Phá TÁC
- TÁC GIẢ
TÁC
GIẢ là chỉ cho chủ thể tạo tác. TÁC, chỉ cho tác nghiệp,
là hành động tạo tác. Có tác giả mới có tạo tác. Ngược
lại, nhờ có hành động tạo tác mới thấy có người tạo
tác. Chúng là một cặp duyên khởi - không tánh.
Như
tên ăn trộm. Tên ăn trộm là tác giả. Hành động ăn trộm
là tác nghiệp. Có người ăn trộm, hành động ăn trộm mới
hiện hành. Có hành động ăn trộm, mới gọi chủ thể thực
hiện hành động đó là người ăn trộm. Không có người
ăn trộm thì không có hành động ăn trộm. Không có hành động
ăn trộm, cũng không có người ăn trộm. Cả hai nương nhau
mà khởi như thế nên nói DUYÊN KHỞI. Nói KHÔNG TÁNH vì nếu
có tánh thì chúng tự có, duy nhất và thường trụ, tức chúng
không nương nhau hiện hành. Nhưng người ăn trộm và hành
động ăn trộm phải nương nhau mới có, nên biết chúng không
tánh.
Khi
CHẤP CÓ tác giả hoặc KHÔNG tác giả - tức cho chúng có tự
tánh - thì xảy ra các việc sau :
決定有作者
Tác giả quyết định có
不作決定業
Không tạo nghiệp quyết định
決定無作者
Tác giả quyết định không
不作無定業
Không tạo nghiệp vô định (1)
決定業無作
Quyết định nghiệp vô tác
是業無作者
Nghiệp ấy không tác giả
定作者無作
Định tác giả vô tác
作者亦無業
Tác giả cũng không nghiệp (2)
NGHIỆP
: Hành động
Tác
giả QUYẾT ĐỊNH CÓ, QUYẾT ĐỊNH KHÔNG, là cho tác giả thực
có hay thực không. Nếu vậy sẽ xảy ra trường hợp là không
có tác nghiệp. Vì sao? Vì có tánh thì pháp tồn tại độc
lập.
QUYẾT
ĐỊNH NGHIỆP, là cho nghiệp có tự tánh. Đây cũng dựa vào
tính chất ĐỘC LẬP của tự tánh mà biện. Độc lập thì
không có tác giả mà nghiệp vẫn xuất hiện. Nghĩa là, không
có chủ thể mà hành động ăn trộm vẫn có. Không cần nương
vào tác nghiệp mà tác giả vẫn hình thành. Tức không có
hành động ăn trộm mà vẫn gọi người đó là người ăn
trộm. Điều này so với thực tế thì không đúng.
Như
vậy, tác giả và tác nghiệp không thể thành lập nếu ta
gắn cho chúng tánh CÓ hay KHÔNG.
Hỏi
: Nếu có tự tánh mà tác giả và tác nghiệp vẫn có thì
sao?
若定有作者
Nếu quyết có tác giả
亦定有作業
Cũng quyết có tác nghiệp
作者及作業
Tác giả và tác nghiệp
即墮於無因
Liền rơi vào vô nhân (3)
VÔ
NHÂN là không có nhân. Nếu cả hai cùng có mà đều có tự
tánh thì cái này không phải là nhân của cái kia, nên nói
VÔ NHÂN.
若墮於無因
Nếu rơi vào vô nhân
則無因無果
Thì không nhân không quả
無作無作者
Không tác không tác giả
無所用作法
Không sở dụng tác pháp (4)
若無作等法
Nếu không tác, tác pháp …
則無有罪福
Thì không có tội phước
罪福等無故
Vì tội phước … đều không
罪福報亦無
Báo tội phước cũng không (5)
若無罪福報
Nếu không báo tội phước
亦無有涅槃
Cũng không có niết bàn
諸可有所作
Những cái có thể tác
皆空無有果
Đều không, không có quả (6)
Đây
là hệ quả nhận được khi pháp rơi vào vô nhân. Không nhân
thì không quả. Không quả thì không nhân. Đó là qui luật
tất yếu của luật Nhân quả. Nghĩa là, nếu tác giả và
tác nghiệp đồng có, mà đều có tự tánh thì cả hai sẽ
… đồng không.
BÁO
là chỉ cho quả báo.
KHÔNG
QUẢ, là không có quả báo tốt đẹp ở các cõi trời người,
cũng không có các cõi xấu ác như ở địa ngục, ngạ quỉ
và súc sanh. Nghĩa là, việc làm phước và tu thiện trở thành
vô ích.
SỞ
DỤNG TÁC PHÁP là chỉ cho những pháp được dùng trong khi
tạo tác. NIẾT BÀN là chỉ cho các cõi giới lành, cũng là
cõi giới của hàng La-hán, Bồ-tát và Phật. Nếu lấy Thập
thiện làm nhân thì tùy mức độ thô tế mà ta có cái quả
là Trời, Thanh văn, Bồ-tát. Nếu Phật tánh là nhân, thì quả
là niết bàn Phật.
Hỏi
: Nếu tác giả và tác nghiệp vừa định vừa không định
thì sao?
作者定不定
Tác giả định vô định
不能作二業
Không thể tạo hai nghiệp
有無相違故
Vì có không trái nhau
一處則無二
Một chỗ ắt không hai (7)
ĐỊNH
và VÔ ĐỊNH là hai tướng trái nhau. Nếu pháp có tự tánh
thì hoặc là có cái này, hoặc là có cái kia, không thể có
trường hợp vừa cái này vừa cái kia.
有不能作無
Có chẳng thể tạo không
無不能作有
Không chẳng thể tạo có
若有作作者
Nếu có tác tác giả
其過如先說
Lỗi kia như trước nói (8)
Đây
là phần tổng kết. Khi khẳng định tác giả và tác nghiệp
là CÓ, thì quả báo tội phước đều KHÔNG. Nhân CÓ
quả KHÔNG là điều vô lý,[20] nên nói “Có chẳng thể
tạo không”. Trên thực tế, vẫn thấy có quả báo, có tội
phúc … thì biết không thể từ một cái KHÔNG mà tạo thành
một cái CÓ, nên nói “Không chẳng thể tạo có”. Những
thứ này đã được lý luận và biện giải trên, nên nói
“Lỗi kia như trước nói”.
作者不作定
Tác giả không tạo định
亦不作不定
Cũng không tạo bất định
及定不定業
Cùng định bất định nghiệp
其過如先說
Lỗi kia trước đã nói (9)
作者定不定
Tác giả định bất định
亦定亦不定
Vừa định vừa bất định
不能作於業
Chẳng thể tạo nên nghiệp
其過如先說
Lỗi kia trước đã nói
(10)
Đây
là tổng kết những phần trên để nêu bày thực tướng của
TÁC và TÁC GIẢ. Khẳng định tác nghiệp và tác giả là CÓ,
là KHÔNG, là VỪA CÓ VỪA KHÔNG đều không thể được. Vì
thực tánh của chúng là KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG.
[21]
因業有作者
Nhơn nghiệp có tác giả
因作者有業
Nhơn tác giả có nghiệp
成業義如是
Thành nghiệp nghĩa như vậy
更無有餘事
Không sự gì khác nữa (11)
TÁC
và TÁC GIẢ chỉ có thể hình thành theo quan hệ nhân duyên.
Nhân duyên thì không tánh.
如破作作者
Như phá tác tác giả
受受者亦爾
Thọ thọ giả cũng thế
及一切諸法
Và hết thảy các pháp
亦應如是破
Cũng nên như thế phá (12)
THỌ
là thọ nhận. THỌ GIẢ là kẻ thọ nhận. Nếu cho thọ, thọ
giả và vạn pháp là CÓ thì cũng theo cách trên mà phá.
Tong
kết
Phẩm
này chủ ý nói về chủ thể và hành động tạo tác. Chúng
tồn tại trong quan hệ Duyên khởi. Đã là Duyên khởi thì
không thể khẳng định là CÓ hay KHÔNG, hay VỪA CÓ VỪA KHÔNG.
Phẩm này nhằm phá đi những cái nhìn thiên lệch hoặc về
bên này hoặc về bên kia của người đời.
Như
có người tin vào thuyết số mạng, chấp nhận số mạng như
một loại định nghiệp có sao chịu vậy, không nghĩ việc
phước thiện có thể cải hóa được vận mạng của mình,
nên buông xuôi theo nghiệp lực. Có người lại sống hoàn
toàn không có nhân quả. Cho mọi hành động đều không, chẳng
có kẻ tạo tác cũng chẳng có tội báo, nên hành nghiệp bất
thiện vô số. Sống với thái độ nghiêng về CÓ hay KHÔNG
như vậy, đều không đúng.
Theo
cái nhìn của đức Phật, nghiệp được chia làm hai loại
: Một là định nghiệp, hai là bất định nghiệp. ĐỊNH NGHIỆP
là loại nghiệp xem như đã đủ duyên, chỉ chờ lãnh quả,
không thể lấy việc thiện ác trong hiện đời thay đổi.
Nếu quả xấu là một loại định nghiệp, thì hiện đời
dù làm thiện bao nhiêu, tu hành chân chánh thế nào, ta vẫn
phải trả loại nghiệp ấy. Như đức Phật trả quả báo
đau đầu. [22] Ngài Mục Kiền Liên bị ngoại đạo lấy đá
đè chết, dù ngài đã chứng quả La-hán. Hiện đời đây,
có những vị mình thấy tu hành chân chánh, nhưng vẫn gặp
những tai nạn ghê rợn, chẳng qua vì cái nhân đã gieo trong
quá khứ là một loại định nghiệp, không hẳn vì đời này
các vị tu hành không chân chánh.
Ngược
lại, nếu quả tốt là một loại định nghiệp thì dù hiện
đời sống ác thế nào, vẫn hưởng được cái quả tốt
đó. Những nhân ác gây tạo trong hiện đời không cản được
cái tốt gieo trong quá khứ đã thành định nghiệp. Đó là
lý do vì sao mình thấy có những vị tà đạo, tàn ác hết
chỗ nói, mà đời sống hiện tại lại quá sung túc phồn
vinh. Chẳng qua là vì cái nhân gieo trong quá khứ là một loại
thiện định nghiệp.
BẤT
ĐỊNH NGHIỆP là loại nghiệp có thể thay đổi theo duyên
hiện đời. Quả xấu có thể được thay đổi nếu hiện
đời ta sống phước thiện chân chánh. Quả tốt có thể thay
đổi, nếu hiện đời ta sống tàn hoại bất nhân. Các pháp
không tánh chỉ tùy duyên hiện tướng như thế, nên tùy hành
động mà có tác giả, quả báo và tội phúc tương ưng. Hành
động chuyển thì quả báo, tội phúc chuyển theo. Bản thân
pháp không có tánh quyết định.
Tuy
có định nghiệp, nhưng lại có bất định nghiệp, nên không
phải ai cũng bị chi phối bởi một số mệnh nhất định
như một số người đã nghĩ, có sao chịu vậy, rồi cúi đầu
cam chịu, không biết lấy việc phước thiện tu hành để
cải hóa. Mọi thứ đều có thể cải hóa nhờ thân, khẩu
và ý thiện. Song sống phước thiện rồi mà thấy vẫn có
những quả xấu không thay đổi, thì biết là đã gặp phải
cái quả định nghiệp. Nhưng dù là định nghiệp, tức cảnh
giới bên ngoài không thể thay đổi, nhưng nếu tâm đã không,
thì cảnh bên ngoài cũng thành không. Nên tuy là định nghiệp,
mà cũng như là bất định, tuy thấy không chuyển mà thật
là đã chuyển.
Song
dù định nghiệp hay bất định nghiệp, tất cả đều bắt
nguồn từ một NHÂN, đủ DUYÊN, cho ra một QUẢ. Tức hình
thành theo quan hệ Nhân duyên. Theo duyên, thì pháp không tánh.
Không tánh thì tuy nghiệp có định và bất định, nhưng thực
tướng của cái định và bất định đó là không. Nói theo
Trung Luận là KHÔNG ĐỊNH CŨNG KHÔNG BẤT ĐỊNH. Đây là một
dạng của BÁT BẤT. Luận tới luận lui gì, chủ yếu chỉ
muốn hiển ra chỗ trọng yếu này. Đó là thực tướng của
tác giả và tác nghiệp, của định nghiệp và bất định
nghiệp.
Trong
đời sống bình thường đây, ta hay có thái độ gắn chặt
tánh cho pháp mà chỉ do một duyên nào đó nó hiện hữu. Như
một lần bắt gặp ai đó lấy trộm đồ của mình. Có khi
chỉ một lần lỡ tay đó thôi, nhưng mình lại có khuynh hướng
lấy luôn hành động nhất thời ấy làm tánh của anh ta. Điều
này được thể hiện rõ mỗi khi mình bị mất đồ. Mất
đồ mà mình nghĩ ngay đến anh ta, tức là mình đã gắn chặt
tánh ăn trộm cho anh ta. Song “Tri kiến lập tri tức vô minh
bổn”. Thấy biết mà dựa vào cái thấy biết đã qua như
thế, gốc của nó là vô minh. Nhìn vạn pháp qua cội gốc
vô minh như thế, nên cuộc sống của ta trở nên phức tạp
và khiến ta nhìn sự vật không còn đúng như chính nó.
Các
pháp vốn không tánh cố định, tùy nhân tùy duyên mà sanh
khởi thay đổi. Như ví dụ ăn trộm trên, có thể ăn trộm
chỉ là một việc nhất thời, vì trong điều kiện khó khăn.
Trong những điều kiện khác anh ta không ăn trộm nữa. Nhưng
ăn trộm cũng có thể là tánh của anh ta, vì nó đã được
huân tập thành thói quen v.v… Do tập quen thành tánh, nên hở
cái là ăn trộm, bất kể duyên chung quanh thế nào. Cho nên,
người mà ta cho là ăn trộm đó, có thể là kẻ ăn trộm
chuyên nghiệp mà cũng có thể không phải kẻ ăn trộm chuyên
nghiệp. Muốn biết chính xác anh ta có ăn trộm không, phải
nhờ vào nhiều duyên khác. Như việc điều tra, phải nương
vào nhiều duyên mới có thể kết luận chính xác về một
hành động phạm tội. Người có trí tuệ là người có thể
nhìn pháp đúng như chính nó trong điều kiện nó đang an trụ,
không bị một niệm chấp trước nào chi phối.
Nhìn
đúng, là nhìn vạn pháp như trong tình trạng nó đang hiện
hình. Như người đang sân, ta thấy người đang sân. Người
tham ta thấy là người tham v.v... Không phải người sân mà
mình thấy thành vui, người tham mình thấy thành sân. Tu để
cuối cùng nhìn mọi thứ đảo lộn như thế thì tu chi cho
cực? Tu là để nhìn đúng thực tánh của vạn pháp. Sân thì
biết đúng là sân, tham thì biết đúng là tham … như Phật
nói, tâm tham biết tâm tham, tâm sân biết tâm sân v.v…
Trong
đời thường, không phải không có lúc ta nhìn đúng hiện
trạng mà pháp đang an trụ. Có điều, không phải khi nào cũng
đúng, vì “Kẻ mất búa nhìn đâu cũng thấy người trộm
búa”. Mình dễ bị quan niệm và định kiến chi phối, nên
trong 10 chuyện, 1 chuyện đúng mà có đến 9 chuyện sai.
Có
khi nhìn đúng mà vẫn thành sai, vì tuy sân nhìn đúng sân,
tham nhìn đúng tham, nhưng lại chạy theo cái đúng ấy mà nổi
tham sân. Nên tuy đúng mà vẫn thành sai. Sai vì tướng mình
thấy đó không tánh. Không tánh tức không thực. Không thực
mà nổi sân hay tham, thì biết mình đã thấy nó thực. Thấy
vạn pháp thực, là cái thấy đã bị điều kiện hóa bởi
tâm thức của chúng sanh, không phải là cái thấy tương hợp
với thực tướng của vạn pháp. Sai là vì đó.
Song
muốn nhìn đúng thực tướng của vạn pháp thì trước tiên
phải “Phản quan tự kỷ bổn phận sự”. Trong cái duyên
còn đang tu hành thì phải PHẢN QUAN là chính. Phải biết tâm
tham, tâm sân, tâm si của mình trước, mới biết đúng tâm
tham, tâm sân, tâm si của người sau.