Phá NGŨ
ẤM
Ngũ
ấm là sắc, thọ, tưởng, hành và thức ấm, chỉ cho thân
xác với những cảm thọ, suy nghĩ, phân biệt … ở một con
người (nói rộng là chúng hữu tình).
Tuy
nói phá ngũ ấm, nhưng đây chỉ phá riêng phần sắc ấm.
Lấy đó biểu trưng cho 4 ấm còn lại.
若離於色因
Nếu lìa sắc nhân ra
色則不可得
Sắc ắt không thể được
若當離於色
Nếu phải lìa sắc quả
色因不可得
Sắc nhân không thể được (1)
離色因有色
Lìa sắc nhân có sắc
是色則無因
Sắc ấy ắt không nhân
無因而有法
Không nhân mà có pháp
是事則不然
Việc ấy là không đúng (2)
若離色有因
Nếu lìa sắc có nhân
則是無果因
Đó là nhân không quả
若言無果因
Nếu nói nhân không quả
則無有是處
Thì không có việc này (3)
Luận
để thấy : Sắc nhân và sắc quả không thể tồn tại, nếu
không có nhau.
SẮC
NHÂN là những DUYÊN dùng để tạo thành một pháp mới. Pháp
mới được tạo ra đó gọi là SẮC QUẢ.
Như
sắc thân của ta thì SẮC NHÂN là 4 đại, SẮC QUẢ là sắc
thân. 4 đại là 4 thứ tạo nên sắc thân, nên gọi là SẮC
NHÂN. Sắc thân là cái được tạo thành từ 4 đại nên gọi
là SẮC QUẢ.
-Không
có nhân là 4 đại thì không thể có quả là sắc thân. Cho
nên, KHÔNG NHÂN MÀ CÓ SẮC, thì SỰ ẤY LÀ KHÔNG ĐÚNG.
-Không
có sắc thân thì 4 đại không hẳn đã là nhân của sắc thân,
mà chỉ là 4 yếu tố riêng lẻ, có thể là nhân làm thành
các pháp khác. Nếu không có sắc thân mà vẫn gọi 4 đại
là nhân của sắc thân thì điều đó không đúng, nên nói
NẾU NÓI NHÂN KHÔNG QUẢ, thì KHÔNG CÓ VIỆC NÀY.
Đây
là hiển bày mặt Duyên khởi của sắc nhân và sắc quả.
Không có SẮC NHÂN thì không có SẮC QUẢ mà trước khi có
SẮC QUẢ thì cũng không có SẮC NHÂN. Có cùng có, không cùng
không.
若已有色者
Nếu đã có sắc quả
則不用色因
Ắt không dùng sắc nhân
若無有色者
Nếu không có sắc quả
亦不用色因
Cũng không dùng sắc nhân (4)
無因而有色
Không nhân mà có sắc
是事終不然
Sự ấy là không đúng
是故有智者
Cho nên người có trí
不應分別色
Không nên phân biệt sắc (5)
Luận
để thấy : Không thể khẳng định sắc quả là CÓ hay KHÔNG.
-Khi
cho SẮC QUẢ là có, tức có tự tánh thì SẮC QUẢ này tự
có, duy nhất và thường trụ, tức không cần đến SẮC NHÂN
mới xuất hiện được. Trên thực tế, không có sắc nhân
thì không bao giờ có sắc quả.
Như
4 đại là nhân tạo thành sắc thân. Nếu cho sắc thân là
có, thì nó tồn tại độc lập với 4 đại. Tức không có
4 đại vẫn có sắc thân. Trên thực tế, không có 4 đại
thì không có sắc thân.
-Nếu
SẮC QUẢ là không, đương nhiên không có SẮC NHÂN.
Điều
này cho thấy, những nhận định rơi vào nhị biên phân biệt
không phải là những nhận định đúng đắn. Nên nói “Cho
nên người có trí, không nên phân biệt sắc”. NGƯỜI CÓ
TRÍ là chỉ cho người nhận ra được lẽ thực của vạn
pháp ở thế gian. Dù là người không biết chữ, mà nhận
ra được lẽ thực của vạn pháp, vẫn gọi là người có
trí. Còn có bằng cấp học vị, mà không thấy được thực
tướng của vạn pháp, thì không gọi là người có trí. Nói
chung, NGƯỜI CÓ TRÍ có thể không có bằng cấp, cũng có thể
có bằng cấp, nhưng là người có khả năng thấu suốt được
thực tánh của vạn pháp.
PHÂN
BIỆT là chỉ cho phạm vi của sự chia chẽ phân định, mà
quan điểm và định kiến chính là nền tảng để nó sinh
khởi.
若果似於因
Nếu quả giống với nhân
是事則不然
Việc ấy thì không đúng
果若不似因
Nếu quả không giống nhân
果若不似因
Việc ấy cũng không đúng (6)
Luận
để thấy : Không thể khẳng định sắc nhân và sắc quả
là một hay là khác.
NẾU
QUẢ GIỐNG VỚI NHÂN tức quả và nhân là một. Như 4 đại
và sắc thân là một. Nếu chúng là một, thì các thứ làm
từ 4 đại đều gọi là sắc thân. Điều này không đúng.
Có những thứ hình thành từ 4 đại nhưng không phải là sắc
thân. Vì thế, tuy sắc thân được hình thành từ 4 đại,
nhưng sắc thân không hoàn toàn là 4 đại. Đây nói không phải
một.
NẾU
QUẢ KHÔNG GIỐNG NHÂN tức nhân khác quả. Nhân khác quả thì
không có nhân vẫn có quả. Nhưng lìa nhân thì không quả.
Như sắc thân khác 4 đại, thì không có 4 đại vẫn có sắc
thân. Nhưng lìa 4 đại thì không có sắc thân.
Tóm
lại, SẮC NHÂN và SẮC QUẢ không một cũng không khác. Đây
là một dạng của BÁT BẤT. Đó là thực tướng của SẮC
NHÂN và SẮC QUẢ.
受陰及想陰
Thọ ấm và tưởng ấm
行陰識陰等
Hành ấm và thức ấm
其餘一切法
Ngoài ra tất cả pháp
皆同於色陰
Đều đồng như sắc ấm (7)
Thực
tướng của vạn pháp ở thế gian đều như sắc ấm, đều
là pháp Duyên khởi, không pháp nào có tự tánh của riêng
nó.
若人有問者
Nếu người có đến hỏi
離空而欲答
Lìa không mà muốn đáp
是則不成答
Đó là chẳng thành đáp
俱同於彼疑
Đều đồng với nghi kia (8)
若人有難問
Nếu người có nạn vấn
離空說其過
Lìa không nói lỗi ấy
是不成難問
Thì không thành nạn vấn
俱同於彼疑
Đều đồng với nghi kia (9)
Đây
là cách chỉ bày đối đáp sao cho phù hợp với thực chất
của vạn pháp ở thế gian. Pháp thì không cố định, chỉ
tùy đối tượng mà có câu trả lời. Song đều phải lấy
cái KHÔNG LÌA TÁNH KHÔNG này mà đối đáp.
Đức
Phật im lặng hay trả lời bắt đầu bằng 4 chữ vô, bất,
phi, ly. Các thiền sư đánh, hét v.v… đều bắt nguồn từ
cái KHÔNG LÌA TÁNH KHÔNG này. Tất cả đều nhằm hiển bày
thực tướng của vạn pháp.
Trong
kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy 36 phép đối như sau “Ví
như có người hỏi các ông ‘Tối là gì?’. Hãy đáp ‘Sáng
là nhân, tối là duyên, sáng hết thì tối. Dùng sáng tỏ tối.
Lấy tối mà tỏ sáng’”. Nghĩa là, tối không phải tự
bản thân nó có thể tối nếu không nhờ có cái sáng. Ngược
lại chính nhờ so sánh với cái sáng, mà ta biết có tối.
Hiển một sự vật hay một hiện tượng bằng cách hiển bày
cái duyên khiến pháp hình thành như vậy, là đang hiển bày
phần không tánh của chúng. Đối đáp như vậy gọi là KHÔNG
LÌA TÁNH KHÔNG MÀ ĐÁP.