PHẦN
THỨ NĂM
ĐOẠN
KẾT
THAY
LỜI KẾT: MÙI HƯƠNG TRẦM
Tôi
vẫn mơ một ngày Tết Nguyên đán được về thăm quê, đi
lại trên sườn núi Ngự Bình, giữa khí trời se lạnh và
nắng mới lên, tôi sẽ được ngửi mùi hương trầm bay phảng
phất trong gió.
Sau
hơn nửa đời người tôi đã nhận ra một điều là mùi,
cái mà ta cảm nhận bằng mũi, là cái để lại trong lòng
sâu đậm nhất, hơn hẳn những gì ta nghe hay thấy. Hình như
những cảm quan càng khó nắm bắt bao nhiêu, chúng càng đậm
đà bấy nhiêu mà mùi hương hẳn phải thuộc vào loại đó.
Và đối với tôi, mùi hương là thứ cảm quan theo tôi suốt
gần cả đời!
Hồi
còn nhỏ gần nhà tôi có một bà già bị điên. Hồi trước
bà là người làm hương đem bán. Nhiều người kể bà ta bị
điên vì lấy chân chà xát bột hương. Tôi rùng mình ghi nhớ.
Về sau khi lớn lên tôi nghe ai kể, mùi hương trầm là thức
ăn của quỉ thần, thắp hương là mời các vị ấy đến,
tôi nghe càng thấy sợ. Lớn lên, được biết rằng nếu quỉ
thần mà có thật thì tâm lý của họ cũng như con người,
cũng muốn được mời mọc tôn kính, tôi hết sự và thấy
nơi cây hương là phương tiện tỏ lòng kính mộ. Chỗ nào
có thắp hương là chỗ đó có lòng trọng vọng. "Nguyện đem
lòng thành kính, Gửi theo vầng mây hương".
Hương
nhang làm bằng gì tôi không rõ nhưng nó rất khác nhau, nội
màu cây hương đã khác, chưa nói đến mùi thơm. Hương ở
Huế có màu vàng sáng, của nơi khác trong nước màu đậm
hơn. Ở Ấn Độ hương hầu như màu đen. Tại Trung Quốc hương
có mùi giống hương Việt Nam, nhưng lạ thay, cây nào cây nấy
to như que củi. Tôi vẫn hâm mộ hương của người tàu, nghĩ
hương họ làm phải rất thanh nhã, từng vòng nhang nằm như
một cái đĩa, xếp từng khoanh tròn. Hay loại hương trong đại
lục Trung Quốc ngày nay đã khác? Tại Lhasa Tây Tạng, hương
có màu hơi đỏ nhưng không có chân, đốt nó lên là cháy
từ ngọn đến gốc. Mùi hương thì lại càng khác nhau, có
mùi thơm thoang thoảng thoát tục, có mùi đậm hơn, có mùi
khác đầy hương thơm trần tục. Thế nhưng tôi không dám
chê, đâu phải dành cho mình mà phê bình,tôi tự nhủ. Cả
khi gặp những nơi người ta thắp hương quá nhiều, ai cũng
than ngộp, tôi cũng thấy không sao, đây đâu phải chỗ chơi
đùa thoải mái, đây là chỗ giao tiếp giữa thần và vật
mà.
Do
hay quí trọng hương, tôi bất mãn khi mới đến Ấn Độ trong
những dịp đầu tiên. Nơi đó người ta xem ra ghiền mùi hương
như bên ta có người ghiền dầu gió. Vào ngồi chiếc taxi
cũ kỹ của họ tôi đã thấy ngay cây hương. Có lúc tài xế
biết ý, họ dập hương nhưng mùi hương nặng nề này vẫn
còn. Quỉ thần đâu đi taxi, tôi tự nhủ. Thế nhưng khi thấy
họ treo hình các vị thần Ấn Độ giáo, tôi sực nhớ tài
xế xe đò của ta cũng hay thắp hương cầu tai qua nạn khỏi,
tôi lại thấy lòng trân trọng, họ cũng cầu cho mình bình
yên đó thôi.
Tôi
nhớ bước đường lữ hành đã đưa mình lên núi Linh Thứu
ở Ấn Độ. Nơi đây không chỉ có quỉ thần tầm thường
thôi mà còn các vị đại Bồ-tát đã tụ tập nghe Phật giảng
pháp và theo nhiều người nói thì "hội Linh sơn" này còn đang
tiếp diễn, người thường như tôi không nghe thấy được.
Tại buổi chiều đầy gió hôm đó, trên đỉnh núi không cao
hơn núi Ngự Bình bao nhiêu, tôi tiếc sao mình không có cây
hương để tỏ lòng thành kính với chỗ Phật Thích-ca đã
từng sống sáu năm, chỗ mà mười ba thế kỷ trước, Pháp
Hiển, Huyền Trang lặn lội từ Trung Quốc đến đây, chỗ
mà các tăng sĩ Việt Nam cũng đã đến tham bái từ thế kỷ
thứ tám. May thay vài sị sư Thái Lan đang có mặt tặng tôi
vài cây hương. Hương của họ không khác hương ta bao nhiêu,
hôm đó vầng mây hương bay tạt trong gió chiều, quả nhiên
tôi không nghe thấy được hội Linh sơn, chỉ nhận ra lòng
xúc động của mình.
Lần
sau đến Ấn Độ tôi đi thăm Lâm-tì-ni, chỗ Phật sinh, lần
này tôi có hương Việt Nam trong ba lô. Đi vòng quanh đền thờ
chỗ sinh Phật ngày nay chỉ còn nền gạch, tôi tìm cách cắm
hương và khám phá ra nền móng với các viên gạch đỏ thẫm
đó không hề có một kẽ hở để nhét chân hương vào. Về
mặt xây dựng, các công trình này không phải tầm thường,
tôi tự nhủ, vì thế mà nó còn tồn tại tới ngày nay. Còn
về tính chất thiêng liêng thì chỗ này là thánh địa, quỉ
thần tầm thường chắc không dám tới. Tôi cắm hương trên
thân cây gần đó, lòng thấy an lạc.
Vài
ngày sau tôi đến vườn Lộc Uyển, chỗ Phật "chuyển pháp
luân". Đây là nơi gần thành phố Varanasi quốc tế nên du
khách rất đông. Một đoàn người Nhật đi chiêm bái đang
tụng kinh nhưng lạ thay họ không thắp hương. Tôi rút hương
Việt Nam ra. Kinh tiếng Việt tôi còn không thuộc nói chi tiếng
Nhật nên chỉ biết đứng nghe tiếng tụng du dương. Tôi đoán
họ tụng kinh Vô ngã tướng, kinh mà Phật thuyết đúng chỗ
này. Tiếng tụng kinh tiếng Nhật hòa với khói hương Việt
Nam bay trong nắng sớm.
Đi
Trung Quốc có chỗ nào mà tôi không thắp hương. Từ Vân Cương
thạch động miền tây bắc hiểm trở đến Phổ Đà sơn nằm
ngoài hải đảo phía đông nam xa xôi, tất cả đều là những
công trình to lớn của tiền nhân sống trước chúng ta hàng
ngàn năm. Từ chùa Linh Aån ở Hàng Châu đầy người cho đến
đỉnh Nga Mi không khí loãng, ở đâu cũng đã có ai xây dựng
những bức tượng từ bi nhìn khói hương bay trong gió. Trên
bước đường đó tôi vái lạy tất cả, từ các vị Phật
Bồ-tát cho đến các vị thánh nhân như Lão Tử trên núi Thanh
Thành hay Khổng Tử, vị vạn thế sư biểu. Xúc động biết
bao được thắp hương nơi Lưu Bị từ trần tại thành Bạch
Đế hay trong đền Vũ Hầu tại Tứ Xuyên, nơi thờ Khổng
Minh, Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, những con người trung liệt
cổ kim ít có.
Đến
Tây Tạng, tại Jokhang, tôi lại không có chỗ cắm hương trước
tượng "Đức hạnh cao quí", chỉ biết nhét cả bó vào một
hông cửa sắt bên cạnh khám thờ. Tôi không đành đặt hương
trên mặt đất nhơm nhớp mỡ trâu Yak của điện thờ đức
Thế Tôn. Quả nhiên nền đất không sạch, sau khi đảnh lễ
Ngài, đầu gối quần tôi có hai vết đen khó giặt.
Có
dịp đi nhiều vùng của đất nước ta, tìm hiểu nơi chốn
và lịch sử, có nơi nào mà tôi không thành kính và vì thế
hầu như chỗ nào tôi cũng thắp hương. Thắp hương ở Chùa
Thầy để tỏ lòng hâm mộ Từ Đạo Hạnh, người trong một
đời mà từ bỏ hắc đạo để thành Phật thành Tiên, nghe
giống đời Milarepa của Tây Tạng. Thắp hương ở chùa Tây
Sơn để tưởng nhớ các vị Phật thời chiến tranh cũng phải
đi sơ tán. Tại Tam Cốc, thắp nhang trong một đền nhỏ thờ
các nhà vua đời Trần, các nhà vua phi thường của dân tộc
đã để lại cho con cháu một bờ cõi xinh đẹp và một nền
văn hóa thâm hậu.
Nhưng
không phải chỉ những danh tài xuất chúng của dân tộc mới
đáng kính trọng. Làm nên sự nghiệp đó các vị cần vô
số những con người khuyết danh. Một ngày nọ tôi đi cùng
với một người bạn từ Hà Bắc về Hà Nội, chúng tôi rẽ
qua một con đường ít người đi. Người bạn đến thăm mồ
người em vốn là chiến sĩ hy sinh được cải táng trong một
nghĩa trang liệt sĩ nơi đây. Vì cải táng anh không biết chính
xác đâu là mồ em mình. Vì thế chúng tôi thắp hương cho
mấy chục cái mồ khuyết danh, không bỏ sót ai, ai cũng là
anh em cả. Đó là một chiều mưa, trong bóng tối, hương đỏ
rực cả một triền núi, mùi thơm lan tỏa mười phương. Tôi
nghe người anh ngậm ngùi kể về em mình và bỗng thấy rằng
mùi hương không chỉ chuyển lòng thành kính của người đến
quỉ thần mà đó là chiếc cầu nối làm bằng tình thương
và tình thương mới là cái chủ yếu. Đối với tôi thì chiến
sĩ tử trận, dù trong chiến tuyến nào, họ cũng đều đáng
kính trọng cả. Trên cương vị và hoàn cảnh của mình, họ
đã chiến đấu quên mình và anh dũng cho niềm tin và lý tưởng
của họ.
Nhưng
tại sao chỉ loài người mới là anh em. Trong những chuyến
đi dài, nếu có dịp thì am miếu sơn thần thủy quái cũng
được tôi gửi lời chào hỏi. Lần nọ tại vịnh Hạ Long,
đi thuyền thúng vào một chiếc hồ con, tôi lên bờ vái chào
một chiếc miếu hiu quạnh. Lần đó có hai người nước ngoài
đi theo, thấy chúng tôi làm thế họ cũng bắt chước xá chào
thành kính. Quỉ thần nước Nam thấy người Âu tôn kính mình
chắc cũng không khỏi lấy làm thú vị.
Vừa
qua đến lại lăng Tự Đức xứ Huế, tôi thấy gần đó người
ta sản xuất và phơi hương đầy ngõ, màu sắc rực rỡ. Hương
được hong từng bó lớn, chân bị buộc chặt, thân xòe ra
phơi nắng. Màu vàng sáng của hương xứ Huế làm ta thoạt
nhìn tưởng như những đóa cúc vàng cực lớn. Tôi hỏi chuyện
làm hương phơi hương rồi giả vờ hỏi: "Đây có ai chà hương
bằng chưn không đó?". "Có mà điên", mọi người trố mắt
nhìn tôi, chắc họ rủa thầm.