC
là chỉ cho sự biến khác đó.
Tóm
lại, nếu khẳng định pháp không tánh, thì không thể có
sự thay đổi tướng trạng như hiện nay. Nếu khẳng định
pháp có tánh, cũng không thể có sự thay đổi tướng trạng
như hiện nay. Vì thế biết, thực tướng của vạn pháp không
thuộc phạm trù CÓ TÁNH hay KHÔNG TÁNH.
是法則無異
Pháp ấy thì không khác
異法亦無異
Pháp khác cũng không khác
如壯不作老
Như tráng không tạo lão
老亦不作壯
Lão cũng không tạo tráng (6)
若是法即異
Nếu pháp ấy là khác
乳應即是酪
Sữa nên chính là lạc
離乳有何法
Lìa sữa có pháp gì
而能作於酪
Mà hay làm ra lạc? (7)
Đây
là nói lên mối liên quan biến dịch ở một pháp. Đưa ra
PHÁP ẤY và PHÁP KHÁC là muốn nêu bày thực tướng KHÔNG
MỘT CŨNG KHÔNG KHÁC của vạn pháp.
Trẻ
con, thành tráng niên, rồi thành người già. Sự thay đổi
đó không phải chỉ nằm ở ba thời điểm con nít, tráng niên,
người già, mà là một quá trình sanh diệt sanh diệt liên
tục từ con nít đến người già. Song lấy 3 tướng đó làm
chính để dễ luận.
Phá
cái CHẤP MỘT : Tướng con nít, khác tướng tráng niên, khác
tướng người già, nhưng nó lại là 3 tướng của một anh
A. Nếu mình cho anh A là thực, tức có tánh, thì tướng của
nó sẽ duy nhất và thường trụ. Con nít sẽ mãi là con nít,
không có sự biến dịch qua tráng niên rồi đến người già.
Vì thế, tuy 3 tướng đó là của CÙNG MỘT anh A, nhưng nếu
CHẤP MỘT, thì không được. Nên nói “Pháp ấy thì không
khác”. PHÁP ẤY là muốn nói nếu anh A là một thực thể,
thì không có sự biến khác như thế.
Phá
cái CHẤP KHÁC : Không một như thế, nhưng nói ba tướng
đó khác cũng không được. Vì sao? Vì tuy thấy khác nhưng
tướng trước lại là NHÂN làm ra tướng sau. Không có tướng
trước thì không có tướng sau. Là nhân quả của nhau, nên
QUẢ không thể khác NHÂN tạo ra quả đó. Tráng niên không
thể khác con nít, người già không thể khác tráng niên. Đây
là phá cái chấp khác, hiển cái KHÔNG KHÁC ở một pháp. Vì
cái không khác này mà không thể nói tráng niên tạo ra lão
niên. TẠO là chỉ cho hai thực thể khác nhau làm ra nhau. Không
thể tạo nhau mà chỉ nối kết với nhau theo nhân duyên. Nhân
duyên thì KHÔNG MỘT mà KHÔNG KHÁC. Đây là một dạng của
BÁT BẤT, là thực tướng của hành. Cũng là thực tướng
của pháp hữu vi.
Lạc
do chưng cất v.v… mà thành sữa. Như ngày nay làm sữa đậu
nành. Lấy đậu nành đem xay, vắt và nấu chín mà thành sữa.
Đậu nành là nhân. Xay, vắt và nấu chín là duyên. Sữa là
quả. Chúng hình thành theo quan hệ nhân duyên. Đậu nành không
phải là sữa đậu nành, nên KHÔNG MỘT. Tuy không phải một,
nhưng không có đậu nành thì sữa đậu nành cũng không. Do
cái lẹo tẹo đó, nên nói KHÔNG KHÁC. Bởi nếu khác, thì
không có đậu nành, vẫn có sữa. Nhưng không có đậu nành,
thì không có cái gì làm ra sữa. Nên biết chúng không khác.
Đó là thực tướng giữa đậu nành và sữa. Cũng là thực
tướng của vạn pháp ở thế gian. Bất cứ pháp nào ở thế
gian, cũng KHÔNG MỘT KHÔNG KHÁC với NHÂN của nó. Dùng thí
dụ này để biện cho vấn đề già trẻ nói trên.
若有不空法
Nếu có pháp bất không
則應有空法
Thì nên có pháp không
實無不空法
Thực không pháp bất không
何得有空法
Làm sao có pháp không? (8)
大聖說空法
Đại thánh nói pháp không
為離諸見故
Vì để lìa kiến chấp
若復見有空
Nếu lại thấy có không
諸佛所不化
Chư Phật khó hóa độ (9)
PHÁP
BẤT KHÔNG, nghịch lại với PHÁP KHÔNG. Chúng được hình
thành do sự tương quan đối đãi mà ra. Có cùng có, không
cùng không. Như nói tay này là tay trái, thì ắt phải có tay
phải mới nói đến tay trái. Nếu chỉ có một, như một cái
đầu thì không thể nói là đầu phải hay đầu trái, chỉ
gọi là đầu. Thực tánh của vạn pháp vốn KHÔNG, nhưng chúng
sanh lại cho là CÓ, nên mới nói KHÔNG để phá. Nếu không
lập CÓ, thì cũng không nói KHÔNG. Nếu phá CÓ mà lập KHÔNG,
thì không khác gì lập cái CÓ kia.
KIẾN
CHẤP là chỉ cho quan niệm, định kiến. Kiến chấp thì nhiều
nhưng không ra ngoài CÓ và KHÔNG. Chính các kiến chấp này
mà chúng sanh tạo nghiệp luân chuyển trong tam giới. Chấp
CÓ thì nói KHÔNG để phá. Chấp KHÔNG thì nói CÓ để phá.
Không phải vì bản chất của pháp là KHÔNG hay là CÓ. CÓ
hay KHÔNG là tùy duyên. Nó chỉ là hai mặt thể hiện cho bản
thể không. Tuy nói bản thể không, mà bản thể ấy KHÔNG
CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG. Vì thế, nếu bỏ CÓ mà chấp KHÔNG thì
vẫn bệnh. Phật tánh chỉ hiển lộ khi mọi kiến chấp đã
hết, nên nói “Nếu lại thấy có không, chư Phật khó hóa
độ”.