Phá LỤC
TÌNH
Lục
tình là 6 tình. Chúng thuộc 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý. Khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần là sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, chúng bị thức tình chi phối, nên nói 6 tình. Như
tai nghe nhạc, nếu nhạc là nhạc, không can hệ gì đến mình
thì lúc ấy không có thức tình. Nhưng nếu nghe nhạc mà lòng
xúc động, thân nhún nhảy, hoặc bực mình khó chịu … lúc
đó thức tình đã xuất hiện. Nói chung, khi căn tiếp xúc
với trần mà để cho ý thức phân biệt làm chủ thì gọi
là 6 tình. Nên mở đầu, Luận chủ nói :
眼耳及鼻舌
Mắt, tai và mũi, lưỡi
身意等六情
Thân, ý ... là sáu tình
此眼等六情
Mắt, tai ... sáu tình này
行色等六塵
Theo sắc, thanh ... sáu trần (1)
MẮT
TAI … LÀ SÁU TÌNH, là muốn nói 6 tình thuộc 6 căn.
THEO
SẮC, THANH v.v… là tâm duyên với SÁU TRẦN.
THEO,
là để cho trần cảnh chi phối lòng mình. Thấy sắc không
thể rời, nghe tiếng thấy bực, nếm vị thấy ham thích v.v…
là đang để cho tâm mình chạy THEO trần cảnh. Vì là 6 tình
nên nó theo 6 trần.
Nguyên
nhân phá 6 tình
Người
đời do chấp vào 6 tình này mà khổ não và nối dài sự lưu
chuyển trong lục đạo. Trong kinh Lăng Nghiêm, mười phương
chư Phật đồng nói với ngài A-nan “Lành thay, này A-nan! Ông
muốn biết đầu gút câu sanh vô minh khiến ông luân chuyển
trong sanh tử? Chính là từ 6 căn của ông chứ không phải
vật gì khác. Ông muốn biết tánh vô thượng bồ đề khiến
ông mau chứng an lạc giải thoát tịch tịnh diệu thường?
Cũng chính là từ 6 căn của ông chứ không gì khác”. Như
vậy, nói phá 6 tình chính là phá phần THỨC TÌNH nảy sinh
khi CĂN tiếp xúc với TRẦN, không phải là phá CĂN. Khi CĂN
tiếp xúc với TRẦN mà không chạy theo TRẦN thì THỨC TÌNH
không có. Nói cách khác, khi CĂN tiếp xúc với TRẦN mà không
nảy sinh THỨC TÌNH thì không cần phá.
CÁCH
PHÁ
Phá
6 tình, nhưng lấy MẮT làm điển hình.
Trong
cái duyên là TÂM THỨC CON NGƯỜI ở thế giới này, là thế
giới không gì không bị nhân duyên chi phối, muốn thấy được,
phải có ít nhất 3 duyên hội tụ. Đó là 3 thứ CĂN, TRẦN
và THỨC. Kể rộng thì còn Alaida, Matna, ý thức, khoảng cách
thấy được v.v… có đến 10 thứ không phải chỉ có 3. Không
đủ những duyên đó, cái thấy không thành lập. Đây là nói
trong cái duyên là tâm thức chúng sanh ở thế giới này, không
nói trong các duyên khác.
Ngoại
trừ SÁT NA ĐẦU, ý thức cùng duyên và cảm nhận sắc trần
như chính nhãn thức (tức thấy chỉ là thấy, không để niệm
phân biệt, suy nghĩ hay cảm giác nào chi phối), còn lại đều
bị ý thức làm chủ nên nói THỨC TÌNH. [11] Duyên hợp thì
không tánh. Song nếu ta chấp vào cái thấy thức tình này,
tức cho cái thấy này có tánh, thì cái thấy này không còn
là duyên hợp giữa căn - trần - thức nữa, mà 3 thứ này
tồn tại độc lập. Đây là tính chất của pháp có tự tánh.
Như vậy, con mắt tự nó có khả năng thấy? Luận chủ sẽ
biện để ta thấy con mắt tự nó không có khả năng thấy.
Ngoài con mắt có một cái thấy tự nó có tánh thấy? Luận
chủ cũng biện để thấy, không hề tồn tại một cái thấy
có tự tánh của riêng nó. Cái phá này sẽ dẫn đến không
có người thấy cũng không có đối tượng bị thấy. Không
có người thấy, không có đối tượng bị thấy thì thức
tình nương đâu mà có? Vậy là phá xong phần thức tình. Các
căn còn lại cũng phá như vậy.
1.
Phá con mắt tự thấy
是眼則不能
Mắt ấy ắt không thể
自見其己體
Tự thấy sắc của nó
若不能自見
Nếu không thể tự thấy
云何見餘物
Làm sao thấy vật khác (2)
Đầu
tiên Luận chủ nêu cho thấy MẮT tự nó không có khả năng
thấy. Đơn giản vì, nếu nó tự thấy được, nó phải thấy
nó trước rồi mới thấy các vật khác. Vì nó cũng là một
sắc trần mà là sắc trần gần gũi nhất.
Luận
cứ này không được ngoại nhân chấp nhận : Không cần phải
tự thấy mới có thể thấy cái khác. Như lửa, có thể đốt
cháy cái khác mà không hề đốt cháy bản thân nó. Lời phản
bác hoàn toàn hợp lý. Nên nhớ, trong lý luận chỉ cần nêu
được một chứng cứ không tuân theo qui cách mà đối phương
đã đưa ra thì xem như đã bác bỏ được toàn bộ lập luận
của đối phương. Phần phản bác này không có trong bài, ta
chỉ hiểu ngầm qua cách trả lời ở phân đoạn sau.
火喻則不能
Dụ lửa thì không thể
成於眼見法
Chứng thành cho mắt thấy
去未去去時
Đi, chưa đi, đang đi
已總答是事
Đã tổng đáp việc này (3)
Luận
chủ không chấp nhận việc ngoại nhân lấy lửa cháy dụ
cho mắt thấy vì nguyên do sau :
LỬA,
bản thân nó muốn có đã phải nhờ vào các thứ khác như
nhiên liệu, chất gây cháy v.v… Gọi là ĐỐT CHÁY cũng nhờ
vào nhiều duyên mới có. Như nói “lửa đốt cháy rừng”
thì phải có rừng mới có cháy, không rừng thì không cháy.
Tương tự như ĐANG ĐI, phải nhờ vào SỰ KIỆN ĐI mới có
ĐANG ĐI. Nghĩa là, LỬA CHÁY chỉ là một pháp duyên hợp.
Đây, đang phá con mắt tự thấy. Ta không thể lấy một cái
KHÔNG TỰ dụ cho một cái TỰ. Thành nếu lấy lửa cháy dụ
cho mắt thấy thì mắt cũng chỉ là pháp duyên hợp.
Luận
cứ biện cho con mắt có thể tự thấy bị bác bỏ, nên việc
con mắt có khả năng tự thấy không được thành lập. Như
vậy, ngoài con mắt có một cái thấy riêng? Cái thấy này
tự nó có tánh của riêng nó? Điều này được nói rõ ở
phân đoạn sau.
2.
Phá cái thấy có tự tánh
見若未見時
Thấy nếu khi chưa thấy
則不名為見
Thì không gọi là thấy
而言見能見
Mà nói thấy tự thấy
是事則不然
Điều ấy là không đúng (4)
Cái
thấy thuộc thức tình thì luôn phải có đối tượng mới
gọi là thấy. Chính vì có đối tượng mới sinh thức tình.
Tức, cái thấy thức tình này phải luôn nhờ vào một cái
khác mới có mặt, tức nó không tự có. Không đáp ứng được
một trong 3 điều kiện của tự tánh, thì cái thấy thức
tình không phải là một pháp có tự tánh.
THẤY
TỰ THẤY, chỉ cho trạng thái thường hằng, tức có đối
tượng hay không, vẫn có cái thấy thức tình. Như thấy SẮC
rồi trong lòng xao xuyến. Nếu không có đối tượng, lòng
vẫn xao xuyến thì rơi vào cái thấy TỰ THẤY nói đây, tức
cho cái thấy thức tình là thường hằng, có tự tánh. Nhưng
thật ra, dù không có trước mắt, SẮC vẫn hiện diện trong
dạng tiềm ẩn, như tưởng hoặc nhớ mà có, kinh gọi là
PHÁP TRẦN, nên tâm mới động. Lúc này, pháp trần chính là
duyên khiến thức tình sinh khởi. Cho nên, khi không có duyên,
cái thấy tình thức không tồn tại. Không tồn tại ngoài
duyên thì biết nó không có tự tánh để nói THẤY TỰ THẤY.
3.
Phá người thấy và đối tượng bị thấy
見不能有見
Thấy không thể có thấy
非見亦不見
Không thấy cũng không thấy
若已破於見
Nếu đã phá cái thấy
則為破見者
Thì phá luôn người thấy (5)
離見不離見
Lìa thấy chẳng lìa thấy
見者不可得
Người thấy không thể được
以無見者故
Vì không có người thấy
何有見可見
Sao có thấy bị thấy (6)
CÓ
THẤY là diễn tả việc cái thấy có tự tánh. Do cái thấy
không có tự tánh – đã biện ở trên – nên nói “Thấy
không thể có thấy”. Còn trường hợp KHÔNG THẤY thì đương
nhiên không có thấy.
Trong
cả hai trường hợp CÓ và KHÔNG đều không tìm được cái
thấy, nên cái thấy không có.
Có
cái thấy mới gọi là người thấy. Vì vậy khi đã phá cái
thấy tức phá luôn người thấy. Người thấy đã không thì
đối tượng bị thấy cũng không.
4.
Phá phần thức tình
見可見無故
Thấy và bị thấy không
識等四法無
Thức … là bốn pháp không
四取等諸緣
Bốn thủ … và các duyên
云何當得有
Làm sao lại có được (7)
THỨC
… LÀ BỐN PHÁP, chỉ cho thức, xúc, thọ và ái. THỨC
là chỉ cho nhãn thức, nhĩ thức … cho đến ý thức. XÚC
là sự hòa hợp giữa căn, trần và thức. THỌ là chỉ cho
sự lãnh nạp của thân tâm đối với trần cảnh, là những
cảm thọ. ÁI là chỉ cho sự ưa thích và không ưa thích. Như
MẮT thấy SẮC, lúc đó có NHÃN THỨC. Sự gặp gỡ của 3
thứ đó gọi là XÚC. Chỉ nhìn thôi thì không có gì để
nói. Song do bị chi phối bởi quan niệm định kiến được
huân tập từ trước, mà từ cái XÚC ấy nảy sinh vô vàn
cảm THỌ như vui, buồn … rồi từ đó sinh thương ghét, thích
hay không thích. Những thứ như thương, ghét đó gọi chung
là ÁI.
BỐN
THỦ là dục thủ, ngã ngữ thủ, kiến thủ, giới cấm thủ.
DỤC THỦ là chỉ cho lòng tham chấp. NGÃ NGỮ THỦ là sự
tham chấp liên quan đến ngôn từ lời nói. KIẾN THỦ là ôm
giữ những quan niệm không đúng như cho ‘Chết là hết, không
có kiếp trước kiếp sau’. GIỚI CẤM THỦ là chấp chặt
vào những giới luật phi lý, cho đó là nhân của sự giải
thoát. Như giới lấy việc vùi người trong cát nóng mà cho
có thể rửa sạch mọi tội lỗi v.v…
Những
thứ trên đi chung với nhau biểu hiện cho phần thức tình.
Trên đã hiển bày người thấy và đối tượng bị thấy
đều không, tức CĂN và TRẦN đều không, thì lấy ai để
có các thứ như xúc, thọ, ái? Vậy là phá xong phần thức
tình.
Kết
luận : Ta quen sống với thức tình và coi nó như những
thứ không thể thiếu của mình. Song những thứ như cảm giác,
suy nghĩ, quan niệm chỉ do huân tập mà có, không có chất
thực. Tuy không có chất thực nhưng nếu để nó làm chủ
thì khổ đau lưu chuyển y như thực. Để tránh cái khổ đau
ấy, có khi mình gây nghiệp tạo tội không ít. Trong bài, Luận
chủ biện cho thấy, thức tình là thứ không tánh, không tánh
thì không có gì bền vững, không có gì là không thay đổi
được. Chỉ cần GIÁC BIẾT khi nó khởi lên, và không để
nó tiếp tục trong tâm, tức không tạo điều kiện cho nó
huân tập thêm vào tạng thức, thì mọi thứ sẽ hết. Đó
là lúc ta sống được với TỰ TÂM HIỆN LƯỢNG của chính
mình. Sống được với tự tâm hiện lượng thì vật thế
nào mình thấy đúng thế ấy, không thêm cũng không bớt, không
thương cũng không ghét. Như thiền sư thấy cây gậy là cây
gậy. Thấy cây gậy là cây gậy, tức thấy chỉ là thấy,
không phân tích nó thành không, cũng không niệm thầm nó là
cây gậy. Duy thức học gọi loại cảnh y như chính nó này
là HỮU CHẤT TÁNH CẢNH. Gọi là HỮU CHẤT vì còn có cảnh
cây gậy cho mình thấy. Một loại tánh cảnh nữa là VÔ CHẤT
TÁNH CẢNH, là chỉ cho cảnh giới chân như. Nói là cảnh giới
nhưng không có cảnh giới để thấy, nên gọi là vô chất.