Thành
kính tri ân
Sư
ông – Hòa thượng Thích Thanh Từ
Bổn
sư – Hòa thượng Thích Nhật Quang
Đã
giúp chúng con đầy đủ niềm tin để hoàn thành việc dịch
giải bộ luận.
Chân
thành cảm ơn
Chư
vị Hòa thượng, Thượng tọa, Tăng, Ni, Cư sĩ, Học giả đã
có các công trình nghiên cứu, dịch thuật giúp chúng tôi có
được tài liệu cần thiết cho việc dịch giải.
Chân
Hiền Tâm
MỤC LỤC
Lời
đầu sách
Tìm
hiểu Trung Luận
01
Phá Nhân Duyên – phẩm 1
02
Phá Đi và Đến – phẩm 2
03
Phá Lục Tình – phẩm 3
04
Phá Ngũ Ấm – phẩm 4
05
Phá Lục Chủng – phẩm 5
06
Phá Nhiễm - Người Nhiễm – phẩm 6
07
Phá Tam Tướng – phẩm 7
08
Phá Tác - Tác Giả – phẩm 8
09
Phá Bổn Tế – phẩm 11
10
Phá Hành – phẩm 13
11
Phá Buộc Mở – phẩm 16
12
Quán Pháp – phẩm 18
13
Phá Thời Gian – phẩm 19
Lời
đầu sách
Tập
luận này chỉ giải 13 phẩm trong toàn bộ 27 phẩm của
luận Trung Quán. So với cuốn Trung Quán của CHT - Chánh Tấn
Tuệ trước đây thì tập luận này giải lại một số bài
cũ, giải thêm một số bài mới. Giải lại không phải vì
cách giải trước có vấn đề, mà vì qua tham khảo ở một
số bạn đọc, cuốn luận ấy tuy khá rõ ràng với một số
người, nhưng với đa số thì như cơm thiu ủ kỹ, đọc nó
như đọc thần chú. Đó là do chúng tôi không lường hết
được những khó khăn mà độc giả vướng phải.
Do
không nắm được tinh thần của bộ luận cũng như không hiểu
hết các khái niệm mà luận chủ đã dùng, nên phần luận
giải trở thành khó hiểu. Do không nắm được chỗ chấp
của người đời cũng như cách lập luận phá bỏ của luận
chủ nên không cảm nhận được cái hay của bộ luận. Tập
luận này ra đời, chủ yếu bù đắp vào những chỗ thiếu
sót đó. Nó được viết sau khi cuốn Trung Luận trước đến
tay bạn đọc, nhưng không theo kiểu luận giải từng phần
như hiện nay, mà được viết dưới dạng tổng quát cho những
người thân quen. Nay chúng tôi gom lại sửa chữa đôi chút
và làm thành tập Trung Luận này, hy vọng đến tay bạn đọc
được rộng rãi hơn.
Sở
trường của mỗi người mỗi khác, nên cách lý giải cũng
như các ví dụ dùng trong tập Trung Luận này không giống với
tập Trung Luận trước. Song khác thế nào thì tinh thần của
toàn phẩm cũng như toàn luận vẫn không thay đổi. Bất biến
mà tùy duyên. Tùy duyên mà bất biến.
Hy
vọng tập Trung Luận này mang lại chút hương vị nào đó
cho những vị đồng duyên.
Kính
ghi
Chân
Hiền Tâm
TÌM
HIỂU TRUNG LUẬN
Từ
xưa đến nay, vấn đề lớn và nan giải nhất vẫn là “Chân
lý là gì?”. Với các triết gia Tây phương, câu hỏi đó
trở thành “Bản thể hoặc hữu thể là gì?”. Với người
học Phật, đó là thực tánh của vạn pháp. Vì cứu cánh
của người tu Phật là niết bàn, mà đạt niết bàn là thâm
nhập vào thực tánh của vạn pháp.
Đây
là câu hỏi cực kỳ quan trọng!
Chắc
hẳn có nhiều người không đồng ý với nhận định trên.
Chúng ta dễ dàng cho rằng : Thời nay với nhịp sống cực
kỳ sôi động, con người đã quá bận rộn với cái ăn cái
mặc và còn bao thú vui khác, ai hơi đâu tìm hiểu đến vấn
đề khó hiểu ấy làm gì? Vả lại, nếu hiểu được thì
ích lợi gì cho cuộc sống?
Sở
dĩ có ý kiến như trên vì phần đông chúng ta vẫn cho rằng,
chân lý là một đề tài thiếu thực tế. Song có phải là
thiếu thực tế không, khi mà ai trong chúng ta cũng muốn có
một cuộc sống hạnh phúc, xa lìa các khổ nạn? Hạnh phúc
chỉ có khi ta giải quyết một cách đúng đắn các vấn đề
của cuộc sống. Khổ nạn chỉ lìa nếu ta không vướng phải
các sai lầm. Muốn tránh các sai lầm, ta phải có một tri thức
đúng về bản chất của các vấn đề mà ta đang đối mặt.
Nếu thấu triệt được bản chất hay thực tánh của tất
cả pháp, tức không còn mê lầm, thì ta thoát khỏi mọi khổ
đau. Rõ ràng chân lý là một vấn đề hoàn toàn có tính thực
tế. Sự am hiểu chân lý sẽ đem lại những lợi ích vô cùng
to lớn cho cuộc sống con người, nhất là về mặt tinh thần.
Thông
thường khi đề cập đến vấn đề tối hậu này, từ kinh
nghiệm chủ quan, các triết gia đưa ra quan niệm triết lý
của mình, rồi lấy quan niệm đó làm nền tảng, họ khai
triển nó thành một học thuyết, nhằm lý giải cho các hiện
tượng và sự vật trong cuộc sống. Vì chưa phải là chân
lý tối hậu, nên các triết thuyết ấy chỉ tương thích phần
nào với thực tế. Phần còn lại, khi ứng vào cuộc sống,
bắt đầu có những khoảng hở khó giải thích. Với Trung
Luận, thay vì chỉ đưa ra một quan điểm chủ quan và chấp
nhận nó một cách hiển nhiên, Bồ-tát Long Thọ đã dùng luận
lý kết hợp với thực tế, khảo sát tất cả pháp để chỉ
ra bản chất chung cùng của chúng. Cái tánh ấy hiện diện
bình đẳng ở tất cả pháp. Pháp nào cũng sở hữu nó và
ở bất kỳ giai đoạn nào của pháp cũng có sự hiện diện
đầy đủ của nó. Cái tánh ấy không thay đổi theo thời
gian, không thay đổi từ pháp này sang pháp khác, nên được
gọi là THỰC TÁNH của vạn pháp.
Từ
cái thực tánh chung cùng ấy, Trung Luận hiển rõ cái LÝ chi
phối sự xuất hiện và vận hành của tất cả pháp. Đây
cũng là cái lý âm thầm điều hành thế giới hiện tượng,
là thế giới mà chúng ta đang sống và kinh nghiệm trong từng
phút từng giây. Do không xây dựng từ một quan điểm chủ
quan, lại được kiểm chứng trên từng sự vật sự việc
có trong thực tế, từ mặt vật chất đến tinh thần, từ
pháp thế gian đến xuất thế gian, từ pháp hữu vi đến pháp
vô vi, từ sự đến lý, từ cái riêng đến cái chung … nên
cái lý ấy hoàn toàn tương thích với tất cả mọi sự vật
và hiện tượng vào mọi lúc, mọi nơi … Vì thế nó được
mệnh danh là THỰC LÝ.
Nói
một cách ngắn gọn, mục tiêu của Trung Luận là nhằm hiển
bày thực tánh và thực lý của vạn pháp. Với mục đích
đó, tinh thần của bộ luận cũng tập trung quanh vấn đề
đó mà thôi.
Vì
sao Trung Luận khó hiểu, khó thâm nhập?
Đối
với đại đa số, Trung Luận là một bộ luận khó thâm nhập
dù nó đã được một số học giả giải ra rõ ràng. Vấn
đề khó khăn này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân.
1.
Khó
khăn về mặt tâm lý : Trung Luận dẫn đến những kết
luận trái với những gì vẫn được ta chấp nhận, nên nó
chạm đến những kiến chấp - là phần ngã kiến - nằm sâu
trong vô thức của mỗi người. Vì vậy, thoạt tiên nó tạo
ra một tâm lý khó chịu cho người đọc. Phải vượt qua rào
cản tâm lý này mới theo dõi được Trung Luận.
2.
Khó
khăn về mặt tri thức : Người đọc không nắm được
tinh thần mà bộ luận muốn nói. Cái khó là tinh thần này
lại vượt ngoài những thứ mà ta vẫn đang chấp nhận. Nếu
chấp nhận được thì lại vướng vào các từ như vô sanh,
tự tánh, duyên khởi … hoặc là kết cấu của bộ luận,
hoặc là những chỗ mà người đời đang chấp. Không nắm
được chỗ chấp nên không hiểu được chỗ phá của Luận
chủ v.v...
3.
Khó
khăn về mặt luận lý : Chúng ta quen tư duy theo cách
luận lý của ngành khoa học hiện đại. Luận lý khoa học
chỉ giải quyết vấn đề trên một khía cạnh nhất định
rồi lấy kết quả này làm kết quả cho toàn vấn đề. Trong
khi luận lý của Trung Luận tinh tế, lại dàn trải rộng để
khảo sát vấn đề ở mọi khía cạnh. Vì thế, đọc Trung
Luận, người đọc có cảm tưởng đi lòng vòng trong luận
lý. Nên dù không bị ngã kiến tri thức chi phối, phần này
cũng là nguyên nhân tạo thêm sự khó khăn về mặt tâm lý
cho người đọc. “Khó khăn cho lắm cũng chỉ là nói đến
tánh không mà thôi”. Trung Luận càng trở nên khó đọc và
khó hiểu.
Nếu
chúng ta giải quyết được những khó khăn này thì việc đọc
và hiểu Trung Luận không còn vấn đề gì.
Về
mặt tâm lý, ta cần hiểu đối tượng ở đây là chân lý.
Cái gì chân thực thì độc lập với tình cảm yêu ghét của
chúng ta. Vì vậy thái độ khách quan là cần thiết khi đọc
Trung Luận. Ngoài ra nếu ta không có sự thích thú và đam mê
đối với bộ luận, ta cũng không thể vượt qua những khó
khăn khác. Ở đây ta có thể nói đến từ DUYÊN. Nếu đã
có duyên với Trung Luận, thì dù là người không có được
tri thức rộng về Phật pháp, Trung Luận vẫn là một tác
phẩm dễ hiểu, và rất lý thú khi theo dõi tiến trình lập
luận của Luận chủ. Chính cái DUYÊN này tạo cho ta sự tập
trung cao độ để ta có thể theo dõi tiến trình luận lý không
mấy khó khăn.
Về
mặt tri thức, không cần có một tri thức rộng mới có thể
đọc hiểu Trung Luận. Cái chính là ta phải nắm được tinh
thần mà bộ luận muốn nói đến. Từ tinh thần này, ta chấp
nhận thêm ý nghĩa của một số khái niệm, là ta có thể
thấy được cách phá của Luận chủ.
Tinh
thần chính mà Trung Luận muốn nói là gì?
Trung
Luận chứng minh rằng, thực tánh ở bên ngoài ngôn ngữ nên
thực lý là cái không lời, chỉ có thể đạt đến bằng
sự tự ngộ (ngộ tánh). Nói cách khác, người sống được
với tánh, họ chứng thực được cảnh giới chân như của
pháp. Với một người ngộ tánh mà chưa sống được hoàn
toàn với tánh thì cảnh giới chân như được nhận thức
thành cảnh giới DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH. Nếu cho các sự
vật trong cảnh giới duyên khởi này là CÓ - đây là trường
hợp của chúng ta - thì cảnh giới duyên khởi được nhận
thức thành thế giới với các sự vật, là thế giới mà
ta đang sống đây. Việc hiểu được TÁNH KHÔNG - DUYÊN KHỞI
sẽ cho ta một cái nhìn hoàn toàn phù hợp với hiện thực
của cuộc sống.
Trung
Luận chỉ cho ta thấy, thế giới các sự vật mà ta đang sống
đây chính là cảnh giới DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH. DUYÊN KHỞI
là các pháp nương nhau, cái này lấy cái kia làm duyên để
sanh khởi. KHÔNG TÁNH là pháp không có một tự tánh xác định.
Vì thế cảnh giới này không ở trong phạm trù CÓ - KHÔNG.
Ý niệm CÓ - KHÔNG chỉ là sản phẩm của tâm thức chứ không
phải là những thuộc tính hiển nhiên của pháp như ta vẫn
lầm tưởng. CÓ - KHÔNG chỉ là những quan điểm của ta về
cuộc đời, chúng không phải là thực tánh của vạn pháp.
Nói cách khác, CÓ -KHÔNG chỉ là cái thấy bị chi phối bởi
nghiệp thức của mỗi người. Nếu không để ý niệm CÓ
- KHÔNG chi phối, ta sẽ nhận ra rằng, thế giới mà ta đang
sống đây là cảnh giới DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH. Đây mới
là nhận thức phù hợp với thực tánh của vạn pháp.
Vì
vậy, ta thấy trong tất cả các phẩm, Luận chủ phá cái chấp
CÓ này bằng cách dùng lý luận đối chiếu với thực tế,
chỉ ra chỗ mâu thuẫn giữa nhận thức và thực tế nếu
ta cho pháp là CÓ. Vì pháp không thuộc phạm trù CÓ hay KHÔNG
nên kết luận nhận được từ Trung Luận luôn ở tình trạng
không thể khẳng định. Nghĩa là, đưa đến CÓ không được,
đưa đến KHÔNG cũng không được. Đối với các cặp nhị
biên khác cũng vậy. Ta sẽ bắt gặp tinh thần này trong toàn
bộ luận.
Nắm
được chỗ này, ta sẽ không còn ngạc nhiên và thắc mắc
khi thấy mọi lập luận chứng minh đều đưa đến kết quả
không thể khẳng định.
Các
khái niệm thường gặp trong Trung Luận
TỰ
TÁNH là từ căn bản được dùng rất nhiều trong toàn bộ
luận. Vì một pháp muốn gọi là CÓ thì pháp ấy phải có
tự tánh của riêng nó. Tính chất của tự tánh là tự có,
độc lập và thường trụ. Dựa vào các tính chất này, ta
rút được kết luận sau : Một pháp gọi là CÓ thì phải
có tự tánh. Có tự tánh thì pháp ấy có thể tồn tại một
mình.
NHÂN
DUYÊN là từ có ý nghĩa đối lại với từ ‘tự tánh’.
Vì pháp do duyên sanh thì phải lệ thuộc vào duyên, tức không
độc lập, tự có và thường trụ. Vì vậy, Luận chủ chỉ
cần dùng 3 tính chất của tự tánh đối chiếu với thực
tế, chỉ ra chỗ mâu thuẫn khi cho pháp là CÓ. Ta sẽ gặp
phương cách lập luận này trong hầu hết các phẩm, rất rõ
ràng ở phẩm Phá Hành và Phá Bổn Tế.
Tuy
nhiên vấn đề không chỉ dừng ngang đây, vì thực tánh của
các pháp - trong đó có nhân duyên - lại chẳng thuộc phạm
trù CÓ - KHÔNG. Nếu chấp nhận các pháp không tự tánh, do
nhân duyên sanh, mà cho CÓ một Lý Nhân Duyên tồn tại chi phối
sự vận hành của tất cả pháp thì cái lý vượt ngoài CÓ
- KHÔNG ấy không còn là thực lý nữa, vì đã có một pháp
Nhân Duyên không bị chi phối bởi thực lý này.
Chính
vì thế phẩm đầu tiên của Trung Luận là Phá Nhân Duyên.
Ở các phân đoạn (6) (7) và (8) [01] Luận chủ đã lập luận
rất lý thú để ta thấy pháp do nhân duyên sanh đều là pháp
DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH. Duyên khởi - không tánh nghĩa là ‘hiện
cùng hiện, không cùng không’. Vì thế, khi nói A và B là một
cặp DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH - tức nói đến thực tướng
của chúng - ta phải hiểu A và B xuất hiện đồng thời và
có quan hệ nhân duyên không thể lìa nhau. Cái này là nhân
của của cái kia mà cái kia cũng chính là nhân của cái này.
[02] Phá Nhân Duyên, chính là để hiển mặt duyên khởi của
Nhân Duyên.
Trong
luận Đại Thừa Khởi Tín, Tổ Mã Minh nói “Nếu được
vô niệm thì biết 4 tướng sanh - trụ - dị - diệt là tướng
của tâm … vì 4 tướng đồng thời có, đều không tự dựng
lập”. Nghĩa là, khi ta thể nhập được với tánh không của
vạn pháp, ta sẽ thấy 4 tướng sanh - trụ - dị - diệt của
tâm không có trước sau. Vì thế Nhân Quả cũng không có trước
sau.
Duyên
Khởi, Nhân Duyên hay Nhân Quả, trên mặt TÁNH, chúng không
khác. Trên mặt DỤNG, tùy theo cách dùng mà chúng có tên khác
nhau. Như 4 tướng sanh - trụ - dị - diệt trên, 4 tướng nương
nhau mà khởi tức chúng là nhân duyên của nhau. Có SANH mới
có TRỤ, có SANH mới có DIỆT. Có DIỆT mới có SANH v.v…
SANH là nhân, TRỤ và DIỆT là quả. TRỤ và DIỆT cũng là
nhân, SANH là quả. Do nương nhau mà khởi nên gọi là Duyên
Khởi. Hình thành theo quan hệ nhân duyên nên gọi là Nhân Duyên.
Cái này là hệ quả của cái kia nên gọi là Nhân Quả. Một
khi ta thấy được sự vận hành của Nhân Duyên đối với
pháp, thì cũng có nghĩa Nhân Quả và Duyên Khởi đang vận
hành.
Tóm
lại, từ trước đến giờ, ta vẫn được dạy “Pháp
do nhân duyên sanh nên không thực có”. Ngay phẩm Phá
Tứ Đế của luận này, Bồ-tát Long Thọ cũng nói “Pháp
do nhân duyên sanh, ta nói tức là không”. Cái KHÔNG
này không thuộc phạm trù CÓ - KHÔNG của tri thức. Ở phẩm
Phá Nhân Duyên, ta sẽ được thấy nguyên nhân nào mà các
bậc cổ đức nói vậy ở một khía cạnh khác : Khía cạnh
luận lý. Rất bất ngờ và lý thú! Đây chính là sự độc
đáo của Trung Luận. Chỉ bằng ngôn từ và lý luận đơn
giản của thế gian, Bồ-tát Long Thọ đã hiển bày được
thực lý không lời mà với tri thức đời thường không thể
nào thấu được. Dù chỉ là NGÔN TỪ chưa phải chỗ THỰC
CHỨNG, nó cũng là phương tiện giúp ta tạm hiểu về lý thực
ở cuộc đời này. Cũng là niềm vui giúp ta bớt đi sự chấp
thủ đối với thế gian.
VÔ
SANH là từ quan trọng nhất của bộ luận. Vô sanh chính là
niết bàn của người tu và cũng là thực tướng của vạn
pháp. Khi ta thâm nhập được thực tướng của vạn pháp là
ta đang ở trong niết bàn. Mọi cái phá của Luận chủ đều
nhằm hiển bày phần vô sanh này.
VÔ
SANH là không sanh khởi. Cái gì không sanh khởi? Vạn pháp vốn
không hề sanh khởi trong đó có tâm chúng ta. Vạn pháp duy
tâm nên “Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp
diệt”. Trong kinh Lăng Già, Phật nói “Chẳng tự sanh,
chẳng phải chẳng sanh, trừ người trụ tam muội ấy gọi
là vô sanh”. Ngài Hàm Thị bàn rằng “Chẳng tự sanh,
vì tự thể vốn không có tánh sanh. Chẳng phải chẳng sanh,
vì nhân duyên hội ngộ in tuồng sanh tương tục, mê tình chưa
hết không thể nói không, thể của vọng vốn rỗng thì sanh
cũng chẳng phải có. Đây là tên vô sanh, chẳng phải trụ
tam muội mà nói là vô sanh”.
Chẳng
tự sanh nên không phải CÓ. Chẳng phải chẳng sanh nên không
phải KHÔNG. Vì thế nói, thực tánh các pháp hay niết bàn
của người tu là “Chẳng có cũng chẳng không, chẳng sanh
cũng chẳng diệt …”. Tức vượt ngoài mọi đối đãi phân
biệt. Chúng sanh chúng ta chỉ có SANH thành muôn sự đều có.
Từ đó mà tam giới, lục đạo rõ ràng, khổ đau trói buộc.
Nhị thừa thì chỉ có KHÔNG SANH nên muôn sự đều không,
thành đánh mất cái dụng vô cùng vi diệu của bản tâm. Cho
nên, CÓ hay KHÔNG chưa phải là cái lý thấu suốt của tất
cả pháp. Thực tướng của chúng là sanh mà không sanh. SANH
vì thấy có sanh khởi trước mắt. KHÔNG SANH vì không có tự
tánh, chỉ là duyên hợp.
Đến
đây, ta có thể nhận ra mục tiêu, phương thức chứng minh
và tinh thần của Trung Luận thông qua 3 khái niệm tự tánh,
nhân duyên và vô sanh.
Một
khi thấy được tính nhất quán của toàn phẩm hay toàn bộ
luận nhờ nắm được tinh thần chủ yếu của nó, ta sẽ
không còn thấy luận lý của Trung Luận là rườm rà hay lòng
vòng nữa. Mọi luận lý chỉ nhằm phá hết mọi chấp thủ
của người đời. Không chấp thủ thì sanh mà vô sanh. Vì
vậy, Trung Luận phá hết mọi thứ nhưng chính là phá đi những
CHẤP THỦ của người đời đối với những thứ ấy, không
phải là phá các thứ ấy. Không chấp thủ thì ngay địa ngục
vẫn là niết bàn, không có khổ đau. Kinh Pháp Hoa nói “Thị
pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ” là
vậy.
Phá
Nhân Duyên là phẩm quan trọng nhất của toàn bộ luận. Nó
là nền tảng dùng để lập luận phá các chấp thủ ở các
phẩm sau. Hiểu được phẩm này là hiểu được tất cả.
T.p
HCM 06.10.2001
Chánh
Tấn Tuệ - Chân Hiền Tâm
Sách
Liên Quan:
Trung
Quán Luận, Bồ Tát Long Thọ - Thích Tịnh Ngiêm dịch hán
Việt
Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Hán Dịch: Cưu Ma La Thập - Việt
dịch: Thích Nữ Chân Hiền
Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
Phủ
Định Thức Và Biện Pháp Trung Quán, Tác Giả: B.K. Matilal
- Dịch Giả: Thích Viên Lý
Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi,
Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
Niết
Bàn Trong Trung Quán Luận, Gs. Trần Ngọc Ninh
Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương
Nguyễn Văn Hai
04-01-2008
04:23:15