Phá TAM
TƯỚNG
Giải
thích đề tựa
TAM
TƯỚNG là 3 tướng sanh – trụ - diệt. Bất kỳ một pháp
hữu vi nào cũng có 2 hoặc 3 tướng này, nên lấy 3 tướng
này làm đại diện cho pháp hữu vi. Tức, khi nói đến pháp
hữu vi thì pháp ấy phải có đủ 3 tướng sanh - trụ - diệt.
Người xưa định nghĩa 3 tướng như sau :
SANH
: Trước không nay có, khi vừa mới có gọi là sanh. Với định
nghĩa như vậy thì ý nghĩa của SANH rất rộng. Không phải
chỉ có mẹ sanh con mới gọi là SANH mà bất cứ một pháp
nào dù là một ý tưởng, một ngọn đèn v.v… cũng gọi là
SANH nếu nó tuân theo qui luật “Trước không nay có, khi vừa
mới có gọi là sanh”.
TRỤ
: Sau khi có, pháp tồn tại một thời gian. Tướng tồn tại
này của pháp gọi là trụ.
DIỆT
: Trước có nay không, khi vừa không gọi là diệt.
Người
đời cho pháp hữu vi là thực, vì thấy nó sanh ra, tồn tại
rồi hoại diệt. Chính vì thấy có sanh, có trụ, có diệt
mà ai cũng cho rằng pháp là CÓ. Phá, để hiển bày thực tướng
của 3 tướng, để thấy pháp hữu vi chỉ là pháp hư huyễn
không thực như ta vẫn lầm. Không lầm thì không chấp thủ.
Không chấp thủ thì không khổ đau.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
Phá
cả 3 tướng, nhưng phá tướng SANH trước.
1.
Phá tướng sanh
若生是有為
Nếu sanh là hữu vi
則應有三相
Ắt phải có ba tướng
若生是無為
Nếu sanh là vô vi
何名有為相
Sao gọi tướng hữu vi? (1)
Đầu
tiên lý luận để thấy SANH là pháp hữu vi.
Lập
luận đơn giản nhưng chặt chẽ : Nó là pháp hữu vi, vì nó
không thể là pháp vô vi.
Vì
SANH là pháp hữu vi nên SANH cũng có 3 tướng sanh - trụ - diệt.
Ngay đây có 2 việc để nói.
三相若聚散
Ba tướng nếu tụ tán
不能有所相
Không thể có sở tướng
云何於一處
Làm sao ở một chỗ
一時有三相
Một thời có ba tướng (2)
TƯỚNG
là chỉ cho những phần riêng lẻ của một pháp. Như nhà thì
cột, kèo, mái v.v… là tướng của nhà. Nhờ những phần
riêng lẻ này ta có tổng trạng của cái nhà. Tổng trạng
đó gọi là SỞ TƯỚNG. Nhờ SỞ TƯỚNG ta biết được pháp.
TƯỚNG và SỞ TƯỚNG không bao giờ tồn tại lìa nhau.
Trong
trường hợp của SANH : SANH là pháp hữu vi nên 3 tướng sanh
- trụ - diệt là tướng của SANH. Nếu 3 tướng này có, tức
có tự tánh, thì sở tướng của SANH không có. Vì sao? Vì
sanh - trụ - diệt là 3 tướng trái nhau. Nếu SANH có tự tánh
thì SANH sẽ thường hằng không diệt, tức không có tướng
DIỆT. Nếu có DIỆT thì không có TRỤ và SANH. Thành SANH không
bao giờ có đủ 3 tướng - tức sở tướng - để nhận biết
nó là pháp hữu vi. Đây là điều bất hợp lý thứ nhất
khi cho pháp SANH có tự tánh.
若謂生住滅
Nếu nói sanh trụ diệt
更有有為相
Lại có tướng hữu vi
是即為無窮
Ấy tức là vô cùng
無即非有為
Không, tức không hữu vi (3)
Điều
bất hợp lý thứ hai khi cho SANH có tự tánh : SANH là pháp
hữu vi nên có 3 tướng là sanh - trụ - diệt. Tướng SANH của
pháp SANH này cũng là pháp hữu vi nên cũng có 3 tướng sanh
- trụ - diệt … Cứ vậy mà nối tiếp vô cùng vô tận không
dứt, nên nói VÔ CÙNG. Đây là điều trái với qui luật hiện
tướng ở thế gian.
“Không,
tức không hữu vi” là, nếu không như vậy thì SANH không
phải là pháp hữu vi. Không phải hữu vi thì không thể đại
diện cho pháp hữu vi.
Có
thể hiểu tiến trình của VÔ CÙNG này như sau :
Nói
pháp hữu vi có 3 tướng sanh - trụ - diệt thì khi pháp hữu
vi ấy xuất hiện, tức tướng SANH của nó hiện hành. Pháp
hữu vi tồn tại một thời gian, tức tướng TRỤ của nó
hiện hành. Pháp hữu vi hoại diệt, tức tướng DIỆT của
nó hiện hành. Vì tướng SANH của pháp hữu vi ấy là một
pháp hữu vi nên khi tướng SANH ấy xuất hiện, thì tướng
SANH của tướng SANH ấy - gọi là SANH SANH - hiện hành. Vì
SANH SANH là pháp hữu vi, nên khi SANH SANH xuất hiện, thì tướng
SANH của SANH SANH - gọi là SANH SANH SANH - cũng hiện hành …
Cứ vậy mà tiếp tục liên tu bất tận. Với TRỤ và DIỆT
cũng vậy.
Để
cứu chữa cho vấn đề này, ngoại nhân đưa ra thuyết Cộng
sanh.
生生之所生
Sanh sanh là sở sanh
生於彼本生
Sanh ra bổn sanh kia
本生之所生
Bổn sanh là sở sanh
還生於生生
Sanh trở lại sanh sanh (4)
Nội
dung của thuyết Cộng sanh : Khi một pháp được sanh, thì có
7 pháp cùng sanh là pháp, sanh, trụ, diệt, sanh sanh, trụ trụ,
diệt diệt. Trừ tự thể, BỔN SANH có khả năng sanh ra 6 pháp
còn lại. SANH SANH sanh trở lại BỔN SANH, BỔN SANH sanh trở
lại SANH SANH.
Đây
có từ BỔN SANH. BỔN SANH là âm Hán. BỔN là ban đầu, gốc.
BỔN SANH là chỉ cho cái sanh đầu tiên, cái sanh gốc. SANH
SANH là tướng của BỔN SANH. Còn SỞ SANH là chỉ cho cái được
sanh ra.
Có
thể hiểu vấn đề ấy như sau :
Theo
Luận chủ : SANH không có tự thể vì hình thành từ nhân duyên.
Do thấy pháp xuất hiện mà gọi là SANH. Tức SANH tuy có danh
có tướng mà không có thực thể. Có thể kết luận như vậy
vì hết thảy pháp đều là pháp duyên khởi - không tánh, chỉ
do tự tâm bất giác vọng hiện, không có tánh sanh. Nói ở
mặt Nhân duyên, sự XUẤT HIỆN của pháp là nhân, SANH là
quả. Hình thành theo qui luật Nhân quả nên tánh của chúng
là không. Phẩm “Phá Nhân Duyên” đã hiển rõ điều này.
Theo
ngoại nhân : SANH là một pháp có tự thể. Nhờ có SANH - tức
BỔN SANH - tác động vào tự thể của pháp A, mới có sự
xuất hiện của pháp A. Đó là lúc BỔN SANH hiện tướng mà
ta gọi là SANH. Tức BỔN SANH và SANH không khác, nhưng dùng
BỔN SANH là để biện giải cho vấn đề SANH có chỗ lập
cước, là pháp có tự tánh, không phải là pháp duyên khởi
- không tánh.
Vì
là pháp hữu vi nên SANH này xuất hiện là do tướng sanh của
nó - gọi là SANH SANH - hiện hành. Tức ngay khi có SANH là có
SANH SANH. Đối với trụ và diệt cũng vậy. Ngay khi có trụ
là có trụ trụ, ngay khi có diệt là có diệt diệt. Trụ trụ
là tướng của trụ. Diệt diệt là tướng của diệt. Do “ngay
khi cái này xuất hiện, có ngay cái kia xuất hiện” nên tiến
trình trên xảy ra gần như đồng thời. Nói vậy để ta tạm
hình dung ý nghĩa của mệnh đề “BỔN SANH hay sanh 6 pháp
còn lại”. Còn chữ TỰ THỂ được nói ở thuyết Cộng
sanh chính là chỉ cho tự thể của pháp. Vì SANH không thể
sanh ra pháp mà chỉ có thể tác động vào tự thể của pháp
làm pháp xuất hiện, nên nói TRỪ TỰ THỂ RA.
Theo
lý giải trên, nếu đúng với tiến trình đó thì rõ ràng
không phải chỉ có 7 pháp chung sanh mà có vô cùng vô tận
pháp chung sanh. Vì thế, để giải quyết cái vô cùng vô tận
này, thuyết Cộng Sanh còn một vế quan trọng : “SANH SANH
là sở sanh, sanh ra BỔN SANH kia. BỔN SANH là sở sanh, sanh trở
lại SANH SANH”.
Với
cách lập luận sau, ta sẽ hiểu được do đâu ngoại nhân
đã lý giải như vậy : Khi SANH xuất hiện thì tướng của
SANH - là SANH SANH - xuất hiện. Tức SANH là pháp sanh ra SANH
SANH, nên nói SANH SANH LÀ SỞ SANH.[18] Vì SANH SANH là tướng
sanh của SANH, nên tướng này phải xuất hiện thì SANH mới
hiện hành, tức SANH SANH là pháp sanh ra SANH, nên nói SANH RA
BỔN SANH KIA. Lúc này, SANH trở thành SỞ SANH, còn SANH SANH
là năng sanh, nên nói BỔN SANH LÀ SỞ SANH. SỞ SANH này xuất
hiện, tướng SANH SANH của nó liền hiện hình, nên nói SANH
TRỞ LẠI SANH SANH. Vin vào quá trình đó mà kết luận : Không
phải chỉ có SANH SANH là tướng của SANH, mà SANH cũng chính
là tướng của SANH SANH. Cứ sanh qua sanh lại như thế nên
không cần phải có một cái SANH SANH SANH thứ ba làm tướng
của pháp để sanh khởi thêm tướng thứ tư, thứ năm v.v…
mà vướng lỗi vô cùng.
Phần
diễn giải về thuyết Cộng sanh này là dựa vào định nghĩa
của thuyết - được trích từ Thập Nhị Môn Luận - mà luận
ra, để tạm hiểu sơ về chỗ chấp, từ đó thấy được
chỗ phá của Luận chủ. Vì thế, nó không mang tính đầy
đủ và hoàn chỉnh. Xét cho cùng, bản thân của thuyết cũng
chưa phải là cái lý rốt ráo xuyên suốt tất cả mọi hiện
tượng và sự vật trên thế gian, nên ngay bản thân thuyết
cũng không có tính hoàn chỉnh. Vì không hoàn chỉnh, mới phá
và phá được.
Cái
thấy của thuyết Cộng sanh là cái thấy khá tinh tế : Thấy
được mặt duyên khởi của vạn pháp nhưng lại chấp có
tánh duyên khởi.[19] Nghĩa là, dù thấy các pháp duyên
khởi không có trước sau - như thấy 7 tướng trên cùng khởi
- nhưng chưa thấu được cội nguồn nhất tâm của muôn pháp,
nên chấp các pháp có tự tánh của riêng nó. Vì chấp các
pháp có tự tánh là chân lý, nên Duyên khởi thành có tánh.
Song Duyên khởi mà có tánh thì luận Trung Quán không xuất
hiện, trong luận cũng không có phẩm Phá Nhân Duyên.
Đó
là ý nghĩa giữa 2 cách lập luận, trên cùng một vấn đề,
bắt nguồn từ 2 quan điểm khác nhau : Một, thấy pháp như
huyễn. Một, thấy pháp là thực.
Các
phân đoạn sau, Luận chủ chỉ ra sự nghịch lý trong cách
lập luận của ngoại nhân.
若謂是生生
Nếu nói sanh sanh ấy
能生於本生
Sanh ra bổn sanh kia
生生從本生
Sanh sanh từ bổn sanh
何能生本生
Sao lại sanh bổn sanh? (5)
若謂是本生
Nếu nói bổn sanh ấy
能生於生生
Sanh ra sanh sanh kia
本生從彼生
Bổn sanh từ sanh kia
何能生生生
Sao lại sanh sanh sanh? (6)
Nói
SANH SANH sanh ra BỔN SANH là có vấn đề. Vấn đề ở chỗ
: SANH SANH từ BỔN SANH mà có, tức BỔN SANH có rồi, vậy
khi SANH SANH sanh là sanh cái gì chứ sao lại sanh BỔN SANH? Nếu
SANH SANH sanh BỔN SANH vậy có hai BỔN SANH? Trường hợp BỔN
SANH sanh ra SANH SANH cũng vậy.
Ngoại
nhân không đồng ý với cách lập luận như vậy. Vì cách
lập luận trên cho thấy BỔN SANH và SANH SANH sanh theo kiểu
thứ lớp. Trong khi thuyết Cộng sanh là thuyết đưa ra 7 pháp
chung sanh. Với cách lập luận “Ngay khi A xuất hiện thì tướng
của A xuất hiện” đã nói lên tính cách đồng thời này.
Vì vậy, sự phản bác của ngoại nhân hoàn toàn hợp lý.
Phần này không có trong bài, chỉ hiểu ngầm qua cách trả
lời của Luận chủ ở (P.7) và (P.8) sau.
若生生生時
Nếu sanh sanh khi sanh
能生於本生
Có thể sanh bổn sanh
生生尚未有
Sanh sanh còn chưa có
何能生本生
Sao lại sanh bổn sanh? (7)
若本生生時
Nếu bổn sanh khi sanh
能生於生生
Có thể sanh sanh sanh
本生尚未有
Bổn sanh còn chưa có
何能生生生
Sao lại sanh sanh sanh? (8)
Khi
SANH SANH sanh, lại vừa sanh BỔN SANH, thì khi SANH SANH đang sanh
đó là từ cái gì mà ra? Rõ ràng không thể từ BỔN SANH,
vì SANH SANH khi sanh mới sanh BỔN SANH. Với BỔN SANH, cũng tương
tự.
Để
biện cho vấn đề này, ngoại nhân đưa ra dụ đèn chiếu
để thấy SANH tự sanh và đồng thời sanh cái khác.
如燈能自照
Như ngọn đèn tự chiếu
亦能照於彼
Cũng hay chiếu cái khác
生法亦如是
Pháp sanh cũng như vậy
自生亦生彼
Tự sanh cũng sanh kia (9)
BỔN
SANH khi sanh, đồng thời sanh SANH SANH. SANH SANH khi sanh, đồng
thời sanh BỔN SANH. Giống như cái chiếu tự chiếu, cũng đồng
chiếu cái khác. CHIẾU là chiếu sáng, soi sáng.
Luận
chủ chỉ ra chỗ lầm của ngoại nhân như sau :
燈中自無闇
Nơi đèn tự không tối
住處亦無闇
Trụ xứ cũng không tối
破闇乃名照
Phá tối mới gọi chiếu
無闇則無照
Không tối ắt không chiếu (10)
云何燈生時
Làm sao đèn khi sanh
而能破於闇
Mà hay phá được tối
此燈初生時
Đèn ấy khi mới sanh
不能及於闇
Chẳng thể đến gặp tối (11)
燈若未及闇
Đèn, nếu chưa đến tối
而能破闇者
Mà phá được cái tối
燈在於此間
Thì đèn ở chỗ này
則破一切闇
Ắt phá tất cả tối (12)
若燈能自照
Nếu đèn hay tự chiếu
亦能照於彼
Cũng hay chiếu cái khác
闇亦應自闇
Tối cũng hay tự tối
亦能闇於彼
Cũng che tối cái khác (13)
CHIẾU
chỉ là một pháp do đối đãi với TỐI mà có. Nhờ có TỐI
mà ánh sáng ngọn đèn làm hiển mọi vật nên gọi là CHIẾU.
Không có TỐI thì không có CHIẾU. Điều này có thể kiểm
nghiệm khi đặt ngọn đèn ngoài trời nắng gắt.
Nhờ
có TỐI mới có CHIẾU thì TỐI là nhân, CHIẾU là quả. Nó
là pháp nhân duyên không phải pháp có tự tánh, mà nói là
CHIẾU tự chiếu. Nếu là pháp nhân duyên mà CHIẾU tự chiếu
được, thì TỐI cũng có thể tự che tối được (P.10) và
(P.13). Điều này không đúng. Đây là phá cái TỰ chiếu.
Gọi
là CHIẾU khi có ánh sáng của ngọn đèn. Vì vậy khi nói đến
chiếu thì đèn đã xuất hiện. Đèn xuất hiện thì trụ xứ
của nó không bao giờ tối để nói là chiếu. Nên biết, khi
tự chiếu không có việc đồng thời chiếu cái khác. Với
cái nhìn hiện tại, điều này đã được khoa học chứng
minh : Ánh sáng là một thứ có vận tốc (300.000km/s). Vậy
thì, chỗ nào ở xa, ánh sáng đến sau, chỗ nào quá mức không
cho phép thì ánh sáng không đến được. Chỉ vì vận tốc
ánh sáng quá lớn, mắt thường không đủ độ tinh tế để
thấy nên tưởng là cùng lúc. Trong bài, Luận chủ lập luận
rất đơn giản bằng phương pháp phản chứng để biện cho
vấn đề ấy như sau “Đèn nếu chưa đến tối, mà phá được
cái tối, thì đèn ở chỗ này, ắt phá tất cả tối”. Nghĩa
là, nếu đèn tại chỗ này, không phá được mọi tối, tức
đèn chưa đến tối, nên không thể phá tối. CHƯA ĐẾN, tức
đã có thứ lớp trước sau không phải đồng thời, nên nói
“Tự sanh cũng sanh kia” là không đúng. Đây là phá cái đồng
thời sanh.
Đưa
ra một luận cứ để biện cho vấn đề TỰ và ĐỒNG, mà
TỰ và ĐỒNG đều bị phá thì luận cứ ấy không còn giá
trị.
Các
phân đoạn sau là phá tiếp vào tướng SANH, TRỤ và DIỆT.
Hiển bày thực tướng của chúng.
此生若未生
Nếu sanh ấy chưa sanh
云何能自生
Làm sao hay tự sanh
若生已自生
Nếu sanh đã tự sanh
生已何用生
Đã sanh sao dùng sanh? (14)
Nếu
đã có pháp sanh, tức SANH đã sanh thì cần đến sanh làm gì?
Như vậy, SANH chưa có, mới nói đến sanh. Nhưng nếu SANH chưa
có, thì làm sao tự sanh? Như mẹ sanh con. Mẹ tự sanh tức
không cần đến nhân duyên mẹ vẫn sanh được. Nhưng cũng
phải có mẹ rồi mới nói đến việc tự sanh. Ở đây, muốn
sanh tự sanh, thì cũng phải có sanh trước rồi mới tự sanh.
Nhưng nếu có sanh trước rồi, thì cần sanh làm gì? Trong cả
hai trường hợp sanh đã có, sanh chưa có, đều không có sanh.
Đã
sanh, chưa sanh đều không tự sanh, nhưng đang sanh thì có tự
sanh?
生非生已生
Đã sanh, sanh không sanh
亦非未生生
Cũng không chưa sanh sanh
生時亦不生
Đang sanh, cũng không sanh
去來中已答
Trong Đến Đi đã đáp (15)
ĐANG
SANH là chỉ cho sự kiện sanh ở thời hiện tại. ĐANG SANH
là nhơn nơi SỰ KIỆN SANH mà lập. Nó là pháp duyên hợp,
không phải là pháp có tự tánh nên ngay khi sanh đó không có
tự sanh. Đã luận tương tự ở phẩm Phá Đi Và Đến, nên
nói “Trong Đến Đi đã đáp”.
Đó
là biện ngay trên tướng SANH. Sau là biện ngay nơi pháp, để
thấy không CÓ sanh.
Hỏi
: Khi duyên hợp ra pháp mới, lúc ấy có sanh?
若謂生時生
Nếu nói sanh khi sanh
是事已不成
Sự ấy đã bất thành
云何眾緣合
Làm sao chúng duyên hợp
爾時而得生
Khi ấy mà có sanh? (16)
若法眾緣生
Nếu pháp do duyên sanh
即是寂滅性
Tức là tánh tịch diệt
是故生生時
Thế nên sanh đang sanh
是二俱寂滅
Cả hai đều tịch diệt (17)
Ngay
khi ĐANG SANH đã không có sanh, làm sao nói chúng duyên hợp
mà có sanh? Ở phẩm Phá Nhân Duyên, trong cả 3 trường hợp
: Có quả, không quả, vừa có vừa không quả, đều không
tìm thấy tướng sanh, nên dù duyên hợp cũng không có sanh.
Pháp
do duyên sanh thì tánh nó là KHÔNG. Tịch diệt là chỉ cho cái
KHÔNG không thuộc phạm trù CÓ – KHÔNG đó. Tánh của hết
thảy pháp đều như vậy, nên nói “Thế nên sanh đang sanh,
cả hai đều tịch diệt”.
Hỏi
: Đối với pháp chưa xuất hiện, khi pháp xuất hiện vẫn
cần một sự sanh để pháp được sanh?
若有未生法
Nếu có pháp chưa sanh
說言有生者
Để nói rằng có sanh
此法先已有
Pháp ấy trước đã có
更復何用生
Sao lại cần dùng sanh? (18)
Nếu
vạn pháp, trong đó có sanh, có tự tánh thì pháp thường trụ.
Thường trụ, thì pháp mà mình thấy chưa sanh rồi sanh đó,
thật ra đã có sẵn. Có sẵn thì không cần đến sanh, nó
vẫn có. Nên nói “Pháp ấy trước đã có, sao lại cần dùng
sanh”.
Hỏi
: Nhưng muốn xuất hiện vẫn cần đến pháp SANH tác động
vào tự thể của pháp để pháp xuất hiện?
若言生時生
Nếu nói sanh khi sanh
是能有所生
Sanh ấy có sở sanh
何得更有生
Sao lại thêm có sanh
而能生是生
Mà hay sanh sanh ấy? (19)
Theo
Luận chủ, pháp xuất hiện gọi là sanh. Sự xuất hiện là
nhân, sanh là quả. Hình thành theo quan hệ nhân quả nên chúng
không tánh.
Do
bảo tồn việc pháp có tánh, ngoại nhân luận ngược lại
: Nhờ pháp SANH tác động, mới có sự XUẤT HIỆN. Sự xuất
hiện là pháp được sanh khi có pháp SANH, nên nói SANH ẤY
CÓ SỞ SANH.
Nếu
nhơn sự xuất hiện mà gọi là SANH, thì không có gì để
bàn cãi về SANH nữa. Nhưng vì dựng lập một cái SANH có
sở sanh, nên có một cái SANH cần phải rõ về nguồn gốc
của nó. Vì vậy nói “Sao lại thêm có sanh mà hay sanh sanh
ấy?”. Việc dựng lập này khiến nảy sinh vấn đề mâu
thuẫn sau :
若謂更有生
Nếu nói là có sanh
生生則無窮
Sanh sanh ắt vô cùng
離生生有生
Lìa sanh sanh có sanh
法皆能自生
Pháp thảy đều tự sanh (20)
SANH
ấy tự sanh hay từ một SANH khác sanh ra?
-Nếu
SANH tự sanh, thì vạn pháp đều tự sanh.
-Nếu
SANH từ một SANH khác sanh ra thì cái SANH khác đó lại từ
một cái SANH khác nữa sanh ra v.v… lại vướng lỗi vô cùng.
Nên
biết, không hề tồn tại một tánh sanh nào để pháp xuất
hiện.
有法不應生
Có pháp chẳng nên sanh
無亦不應生
Không cũng chẳng nên sanh
有無亦不生
Có không cũng chẳng sanh
此義先已說
Nghĩa này trước đã nói (21)
Đây
là phá tướng sanh trong cả 3 trường hợp : Pháp có, pháp
không, pháp vừa có vừa không. Cả 3 đều không tìm thấy
có tướng sanh.
若諸法滅時
Nếu các pháp khi diệt
是時不應生
Khi ấy chẳng nên sanh
法若不滅者
Pháp nếu chẳng có diệt
終無有是事
Không có trường hợp này (22)
Đây
là cái phá cuối cùng về tướng sanh. Nếu tướng sanh có
thực thể, thì SANH sẽ thường trụ, tức tướng của pháp
không bao giờ diệt. Nhưng thực tế, pháp nào có sanh là có
diệt. Nên biết tướng sanh không thường trụ, tức không
có tự tánh.
Theo
luận Đại Trí Độ, đây là phần nói về vô sắc pháp, là
nói về các niệm sanh diệt trong tâm. Nếu SANH thực có, thì
không bao giờ có DIỆT để có niệm niệm sanh diệt liên tục.
Kết
luận : Trong tất cả thời, tất cả mọi trường hợp của
pháp đều không tìm thấy tướng sanh, tức SANH không có. KHÔNG
CÓ, là tướng của nó “Chẳng có cũng chẳng không”.
2.
Phá tướng trụ
不住法不住
Pháp không trụ chẳng trụ
住法亦不住
Pháp trụ cũng chẳng trụ
住時亦不住
Khi trụ cũng chẳng trụ
無生云何住
Vô sanh làm sao trụ (23)
Đây
là lý do đơn giản nhất để thấy pháp không có tướng trụ.
Đồng thời nêu bày mặt duyên khởi giữa SANH và TRỤ.
若諸法滅時
Nếu khi các pháp diệt
是則不應住
Thì ắt không nên trụ
法若不滅者
Pháp nếu như không diệt
終無有是事
Thì không có việc này (24)
Đây
là lý do thứ hai để biết pháp không tướng trụ. TRỤ có
tự tánh thì thường trụ. Ngay khi các pháp diệt thì không
tướng trụ. Nhưng vạn pháp ở thế gian đều có tướng diệt,
chứng tỏ TRỤ không thường trụ, tức TRỤ không có tự
tánh.
所有一切法
Tất cả pháp có đây
皆是老死相
Đều là tướng già chết
終不見有法
Không hề thấy có pháp
離老死有住
Lìa lão tử có trụ (25)
Trên
thực tế, cái mà gọi là tướng trụ của pháp là một dòng
chuyển biến liên tục từ tướng trạng này sang tướng trạng
khác. Để có tướng mới, tướng cũ phải mất, nên nói “Không
hề thấy có pháp, lìa lão tử có trụ”.
住不自相住
Trụ không tự tướng trụ
亦不異相住
Cũng không khác tướng trụ
如生不自生
Như sanh không tự sanh
亦不異相生
Cũng không khác tướng sanh(26)
“Trụ
không tự tướng trụ, cũng không khác tướng trụ” là trụ
không tự nó có tướng để trụ, cũng không khác tướng mà
trụ. Nếu TRỤ có tự tướng để nói là trụ, thì tướng
trụ này phải thường. Thường thì các pháp chỉ có một
tướng duy nhất là tướng trụ. Điều này không đúng với
thực tế, nên nói không tự tướng mà trụ.
Không
tự nhưng không khác. Nếu khác tướng mà trụ, tức rơi vào
trường hợp tha sanh nói trên. Song trụ có, là nương vào tướng
sanh và tướng diệt, mà nói là trụ. Nên nói, cũng không khác
tướng mà trụ.
3.
Phá tướng diệt
法已滅不滅
Pháp đã diệt không diệt
未滅亦不滅
Chưa diệt cũng không diệt
滅時亦不滅
Đang diệt cũng không diệt
無生何有滅
Vô sanh làm sao diệt? (27)
Đây
là lập luận đơn giản nhất để thấy trong cả 3 thời đều
không tìm thấy CÓ diệt. Qua đó, hiển bày mối quan hệ nhân
duyên giữa SANH và DIỆT.
法若有住者
Nếu pháp mà có trụ
是則不應滅
Thì ắt không nên diệt
法若不住者
Pháp nếu không có trụ
是亦不應滅
Thì cũng không nên diệt (28)
是法於是時
Pháp ấy ở thời ấy
不於是時滅
Không ở thời ấy diệt
是法於異時
Pháp ấy ở thời khác
不於異時滅
Không ở thời khác diệt (29)
Tướng
trụ của pháp mà có - tức có tự tánh - thì phải thường
hằng, nên không có diệt.
Tướng
trụ của pháp không có - tức không có pháp - thì cũng không
có diệt.
如一切諸法
Như tất cả các pháp
生相不可得
Tướng sanh không thể được
以無生相故
Vì không có tướng sanh
即亦無滅相
Nên không có tướng diệt (30)
Hiển
bày mặt Duyên khởi giữa SANH và DIỆT của một pháp. Tướng
sanh đã bị phá thì tướng diệt cũng không còn.
若法是有者
Nếu pháp mà là có
是即無有滅
Thì ắt không có diệt
不應於一法
Chẳng nên trong một pháp
而有有無相
Mà có tướng có không (31)
若法是無者
Nếu pháp mà là không
是即無有滅
Thì cũng không có diệt
譬如第二頭
Ví như đầu thứ hai
無故不可斷
Không, nên không thể đoạn (32)
Khi
quyết định pháp là CÓ hay KHÔNG đều không tìm thấy tướng
diệt : Nếu pháp là CÓ, tức có tự tánh, thì pháp không bao
giờ hoại, tức không có tướng diệt. Nếu pháp là KHÔNG,
không rồi thì lấy gì hoại diệt?
“Chẳng
nên trong một pháp, mà có tướng có không” là chỉ cho SANH
và DIỆT cùng một thời.
VÍ
NHƯ ĐẦU … : Đã không rồi, thì còn không gì nữa.
法不自相滅
Pháp không tự tướng diệt
他相亦不滅
Tha tướng cũng không diệt
如自相不生
Như tự tướng không sanh
他相亦不生
Tha tướng cũng không sanh (33)
Nếu
DIỆT là tự tướng - tức DIỆT có tánh - thì pháp không có
tướng sanh. Tự tướng đã không thì tha tướng cũng không.
Đã nói ở phẩm Phá Nhân Duyên.
4.
Kết luận về 3 tướng
生住滅不成
Sanh trụ diệt không thành
故無有有為
Nên không pháp hữu vi
有為法無故
Vì không pháp hữu vi
何得有無為
Làm sao có vô vi? (34)
如幻亦如夢
Như huyễn cũng như mộng
如乾闥婆城
Như thành Càn Thát Bà
所說生住滅
Sanh trụ diệt được nói
其相亦如是
Tướng của chúng cũng vậy (35)
3 tướng
đều bị phá, nên nói KHÔNG THÀNH.
NHƯ
HUYỄN : Các pháp tuy không thực nhưng sắc có thể thấy, tiếng
có thể nghe.
NHƯ
THÀNH CÀN THÁT BÀ : Khi mặt trời mới mọc, thấy có cửa
thành, lầu gác, có người ra vào v.v… các thứ ấy có thể
thấy mà không có thực. Là những loại ảo giác như ảo giác
gặp ở sa mạc.
Tướng
của sanh - trụ - diệt đều như vậy.