Phá BỔN
TẾ
BỔN
TẾ là chỉ cho cội nguồn sanh ra muôn pháp. BỔN chỉ cho cái
ban đầu, cái gốc. TẾ là bờ mé. Một trong 30 ngoại đạo
thời cổ cho rằng “Kiếp quá khứ có bổn tế, từ đó sanh
vạn vật”. Điều này không đúng nên PHÁ.
大聖之所說
Đức Đại thánh dạy rằng
本際不可得
Bổn tế bất khả đắc
生死無有始
Sanh tử không có đầu
亦復無有終
Cũng không có cuối cùng (1)
若無有始終
Nếu không có đầu cuối
中當云何有
Ở giữa làm sao có
是故於此中
Thế nên cái giữa và
先後共亦無
Trước, sau thảy đều không (2)
ĐẠI
THÁNH, chỉ cho Phật. Ngài dạy rằng “Trải qua vô lượng
kiếp sanh tử, xương của mỗi chúng sanh có thể chất thành
núi cao, nước mắt có thể nhiều bằng nước biển cả. Như
vậy, từ vô lượng kiếp chúng sanh đã phải thọ vô lượng
khổ. Nhưng nếu tìm đầu mối thì đầu mối bất khả đắc.
Chỉ vì vô minh che lấp, ái kiết ràng buộc mà phải qua lại
trong sanh tử”. Dù thấy chúng sanh xuất hiện, nhưng tìm chỗ
khởi đầu thì không được. Vì sao? Vì sanh tử không thực
có, chỉ như ngủ rồi mộng. Tỉnh dậy liền không. Ngoại
đạo không biết, cho là có bổn tế sanh ra các pháp. Thực
ra “Pháp ấm giới nhập vốn từ 3 đời duyên khởi mà thực
là do vô minh bất giác. Ở trên tự tâm, không có tánh sanh”
[23].
BẤT
KHẢ ĐẮC, có vị dịch là KHÔNG THỂ NẮM BẮT. Nghĩa là,
nó không có chất thực để ta nắm bắt như nắm vật trong
bàn tay.
Cách
phá
Luận
chủ chứng minh cho ta thấy SANH và TỬ không thực có bằng
cách nêu SANH và TỬ thực có. Trên cái nhân SANH và TỬ thực
có đó mà biện. Nếu đưa đến nghịch lý, thì xem như chứng
minh được SANH và TỬ không thực có.
Khi
cho sanh tử thực có, thì SANH và TỬ này không hình thành theo
quan hệ Duyên khởi “Có cùng có, không cùng không” mà chúng
có thể tồn tại độc lập với nhau. Nghĩa là, SANH có thể
có trước, có sau và có đồng thời với TỬ mà không dính
gì đến TỬ. Đây là ứng dụng tính chất của pháp có tự
tánh.
Hỏi
: SANH có trước LÃO TỬ thì sao?
若使先有生
Giả sử trước có sanh
後有老死者
Sau mới có lão tử
不老死有生
Không lão tử có sanh
不生有老死
Không sanh có lão tử (3)
Chỉ
là giả thiết, nên nói GIẢ SỬ.
Hai
câu đầu cho thấy SANH và TỬ là pháp có tự tánh. Có tự
tánh thì SANH có thể tồn tại độc lập mà không cần có
LÃO TỬ. LÃO TỬ cũng vậy. Nên nói “Không lão tử có sanh,
không sanh có lão tử”. Trên thực tế, ai muốn TỬ đều
phải có mặt (sanh), sau mới nói TỬ. Không thể có TỬ mà
không có SANH. Nghịch lý này cho thấy : Sanh có trước lão
tử là không đúng.
Nói
SANH và TỬ nhưng đây lại thêm LÃO vì thường từ SANH đến
TỬ còn giai đoạn LÃO.
Tóm
lại, tuy hiện nay mình thấy sanh có trước, tử có sau, nhưng
những hình thức đó không có tự tánh. Nếu có tự tánh thì
SANH thường trụ. Thường trụ thì không có TỬ. Nhưng ở
thế gian sanh tử đi liền đôi.
Hỏi
: Nếu LÃO TỬ có trước, SANH có sau thì sao?
若先有老死
Nếu trước có lão tử
而後有生者
Mà sau mới có sanh
是則為無因
Ấy ắt là vô nhân
不生有老死
Không sanh có lão tử (4)
LÃO
TỬ có trước, SANH có sau, thì SANH không phải là nhân của
LÃO TỬ. Không nhân mà có quả, việc ấy là không đúng. Thực
tế thì, không SANH thì không thể có LÃO TỬ. Đây là nghịch
lý thứ hai.
Hỏi
: Nếu đồng thời thì sao?
生及於老死
Sanh cùng với lão tử
不得一時共
Không được đồng thời chung
生時則有死
Khi sanh mà có tử
是二俱無因
Cả hai đều vô nhân (5)
Đồng
thời thì như sừng trâu đồng hiện, cái này không thể là
nhân của cái kia. Không nhân mà có quả, việc ấy cũng không
đúng. Thực tế là, không ai có thể vừa sinh, vừa già, lại
vừa chết. Đây là nghịch lý thứ ba.
若使初後共
Nếu trước sau gom lại
是皆不然者
Thảy đều là không đúng
何故而戲論
Vì sao lại hí luận
謂有生老死
Nói có sanh lão tử? (6)
“Nếu
trước sau gom lại” là chỉ cho cả 3 trường hợp vừa nêu
trên.
“Thảy
đều là không đúng”, vì đều dẫn đến nghịch lý khi đối
chiếu với thực tế.
Sanh
tử không tự tánh, mà lại nói CÓ , nên nói HÍ LUẬN.
諸所有因果
Các thứ thuộc nhân quả
相及可相法
Và năng tướng sở tướng
受及受者等
Cả thọ và thọ giả
所有一切法
Cùng hết thảy các pháp (7)
非但於生死
Chẳng những chỉ sanh tử
本際不可得
Bổn tế không thể được
如是一切法
Như vậy tất cả pháp
本際皆亦無
Bổn tế cũng đều không (8)
Nhân
và quả, năng tướng và sở tướng, thọ và thọ giả là
chỉ cho những pháp có quan hệ Duyên khởi với nhau. Tất cả
những gì xuất hiện ở thế gian đều hình thành theo quan
hệ Duyên khởi, nên nói “Cùng hết thảy các pháp”. Chẳng
riêng gì sanh tử mà tất cả những gì hình thành theo quan
hệ duyên khởi đều không có bổn tế.
Hỏi
: Trong nhà Phật cũng có nói đến bổn tế, vì sao lại phá
bổn tế?
Đáp
: Trong nhà Phật cũng có đề cập đến bổn tế nhưng nhà
Phật không chấp nhận bổn tế là một cái gì hữu hình,
hữu tướng, thường trụ như ngoại đạo đã chấp. Cũng
không chấp cái không hình, không tướng đối lại với cái
có hình, có tướng ấy.
Chấp
BỔN TẾ có hình, có tướng nên mới nói đến TÁNH SANH sanh
ra các pháp, tức cho các pháp sanh ra là thực. Chấp BỔN TẾ
không hình, không tướng mới cho vạn pháp đều không, không
nhân, không quả, rơi vào cái kiến đoạn diệt. Hai cái chấp
ấy đều không đúng với thực tại, xa hẳn tinh thần đức
Phật đã nói, nên phá.
Các
pháp vẫn hiện thấy đây, nên KHÔNG PHẢI KHÔNG, tức không
rơi vào đoạn kiến. Chỉ do tự tâm bất giác mà hiện như
bóng trong gương, trăng dưới nước, không có thực thể, nên
KHÔNG PHẢI CÓ, tức không phải thường kiến. Tuy nói tánh
của vạn pháp là không. Nhưng muốn nhận được cái không
này thì tâm phải VÔ TRỤ, tức không chấp trước vào có,
không, sanh, tử v.v… mới có thể thấu được cái không này.
Vì thế, chỉ yếu tu hành của người tu Phật là KHÔNG CHẤP,
dù đó là chánh pháp chăng nữa. Bởi một khi còn chấp là
còn thấy cái được chấp ấy là thực. Song các pháp thì
không thực.
Không
chấp là chỉ yếu tu hành nên còn chấp là còn phá : Chấp
Phật thì phá Phật, chấp bổn tế thì phá bổn tế, chấp
tánh không thì phá tánh không. Phá tất cả để hiển bày
bản chất của tất cả.