Phá LỤC
CHỦNG
Lục
chủng (lục đại) là : Đất, nước, gió, lửa, thức và không.
Gọi là ĐẠI vì chúng là thành phần căn bản tạo ra muôn
pháp. Đây phá riêng phần KHÔNG ĐẠI.
Nguyên
nhân phá lục chủng
Phá
là do có chấp. Không chấp thì không phá. Nghĩa là, nếu ta
nhìn hư không đúng với bản chất hư huyễn của nó thì không
cần phá. Song khi ta đã cho hư không là thực, hoặc cho hư
không là cội nguồn tối cùng sinh ra các pháp thì phải phá.
Nói cách khác, nếu ta cho hư không là thể tánh thường trụ
của vạn pháp thì phải phá. Phá để hiển bày thực tánh
của hư không.
Đa
số các chấp nói đây đều được hình thành trong quá trình
thiền định. Khi sanh diệt của HÀNH ẤM [12] đã diệt mà
chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tánh tịch diệt, thì tùy
theo định tánh của thiền giả mà có các cảnh giới THỨC
khác nhau. [13]
. Như
thấy tất cả 4 đại (đất, nước, gió, lửa) [14] đều có
thể phát sanh biến hóa, nên nhận 4 đại làm bản nhân, lập
nó làm chỗ NHẬN HIỂU thường trụ, đem hết thân tâm thờ
lửa, thờ nước để cầu ra khỏi sanh tử. Đây là lấy 4
ĐẠI làm tánh các pháp. Học thuyết nào còn đi tìm bản thể
của vạn pháp trên những thứ có hình có tướng, dù là những
thứ cực vi tế (chỉ có thể chiêm nghiệm qua kính thiên văn,
hiển vi hay trong quá trình thiền định), đều rơi vào dạng
chấp nói đây. Đã gọi là chấp để phải phá, thì việc
chấp đó đương nhiên có vấn đề.
. Nơi
cảnh viên minh cho cái RỖNG KHÔNG không hình tướng của viên
minh là chỗ qui về, bác bỏ tiêu diệt các sự vật biến
hóa, lấy cái tính diệt hẳn làm niết bàn rốt ráo, rơi vào
cái kiến đoạn diệt. [15] Đây là chấp cái RỖNG KHÔNG làm
tánh các pháp. Thấy sắc thể từ HƯ KHÔNG sinh ra, rồi cho
hư không là bản thể tối cùng của vạn pháp, cũng thuộc
dạng chấp này.
. Do
hay biết cùng khắp nên nhận cái biết lập thành chỗ nhận
hiểu. Thấy tất cả vạn vật do thức biến, cho cỏ cây mười
phương đều là hữu tình, cùng người không khác. Cỏ cây
sinh làm người, người chết trở lại làm cỏ cây. Đây là
lấy tánh hiểu biết làm tánh các pháp.[16] Cái thấy
do thức biến này, thâm sâu vi tế hơn nhiều so với cái thấy
của ngành vật lý hiện nay về vũ trụ và thế giới : Ngành
vật lý hiện đại vẫn còn hướng ngoại cầu tìm một hạt
cơ bản, trong khi người xưa đã thấy ‘mọi thứ đều do
tâm thức biến hiện’. Song do cái thấy chưa được tột
cùng, chấp vào cái chưa tột cùng đó hình thành nên những
nhận định sai lầm, như cho cây cỏ hiểu biết v.v... mà thành
lỗi.
Trên
là một số chấp về lục chủng. Phần còn lại có thể nghiên
cứu trong kinh Lăng Nghiêm.
Đưa
ra là để hiểu sơ về cội nguồn của sự chấp thủ. Với
những cảnh giới trên, thấy thì không lỗi. Lỗi là do nhận
cái thấy ấy làm chân lý, chấp vào đó rồi hình thành nên
những nhận định sai lầm đối với vạn pháp. Nhận định
sai lầm dẫn đến hành động sai lầm. Là nhân duyên đưa
đến khổ đau của nhân loại. Như thấy 4 đại phát sanh biến
hóa tất cả. Thấy thì không lỗi. Đó là cái quả tất nhiên
trong quá trình thiền định. Lỗi ở chỗ, không nhận ra được
mặt duyên khởi của 4 đại. Duyên khởi thì không tánh, đều
từ tâm lưu xuất. Ngài Hàm Thị nói “Do chưa thâm đạt được
cội nguồn tánh giác, không biết 4 đại chủng từ vọng tưởng
sanh, vốn không thường trụ, thì không thể phát sanh thường
trụ …”. Do mê tâm theo vật, lấy vật chất làm nền tảng
cho vạn pháp, nên bỏ mặc phần tâm linh nhân quả. Mọi tệ
nạn khủng hoảng xảy ra trong xã hội ngày nay, đều bắt
nguồn từ cái nhìn thiếu nhân quả này.
Tiến
một chút, hình thành nên thần lửa, thần nước v.v… có
quyền lực sinh ra muôn loài, nên chuyên tâm thờ lửa, thờ
nước, rơi vào mê tín dị đoan. Đã mê tín dị đoan, thì
đời sống xã hội không thể tiến triển. Cứ vậy, cái lầm
này truyền thừa thành cái lầm khác, từ đời này qua đời
kia, tạo nghiệp, luân chuyển vô vàn. Đối với người tu
Phật, những loại chấp đó làm mê muội tánh bồ đề, đi
ngược với đạo niết bàn, vì vậy phải phá.
Ý
nghĩa và cách sử dụng các khái niệm
Trong
phẩm này có 2 khái niệm cần nắm vững là TƯỚNG và SỞ
TƯỚNG.
TƯỚNG
là tất cả những gì mà các căn ghi nhận được từ pháp.
TƯỚNG là thứ nhờ đó ta nhận định được pháp.
Như
cây huệ có thân suông đuột, lá dài dính quanh thân, bông
trắng v.v… Toàn bộ cây huệ gọi là TƯỚNG. Những thứ
riêng lẻ như thân, lá dài, bông trắng cũng gọi là TƯỚNG.
Toàn bộ hay riêng lẽ gì cũng đều gọi là TƯỚNG. Nhưng
khi có sự so sánh giữa cái tổng và cái riêng, thì tướng
toàn bộ của cây huệ gọi là TỔNG TƯỚNG, còn các tướng
riêng lẻ gọi là BIỆT TƯỚNG. Như vậy, tướng tổng và
biệt của một pháp không lìa nhau. Đã có tổng tức có biệt,
đã có biệt tức có tổng. Tổng tướng và biệt tướng làm
duyên khởi cho nhau cùng sanh khởi. Có cùng có, không cùng không.
Nhờ
các biệt tướng mà nhận được tổng tướng, nên biệt tướng
đóng vai trò năng tạo (tạo ra), gọi là NĂNG TƯỚNG, tổng
tướng đóng vai trò sở tạo (được tạo ra) gọi là SỞ
TƯỚNG. Như nhờ các tướng riêng lẻ lá xanh, bông trắng
v.v... của cây huệ mà mình biết đó là cây huệ, nên các
tướng riêng lẻ ấy gọi là năng tướng, cả cây huệ gọi
là sở tướng.
Ngược
lại, nhờ tổng tướng mà các biệt tướng được xác định
là tướng của pháp gì, tức sở tướng là CHỖ TRỤ của
tướng. Như tướng tổng quát của cây huệ là chỗ trụ của
các tướng lá dài, bông trắng v.v… Lúc này sở tướng đóng
vai trò năng tướng, còn biệt tướng đóng vai trò sở tướng
(Trong bài gọi là khả tướng để dễ phân biện). BIỆT không
thể lìa TỔNG thì NĂNG cũng không thể lìa SỞ. Có NĂNG thì
có SỞ. Không SỞ thì không NĂNG.
Như
vậy, cũng một chữ TƯỚNG, nhưng khi đi với SỞ TƯỚNG thì
nó mang ý nghĩa là NĂNG TƯỚNG, khi đi với TỔNG TƯỚNG thì
nó mang ý nghĩa là BIỆT TƯỚNG. Nếu đi với NĂNG TƯỚNG
thì nó mang ý nghĩa là KHẢ TƯỚNG hay SỞ TƯỚNG. Ngoài ra
năng và sở, biệt và tổng cũng tùy trường hợp mà có tên,
không ấn định dứt khoát cho một pháp nào. Như với tổng
tướng là cây huệ thì các tướng lá dài, bông trắng v.v…
gọi là biệt tướng. Nhưng với loài hoa thì hoa huệ, hoa hồng
gọi là biệt tướng mà loài hoa lại là tổng tướng. Lúc
này hoa hồng, hoa huệ là năng tướng tạo nên sở tướng
là loài hoa, để phân biệt với các loài khác.
Nhờ
tướng và sở tướng mà ta nhận định được pháp. Như vậy
TƯỚNG và SỞ TƯỚNG là thứ quyết định sự có mặt của
PHÁP. Nếu tướng và sở tướng không thì pháp cũng không.
Đứng
về mặt Nhân duyên, năng tướng chính là NHÂN và sở tướng
chính là QUẢ. Ngược lại, sở tướng cũng có thể là NHÂN
và năng tướng cũng có thể là QUẢ. Cái làm quả được
gọi là sở tướng hay khả tướng. Cái làm nhân, gọi là
năng tướng hay tướng. Cả hai thứ năng tướng và sở tướng
này lại đều là NHÂN để có cái quả là PHÁP. Như vậy
nhân hay quả là tùy thuộc vào vai trò mà chúng đảm nhiệm,
không tánh cố định.
Khi
nói nhơn A mà biết B, hay nhờ A mà có B, thì phải hiểu A
chính là nhân, B chính là quả. Nhờ tướng mà biết được
sở tướng, thì tướng là nhân, sở tướng là quả. Đây
là ý nghĩa của các từ NHỜ, NHƠN, DO, NƯƠNG … Nắm vững
ý nghĩa của chúng, phần lý luận thành đơn giản. Có NHÂN
có QUẢ tức nhân duyên đang vận hành, duyên khởi đã chi
phối.
-Là
pháp duyên khởi thì NHÂN và QUẢ, TƯỚNG và SỞ TƯỚNG không
thể lìa nhau mà tồn tại.
-Là
pháp thực có, tức có tự tánh, thì TƯỚNG và SỞ TƯỚNG
phải tồn tại độc lập với nhau. Tức TƯỚNG có thể có
trước, có sau hay có đồng thời với SỞ TƯỚNG mà không
dính gì đến SỞ TƯỚNG.
Đó
là chỗ khác nhau giữa pháp Duyên khởi và pháp có tự tánh.
Nắm vững ý nghĩa và cách sử dụng các khái niệm trên, sẽ
hiểu cách lập luận mà Luận chủ dùng để phá bỏ hư không.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
空相未有時
Tướng không khi chưa có
則無虛空法
Ắt không pháp hư không
若先有虛空
Nếu trước có hư không
即為是無相
Thì hư không không tướng (1)
Mở
đầu, Luận chủ nêu bày thực tướng của HƯ KHÔNG : Nhơn
nơi SẮC mà lập.
Với
cái nhìn hiện tại, rõ ràng NHỜ sắc ta biết có hư không
: Chỗ không có sắc hay sắc vừa hoại, ta gọi là hư không.
Nên nói “Tướng không khi chưa có, ắt không pháp hư không”.
CHƯA CÓ, là khi sắc chưa hoại hay chỗ có sắc. Chữ NHỜ
trên cho ta thấy sắc là nhân, hư không là quả. Đây hiển
bày mặt duyên khởi của pháp. Duyên khởi thì, không có sắc
tướng thì không có hư không, mà không có hư không, cũng không
có sắc tướng. Hư không và sắc tướng không hề lìa nhau.
Bởi từ THỨC biến hiện, in tuồng như có, mà thực không
có tự tánh.
Nếu
cho hư không có tự tánh, thì hư không xuất hiện không cần
nương vào bất cứ gì. Nghĩa là, có sắc hay không sắc, hư
không vẫn thường trụ. Nên nói “Nếu trước có hư không”.
TRƯỚC, nghĩa là hư không có thể tồn tại không cần đến
sắc. Không cần đến sắc tức không nhờ sắc mà hiển tướng.
Vậy nương vào tướng gì để biết hư không? Chính là tướng
không. Nên nói “Tức hư không không tướng”.
是無相之法
Với pháp không tướng ấy
一切處無有
Hết thảy chỗ không có
於無相法中
Trong pháp không tướng ấy
相則無所相
Tướng ắt không sở tướng (2)
Nếu
là pháp không tướng, thì BIỆT TƯỚNG không có. Không BIỆT
thì cũng không TỔNG, tức không có SỞ TƯỚNG. Không có tướng
và sở tướng thì pháp cũng không. Đây là lập luận đầu
tiên dùng để phá hư không khi cho hư không có tự tánh.
Ngoại
nhân không bằng lòng với cách lý luận vượt giai đoạn như
vậy. Nói “vượt giai đoạn” vì từ TƯỚNG KHÔNG nhảy
sang cái KHÔNG TƯỚNG. TƯỚNG KHÔNG nghĩa là có tướng mà
tướng nó không, không phải là không có tướng. Phần này
không có trong bài, chỉ hiểu ngầm qua phần lập luận của
Luận chủ ở (P.3) sau.
有相無相中
Trong có tướng không tướng
相則無所住
Tướng ắt không chỗ trụ
離有相無相
Lìa có tướng không tướng
餘處亦不住
Chỗ khác cũng không trụ (3)
Luận
chủ lập luận để bác ngoại nhân như sau : Trong cả 2 trường
hợp có và không, KHÔNG TƯỚNG như Luận chủ đã nói và CÓ
TƯỚNG như ngoại nhân đã chấp, đều không tìm thấy có
hư không.
Trường
hợp KHÔNG TƯỚNG : Đương nhiên là không có sở tướng. Chỗ
trụ là chỉ cho sở tướng. Không tướng không sở tướng
thì không có pháp.
Trường
hợp CÓ TƯỚNG : Nói CÓ tức cho tướng này là thực, thì
tướng này tồn tại độc lập với sở tướng. Tức không
cần nương vào sở tướng mà vẫn nhận biết được tướng
đó là tướng của pháp gì. Điều này không thể xảy ra.
Pháp hư không cũng vậy. Cái tướng trống không mà ta nhận
định cho là hư không đó, là do nương nhờ vào những khoảng
trống được giới hạn bởi sắc. Đối với pháp có hình
tướng rõ rệt, sở tướng chính là chỗ trụ của tướng.
Đối với pháp hư không, khoảng trống được giới hạn bởi
sắc này chính là chỗ trụ của tướng hư không. Khi cho hư
không là có – tức có tánh – thì không nhờ vào những khoảng
giới hạn ấy, hư không vẫn được nhận biết. Điều này
không thể được. Nên nói “TƯỚNG ẮT KHÔNG CHỖ TRỤ”.
Ngoài
2 trường hợp không tướng và có tướng ấy, không có trường
hợp nào khác để tìm được chỗ trụ của pháp hư không.
Nên nói “Lìa có tướng không tướng, chỗ khác cũng không
trụ”.
相法無有故
Tướng của pháp không có
可相法亦無
Nên pháp khả tướng không
可相法無故
Vì pháp khả tướng không
相法亦復無
Tướng của pháp cũng không (4)
是故今無相
Thế nên nay không tướng
亦無有可相
Cũng không có khả tướng
離相可相已
Lìa tướng khả tướng rồi
更亦無有物
Thì cũng không có vật (5)
Tổng
kết về tướng, sở tướng và pháp. Tướng và khả tướng
là một cặp duyên khởi không tánh. Tướng không thì khả
tướng cũng không. Tướng, khả tướng đều không thì pháp
(vật) cũng không.
若使無有有
Nếu như không có có
云何當有無
Làm sao lại có không
有無既已無
Có không đã là không
知有無者誰
Biết có không là ai? (6)
Đây,
nói về sự đối đãi giữa CÓ và KHÔNG. Có và không là nói
chung. Hư không và sắc là nói riêng. CÓ chỉ cho sắc. KHÔNG
chỉ cho hư không. Cái không mà mình nhận biết được đây,
chẳng qua chỉ là cái không đối với sắc mà có. Nên nói
“Nếu như không cái có, làm sao có cái không”. Có là nhân,
không là quả. Hình thành theo qui luật Nhân quả, nên tánh
chúng là không.
Luận
Đại Thừa Khởi Tín nói “Phải rõ tướng hư không là pháp
hư vọng, không có thực thể, vì đối với sắc mà có, là
tướng bị thấy, khiến tâm sanh diệt … Tất cả cảnh giới
chỉ từ một tâm vọng khởi mà có. Nếu lìa tâm vọng động
thì tất cả cảnh giới đều diệt, chỉ là một chân tâm
không chỗ nào mà chẳng khắp”.
是故知虛空
Thế nên biết hư không
非有亦非無
Không có cũng không không
非相非可相
Không tướng không khả tướng
餘五同虛空
Năm kia đồng hư không (7)
“Chẳng
có cũng chẳng không” “Chẳng tướng chẳng khả tướng”
là một dạng của BÁT BẤT, hiển bày thực tướng của hư
không. Vì sao thực tướng của hư không lại có dạng như
vậy, sẽ được biện rõ ở (P.8) sau.
NĂM
KIA là chỉ cho 5 đại còn lại.
淺智見諸法
Thiển trí thấy các pháp
若有若無相
Hoặc có hoặc không tướng
是則不能見
Ấy là không thể thấy
滅見安隱法
Pháp diệt kiến an ổn (8)
Nếu
tướng của pháp là CÓ, thì tướng ấy phải thường trụ,
không hoại diệt. Điều này không đúng với tướng các pháp
ở thế gian là vô thường. Nếu tướng của pháp là CÓ, thì
tướng phải tồn tại độc lập với sở tướng. Tức không
nhờ vào sở tướng mà ta vẫn biết được tướng ấy là
tướng của pháp gì. Điều này cũng không đúng. Vì thế biết
tướng của pháp là không có.
Nếu
tướng của pháp là KHÔNG, tức cái không này thường trụ
bất biến, thì pháp lại không thể sanh khởi với nhiều tướng
trạng như hiện nay. Nên tướng của pháp cũng không phải
không.
Như
vậy, thấy pháp là có tướng hay không tướng là cái thấy
thiên lệch, không phù hợp với thực tướng của vạn pháp.
Vì thế nói “Thiển trí thấy các pháp, hoặc có hoặc không
tướng”. THIỂN TRÍ là chỉ cho cái trí nông cạn. Vì nông
cạn mà ta chỉ thấy được một khía cạnh vấn đề, không
thấy được toàn bộ vấn đề ấy.
KIẾN
ở đây có hai nghĩa :
1.
Kiến chấp : Chỉ cho tất cả những quan niệm, dù là quan
điểm phù hợp với Phật pháp.
2.
Kiến : Chỉ cho sự nhận biết về một cảnh giới dù là
cảnh giới tu chứng.
PHÁP
DIỆT KIẾN là chỉ cho niết bàn rốt ráo của người tu, là
chỗ đã diệt hết tất cả kiến.
Thực
tướng của lục chủng
Do
người tu chấp lục chủng có tự thể, là bản nhân thường
trụ sanh ra muôn pháp, cho TƯỚNG hiện thấy đây có TÁNH,
nên phải phá. PHÁ, vì tướng lục chủng không tánh. Lục
chủng tuy là BẢN NHÂN sinh ra vạn pháp, nhưng chưa phải là
BẢN NHÂN THƯỜNG TRỤ TỐI CÙNG của vạn pháp.
Nếu
chưa phải thì tánh của chúng là gì?
TÁNH,
còn gọi là thực tánh hay thực tướng của vạn pháp, chính
là KHÔNG. Cái KHÔNG này không thuộc phạm trù năng sở phân
biệt đối đãi nên nói “Chẳng có cũng chẳng không”. Vì
chẳng có mà chẳng không nên ở (P.6) Luận chủ nói “Có
không đã là không, biết có không là ai?”.
“Biết
có không là ai?” là câu hỏi mà câu trả lời dành cho tất
cả mọi người tu Phật. Nếu thấu được chỗ này là thấu
được thực tướng của lục chủng. Đó là cảnh giới khi
tâm không còn lệ thuộc vào năng sở. NĂNG là sự nhận biết.
SỞ, chỉ cho đối tượng được nhận biết, vi tế hơn, là
chỉ cho cảnh giới tu chứng. Thứ gì còn là ảnh tượng của
tri thức, thứ ấy vẫn là mộng huyễn.
Kinh
Lăng Nghiêm, trong phần thu bảy đại, sau khi luận để thấy
bảy đại không tánh, Phật kết luận “Phải biết, sự liễu
biệt (chỉ cho thức đại) và các căn thấy nghe hiểu biết
(chỉ cho kiến đại) vắng lặng cùng khắp, tánh không nương
đâu. Hai món đại ấy cùng với hư không, đất, nước, gió,
lửa, gọi chung là bảy đại, tánh chúng thật viên dung, đều
là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt”.