Phá NHÂN
DUYÊN
Giải
thích đề tựa
NHÂN
DUYÊN nói đây chính là Lý Nhân Duyên. Gọi là LÝ vì nó là
qui luật chi phối toàn bộ vạn pháp ở thế gian. Nhân Duyên
là nhân và duyên. Như cây mít, giống mít là NHÂN, những điều
kiện phụ trợ giúp cây mít thành hình như đất, nước, phân
bón, nhân công v.v… gọi là DUYÊN. Như vậy, nhân cũng là
một duyên nhưng mang tính chủ chốt hơn những duyên còn lại.
Để có cái quả là cây mít, nhân và duyên phải đầy đủ.
Tất cả pháp ở thế gian đều hình thành theo qui luật ấy,
nên gọi là LÝ.
Trong
Thập Nhị Môn Luận, ngài Long Thọ nói về Nhân Duyên như
sau “Nhân Duyên là cái mà pháp từ đó sanh ra, đã từ đó
sanh ra, hiện từ đó sanh ra và sẽ từ đó sanh ra”. SANH,
là trước không nay có, ngay khi có gọi là sanh. Những gì xuất
hiện theo qui luật ấy đều gọi là sanh. ĐÃ, HIỆN và SẼ
là chỉ cho 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai.
Nhân
Duyên là lý chi phối toàn bộ vạn pháp ở thế gian, vì
sao lại phá?
PHÁ,
là từ được dùng khi có sự CHẤP THỦ xuất hiện. Có chấp
thủ mới nói đến phá. Không chấp thủ thì không phá. Chấp
thủ là ôm giữ nắm chặt. Vì sao ôm giữ nắm chặt? Vì cho
thứ được nắm giữ ấy là thực. Vì vậy, khi nói đến
sự chấp thủ cũng có nghĩa là nói đến cái mình đang chấp
đó
là thực. Như nói “Chấp thủ thân ngũ uẩn” tức gián tiếp
nói rằng “Thân ngũ uẩn là thực”. Nhưng thân ngũ uẩn
này không thực. Phá chính là phá đi cái thấy là thực đó,
để hiển bày đúng bản chất của pháp là không thực cũng
không không thực. Nói không thực, là vì chấp có thực mà
nói không thực.
Nhân
Duyên là đầu mối sanh ra vạn pháp ở thế gian, nhưng nó
chưa phải là đầu mối tận cùng. Nhận được chỗ tận
cùng này, sẽ thấy Nhân Duyên cũng cũng là pháp hư huyễn
không thực. Nó chỉ là mặt hiện tượng thị hiện cho một
bản thể chung cùng của vạn pháp mà thôi. Bản thể ấy kinh
gọi là tánh không. Gọi là tánh không vì tuy nói là bản thể
mà bản thể ấy KHÔNG. Cái KHÔNG này không thuộc phạm trù
có - không ở thế gian. Phá là để hiển bày bản thể ấy.
Luận đây gọi nó là thực tướng, thực tánh hay tự tánh
của vạn pháp.
Như
vậy, PHÁ NHÂN DUYÊN không phải là phủ định hoàn toàn Nhân
Duyên, không phải là bác bỏ những gì đang xảy ra trong hiện
tại qua cái thấy sanh diệt. PHÁ, để giúp người đời nhận
ra được chân tướng của Nhân Duyên. PHÁ, để hiển bày
niết bàn BẢO SỞ mà chư Phật đã đạt đến.
Lại,
gọi là thực lý thì cái lý ấy phải luôn phù hợp với mọi
lúc, mọi nơi và mọi hiện tượng - từ vật chất đến tinh
thần. Vì thế, dù Nhân Duyên là lý chi phối toàn bộ vạn
pháp ở thế gian, song nếu chấp nhận CÓ một Lý Nhân Duyên
tồn tại chi phối sự vận hành của vạn pháp thì thực lý
DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH kia không còn là thực lý nữa, vì
đã có một pháp Nhân Duyên không bị chi phối bởi thực lý
này. Vì vậy phải phá.
Một
số chi tiết cần nắm vững
VÔ
SANH : Đây là từ quan trọng của toàn bộ luận, nhất là
ở phẩm này. Nó là tinh thần chính mà phẩm muốn hiển bày
: Thực tánh của vạn pháp. Thực tánh của vạn pháp là VÔ
SANH. [03] Vô sanh, nghĩa của nó là không sanh. Nói vô sanh, không
có nghĩa là không hề sanh khởi mà vì không có tự tánh. Trong
kinh Lăng Già, đức Phật nói về từ VÔ SANH như sau :
-Lìa
tự tánh tức vô sanh.
-Chẳng
sanh chẳng phải chẳng sanh, trừ người trụ tam muội, ấy
gọi là vô sanh.
-Ngay
khi sanh mà chẳng sanh …
Bất
cứ sự vật hay hình tượng nào đáp ứng được một trong
các ý nghĩa trên, gọi là pháp vô sanh. Vạn pháp ở thế gian
đều đáp ứng tiêu chuẩn ấy nên VÔ SANH chính là thực tướng
của vạn pháp. Song khi ta còn nhìn pháp bằng những tri thức
bị ràng buộc trong phạm trù CÓ hoặc KHÔNG - gọi chung là
nhị biên phân biệt - thì ta không thể nhận được thể VÔ
SANH này. Vì thế VÔ SANH không được dùng như một động
từ mà nó được dùng để diễn tả một cảnh giới của
tâm thức thì đúng hơn. Tuy nói cảnh giới mà không có cảnh
giới để nhận biết. Đó là lúc ta thể nghiệm được ta
và vạn pháp đồng một bản thể. Bản thể này không thuộc
phạm trù CÓ - KHÔNG của thế gian, vượt luôn trạng thái
không tịch của Nhị thừa.
Tuy
nói vô sanh là thực tướng của vạn pháp nhưng đó là do
người đời chấp có sanh. Vì chấp mà phải lập để phá.
Không chấp có sanh thì vô sanh cũng không lập.
TỰ
TÁNH : Từ này được sử dụng khá nhiều trong toàn bộ luận.
Người xưa đã ấn định 3 đặc điểm TỰ CÓ, DUY NHẤT và
THƯỜNG TRUï làm tính chất của tự tánh. Vì vậy, một pháp
được gọi là có tự tánh khi pháp ấy hội đủ 3 đặc điểm
trên. Pháp nào hội đủ 3 đặc điểm trên, gọi là pháp có
tự tánh.
Do
3 tính chất ấy, nên pháp có tự tánh là pháp thực có, không
phải là thứ huyễn hóa như đức Phật đã nói. Song do đâu
lại xuất hiện 3 tính chất này? Không phải chỉ là những
tri thức suy luận như của MỘT SỐ triết gia phương Tây mà
nó là những kinh nghiệm được rút ra trong quá trình thiền
định. Như thấy vạn pháp từ 4 thứ đất, nước, gió, lửa
hóa ra, liền chấp 4 ĐẠI là bản thể thường trụ, tự có
và duy nhất sanh ra muôn pháp. Hoặc như trong tác phẩm Hoa Trôi
Trên Sóng Nước, nữ thiền sư thấy mình hòa nhập với đấng
Tự Tại Thiên. Không có thầy, cái thấy ấy sẽ thành cái
chấp có một vị thượng đế : Ta từ thượng đế sanh ra
và trở về lại với thượng đế, rồi cho vị thượng đế
ấy là bản thể tối cùng của muôn loài. Thấy 4 ĐẠI sanh
ra muôn pháp hay thấy mình hòa nhập với đấng tự tại thì
không lỗi. Lỗi là ở chỗ cho 4 đại và đấng tự tại ấy
là bản thể tối cùng của muôn pháp. Cái thể tối cùng thực
sự của muôn pháp là cội nguồn chân thật nhất tâm, không
phải mấy thứ đó. 4 đại hay đấng tự tại chỉ là những
biến hiện của tự tâm, đều huyễn hóa không thực. Do công
phu thiền định còn lòng vòng trong THỨC ẤM, [04] nên thấy
các cảnh giới trên. [05] Chỉ khi đạt được ngũ ấm đều
không - tức thức ấm cũng không - ta mới thực sự hiểu được
thực chất của những cảnh giới ấy. Đây là do cái thấy
tới hay chưa tới mà pháp thành có tánh hay không tánh.
Do
độc lập, tự có và thường trụ nên khi nói “A và B là
hai pháp có tự tánh” thì ta phải hiểu A và B tồn tại độc
lập với nhau. Vì không liên quan gì đến nhau, nên A có thể
có trước, có sau và có đồng thời với B. Đây là chỗ cần
lưu ý. Luận chủ dựa vào đây để lập luận phá bỏ pháp
có tự tánh ở các phẩm sau.
SANH
: Từ này chỉ xuất hiện khi có từ tự tánh, vì pháp có
tự tánh mới sanh được. Điều này không có gì lạ. Như
thấy được chỗ 4 đại sanh ra muôn pháp, đương nhiên sẽ
cho có 4 đại, có tướng sanh và có vạn pháp. Nếu thấy 4
đại chỉ là sự biến hiện của tâm thì pháp được sanh
từ 4 đại cũng chỉ là sự biến hiện của tâm. Tướng SANH
được thấy đó sẽ trở thành huyễn hóa không thực, tức
không có tự tánh. Vì thế, không tìm thấy tướng sanh là
luận cứ Luận chủ dùng để biện cho vấn đề vô sanh, hầu
giúp ta thấy vạn pháp không có tự tánh, chỉ là thứ huyễn
hóa không thực.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
不生亦不滅
Không sanh cũng không diệt
不常亦不斷
Không thường cũng không đoạn
不一亦不異
Không một cũng không khác
不來亦不出
Không đến cũng không đi (1)
Phân
đoạn đây được gọi là BÁT BẤT. Âm Hán là “Bất sanh
diệc bất diệt. Bất thường …”. Bắt đầu bằng 8 chữ
BẤT, nên gọi là BÁT BẤT.
Mượn
chữ BẤT để tạm hiển bày thực tánh của vạn pháp không
thuộc phạm trù nhị biên như có - không, được - mất, sanh
- diệt v.v... Tương tự như trong kinh Lăng Già, đức Phật
trả lời câu hỏi của ngài Đại Huệ bắt đầu bằng một
chữ PHI. Chúng không một cũng không khác. KHÔNG MỘT vì 108
là đi vào chi tiết còn 8 là nói tổng quát. KHÔNG KHÁC vì
đều dùng để hiển thực tướng của vạn pháp. Ngài Hàm
Thị nói “Đây là lời chỉ thẳng. Chỉ ngăn cái quấy kia
mà chẳng nói cái phải kia. Nếu có chỗ phải thì nào khác
cái quấy. Như vàng làm đồ trang sức, nghĩa là vàng không
phải bình, không phải xuyến, không phải thoa ... khiến người
ngay đó thấu suốt. “Không phải” nghĩa là không phải bình,
không phải xuyến … để rõ nó là vàng vậy!”.
Những
ai có căn tánh lanh lợi, có thể ngay đây nhận ra tánh chân
không vượt ngoài các đối đãi phân biệt. Nếu không thể
ngay đó liền nhận, Trung Luận sẽ mở cửa phương tiện để
chứng minh những nhận thức rơi vào nhị biên là không phù
hợp với thực tánh của vạn pháp. Đây là kết cấu của
hầu hết các bộ kinh Đại thừa liễu nghĩa. Chỉ thẳng trước,
phương tiện sau. Vì thế BÁT BẤT được nêu ra đầu tiên
trong toàn luận. Nó là cương lĩnh của cả 27 phẩm. 4 vế
đối đãi này bao trùm tất cả sự hiện khởi, vận hành
của vạn pháp trên thế gian, cả về mặt không gian lẫn thời
gian.
Về
mặt TU HÀNH, nó là chỗ ngôn từ kiến giải không đến được,
chỉ là chỗ TỰ NGỘ. Chứng được chỗ này chính là chứng
được cái nhân vô sanh, còn gọi là nhân Phật tánh để có
cái quả là niết bàn Phật mà kinh Lăng Già đã nói.
Về
mặt NGÔN TỪ LÝ LUẬN, tức cửa phương tiện, BÁT BẤT được
dùng làm chỗ qui về. Vì thế đừng ngạc nhiên khi thấy trong
toàn bộ luận, bất cứ lý giải nào cũng được lập luận
để đưa về một trong bốn dạng của BÁT BẤT. Đưa về
được, tức đáp ứng được tinh thần vô sanh mà phẩm muốn
hiển bày.
Thực
tướng của vạn pháp được phương tiện thành BÁT BẤT nói
đây, sẽ được hiển rõ qua phần luận lý cũng như các thí
dụ trong các phẩm sau. Phần này, để phần luận chính được
tập trung, không dùng thí dụ luận rộng.
能說是因緣
Hay thuyết nhân duyên ấy
善滅諸戲論
Khéo diệt các hí luận
我稽首禮佛
Con cúi đầu lễ Phật
諸說中第一
Bậc nhất trong các thuyết (2)
Đây
là tán thán Phật và pháp Phật thuyết. Nêu tác dụng của
BÁT BẤT là diệt các hí luận. NHÂN DUYÊN ẤY, là chỉ cho
BÁT BẤT. Trung Luận Sớ quyển 01 ghi :
Hí
luận có hai : Ái luận và kiến luận.
1.
Ái luận, là đối với pháp có tâm thủ trước.
2.
Kiến luận, là đối với pháp, nêu ra sự hiểu biết quyết
định. [06]
Đây
có 2 ý : Nếu thâm nhập được BÁT BẤT, tức tâm ở cảnh
giới “không có cũng không không” thì hí luận chấm dứt.
Không CÓ, tức không bị vọng tưởng của phàm phu dẫn dắt.
Không KHÔNG, tức không rơi vào trạng thái không tịch của
Nhị thừa. Không rơi vào 2 trường hợp trên thì hí luận
ngay đó chấm dứt. Còn chưa thâm nhập được cảnh giới
ấy thì từ BÁT BẤT, Luận chủ mở cửa phương tiện. Hiểu
và tu tập thì hí luận cũng dần dần chấm dứt.
Câu
cuối, âm Hán là “Chư thuyết trung đệ nhất”. Không biết
bản Phạn ra sao, chỉ căn cứ trên bản Hán thì CHƯ THUYẾT
nói đây, có thể chỉ cho NĂNG THUYẾT, là người thuyết.
Có thể chỉ cho SỞ THUYẾT, là pháp được thuyết. Như vậy,
câu này hoặc ca ngợi đức Phật, hoặc ca ngợi pháp NHÂN
DUYÊN, hoặc ca ngợi cả hai.
Sau,
đi vào vấn đề chính.
諸法不自生
Các pháp chẳng tự sanh
亦不從他生
Cũng chẳng từ tha sanh
不共不無因
Chẳng cộng chẳng vô nhân
是故知無生
Cho nên biết vô sanh (3)
Đây
là những chấp thủ của ngoại đạo. Tự sanh, tha sanh, cộng
sanh và vô nhân sanh là quan niệm của người đời đối với
vạn pháp.
TỰ
SANH là tự nó sanh ra một thứ y như chính nó mà không cần
một điều kiện hay yếu tố nào khác. Như cây mít sanh ngay
ra một cây mít khác mà không cần đến đất, nước v.v…
Quan niệm này so với sự vận hành và sanh khởi của vạn
pháp hiện nay là thô thiển.
THA
SANH là từ cái khác sanh ra mà không cần đến yếu tố nào
khác. Nó cũng dùng để chỉ cho quan niệm thượng đế sanh
ra muôn loài.
Với
những thứ trước mắt trong đời sống đây, quan niệm này
khó có thể chấp nhận. Như gà không thể sanh ra heo. Nếu
không có nhiều duyên khác phù trợ như thụ tinh v.v... thì
ngay cả heo cũng không thể sanh ra heo. Riêng trường hợp thượng
đế sanh ra muôn loài thì vấn đề lại thuộc tâm linh sâu
kín. Vì thế nó vẫn còn là đề tài nóng bỏng, tranh luận
khá nhiều. Song đã có những câu hỏi nghi ngờ về vấn đề
này trong chính những người từng tin vào thượng đế : Nếu
thực có một đấng toàn năng sanh ra muôn loài, vì sao lời
cầu nguyện của họ lúc được lúc không? Vì sao thượng
đế không tạo ra một thế giới an bình mà luôn là chiến
tranh và đao binh? Vì sao cùng một đấng thượng đế sinh ra
mà kẻ lành, người dữ, kẻ giàu, người nghèo v.v… Có phải
tất cả đều do chính thượng đế sanh ra hay còn một thứ
gì khác quyết định sự khác biệt ấy?
Với
cái nhìn của các nhà vật lý thiên văn hiện đại, vấn đề
thượng đế gần như bị bác bỏ hoàn toàn. Vì thời gian
xuất hiện đồng thời với không gian. Trong Giai Điệu Bí
Ẩn, giáo sư Trịnh Xuân Thuận nói “Vật lý hiện đại cho
rằng thời gian và không gian được tạo ra đồng thời với
vũ trụ. Khái niệm này không phải là mới. Ngay từ thế kỷ
thứ IV sau công nguyên, chính thánh Augustin đã viết rằng,
thế giới không phải được tạo ra trong thời gian mà là
với thời gian. Sẽ thật khôi hài nếu nghĩ rằng thượng
đế phải đợi một khoảng thời gian dài vô hạn rồi mới
đột nhiên quyết định tạo ra vũ trụ. Cụm từ sáng tạo
ra vũ trụ phỏng còn ý nghĩa gì nếu thời gian không tồn
tại và chỉ xuất hiện cùng với vũ trụ?” v.v...
CỘNG
SANH là vừa tự sanh vừa tha sanh.
VÔ
NHÂN SANH tức là không có nguyên nhân và điều kiện để
pháp thành hình. Đây là quan niệm tự nhiên hay ngẫu nhiên
của người đời.
Phủ
định mà không lý giải 4 sanh, vì chúng không phải là điểm
chủ yếu mà luận muốn nói đến. Điểm chủ yếu ở đây
là NHÂN DUYÊN như đề tựa đã nêu. Kinh và luận ra đời
đều có nguyên nhân và mục đích. Mục đích của luận này
là nhắm vào hàng Tiểu và Trung thừa, là những vị đã tin
Phật, hiểu đạo, đã thấy rõ các pháp do Nhân Duyên sanh,
nên 4 thứ tự sanh, tha sanh v.v… trở thành thô thiển không
cần bàn. Song vẫn được đưa ra vì tính chặt chẽ của bộ
luận.
Do
không tự, không tha, không cộng, không vô nhân nên Luận chủ
kết luận CHO NÊN BIẾT VÔ SANH. Phân đoạn sau sẽ giải thích
cho điều vừa khẳng định.
如諸法自性
Như tự tánh các pháp
不在於緣中
Không tồn tại trong duyên
以無自性故
Bởi không có tự tánh
他性亦復無
Nên tha tánh cũng không (4)
Đây
là kết luận về PHÁP VÔ SANH trên. Vô sanh vì pháp không có
tự tánh. Vì sao? Vì muốn sanh thì phải có tự tánh. Song các
pháp ở thế gian là pháp nhân duyên. Pháp nhân duyên không
phải là pháp tự có và duy nhất mà cần rất nhiều duyên.
Đủ duyên pháp hình thành và tồn tại, hết duyên pháp tan
rã. Vì thế pháp nhân duyên không phải là pháp thường trụ.
Không đáp ứng đủ 3 đặc điểm của tự tánh, nên pháp
nhân duyên không phải là pháp có tự tánh. Vì vậy nói “Như
tự tánh các pháp, không tồn tại trong duyên”.
Không
tự tánh thì không sanh, nên không TỰ SANH. Không tự tánh thì
cũng không có tha tánh. Vì tha tánh chính là tự tánh của pháp
tha. Tự đã không tánh thì tự của tha cũng không tánh, nên
cũng không có tha tánh. Không tha tánh thì không có THA SANH.
Tự sanh và tha sanh đã không thì CỘNG SANH cũng không. Luận
chủ kết luận các pháp VÔ SANH.
因緣次第緣
Nhân duyên Thứ đệ duyên
緣緣增上緣
Duyên duyên Tăng thượng duyên
四緣生諸法
Bốn duyên sanh các pháp
更無第五緣
Không có duyên thứ năm (5)
Phân
đoạn này xác định sự tồn tại của 4 duyên. Đứng về
phương diện tranh luận, phần này là của người đang tranh
luận với Luận chủ. Xác định 4 duyên là để phản bác
phần vô sanh mà Luận chủ đã kết luận : Tuy không tự, không
tha, không cộng, không vô nhân, nhưng vẫn còn có Nhân duyên
sanh, không phải là vô sanh như Luận chủ đã nói. Vấn đề
đặt nặng ở chữ SANH này. Nghĩa là, dù biết pháp do nhân
duyên sanh nhưng lại cho là CÓ nhân duyên, tức cho nhân duyên
là pháp có tự tánh. Đây là chỗ chấp của Nhị thừa, cũng
là phần phá chính của phẩm.
4 duyên
này là do Phật dạy trong kinh : Nhân duyên, Thứ đệ duyên,
Duyên duyên và Tăng thượng duyên. Nhân duyên là nói tổng
quát, 4 duyên là nói chi tiết. Chỉ có 4 thứ, nên nói “Không
có duyên thứ năm”.
4 duyên
này chi phối toàn bộ vạn pháp ở thế gian, nhưng tùy pháp
mà lúc thì Nhân duyên và Duyên duyên chi phối, lúc thì 3 duyên
hay cả 4 duyên chi phối v.v... Muốn phá Nhân duyên, phải phá
vào cả 4 duyên mới đủ. Nên trong phẩm, ngoài phần phá Nhân
duyên tổng quát có thêm phần phá 4 duyên. Nội dung của 4
duyên sẽ được giải thích rõ trong phần phá 4 duyên.
果為從緣生
Quả là từ duyên sanh
為從非緣生
Hay từ phi duyên sanh?
是緣為有果
Duyên ấy là có quả
是緣為無果
Hay duyên ấy không quả? (6)
QUẢ
là chỉ cho pháp được sanh. Như bột, đường v.v… làm thành
bánh. Bánh gọi là QUẢ. Các thứ như bột, đường … gọi
là DUYÊN.
DUYÊN
cũng dùng để chỉ chung cho cả nhân và duyên tạo thành pháp.
Đây là mặt duyên khởi của pháp. Tùy duyên mà pháp được
nhìn theo nhiều góc độ khác nhau. Trên mặt tổng quát thì
NHÂN và DUYÊN đều gọi là DUYÊN. Trên mặt phụ và chính
thì phân thành NHÂN và DUYÊN. Trên mặt Nhân Quả thì NHÂN
và DUYÊN đều gọi là NHÂN, pháp được sinh ra gọi là QUẢ.
Đây
tuy là câu trả lời nhưng lại là một câu hỏi vặn. Có hai
ý :
a.
Nếu nói có 4 duyên sanh pháp, thì pháp được sanh đó là từ
duyên hay từ phi duyên?
b.
Nếu từ duyên ra thì duyên ấy có quả hay duyên ấy không
quả?
Đây
có 2 chỗ cần lưu ý : Đã nói 4 duyên sanh ra pháp, thì pháp
phải từ duyên sanh ra, vì sao còn hỏi “Quả là từ duyên
sanh, hay từ phi duyên sanh?”. Đã nói từ duyên ra, thì phải
có quả, vì sao còn hỏi “Duyên ấy là có quả, hay duyên
ấy không quả?”. Đã có gì xảy ra trong quá trình đi từ
duyên đến quả mà hỏi như thế?
Đầu
tiên, cần nắm vững về hai từ DUYÊN và PHI DUYÊN.
DUYÊN
: Những yếu tố tạo thành một pháp mới, gọi là duyên.
Như giống mít, đất, nước v.v… là duyên của cây mít. Bột,
sữa, đường … là duyên của bánh.
PHI
DUYÊN : Có 2 trường hợp :
-Không
phải duyên. Như hột mít, đất và phân bón không phải là
duyên của bánh.
-Chưa
phải duyên. Như bột, sữa, đường … khi chưa thành bánh,
thứ nào ở vị trí thứ đó thì chúng chưa thể gọi là duyên
của bánh. Vì chúng vẫn còn khả năng để làm thành các thứ
khác, nên chưa hẳn đã là duyên của bánh. Thậm chí đã có
sự hòa hợp mà bánh chưa có thì các thứ ấy cũng chưa gọi
là duyên của bánh. Nghĩa là, TRƯỚC KHI có quả thì chỉ có
PHI DUYÊN. Cách lập luận này hoàn toàn hợp lý.
Phân
đoạn (7) sau trả lời cho câu hỏi a. Phân đoạn (8) trả
lời cho câu hỏi b.
因是法生果
Nhơn pháp ấy sanh quả
是法名為緣
Pháp ấy gọi là duyên
若是果未生
Nếu quả ấy chưa sanh
何不名非緣
Sao không gọi phi duyên? (7)
PHÁP,
chỉ cho nhân và duyên. Không gọi là nhân duyên mà gọi là
pháp, vì phải chờ xem có quả không đã. Quả xuất hiện,
mới gọi pháp ấy là duyên. Quả không xuất hiện, pháp ấy
lại là phi duyên. Vì vậy nói “Nhờ pháp có sanh quả, pháp
ấy gọi là duyên”.
“Nếu
quả ấy chưa sanh, sao không gọi phi duyên?” là một lời
đề nghị, nhắc nhở ta lưu ý đến tính chất của duyên
và phi duyên : Trước khi có quả, chỉ có phi duyên chứ không
có duyên.
Như
vậy DUYÊN và QUẢ là hai thứ luôn gắn chặt vào nhau : Cái
này có, cái kia mới có. Cái này không, cái kia cũng không.
Có cùng có, không cùng không. Vậy, muốn gọi là NHÂN là QUẢ
của nhau thì NHÂN và QUẢ này phải xuất hiện đồng thời.
Nhưng nếu đồng hiện thì sao có thể gọi là NHÂN là QUẢ?
Như sừng trâu đồng hiện, không thể bảo cái này là nhân
của cái kia.
Vậy
pháp từ DUYÊN sanh hay từ PHI DUYÊN sanh? Nếu từ duyên sanh
thì duyên và quả phải đồng thời. ĐỒNG THỜI thì không
phải là duyên là quả của nhau. Tức không có duyên sanh ra
quả. Nếu có THỨ LỚP trước sau rõ ràng để hình thành
quan hệ nhân quả như ta thấy hiện nay, thì chỉ có phi duyên
mà không có duyên. Phi duyên lại không có quả.
Đồng
thời hay thứ lớp đều không thể sanh thì không còn trường
hợp nào để sanh nữa, nên nói VÔ SANH. Vì thế ở đoạn
kết, Luận chủ nói “Quả chẳng từ duyên sanh, chẳng từ
phi duyên sanh”. Đây là một dạng của BÁT BẤT.
果先於緣中
Quả trước ở trong duyên
有無俱不可
Có không đều bất thành
先無為誰緣
Trước không lấy gì duyên?
先有何用緣
Trước có sao dùng duyên? (8)
Đây
là trả lời phần b trên : Duyên ấy có quả hay không quả?
-Nếu
duyên ấy có quả. Có quả rồi thì cần gì đến duyên để
sanh ra quả nữa? Vì vậy nói “Trước có sao dùng duyên?”
-Nếu
duyên ấy không có quả. Không quả thì không có duyên mà chỉ
có phi duyên. Vừa lập luận ở phần trên. Không có duyên
thì lấy gì để sanh quả? Vì thế nói “Trước không lấy
gì duyên?”.
Vậy
duyên ấy có quả hay không quả? Không thể khẳng định. Vì
bản chất của pháp không thuộc phạm trù CÓ hay KHÔNG, để
có thể khẳng định là có quả hay không quả.
“Quả
chẳng từ duyên sanh, cũng chẳng từ phi duyên sanh”. “Duyên
ấy chẳng có quả, cũng chẳng phải không quả” là hiển
bày thực tướng của DUYÊN và QUẢ. Duyên và quả là pháp
duyên khởi. Duyên khởi thì vô sanh. Vô sanh vì tuy sanh mà không
có tánh sanh. Tướng sanh không có tự tánh, duyên và quả cũng
không có tự tánh. Đó là thực lý chung cho vạn sự vạn vật
ở thế gian này. Mọi thứ mình thấy với đầy đủ tướng
trạng đây, với không gian và thời gian rõ rệt đây, không
hề có tự tánh của riêng nó. Không tánh nhưng do lầm chấp
mà mọi thứ cứ như là thực. Nếu nhận ra được tánh của
vạn pháp là không, thì mọi thứ giả huyễn sẽ hiện nguyên
hình.
Phần
sau là phá vào 4 duyên. Muốn biết Luận chủ phá từng duyên
thế nào, đầu tiên phải nắm được nội dung của từng
duyên đó và biết được chỗ chấp của người đời. CHẤP,
là cho 4 duyên đều thực, tức cho duyên có tự tánh của riêng
nó. PHÁ, là để người đời thấu được chỗ lầm này.
Cách phá của Luận chủ là vạch ra sự mâu thuẫn ẩn trong
ý nghĩa của từng duyên khi ta cho các duyên là thực.
Phá
Nhân Duyên
若果非有生
Nếu quả chẳng có sanh
亦復非無生
Cũng lại chẳng không sanh
亦非有無生
Cũng chẳng có không sanh
何得言有緣
Sao lại nói có duyên? (9)
Tất
cả pháp hữu vi đều do Nhân duyên sanh. Nhân duyên là thứ
mà pháp từ đó sanh ra. Đã từ đó, hiện từ đó và sẽ
từ đó sanh ra.
Pháp
hữu vi là chỉ chung cho tất cả những gì hiện hữu trên
thế gian này. Trong cả ba thời, nhân và duyên là thứ tạo
ra mọi hình tướng và hiện tượng hiện nay. Mình cứ kiểm
nghiệm trong đời sống đây thì sẽ thấy điều đức Phật
nói đó. Dù chỉ một ý tưởng trong đầu, thì ý tưởng ấy
cũng do nhiều duyên hợp lại mới thành : Phải có người
chứa nó, vật hay người làm đối tượng để ý tưởng ấy
xuất hiện. Có ít nhất hai duyên hình thành nên một sự vật
hay một hiện tượng. Vì vậy, gọi là pháp duyên sanh. Duyên
sanh thì không tánh, chỉ là giả hợp. Song công nhận chúng
là pháp nhân duyên thì được, nhưng không thấy duyên sanh
là giả hợp. Vì cái thấy nửa vời đó mà Trung Luận xuất
hiện với 27 phẩm đi liền với từ phá : Phá Nhân Duyên,
Phá Đi Đứng v.v…
Cách
phá : Lấy không phá có. Nếu người đời chấp có Nhân Duyên,
Luận chủ sẽ chứng minh để ta thấy nó không. Chứng minh
nó KHÔNG không phải để hiển Nhân Duyên là KHÔNG theo chiều
ngược lại với CÓ, mà để ta thấy mặt Duyên khởi của
nó. CÓ hay KHÔNG là tùy duyên. Chưa có thứ nào là thực tướng
của Nhân Duyên. Thực tướng của nó là “không có cũng không
không”. Ta hay gọi là tánh không. Chính nhờ TÁNH KHÔNG này
mà tùy duyên, mới có thể thấy pháp là CÓ hay KHÔNG.
PHÁ
NHÂN DUYÊN là phá đi sự chấp thủ cho Nhân Duyên có tự tánh.
Lập
luận thế nào thì đầu tiên, cũng phải chấp nhận luận
cứ đã biện ở phần Nhân Duyên tổng quát : Trước khi có
quả thì không có nhân và duyên. Chỉ khi quả xuất hiện,
mới đặt vấn đề nhân duyên. Vì đặt nền tảng trên tiêu
đề đó, nên phân đoạn này lấy từ quả mà luận, để
xem nhân duyên có hay không.
-Nếu
quả không có thì không có nhân duyên.
-Nếu
quả có, có rồi thì không cần đến nhân duyên quả mới
có. Nên không có nhân duyên.
-Quả
ở trạng thái vừa có vừa không. Có và không là hai mặt
đối nhau. Không thể vừa có cái này vừa có cái kia. Quả
không thì nhân duyên cũng không.
Trong
cả 3 trường hợp của quả, đều không tìm thấy nhân duyên,
nên không có Nhân Duyên. Đây là lấy KHÔNG phá CÓ để hiển
bày thực tướng của nhân duyên “Chẳng có cũng chẳng không”.
Phá
Thứ Đệ Duyên
果若未生時
Quả nếu khi chưa sanh
則不應有滅
Thì không nên có diệt
滅法何能緣
Pháp diệt làm sao duyên
故無次第緣
Nên không Thứ đệ duyên (10)
Đây
là nói về những niệm sanh diệt, sanh diệt liên tục trong
tâm. Niệm trước diệt làm duyên cho niệm sau sanh. Theo các
bậc cổ đức, phần này chỉ hạn cuộc ở mặt tâm pháp,
và chỉ xuất hiện ở tâm thức của người bình thường,
với tâm tối hậu của hàng La-hán sắp vào niết bàn thì
Thứ đệ duyên không thành lập, vì các vị không còn khởi
tâm, niệm sanh diệt đã dứt.
Theo
đây thì thấy, dòng tâm thức của mình là một dòng sanh diệt
liên tận. Niệm này xuất hiện rồi diệt, nhường chỗ cho
niệm khác xuất hiện rồi diệt. Niệm trước phải diệt,
niệm sau mới đủ duyên hiện hình. Niệm trước nếu không
diệt thì không có niệm sau. Cứ theo thứ lớp như thế mà
hiện hành không gián đoạn, nên gọi là Thứ đệ duyên, cũng
gọi là Đẳng vô gián duyên. THỨ ĐỆ nghĩa là thứ lớp.
ĐẲNG VÔ GIÁN là bình đẳng không gián đoạn.
Niệm
trước diệt làm duyên sanh ra niệm sau, thì với pháp có tự
tánh, niệm trước diệt là mất hẳn, không còn nhân làm duyên
để sanh niệm sau. Như mầm lúa chết, thì không còn nhân làm
duyên để có cây lúa. Lại, nếu có tự tánh thì niệm trước
không diệt. Không diệt thì cũng không lấy gì làm duyên để
niệm sau sanh. Sẽ xảy ra nhiều mâu thuẩn khi cho Thứ đệ
duyên có tự tánh. Nên biết, không có Thứ đệ duyên. Nói
chính xác, Thứ đệ duyên chỉ là pháp không tánh.
Nếu
mở rộng loại duyên này ra thế giới tự nhiên thì loại
THỨ ĐỆ DUYÊN này tương tự như qui luật PHỦ ĐỊNH CỦA
PHỦ ĐỊNH, là một trong ba qui luật cơ bản của phép Duy
vật biện chứng. “Phép biện chứng duy vật nói đến phủ
định, không có ý nói đến bất kỳ sự phủ định nào như
nghiền nát một hạt thóc, xéo chết một con sâu v.v… mà
chỉ nói đến sự phủ định làm tiền đề tạo điều kiện
cho sự phát triển, cho cái mới ra đời thay thế cái cũ. Đó
là sự phủ định biện chứng … Một loại phủ định có
kế thừa”.[07] Enghen đã nói về qui luật phủ định
của ông như sau “… Hạt thóc biến đi, không còn hạt thóc
nữa, nó bị phủ định, bị thay thế bởi một cây do nó
tạo ra. Đây là sự phủ định hạt thóc. Nhưng cuộc sống
bình thường của cây này thế nào? Nó lớn lên, ra hoa, thụ
phấn và cuối cùng sinh ra những hạt thóc mới. Khi hạt thóc
ấy chín thì thân cây chết đi, bản thân nó bị phủ định”.
Cái trước diệt làm tiền đề cho cái sau xuất hiện. Mọi
thứ ở thế gian dù thuộc phương diện tự nhiên, sinh vật,
văn hóa hay xã hội v.v… đều có khuynh hướng sinh diệt sinh
diệt không ngừng như thế. Con người cũng không thoát khỏi
qui luật đó. Nó tương tự như loại duyên Thứ đệ mình
đang nói đây. Song qui luật “Phủ định của phủ định”
mang tính chọn lọc, giữ lại và cải tạo những mặt còn
thích hợp của cái cũ để chuyển sang cái mới. Nó chỉ gạt
bỏ ở cái cũ những mặt tiêu cực, lỗi thời lạc hậu gây
cản trở cho việc phát triển.[08] Còn Thứ Đệ Duyên
không mang tính chọn lọc. Đã là nhân duyên của nhau, một
khi có điều kiện phát triển, thì cứ theo đúng nghĩa vụ
“Niệm trước diệt làm duyên cho niệm sau sanh” một cách
bình đẳng không gián đoạn. Còn phát triển theo chiều có
lợi hay hại, là tiếp tục hay ngưng dứt, còn tùy vào điều
kiện chung quanh, tức còn tùy vào hai loại duyên khác là Nhân
duyên và Tăng thượng duyên.
Người
xưa chỉ hạn cuộc Thứ đệ duyên ở mặt tâm pháp mà không
mở rộng nó ra thế giới bên ngoài, có lẽ vì tâm thức sanh
diệt là nền tảng cho thế giới bên ngoài xuất hiện. Nơi
một người, nếu quá trình sinh diệt tâm thức của người
đó không còn thì thế giới sanh diệt bên ngoài của y cũng
không tồn tại. Chắc vì vậy, Thứ đệ duyên chỉ được
chú trọng ở mặt tâm thức.
Phá
Duyên Duyên
如諸佛所說
Như chư Phật đã nói
真實微妙法
Pháp vi diệu chân thật
於此無緣法
Ở đó không pháp duyên
云何有緣緣
Sao lại có Duyên duyên? (11)
Duyên
duyên còn gọi là Sở duyên duyên. TRẦN CẢNH, gọi là Sở
duyên. Khi tâm thức tiếp xúc với trần cảnh, như mắt thấy
sắc, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị v.v… Tùy quan niệm của
từng người mà khởi thân nghiệp, khẩu nghiệp, khởi tâm
vương tâm sở rồi sanh ái thủ … thì TRẦN CẢNH lúc đó
không còn gọi là Sở duyên nữa, mà gọi là Sở duyên duyên.
Như cùng một loại nhạc jazz, lớp trẻ thấy hay, nhưng người
già thấy mệt. Nhạc trở nên hay hoặc mệt đó không còn
ở vị trí Sở duyên nữa mà đã thành Sở duyên duyên. Có
đến hai chữ duyên, vì nơi cảnh Sở duyên, duyên một nấc
nữa, nên gọi là Sở duyên duyên. Cảnh Sở duyên nào đã
bị quan niệm định kiến tình cảm của mình chi phối, cảnh
đó trở thành Sở duyên duyên. Người ở thế gian, ai cũng
có quan niệm và định kiến nên phần lớn đều sống với
Sở duyên duyên, ít ai sống được với phần Sở duyên của
mình. Vì thế nó là một trong 4 loại duyên chi phối toàn bộ
thế giới này.
PHÁP
VI DIỆU CHÂN THẬT là chỉ cho chân tánh của vạn pháp, là
bản thể thanh tịnh trùm khắp vốn có của chúng sanh. Nó
vượt ngoài cái thấy năng sở đối đãi. Do không tánh nên
không tự giữ, bất giác mà sinh cái thấy hư vọng cùng cảnh
giới hư vọng. Cái thấy hư vọng là chỉ cho cái thấy hiện
nay của mình. Cảnh giới hư vọng, chỉ cho thân và những
thứ chung quanh mình đây, chính là phần Sở duyên. Ngay cái
hư vọng ấy mà không sinh tình thức hay không để tâm rơi
vào nhị biên phân biệt xấu, đẹp v.v... thì Sở duyên vẫn
là Sở duyên. Nhưng ngay cảnh đó mà sinh tình thức đẹp xấu,
vừa lòng hay không vừa lòng v.v…, thì Sở duyên duyên đã
xuất hiện.
Sở
duyên vốn do bất giác mà có, như chóng mặt mà thấy hoa đốm
trên không. Hoa đốm vốn không có. Vì thế, ngay cái Sở duyên
ấy, bản chất đã không, huống là Sở duyên duyên, nên nói
“Pháp vi diệu chân thật, Ở đó không pháp duyên”. KHÔNG
PHÁP DUYÊN là không có pháp Sở duyên. Hoặc có Sở duyên mà
nhận ra được thực tướng của Sở duyên thì Sở duyên ấy
NHƯ. Như, thì không có Sở duyên duyên, nên nói “Ở đó không
pháp duyên”.
SỞ
DUYÊN DUYÊN không tánh, nên tùy duyên mà có SỞ DUYÊN DUYÊN
hay không có SỞ DUYÊN DUYÊN. Không có gì cố định. Như thiền
sư nhìn cây gậy chỉ thấy cây gậy, cũng không khởi niệm
cây gậy, thì không có SỞ DUYÊN DUYÊN.
Phá
Tăng Thượng Duyên
諸法無自性
Các pháp không tự tánh
故無有有相
Nên không có tướng có
說有是事故
Nói “Có sự này nên
是事有不然
Sự này có”, không đúng (12)
Pháp
nào mà thế lực và công dụng của nó khiến pháp khác tăng
trưởng hoặc theo chiều thuận hoặc theo chiều nghịch, pháp
đó gọi là Tăng thượng duyên.
Như
cây mít, có ít nhất 2 duyên chi phối khi nó thành hình. Nhờ
phân, nước, nhân công, mặt trời … mà hạt giống phát triển
thành cây mít. Những thứ như phân, nước, mặt trời v.v…
là duyên tạo thành cây mít. Chúng vừa mang tính duyên trong
Nhân duyên, vừa mang tính tăng thượng của Tăng thượng duyên
: Nhờ chúng mà cây mít thành hình nên gọi là Nhân duyên.
Nhờ chúng mà hạt giống phát triển thành cây mít, nên gọi
là Tăng thượng duyên.
Như
vậy, 3 duyên trước cũng có tính chất Tăng thượng. Song lập
riêng Tăng thượng duyên là để chỉ những duyên ngoài 3 duyên
kia, đáp ứng đúng tiêu chuẩn “Cái này có, nên cái kia có”.
Tuy
“Cái này có, nên cái kia có”, nhưng cái gọi là CÓ ấy
không có thực thể. Nên “cái kia có” cũng không có thực
thể. Cho nên, không có Tăng thượng duyên.
Trên,
phá xong 4 duyên. Dưới là tổng kết.
略廣因緣中
Trong nhân duyên riêng chung
求果不可得
Tìm quả không thể được
因緣中若無
Trong nhân duyên nếu không
云何從緣出
Làm sao từ duyên ra? (13)
NHÂN
DUYÊN CHUNG, chỉ cho phần Nhân duyên tổng quát. NHÂN DUYÊN
RIÊNG, chỉ cho 4 duyên.
Cả
5 trường hợp trên, đều không thấy quả nào được sanh
từ nhân duyên, nên nói “Trong nhân duyên nếu không, làm sao
từ duyên ra?”
若謂緣無果
Nếu nói duyên không quả
而從緣中出
Mà từ duyên sanh ra
是果何不從
Quả ấy sao không từ
非緣中而出
Nơi phi duyên sanh ra? (14)
Do
câu kết luận trên mà có câu hỏi này. Người hỏi liên hệ
vấn đề được kết luận ấy với thực tế để vặn Luận
chủ : Nếu nói duyên không sanh quả, mà phi duyên cũng không
sanh quả, tức duyên và phi duyên không khác nhau, sao trên thực
tế lại thấy quả từ duyên ra mà không thấy quả từ phi
duyên ra?
若果從緣生
Nếu quả từ duyên sanh
是緣無自性
Duyên ấy không tự tánh
從無自性生
Từ không tự tánh sanh
何得從緣生
Sao lại từ duyên sanh? (15)
果不從緣生
Quả không từ duyên sanh
不從非緣生
Không từ phi duyên sanh
以果無有故
Vì quả vốn không có
緣非緣亦無
Duyên phi duyên cũng không (16)
Đây
là phần trả lời của Luận chủ : Vấn đề không phải là
từ duyên ra hay từ phi duyên ra mà quan trọng là có TƯỚNG
SANH hay không? Tướng sanh có thực hiện diện như mình thấy
4 đại sanh ra muôn pháp hay không? Nếu không tìm thấy tướng
sanh, thì pháp không có tự tánh. “Lìa tự tánh tức vô sanh”.
Vì vậy, dù pháp từ duyên ra hay từ phi duyên ra, thì nó vẫn
vô sanh. Xem như vấn đề nêu ra ban đầu đã được giải
quyết.
Trong
Lăng Già Tâm Ấn, ngài Hàm Thị nói “Bởi bất giác vọng
sanh, thật không có tướng sanh, nên nói “thấy ngoại tánh
phi tánh”.[09] Bởi bất giác [10] vọng sanh thật không
có thức sanh nên nói “Thấy thức chẳng sanh”. Đã không
có tánh sanh và thức sanh mà vẫn thấy dường như sanh tương
tục, thảy do bất giác đồng thời liền hiện … Biết pháp
trong tam giới chỉ do nội thức biến, không có tánh tự sanh,
thức lại nhơn mê mà có. Giác được mê thì mê diệt, bản
tâm hiện tiền”.