Phá ĐI
VÀ ĐẾN
Giải
thích đề tựa
1.
PHÁ vì có chấp. ĐI và ĐẾN dùng biểu trưng cho sự vận
hành dịch chuyển của vạn pháp. Chính vì thấy có sự vận
hành dịch chuyển này, mà ta cho pháp là CÓ. Nó là một trong
các duyên góp phần củng cố quan niệm vạn pháp thực có
và làm tăng sự tham đắm của ta đối với pháp. Vì vậy
nên phá.
2.
Phá để hiển bày thực tướng của ĐI và ĐẾN.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
已去無有去
Đã đi không có đi
未去亦無去
Chưa đi không có đi
離已去未去
Lìa đã đi chưa đi
去時亦無去
Đang đi cũng không đi (1)
Mở
đầu, Luận chủ khẳng định : Đã đi, đang đi, chưa đi đều
không có đi. Nói khẳng định, là dùng KHÔNG để phá CÓ.
Vì cho là CÓ mới lấy KHÔNG để phá, hiển bày thực tướng
vượt CÓ và KHÔNG, không phải chúng thật KHÔNG. Nếu chúng
thật KHÔNG thì ta không thể thấy vạn pháp vận hành dịch
chuyển như hiện nay.
ĐÃ
ĐI, ĐANG ĐI, CHƯA ĐI biểu trưng cho SỰ KIỆN ĐI xảy ra trong
3 thời : Quá khứ, hiện tại và vị lai.
“Ngoài
đã đi, chưa đi. Đang đi cũng không đi” là hiển bày mặt
nhân duyên của ĐANG ĐI. Nếu ngay đây nhận được mặt Duyên
khởi giữa 3 thời của SỰ KIỆN ĐI – tức ĐI không có thực
tánh - thì hiểu được lời phủ định trên. Song vì không
nhận được, nên có sự phản bác :
動處則有去
Chỗ động ắt có đi
此中有去時
Trong ấy có đang đi
非已去未去
Không đã đi chưa đi
是故去時去
Nhưng đang đi có đi (2)
Đây
là thắc mắc chung của hầu hết chúng ta khi nghe sự khẳng
định ấy : ĐÃ ĐI và CHƯA ĐI nói không, có thể chấp nhận.
Nhưng ĐANG ĐI chính là việc trước mắt, là cái ‘đang là’
thì không thể không. “Chỗ động ắt có đi, trong ấy có
đang đi” là bằng chứng người hỏi đưa ra để phá lập
luận của Luận chủ. Đây là sự phản bác hoàn toàn hợp
lý với cái nhìn hiện nay. Cần nhớ, sự phản bác chỉ có
giá trị đối với hành động đang xảy ra.
Những
phân đoạn sau, là lập luận của Luận chủ biện giải cho
điều mình đã khẳng định ở nhiều khía cạnh khác nhau.
1.
Phá đang đi
云何於去時
Làm sao nơi đang đi
而當有去法
Mà có sự kiện đi
若離於去法
Nếu lìa sự kiện đi
去時不可得
Đang đi không thể được (3)
若言去時去
Nếu nói đang đi đi
是人則有咎
Người ấy ắt có sai
離去有去時
Lìa đi có đang đi
去時獨去故
Đang đi đi một mình (4)
Không
vướng trên từ ngữ mà hiểu được ý nghĩa của các khái
niệm, thì phần lý luận sẽ giảm bớt mà vấn đề cũng
trở nên dễ dàng.
SỰ
KIỆN ĐI cùng nghĩa với pháp đi, cái đi, việc đi, hành động
đi … Chúng là những khái niệm dùng để chỉ cho một sự
kiện, một sự việc hay một hành động. Khi hành động này
gắn liền với các từ ĐÃ, CHƯA hay ĐANG thì ta hình dung được
thời gian mà sự kiện ấy xảy ra. Như vậy, ý nghĩa của
khái niệm ĐANG ĐI có khác với SỰ KIỆN ĐI. ĐANG ĐI không
phải là SỰ KIỆN ĐI nhưng không lìa SỰ KIỆN ĐI mà có.
Nghĩa là, ĐANG ĐI không thể xuất hiện nếu thiếu SỰ KIỆN
ĐI nhưng ĐANG ĐI và SỰ KIỆN ĐI không phải một. Một thuộc
không gian, một bao gồm cả không và thời gian. Đây là chỗ
cần lưu ý. Lưu ý kỹ chỗ này mới hiểu được phần lý
luận sau.
ĐANG
ĐI CÓ ĐI hay “Đang đi có sự kiện đi” hay “Đang đi đi”
thì ý của chúng cũng đều khẳng định hành động đang diễn
ra đó là CÓ. Tức cho ĐANG ĐI thực sự hiện hữu. Đây là
cái nhìn của hầu hết chúng ta.
Song,
nếu CÓ thì phải có tự tánh. Có tự tánh thì khi thấy một
ĐANG ĐI xảy ra, trong ấy ĐANG ĐI và SỰ KIỆN ĐI phải là
2 phần tử độc lập với nhau. Vì pháp có tự tánh thì pháp
ấy phải tự có, duy nhất và thường trụ. Tức nó luôn tồn
tại độc lập với pháp khác. Đó là lý do vì sao Luận chủ
nói “Làm sao nói đang đi, mà có sự kiện đi? Nếu lìa sự
kiện đi, đang đi không thể được”. Nghĩa là, làm sao nói
chúng có tự tánh khi mà ĐANG ĐI và SỰ KIỆN ĐI không thể
tồn tại tách lìa nhau?
Khi
ĐANG ĐI và SỰ KIỆN ĐI không thể tồn tại thiếu nhau mà
nói “Đang đi có đi” thì người nói đó lầm. Lầm, vì
nếu cho sự kiện đang xảy ra đó là CÓ, thì cũng có nghĩa
là cho ĐANG ĐI và SỰ KIỆN ĐI cùng xuất hiện nhưng pháp
này lại độc lập với pháp kia. Độc lập thì ĐANG ĐI không
cần đến SỰ KIỆN ĐI mà vẫn tồn tại, tức “Đang đi
đi một mình”. Đó là ý nghĩa của (P.4).
Khi
cho SỰ KIỆN ĐI đang xảy ra trong hiện tại là CÓ, thì sẽ
đưa đến lỗi sau :
若去時有去
Nếu đang đi có đi
則有二種去
Thì có hai thứ đi
一謂為去時
Một là cái đang đi
二謂去時去
Hai là đi đang đi (5)
若有二去法
Nếu có hai sự đi
則有二去者
Thì có hai người đi
以離於去者
Vì lìa người đi ra
去法不可得
Sự đi không thể được (6)
Nếu
ĐANG ĐI có đi, thì SỰ KIỆN ĐI và ĐANG ĐI tồn tại độc
lập, nên nói có 2 cái đi. Có 2 cái đi thì phải có 2 người
đi. Bởi không có chủ thể thì không có hành động. Đây
là hệ quả nhận được khi cho pháp không tánh thành pháp
có tánh. Đáng nhẽ cái đi chỉ của 1 người, giờ đến 2
người mà chỉ có một cái đi.
2.
Phá người đi
若離於去者
Nếu lìa khỏi người đi
去法不可得
Cái đi không thể được
以無去法故
Vì không sự kiện đi
何得有去者
Làm sao có người đi (7)
Đây
hiển bày NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI (hành động đi) không
thể tách lìa nhau mà tồn tại. Không có chủ thể thì không
có hành động mà không có SỰ KIỆN ĐI thì cũng không có
NGƯỜI ĐI. Chánh văn đã hiển rõ ý nghĩa của nó. Đây có
thể dùng phương pháp phản chứng để chứng minh : Nếu không
có SỰ KIỆN ĐI mà vẫn có NGƯỜI ĐI : Như người ngồi,
chỉ có SỰ KIỆN NGỒI không có SỰ KIỆN ĐI, mà vẫn gọi
là NGƯỜI ĐI thì không thể được. Vì vậy, muốn có NGƯỜI
ĐI thì phải có SỰ KIỆN ĐI đi kèm, NGƯỜI NGỒI thì có
SỰ KIỆN NGỒI đi kèm. SỰ KIỆN không thể tách biệt khỏi
CHỦ THỂ HÀNH ĐỘNG.
去者則不去
Người đi thì không đi
不去者不去
Người không đi không đi
離去不去者
Lìa người đi, không đi
無第三去者
Không người đi thứ ba (8)
Trong
cả 2 trường hợp NGƯỜI ĐI hay NGƯỜI KHÔNG ĐI đều không
CÓ ĐI.
NGƯỜI
CÓ ĐI còn không đi, huống NGƯỜI KHÔNG ĐI.
“Không
người đi, không đi …” là, ngoài 2 trường hợp trên, không
còn trường hợp nào nữa để nói CÓ ĐI.
若言去者去
Nếu nói người đi đi
云何有此義
Làm sao có nghĩa này
若離於去法
Nếu lìa sự kiện đi
去者不可得
Người đi không thể có (9)
NGƯỜI
ĐI ĐI đồng nghĩa với NGƯỜI ĐI CÓ ĐI. Là chỉ cho NGƯỜI
ĐI có thực thể như ĐANG ĐI CÓ ĐI ở trên. Làm sao nói vậy
khi NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI không thể tồn tại tách biệt
nhau mà luôn có quan hệ mật thiết? Có cái này mới có cái
kia. Có cái kia mới có cái này. Có cùng có, không cùng không.
若去者有去
Nếu người đi có đi
則有二種去
Thì có hai sự đi
一謂去者去
Một là người đi đi
二謂去法去
Hai là cái đi đi (10)
NGƯỜI
ĐI ĐI là chỉ cho NGƯỜI ĐI có thực thể. CÁI ĐI ĐI là chỉ
cho CÁI ĐI có thực thể. Nếu cho NGƯỜI ĐI có thực thể
thì NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI phải là 2 phần tử độc lập,
nên nói có 2 sự đi.
若謂去者去
Nếu nói người đi đi
是人則有咎
Người ấy ắt có sai
離去有去者
Lìa đi có người đi
說去者有去
Nói người đi có đi (11)
Ai
cho NGƯỜI ĐI có thực thể, tức cho có người đi là không
đúng. Không đúng, vì cho như vậy tức cho NGƯỜI ĐI độc
lập với SỰ KIỆN ĐI, không cần đến sự kiện đi mà người
đi vẫn tồn tại. Điều này không thể.
Khi
nào không cần SỰ KIỆN ĐI mà vẫn có NGƯỜI ĐI, tức NGƯỜI
ĐI tự có, không nhờ pháp khác mới hiện hình, thì hãy nói
NGƯỜI ĐI CÓ ĐI.
3.
Phá thời điểm khởi đầu
已去中無發
Đã đi không xuất phát
未去中無發
Chưa đi không xuất phát
去時中無發
Đang đi không xuất phát
何處當有發
Xuất phát vào lúc nào? (2)
Một
hành động muốn CÓ thì phải tìm thấy chỗ khởi đầu của
nó. Xuất phát là chỉ cho cái khởi đầu đó. Luận chủ khẳng
định trong 3 thời đều không tìm thấy sự khởi đầu.
未發無去時
Chưa phát không đang đi
亦無有已去
Cũng không có đã đi
是二應有發
Cả hai nên xuất phát
未去何有發
Chưa đi sao xuất phát? (13)
Chưa
có sự bắt đầu, thì không có ĐANG ĐI và ĐÃ ĐI. Tức nơi
ĐÃ ĐI và ĐANG ĐI mới hy vọng tìm thấy sự khởi đầu.
CHƯA ĐI, tức chưa có hành động, thì sự khởi đầu không
có. Song, ngay cái ĐANG ĐI, điểm khởi đầu không còn hiện
diện, nên không thể tìm. ĐANG ĐI còn không tìm được điểm
khởi đầu, huống ĐÃ ĐI là hành động đã qua, sao có thể
tìm được điểm khởi đầu?
Đây
là mượn ngôn từ hí luận để hiển bày vạn sự vạn vật
dịch chuyển ở thế gian không hề có điểm khởi thủy chính
xác. Không bao giờ có thể tìm thấy thực sự một điểm
khởi thủy cho sự dịch chuyển cũng như xuất hiện của vạn
pháp ở thế gian. Mọi thứ đều hạn cuộc trong duyên. Trong
duyên thì giá trị của nó không mang tính trùm khắp, chỉ
mang tính tương đối.
無去無未去
Không đã đi chưa đi
亦復無去時
Cũng là không đang đi
一切無有發
Tất cả không xuất phát
何故而分別
Vì sao lại phân biệt? (14)
Cả
3 thời đều không tìm thấy điểm xuất phát, nên không có
thời điểm khởi đầu.
4.
Phá thời điểm chấm dứt
去者則不住
Người đi thì không đứng
不去者不住
Người không đi không đứng
離去不去者
Lìa người đi không đi
何有第三住
Người thứ ba nào đứng? (15)
去者若當住
Người đi nếu là đứng
云何有此義
Làm sao có nghĩa này
若當離於去
Nếu lìa sự kiện đi
去者不可得
Người đi không thể có (16)
Nếu
một hành động thực sự tồn tại thì phải tìm thấy chỗ
chấm dứt của nó. Đây dùng khái niệm ĐỨNG LẠI để diễn
tả sự kiện này. Như vậy, từ ĐỨNG LẠI chỉ xảy ra với
NGƯỜI ĐI. Nhưng NGƯỜI ĐI - tức hành động đi đang tiếp
diễn - thì không có việc đứng lại. (P.16) giải thích : NGƯỜI
ĐI thì không thể đứng lại. Vì nếu không có SỰ KIỆN ĐI
thì không có NGƯỜI ĐI. Muốn có ĐỨNG LẠI thì phải là
sự kiện đứng lại. Nhưng đi kèm với SỰ KIỆN ĐỨNG LẠI
thì đó là NGƯỜI ĐỨNG LẠI không phải là NGƯỜI ĐI. Không
phải NGƯỜI ĐI thì không có việc đứng lại.
去未去無住
Đã, chưa đi không đứng
去時亦無住
Đang đi cũng không đứng
所有行止法
Mọi biến hành đình chỉ
皆同於去義
Đều đồng với nghĩa đi (17)
Trong
cả 3 thời đều không tìm thấy chỗ chấm dứt của hành
động, nên không có sự chấm dứt. Mọi biến hành đình chỉ
khác ở thế gian đều như thế.
Với
cái nhìn của người xưa, những lý giải ở các (P.3) và (P.4)
tuy trên ngôn từ không thể phản bác, nhưng so với thực tế
thì kết luận của nó khó có thể chấp nhận. Vì rõ ràng,
bất cứ một hành động nào xảy ra, ta đều thấy có sự
khởi đầu và chấm dứt. Nhưng thực ra, không bao giờ có
thể xác định chính xác thời điểm khởi đầu cũng như
chấm dứt này. Ngày nay, với sự tiến triển của khoa học
hiện đại, điều này đã được xác minh.
Đối
với một hành động mà sự hiện khởi, thời điểm khởi
đầu, thời điểm chấm dứt lẫn chủ thể của hành động
đó, đều không thể tìm thấy chính xác thì không thể cho
tiến trình ấy là CÓ.
5.
Phá thuyết Kết hợp
Đây
là cái phá cuối cùng. Qua cách phá ta hiểu chỗ chấp của
người thời ấy : Các pháp đều có tự tánh mà vẫn có thể
hòa hợp để tạo thành một pháp mới nhờ thuyết Kết hợp.
Như NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI là hai thực thể, chúng vẫn
có thể kết hợp với nhau thành NGƯỜI ĐI. Vì vậy, NGƯỜI
ĐI cũng là pháp có tự tánh. Tức cho các sự thể đang vận
hành đây đều là thực có. Luận chủ sẽ chứng minh để
ta thấy không có việc ấy.
Hỏi
: Phá thuyết Kết hợp cũng chỉ là phá NGƯỜI ĐI. Trên đã
phá sao giờ còn lập lại?
Đáp
: Khi nhìn một người ĐANG ĐI, người đời cho rằng
có một thực thể đang hoạt động. Qua phần phá trên, Luận
chủ cho thấy cái “thực thể” ấy chỉ là một pháp nhân
duyên. NGƯỜI ĐI nhơn nơi SỰ KIỆN ĐI mà có nên SỰ KIỆN
ĐI là nhân, NGƯỜI ĐI là quả. Ngược lại, SỰ KIỆN ĐI
nhơn nơi NGƯỜI ĐI mà hiện hữu nên NGƯỜI ĐI là nhân, SỰ
KIỆN ĐI là quả. Như vậy, NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI là
pháp duyên khởi. Duyên khởi thì không tánh. Vì vậy, người
đi không thể là một thực thể.
Đến
đây vấn đề kết hợp mới xuất hiện. Người hỏi không
thể phản bác lập luận trên, nhưng để cứu vãn tình thế,
đã đưa ra thuyết Kết hợp, hầu giải quyết vấn đề thực
tánh của mình. Nghĩa là, người hỏi dùng pháp kết hợp thay
cho pháp duyên sanh để biện cho vấn đề có tánh của pháp.
Hỏi
: Tại sao không kết hợp giữa NGƯỜI và SỰ KIỆN ĐI để
thành NGƯỜI ĐI, mà lại kết hợp NGƯỜI ĐI với SỰ KIỆN
ĐI?
Đáp
: Theo thuyết Kết hợp, muốn kết hợp 2 pháp lại với
nhau thì 2 pháp ấy phải có rồi mới nói đến chuyện kết
hợp. SỰ KIỆN ĐI chỉ có khi có NGƯỜI ĐI. Vì vậy, chỉ
có thể kết hợp giữa NGƯỜI ĐI với SỰ KIỆN ĐI mà không
thể kết hợp giữa NGƯỜI và SỰ KIỆN ĐI. Đây là chỗ
tinh tế của vấn đề. Chính vì cái lắc léo này mà Luận
chủ nêu bày chúng là MỘT hay là KHÁC khi nói chúng kết hợp?
Trong cả 2 trường hợp đều không thể được. Các phân đoạn
sau, Luận chủ luận để thấy cái không thể được này.
去法即去者
Pháp đi là người đi
是事則不然
Việc ấy là không đúng
去法異去者
Pháp đi khác người đi
是事亦不然
Việc ấy cũng không đúng (18)
若謂於去法
Nếu nói sự kiện đi
即為是去者
Cũng chính là người đi
作者及作業
Tác giả và tác nghiệp
是事則為一
Việc ấy ắt là một (19)
若謂於去法
Nếu nói sự kiện đi
有異於去者
Có khác với người đi
離去者有去
Lìa người đi có đi
離去有去者
Lìa đi có người đi (20)
Tác
giả là chỉ cho NGƯỜI ĐI, tác nghiệp là chỉ cho HÀNH ĐỘNG
ĐI. 2 thứ này không thể là MỘT. Nếu KHÁC, thì NGƯỜI ĐI
và SỰ KIỆN ĐI phải tách nhau được. Không có cái này, cái
kia vẫn hiện diện một mình. Trên thực tế, không có cái
này, cái kia cũng không. Vì thế, chúng không thể khác.
Sau
là tổng kết.
去去者是二
Đi người đi là hai
若一異法成
Nếu một, khác được thành
二門俱不成
Hai món đều không thành
云何當有成
Làm sao lại có thành? (21)
Nếu
người đi và sự kiện đi tồn tại được trong dạng hoặc
MỘT hoặc KHÁC thì thuyết kết hợp mới có giá trị. Song
luận ra thì MỘT và KHÁC đều không thể được. Không được,
làm sao thuyết Kết hợp có giá trị? LÀM SAO THÀNH là chỉ
cho cái giá trị ấy.
6.
Hiển bày thực tướng của người đi
因去知去者
Nhơn đi biết người đi
不能用異去
Không thể dùng đi khác
先無有去法
Trước không có pháp đi
故無去者去
Nên không người đi đi (22)
NHƠN
ĐI BIẾT NGƯỜI ĐI là chỉ cho NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI
hình thành theo quan hệ nhân duyên. Theo quan hệ này thì chúng
không tánh.
KHÔNG
THỂ DÙNG ĐI KHÁC là, hình thành theo quan hệ nhân duyên thì
nhân và quả không lìa nhau, chúng không phải là các thực
thể.
Vì
không tự tánh nên không thể tồn tại độc lập để cái
này có thể xuất hiện trước cái kia. Vì thế, TRƯỚC KHÔNG
CÓ PHÁP ĐI là chỉ cho việc NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI không
phải là pháp có tánh.
NÊN
KHÔNG NGƯỜI ĐI ĐI là muốn nhấn mạnh NGƯỜI ĐI không có
tánh.
因去知去者
Nhơn đi biết người đi
不能用異去
Chẳng thể dùng đi khác
於一去者中
Vì trong một người đi
不得二去故
Không có hai sự đi (23)
Là
pháp nhân duyên nên chúng không phải là các thực thể. Vì
vậy, NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI không phải là 2 pháp tách
biệt. Nên nói “Vì trong một người đi, không có hai sự
đi”.
Tổng
kết
決定有去者
Người đi quyết định có
不能用三去
Không dùng ba sự đi
不決定去者
Người đi quyết định không
亦不用三去
Không dùng ba sự đi (24)
去法定不定
Sự đi định không định
去者不用三
Người đi chẳng dùng ba
是故去去者
Nên sự đi người đi
所去處皆無
Chỗ đi đến đều không (25)
Quyết
định có, quyết định không là chỉ cho pháp thực có hay
thực không.
3 SỰ
ĐI là chỉ SỰ KIỆN ĐI xảy ra trong 3 thời quá khứ, hiện
tại và vị lai.
Khi
cho NGƯỜI ĐI thực không thì không có 3 SỰ ĐI.
Khi
cho NGƯỜI ĐI thực có, tức có tự tánh thì NGƯỜI ĐI không
cần đến SỰ KIỆN ĐI vẫn tồn tại, nên nói không dùng
3 SỰ ĐI.
SỰ
ĐI ĐỊNH, KHÔNG ĐỊNH” tức SỰ ĐI quyết định có, quyết
định không. Khi SỰ KIỆN ĐI là một thực thể thì SỰ KIỆN
ĐI và NGƯỜI ĐI tồn tại độc lập với nhau, nên nói NGƯỜI
ĐI CHẲNG DÙNG BA.
Trên
thực tế, không có SỰ KIỆN ĐI thì không có NGƯỜI ĐI, không
có NGƯỜI ĐI thì không có SỰ KIỆN ĐI. Chúng hình thành theo
quan hệ nhân duyên nên tánh chúng là không. NGƯỜI ĐI đã
không thì chỗ đi và đến cũng không. Vì thế nói “Nên sự
đi người đi, chỗ đi đến đều không”.