PHẦN
THỨ TƯ
TÂY
TẠNG HUYỀN BÍ
(Tiếp
Theo)
Điện
Potala và dòng Đạt-lai Lạt-ma
Trong
những con đường Lhasa
Tu
viện Drepung - "Con trâu điên"
Trên
cao nguyên
Gyantse,
Đô thị tàn tạ
Kumbum,
Man-đâla vĩ đại
Shigatse
và dòng Ban-thiền Lạt-ma
Dọc
sông Yarlung Tsangpo
Giã
từ Tây Tạng
ĐIỆN
POTALA VÀ DÒNG ĐẠT-LAI LẠT-MA
Tông-khách-ba
cũng là người xây dựng nhiều tu viện nổi tiếng, còn lưu
lại đến ngày hôm nay như Ganden, Drepung, Sera. Ba tu viện này
nằm không xa Lhasa, về sau trở thành "ba trụ cột" của nền
tăng lữ Tây Tạng vì nơi đây đào tạo hàng ngàn tu sĩ và
cũng là nơi tập hợp nhiều quyền lực chính trị.
Như
ta biết, phái Cách-lỗ mũ vàng, đệ tử của Tông-khách-ba
phát triển hoạt động mạnh mẽ sau khi ông chỉnh đốn lại
nền Phật giáo Tây Tạng trong thế kỷ thứ 14. Nhưng mãi đến
năm 1578, Cách-lỗ mới phát huy cao điểm. Đó là năm mà một
vị sư trưởng tên là Sonam Gyatso [1] đi gặp nhà vua Mông Cổ
Altan Khan (Yêm-đáp-hãn). Vị sư trưởng thuyết pháp cho quần
thần và thông báo rằng nhà vua chính là hậu thân của đại
đế Hốt Tất Liệt còn chính sư trưởng là hậu thân của
Phát-tư-ba mà Phát-tư-ba lại là quốc sư của cả triều Nguyên
dưới thời Hốt Tất Liệt ba trăm năm trước đó [2]. Nhà
vua Mông Cổ Altan Khan tin nghe, động tâm theo đạo lý, là kẻ
"suốt đời chinh chiến, từ đây đã xếp cung đao để tin
sùng đạo Phật, dồn sức cho văn trị, lại theo Phật chỉ,
cấm bộ chúng chém giết" [3]. Nhà vua tặng Sonam Gyatso danh
diệu bằng tiếng Mông Cổ "Dalai", dịch âm là "Đạt-lai",
dịch nghĩa là "đại hải" (biển lớn) và xem vị Đạt-lai
lạt-ma này là một hoá thân của Quán Thế Âm. Thế nhưng
vị Đạt-lai lạt-ma không quên dòng tu của mình là từ Tông-khách-ba
nên truy phong vị sư trưởng tu viện Tashilhungpo tại Shigatse
là Gendun Drub làm Đạt-lai thứ nhất, vị tu viện trưởng
kế thừa là Gendun Gyatso làm vị thứ hai và bản thân mình
là Đạt-lai thứ ba. Kể từ đó sau khi mỗi vị Đạt-lai lạt-ma
chết đi, người ta đi tìm vị tái sinh để đưa lên ngôi
kế vị.
Khoảng
đến đầu thế kỷ thứ 17, Tây Tạng rơi vào rối ren nội
bộ, thế lực yếu dần trong lúc Trung Quốc và Mông Cổ phát
triển quyền lực tới mức cao nhất. May thay sau khi vị Đạt-lai
thứ tư mất năm 1617, người ta sớm tìm ra vị tái sinh. Vị
Đạt-lai thứ năm này tên là Losang Gyatso [4] và có lẽ là
vị vĩ đại nhất trong cả dòng Đạt-lai. Ông vừa là một
nhà học giả uyên thâm vừa là một nhà chính trị và ngoại
giao khôn khéo và là một kiến trúc sư xuất chúng.
Vị
Đạt-lai thứ năm chính là người cho xây dựng điện Potala,
công trình này kéo dài từ 1644 đến 1692. Trong cuối đời,
Đạt-lai thứ năm dành hết thì giờ cho việc hành trì thiền
định và để hết quyền bính cho người phụ chính. Đạt-lai
thứ năm mất đi khi công trình xây dựng Potala còn dang dở
và bên giường bệnh, vị phụ chính nhận lệnh của ông sẽ
không thông báo việc ông mất cho đến khi Potala hoàn thành.
Vị phụ chính giữ lời, cho người giả dạng Đạt-lai thứ
năm trong các cuộc tiếp kiến, mãi 13 năm sau mới công bố
cái chết, đồng thời giới thiệu luôn vị thứ sáu.
Những
điều bí mật này chỉ làm cho phái Cách-lỗ mất uy tín và
sau đó vị Đạt-lai thứ sáu cũng không thọ được lâu, ông
bị mưu sát năm 23 tuổi. Trước đó thì tại Trung Quốc, bộ
tộc Mãn Châu diệt nhà Minh, giành thắng lợi và lập nên
nhà Thanh. Tuy nhà Thanh trọng đãi Tây Tạng nhưng có lẽ cũng
chính vì quyền lợi thế tục đó mà các vị Đạt-lai gặp
vô số âm mưu sau những vách tường đồ sộ của Potala. Lịch
sử Tây Tạng cũng rối ren và đẫm máu như các triều đình
khác ở châu Á. Ta cần biết rằng phái Cách-lỗ mũ vàng cũng
tiến hành các cuộc truy bức chống lại phái Hồng mạo mũ
đỏ và dòng Kamarpa trong nội bộ Tây Tạng, chống lại chính
những người con Phật. Các phe phái của Tây Tạng cũng dựa
vào lực lượng nước ngoài như Mông Cổ và Trung Quốc để
làm cảnh nồi da xáo thịt. Đọc lại tiểu sử các vị Đạt-lai,
ta thấy đó là một chuỗi lịch sử đầy bí ẩn với âm
mưu tranh giành quyền lực của những người phụ chính, trong
và ngoài nước. Vị Đạt-lai thứ sáu chết lúc 23 tuổi. Vị
thứ bảy bị lưu đày. Vị thứ tám không có thực quyền.
Vị thứ chín chết năm lên chín, còn là một đứa trẻ. Vị
thứ 10 chết năm 21 tuổi. Vị thứ 11 chết năm 17 tuổi. Vị
thứ 12 chết năm 19 tuổi. Người ta ngờ rằng, từ vị thứ
chín đến đến vị Đạt-lai thứ 12, ai cũng bị chết vì
mưu sát cả [5]. Vị thứ 13 ra đời năm 1876, là người xuất
sắc nhất chỉ đứng sau vị thứ năm, lập lại kỷ cương
của Lhasa. Trong thời kỳ của ông, các nước châu Âu như
Anh, Nga bắt đầu dòm ngó Tây Tạng, đồng thời Trung Quốc
biến động dữ dội. Sau khi nhà Thanh mất năm 1911, quân đội
Trung Quốc rút khỏi Tây Tạng. Đạt-lai thứ 13 từ Ấn Độ
trở về năm 1913, tuyên bố Tây Tạng độc lập. Trong năm
đó có một hội nghị tại Simla Ấn Độ thảo luận và chấp
nhận chủ quyền Tây Tạng, nhưng Trung Quốc không thừa nhận.
Năm 1933 vị Đạt-lai thứ 13 mất, bảy năm sau vị thứ 14
lên ngôi, đó là vị Đạt-lai còn sống đến ngày nay.
Năm
1949 nước Cộng Hòa nhân dân Trung Quốc được thành lập,
năm sau họ đem quân chiếm đóng Tây Tạng. Năm 1959, vị Đạt-lai
thứ 14 bí mật di tản qua Ấn Độ và ngày hôm nay Tây Tạng
là một phần đất của Trung Quốc, được gọi văn vẻ là
"khu tự trị".
Như
thế là dòng Đạt-lai lạt-ma, thuộc phái Cách-lỗ, là người
lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng hơn 400 năm
qua, kéo dài được 14 đời. Trong thời gian đó, kể từ thế
kỷ thứ 17 đến nay, điện Potala là kiến trúc thiêng liêng
nhất Tây Tạng, nơi đặt bảo tháp chứa di cốt của các
vị Đạt-lai và cũng là dinh thự lãnh đạo chính trị.
Thật
ra Potala đã được xây dựng từ thời Tùng-tán Cương-bố,
vị Đạt-lai thứ năm chỉ là người xây dựng lên qui mô
ngày nay. Vị vua Tùng-tán Cương bố được xem là một hiện
thân của Quán Thế Âm, ông đã chọn miếng đất thiêng liêng
này, nó được xem là hiện thân của trời Đâu-suất trên
trái đất. Vì thế mà nếu Phổ Đà là trú xứ của Quán
Thế Âm ngoài đông hải thì Potala là cung điện của Ngài
trên nóc nhà của thế giới.
Điện
Potala là ngôi đền lớn nhất Tây Tạng. Tuy vượt xa các tòa
kiến trúc khác nhưng nó dựa lưng một ngọn núi mang tên là
Marpori (hồng sơn) nên tuy ngôi điện hết sức uy nghi nhưng
nó hài hòa với khung cảnh xung quanh. Trước ngôi điện là
một quãng trường rất lớn để từ rất xa người ta có
thể nhìn ngắm, cảnh quan thật là xứng đáng với tầm cỡ
của điện. Ngôi điện có bề ngang khoảng 360m, được lợp
bằng mái mạ vàng, với 13 tầng cao khoảng 120m so với mặt
đường. Tổng diện tích của điện lên tới khoảng 360.000
mét vuông. Ngôi điện màu đỏ mà người Trung Quốc gọi là
"hồng cung" nằm trên cao, ngôi màu trắng màu trắng ở dưới.
Ngôi màu đỏ là khu vực trung tâm của Potala, là nơi thờ
tự thiêng liêng nhất của điện.
Trong
lúc vô số người Tây Tạng tay quay bánh xe cầu nguyện, vai
mang lễ vật đi vòng quanh điện theo chiều kim đồng hồ để
leo lên thì xe bus chở chúng tôi được phép chạy lên tới
đỉnh. Tôi có chút tiếc nuối và xấu hổ, lẽ ra mình phải
đi bộ để tâm lắng đọng trước khi vào chốn ẩn mật
của điện. Nhưng khi nhìn hàng trăm hàng ngàn bậc cấp và
tự thấy hơi thở mình còn gấp, môi mình còn tím, tôi thầm
cám ơn ban tổ chức tour biết sức du khách. Lên tới chỗ
xe đậu, tôi mới biết mình còn phải leo bộ nhiều và sẽ
còn đi qua vô số khám thờ, bảo tháp, phòng thiền định.
Không ai biết rõ trong ngôi điện mênh mông này có bao nhiêu
gian, có người nói 750 phòng, có tài liệu ghi 999 phòng.
Vào
nội điện, mùi đèn mỡ trâu làm tôi nhớ Jokhang và bức
tượng Đức hạnh cao quí Jowo. Tôi biết rõ rằng các vị
Đạt-lai từng trị vì trong điện Potala này cũng đều đã
được đăng quang tại Jokhang, trước mặt Jowo. Ánh đèn mờ
tỏ cho thấy tôi đang đi trong Tàng kinh các, đó là nơi cất
chứa kinh điển. Kinh điển Tây Tạng làm bằng những khổ
giấy hẹp, chúng được để rời không đóng gáy. Trong Potala
các kinh điển quí báu đó đều được bọc bằng lụa đỏ
hay vàng, chứa trong các khung gỗ đặt cao, du khách không rờ
tới được. Hệ thống kinh điển của Tây Tạng thật đáng
ngạc nhiên cho một nước có khoảng 5-6 triệu dân, đó là
một tập hợp đồ sộ của nhiều tạng kinh mà chữ Hán cũng
chưa chắc có. Vài ngày sau, trong một tu viện khác tôi có
dịp thấy hai người đang in kinh, cách làm thủ công. Một
trong hai người đó là một cậu bé khoảng 12 tuổi, khuôn
mặt sáng rực, tay in kinh, miệng đọc thần chú. Cậu là tái
sinh của ai ?
Sau
Tàng kinh các, chúng tôi bắt đầu đi từ phòng này qua phòng
khác với vô số tượng. Tượng đầu tiên tôi thấy trong
Potala là A-đề-sa và các vị Đạt-lai và sau đó tôi không
còn ghi chép nổi. Đây là A-đề-sa, vị tu sĩ mà tôi đã nhiều
lần "gặp" trong các câu chuyện do chính mình dịch ? Đây là
kẻ lữ hành người Ấn Độ đã từng tới cả đảo Sumatra
của Indonexia ngày xưa, kẻ đã chịu đi Tây Tạng mặc dù
biết trước vì chuyến đi đó mà mình sẽ giảm thọ 12 tuổi.
Đây là kẻ mà mỗi lần có gì thắc mắc là cứ hỏi ý kiến
của Quán Thế Âm, cứ như hỏi bạn thân.
Potala
phải là một pháo đài kiên cố, đường đi quanh co không
ai nhớ nổi. Tôi bỗng đứng trước các tượng của 13 vị
Đạt-lai lạt-ma. Trong 13 vị đó, như ta đã biết, vị thứ
năm là vĩ đại nhất, "le cinquième", có một người Pháp cất
tiếng nói. Tượng của ông cũng to lớn hơn các tượng khác,
công của ông rực rỡ hơn công các vị khác.
Trong
ánh sáng của đèn mỡ trâu chúng tôi đứng trước tám ngôi
tháp đựng di cốt của các vị Đạt-lai. Tháp được mạ
vàng và mang nhiều ngọc quí. Tháp của vị thứ năm cao khoảng
15m và được bọc bởi 3700kg vàng. Vàng bạc châu báu quả
là không thiếu tại Potala, đó là một kho tàng của nghệ
thuật tôn giáo và là nơi cất chứa không biết bao nhiêu tượng
vàng. Đến trước một tượng của Di-lặc với cặp mắt
xanh biếc, tôi nhớ lại Ung Hoà Cung tại Bắc Kinh và những
gì Ngài nói về tự tính của "các pháp". Ôi, tất cả "đều
không có gì thành tựu cả", đó là cách nói về Tính Không
của Ngài, nhưng đó là nhận thức của Ngài, còn nhận thức
của người thường là khác. Một nơi tập hợp châu báu và
quyền lực như Potala phải đánh thức lòng tham của nhiều
người, xưa cũng như nay. Và lòng tham phải gây đổ máu, tôi
tự nhủ khi nhớ tới lịch sử của Potala vài trăm năm trước
và mấy chục năm gần đây. Những chuyện đó vẫn đè nặng
nơi tôi, lẽ ra tôi không nên có khi đi vào chốn ẩn mật
này.
Hỡi
Liên Hoa Sinh, ngày xưa Ngài đã hàng phục âm binh sao ngày nay
không ra tay với các loại ma quái tân thời. Tôi hỏi thế
khi đứng trước tượng Liên Hoa Sinh, bức tượng mà ai cũng
nhận ra với cặp mắt trợn tròn, môi có râu. Người Tây
Tạng ai cũng tin Ngài chưa hề đi xa, vẫn còn đó để ra tay
khi đúng thời đúng lúc. Đạt-lai thứ 14 cho rằng trong đời
này của ông, ông sẽ còn về lại đất Tây Tạng. Năm nay
ông cũng đã 65 tuổi, liệu ông có lý ?
Chúng
tôi được phép leo lên đến nóc điện, ở đây ta có thể
nhìn ra xa. Thật là một cảnh quan hùng vĩ, xung quanh toàn là
mái điện thếp vàng. Chỗ tôi đứng chính là chỗ mà Đạt-lai
thứ 14 ngày xưa, lúc còn một đứa trẻ đứng nhìn xuống
dưới mặt đất xa tít thấy trẻ con cùng tuổi chơi đùa.
Ông ước ao được xuống chơi với chúng nhưng không được,
cuối cùng chỉ sắm cái ống nhòm, theo lời tự thuật của
ông. Ngày nay chỗ trẻ con chơi ngày xưa đã trở thành chỗ
bán đồ lưu niệm, chỗ đậu xe và tiếc thay, có không ít
trẻ ăn xin ngồi chờ khách. Rời nóc điện tôi đi thăm chỗ
ngủ, phòng làm việc, phòng tiếp khách, phòng thiền định
của các vị Đạt-lai. Các phòng này để nguyên không hề
thay đổi kể từ ngày Đạt-lai thứ 14 ra đi. Tôi nhớ đến
ông, nhớ lúc gặp ông tại Bonn. Tôi có cảm tưởng rằng
ông thấu hiểu tất cả tệ hại của một hệ thống tăng
lữ dính líu tới quyền lực của dòng Đạt-lai của mình,
ông đã thấy nghiệp lực nặng nề của tổ tiên mình để
lại. Song song ông cũng nhìn thấy hết tham vọng của chính
quyền Trung Quốc đối với Tây Tạng, thể hiện trong những
thế kỷ qua cũng như trong thời đại này. Ông biết rằng
tình hình đen tối của ngày hôm nay tại Tây Tạng là kết
quả của một chuỗi lịch sử mà những người lãnh đạo
ham quyền lực của Trung Quốc lẫn Tây Tạng đã gây ra. Có
nhiều lần ông nói, "tôi chỉ là một tu sĩ Phật Giáo thông
thường". Qua câu nói đó tôi cảm nhận rằng đó không phải
chỉ là sự khiêm cung cần có của một tăng sĩ mà sự đoạn
tuyệt với quá khứ của chế độ tăng lữ sa lầy trong quyền
lực thế gian.
Đi
xuống dưới chân điện Potala tôi ra lại quãng trường trước
mặt, nhìn ngắm lại lần cuối. Đồng hồ chỉ buổi tối
mà trời còn sáng như ban ngày. Tôi sực nhớ Tây Tạng thuộc
về Trung Quốc, ở đâu đồng hồ cũng chỉ một giờ, đó
là giờ Bắc Kinh. Bắc Kinh và Lhasa cách nhau dễ cũng bốn
múi giờ nhưng Lhasa phải theo Bắc Kinh. Tám giờ tối của
Lhasa nhưng trời còn sáng như bốn giờ chiều. Người Tây
Tạng xem ra dễ tính, giờ giấc đối với họ sao cũng được.
Nhưng một dân tộc vài triệu dân mà kinh điển của họ không
thua Trung Quốc thì phải hiểu họ có một nền văn hóa riêng
biệt và độc đáo.
TRONG
NHỮNG CON ĐƯỜNG LHASA
Tôi
ít bị nhức đầu nhưng tại Lhasa, chứng này làm tôi mất
ngủ. Thế nhưng tôi sớm biết lý do, nguyên nhân là do áp
suất không khí. Trên độ cao này áp suất không khí thấp,
lượng dưỡng khí loãng làm cho máu huyết mất thăng bằng
và đó là lý do nhức đầu. Có một điều mà tôi không hề
ngờ là mặt tôi vốn gầy nay to tròn ra, nó cũng là hệ quả
của áp suất không khí.
Có
một người Trung Quốc trong đoàn du lịch, anh là dược sĩ
cho tôi một thứ thuốc "chống độ cao", nó được hòa tan
vào ly nước và uống như uống trà. Tôi thử ngay. Tôi còn
thấy một người Âu mang trên mũi một miếng băng như một
vài cầu thủ bóng đá hay mang, tôi đoán là miếng băng đó
"bơm" thêm dưỡng khí cho mũi. Nói thế nhưng tôi không hiểu
hiệu quả các thứ đó ra sao chỉ thấy mình càng ngày càng
bình thường dần. Phải chăng thân thể tôi đã tạo thêm
nhiều hồng cầu để tiếp máu, theo lời một anh bác sĩ.
Anh nói nhiều vận động viên muốn thêm hồng cầu trứơc
khi thi đấu phải lên ở vài ngày cỡ độ cao này. Thế nhưng
chứng mất ngủ vẫn còn dù tôi có thử uống bia để dễ
ngủ.
Lhasa
cũng có nhà máy bia, đó là điều làm tôi ngạc nhiên. Nhãn
hiệu của họ ghi một cách hãnh diện rằng, đó là nhà máy
bia cao nhất thế giới. Tôi thích uống bia local, đó là cách
uống bia bình dân nhưng đúng điệu, đi đâu uống bia xứ
đó. Đến Lhasa dĩ nhiên tôi càng uống bia sản xuất tại
chỗ, nước làm bia hẳn là thứ nước trong vắt và tinh khiết
chảy từ Hy-mã lạp sơn ra. Dĩ nhiên là nhà máy bia Lhasa do
người Hán đem lên đây xây dựng nhưng nghề làm bia thật
ra cũng là một nghề thủ công của người Tây Tạng xa xưa.
Thứ bia cổ truyền của Tây Tạngï mà tên gọi là "Chang"
làm bằng một loại lúa mạch, thực ra cũng là một thức
uống của giới mật tông, được uống trong lễ ra mắt giữa
thầy và trò.
Tôi
nhớ đến câu chuyện của Gampopa [6] , học trò của Milarepa,
khi gặp thầy đầu tiên. Gampopa mới đầu theo học dòng Cam-đan
của A-đề-sa với giới luật hết sức nghiêm khắc, cấm
uống rượu. Về sau Gampopa thấy không thích hợp với đời
sống tu viện, ông ra đi, trở thành du sĩ. Trên đường du
phương Gampopa gặp Milarepa, vị này mời ông uống bia Chang
vì cặp mắt thánh nhân của ông đã thấy Gampopa chính là
học trò của mình. Gampapo từ chối không uống vì lòng còn
mang nặng giới luật. Milarepa nhổ nước bọt vào mặt Gampopa,
khinh bỉ thái độ câu chấp. Hành động này lại đúng với
một giấc mơ tiên tri của Gampopa khi đi tìm đạo sư, trong
giấc mơ ông bị nhổ nước bọt vào mặt. Gampopa liền chụp
sọ người đựng bia, uống một hơi và sau đó ở lại bên
thầy ba năm học đạo và giác ngộ. Ngày nay tác phẩm Bồ-đề
đạo thứ đệ của Gampopa vẫn còn là sách giáo khoa cho tu
sĩ Tây Tạng.
Theo
truyền thống bia Chang, ngày nay người Tây Tạng cũng thích
uống bia như người Hán. Nhưng may thay, bia Lhasa không đựng
trong sọ người mà trong chai, chai của họ thường là loại
chai 0,7 lít. Thế nhưng những người Tây Tạng sang trọng không
uống bia đựng trong sọ người, chẳng uống bia chai mà uống
bia lon, cho rằng như thế mới là quí tộc. Thế nên bia lon
của loại bia Thanh Đảo kể cả bia lon nước ngoài cũng lên
tới cao nguyên Tây Tạng. Và dĩ nhiên ngày nay người ta uống
bia là để lơ mơ chứ không phải để đi tìm sự giác ngộ
như Gampopa nữa. Tôi uống bia cũng chẳng để tìm sự giác
ngộ mà tìm giấc ngủ nhưng giấc ngủ vẫn không đến.
Tuy
không ngủ bao nhiêu nhưng trên cao nguyên này tôi tỉnh táo
một cách kỳ lạ. Hình như khí trời trong và sắc màu lạ
lùng ở đây làm đầu óc con người mở rộng, dễ tiếp thu,
dễ cảm nhận. Đó là điều mà Govinda và bà David-Néel đều
nói tới. Và điều tôi cảm nhận được nhất là lòng hiếu
khách của người dân Tây Tạng. Mang một bộ mặt của người
Hán, tôi tưởng mình dễ bị người dân Tây Tạng có thái
độ khó chịu hay thù địch. Thực tế không phải thế, người
Tây Tạng rất thân thiện với nhau, với khách nước ngoài,
với tất cả mọi người. Khi xe chở khách chạy ngang gặp
người dân địa phương, tôi thấy lúc nào họ cũng hồn nhiên
vẫy tay chào hay đứng nhìn chờ đợi một cử chỉ thân thiện
để vội chào đáp lại. Trên cao nguyên bao la với hàng triệu
cây số vuông và với chỉ vài triệu dân, con người quá ít,
quá quí, quá hiếm lúc gặp nhau nên truyền thống của họ
là đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau lúc đi đường. Điều đó
còn ghi đậm nét tới ngày hôm nay. Họ không có thái độ
coi nhau như đối thủ mà các vùng với mật độ dân cư cao
hay có.
Người
Tây Tạng hẳn phải giống người Mông Cổ hơn người Hán
xa. Nét mặt của họ rất đặc trưng, hai gò má cao, da nâu
đen vì ánh mặt trời quá trực tiếp. Thân thể họ cao lớn
và mạnh khoẻ, họ phải là người chuyên đi ngựa trên vùng
rẻo cao này. Đặc tính của nggười Tây Tạng là vừa rất
sùng tín vừa rất dũng cảm. Về đời sống xã hội và tâm
linh, phải nói là họ sống hoàn toàn khác chúng ta, khác người
Việt người Hán. Đối với họ sống là để phục vụ đạo
pháp, đời sống vật chất chỉ là phương tiện thuần túy
để vươn lên tới những đỉnh cao tâm linh. Quan niệm sống
đó không hề chỉ được giới hạn trong các tầng lớp học
thức mà bàng bạc trong toàn xã hội, kể cả trong những người
không biết đọc biết viết.
Vì
những lẽ đó mà họ không sợ cái chết mà cái chết đối
với họ chỉ là một giai đoạn trong vòng sinh tử miên viễn.
Thậm chí cái chết còn phải là cơ hội để cho họ bố thí
thân thể mình cho chim muông ăn thịt, đó là lý do của tục
"điểu táng" mà tại tu viện Drepung tôi được thấy một
bãi đất dành cho tục lệ này. Nếu đã hy sinh được thân
mình cho chim muông thì họ chẳng tiếc gì phải xả bỏ thân
mình cho niềm tin tôn giáo, đó là động cơ sâu xa của lòng
dũng cảm vô bờ của họ. Ngày nay nhiều sách vở còn nhắc
lại những chuyện thực đầy anh dũng của các tu sĩ và tín
đồ nam nữ Tây Tạng khi bảo vệ đất nước và tu viện
của họ chống lại quân đội người Hán. Ngày nay nếu Tây
Tạng có một nền hòa bình tạm thời là vì vị Đạt-lai
lạt-ma chủ trương bất bạo động chứ thật ra người Tây
Tạng không ngán ngại một lực lượng nào cả.
Chủ
trương của vị Đạt-lai thật ra không làm vui lòng tất cả
người Tây Tạng. Ngồi trên xe đi giữa đường phố Lhasa,
thấy những cảnh tượng bình thường, tôi còn buồn lòng
huống hồ gì người Tây Tạng. Đường Bắc Kinh đông lộ
dẫn tôi về trung tâm thành phố chạy ngang một tòa nhà vĩ
đại mang tên China Telecom, nó được lắp bằng kính rực rỡ,
phía trước hai người lính bồng súng đứng yên như tượng.
Có người Tây Tạng nào vào đó để gọi điện, tôi tự
hỏi. Nhưng tại sao lại có lệ lính bồng súng đứng canh,
tại chính mẫu quốc tôi không thấy có. Đi thêm một đoạn
là "Trung Quốc ngân hàng", tòa nhà cũng bề thế vĩ đại,
cũng lính đứng canh, ai sẽ vào đó để gửi tiền, lấy tiền
?
Người
Hán có thói quen là xây đường rất rộng, quãng trường rất
lớn, Bắc Kinh cũng như Thành Đô đều như thế cả. Tại
Lhasa họ cũng xây những đông lộ, tây lộ rất rộng, các
nhà mặt tiền nằm san sát cửa sắt, vách lợp gạch men trắng.
Đó là kiểu đô thị của Tứ Xuyên đem lên Lhasa. Họ xây
hàng trăm cửa hàng giống nhau như những giọt nước và cho
người Tây Tạng thuê làm ăn buôn bán. Mỗi bảng hiệu đều
phải đề chữ Hán trân trọng, to lớn ở giữa, phía trên
được ghi chữ Tạng. Các bảng hiệu đó lại giống hệt
nhau, chỉ tên gọi và hàng hóa là khác. Và đi ngoài đường,
ngày nay đâu chỉ có người Tây Tạng mà người Hán xem ra
đông hơn, ta chỉ cần nhìn áo quần là biết. Hỏi ra, người
Hán có chủ trương di dân đi Tây Tạng, ai lên trên vùng giá
lạnh và khí loãng đó mà định cư sẽ được nhiều thuận
lợi của Nhà nước ban cho.
Nhìn
những người Tây Tạng đi lầm lũi trên phố xá bỗng tôi
nhớ thời bắc thuộc của Việt Nam mà mình chỉ biết trong
sách vở. Chắc những người Hán chỉ có một bài duy nhất,
đó là sự đồng hóa dân địa phương bằng chính sách di
dân, bằng tiếng nói, bằng văn hóa, bằng phong tục tập quán.
Nhưng không phải chỉ có thế, tôi tự nhủ khi thấy một
đoàn cồng-voa với khoảng trên 30 chiếc xe quân sự bít bùng
với những tài xế người Hán trẻ măng, tay mang găng trắng,
xem ra từ đường xa mới đến Lhasa. Lòng tôi bực dọc vô
cớ, lái xe trong mùa hè sao lại mang găng, họ là ai trong đất
nước này mà mặt mày tỏ vẻ lạnh lùng kiêu ngạo ? Những
người áo quần màu thẫm vẫn đi lầm lũi dưới đường.
Ôi, đáng thương thay, một nước chậm tiến bị một nước
chậm tiến đô hộ.
Không
phải chỉ có ngôn ngữ,ø văn hóa và súng ống Trung Quốc
có mặt tại Tây Tạng mà còn thêm một mãnh lực khác, đó
là tiền bạc, tiền đô-la và nhân dân tệ. Mãnh lực này
đã xâm chiếm toàn thế giới, nó đâu dừng lại trước biên
giới nào, dù là biên giới tâm linh độc đáo của Tây Tạng.
Tôi không khỏi đau lòng khi thấy dân Tây Tạng tranh nhau bán
đồ lưu niệm cho người nước ngoài, tài xế tắc-xi dối
trá với khách để thêm được vài đồng "nguyên" [7] , những
lao động cấp thấp phục dịch cho người Hán trong các tiệm
ăn, khách sạn, tour du lịch để được chút tiền ít ỏi.
Tại Tây Tạng ngày nay người chi tiền là khách nước ngoài,
người nhận tiền bằng ngoại tệ mạnh hay bằng thẻ tín
dụng là người Hán, của rơi rớt dành cho người bản xứ.
Đó là công thức kinh tế tài chánh đơn giản. Hơn mọi yếu
tố nào hết, đồng tiền sẽ xói mòn nền văn hoá Tây Tạng,
nó là sức mạnh khó chống lại nhất, liệu lòng sùng tín
và sự dũng cảm có khả năng đương đầu ?
Tôi
nhớ Patrul Rinpoche [8] , ông là vị đạo sư Tây Tạng sống
gần thời với chúng ta. Ông là du sĩ giác ngộ, được nhiều
người cúng dường tặng phẩm. Chuyện kể, ông xem vàng bạc
cũng như đất đá, từng dùng một miếng bạc cùng hai cục
đá kê nồi nấu trà. Một người vô gia đình và nội tâm
giàu có thì quả thật có thể làm như thế. Tôi nhớ Milarepa,
thầy của Gampopa, gia tài chỉ có một chiếc nồi. Ngày nọ
nồi bể, ông ca những lời sau: "Chiếc nồi cũng là thầy,
Dạy qui luật vô thường". Hạnh phúc thay, những người đã
thoát khỏi ràng buộc.
TU
VIỆN DREPUNG
Như
đã nói, Trisong Detsen được xem là nhà vua có công du nhập
Phật Giáo vào Tây Tạng. Trong thế kỷ thứ tám vì có nhiều
trường phái Phật Giáo khác nhau cùng thịnh hành nên nhà vua
thấy cần phải thống nhất quan điểm rõ ràng. Sau nhiều
cuộc tranh luận ông đưa ra ba chủ trương rõ rệt. Một là,
về mặt giới luật, Tây Tạng theo phương pháp của phái Nhất
thiết hữu bộ trong cách đào tạo tăng sĩ. Hai là, về mặt
triết học, Phật Giáo Tây tạng theo quan điểm của phái Trung
Quán bắt nguồn từ Long Thụ. Ba là, về mặt thiền định
thì chủ trương theo pháp thiền định của mật tông [9] .
Ta cần biết rằng Nhất thiết hữu bộ là một nhánh của
Tiểu thừa, phái Trung Quán là đỉnh cao triết học của Đại
thừa và thiền định mật tông bắt nguồn từ Kim cương thừa
nên có thể nói không sai là Phật Giáo Tây Tạng mang tất
cả các nét của ba nguồn giáo pháp Phật Giáo. Đó là thời
kỳ truyền giáo lần thứ nhất, nó chấm dứt khoảng giữa
thế kỷ thứ 9 và gây dấu ấn mạnh nhất lên phái Ninh-mã
(Nyingmapa) của Tây Tạng.
Muốn
hiểu xã hội Tây Tạng ta cần hiểu tăng sĩ Tây Tạng vì
không có nước nào trên thế giới mà hình ảnh tăng sĩ đậm
nét trong xã hội như trong nước này. Như trên có nói, kể
từ Trisong Detsen, tăng sĩ Tây Tạng được đào tạo dựa trên
giới luật của Nhất thiết hữu bộ, áp dụng trong môi trường
địa phương cụ thể của Tây Tạng.
Tu
sĩ Tây Tạng có sáu cấp bực. Mức đầu tiên là cư sĩ, đó
là những người tại gia, giữ năm giới luật. Trong mức đầu
này cũng có những người xuất gia phụng sự trong các tu viện,
tương tự như cận sự nam (hay nữ) ở Trung Quốc. Mức thứ
hai được gọi là sa-di, đó những tiểu tăng được thụ
36 giới với số tuổi khoảng bảy tám tuổi. Mức thứ ba
là tỉ-kheo, được thụ giới sớm nhất là 20 tuổi. Tỉ-kheo
Tây tạng có đến 150 giới luật phải được tôn trọng.
Mức độ thứ tư được gọi bằng tiếng Tây Tạng là Geshe,
đó là học vị có thể dịch là "tiến sĩ Phật học". Muốn
trở thành Geshe, tăng sĩ phải nắm vững năm lĩnh vực. Đó
là Luật tạng, A-tì-đạt-ma luận(Abhidharma, có khi được
gọi là Thắng pháp tập yếu luận) , toàn bộ Kinh Bát-nhã
ba-la-mật nhất là Kinh Kim Cương, Trung quán luận và triết
lý Tính Không và cuối cùng là Nhân minh luận, nhất là của
Trần-na(Dignana) và Pháp Xứng (Dharmakirti). Thường thì người
ta cần khoảng 12 năm mới lĩnh hội được năm lĩnh vực nói
trên và phải trải qua nhiều kỳ sát hạch vấn đáp. Vị
Đạt-lai lạt-ma thứ 14 hiện nay cũng phải tốt nghiệp Geshe
như mọi tăng sĩ cao cấp khác.
Với
mức thứ tư, tuy người tăng sĩ đã được đào tạo rất
sâu nhưng ông mới xong ngưỡng cửa của tiểu thừa và đại
thừa. Đó là mức độ cao cấp nhưng kiến thức vẫn còn
từ sách vở sinh ra. Mức thứ năm chính là nơi mà tăng sĩ
được đào tạo trong các phép mật tông, bằng lý thuyết
và thực nghiệm. Lúc đó người tăng sĩ được gọi là Gyupa,
"quán đỉnh". Đó là lúc tăng sĩ đi vào truyền thống mật
thừa, đi vào mối quan hệ riêng của thầy-trò. Trong phái
Cách-lỗ thì tăng sĩ chỉ đi vào mức thứ năm sau khi đã
thật vững vàng về các giáo pháp của tiểu thừa và đại
thừa. Còn trong các phái khác thì ít nghiêm khắc hơn, có khi
tăng sĩ được trực tiếp đưa vào mật tông mà chưa đi qua
các bước nói trên. Các vị Gyupa là đặc biệt quan trọng
trong Phật Giáo Tây Tạng vì đó là những người không được
đào tạo bằng kinh sách mà là những kẻ đã thực chứng
và dạy học trò bằng phép truyền tâm. Nếu họ chết đi
mà không kịp trao truyền lại cho hậu thế thì dòng truyền
thừa của họ tuyệt diệt.
Mức
thứ sáu là Khenpo, đó là các vị sư trưởng đứng đầu
các tu viện hay các vị đại sư. Các vị sư trưởng là người
cho phép các vị tăng khác quán đỉnh hay thụ giới. Các vị
Khenpo đều phải là những người được Đạt-lai lạt-ma
ấn chứng.
Ta
hay nghe từ "Rinpoche" nói về các vị tăng sĩ Tây Tạng. Rinpoche
có nguyên nghĩa là "cao quí" được dành chỉ cho cấp tăng
sĩ thứ tư trở lên. Đặc biệt từ "lạt-ma" lẽ ra chỉ dành
để chỉ chung cho các vị từ cấp thứ năm trở lên nhưng
ngày nay các sách vở phương tây sử dụng tùy tiện, cứ mỗi
tăng sĩ được gọi là "lạt-ma".
Trong
Phật Giáo Tây Tạng có thêm một đẳng cấp rất đặc thù,
đó là các vị tái sinh Tulku, được xem như thân tái sinh của
một lạt-ma cao trọng đã chết. Người Trung Quốc gọi các
vị này bằng từø "tự tại chuyển thế". Các vị này thường
được "khám phá" trong số tuổi sáu bảy và được thọ giới
cũng như học tập ngay. Thường các vị đó lĩnh hội rất
nhanh, chưa tới 30 đã đạt danh hiệu Geshe và sau đó thường
đảm nhiệm vai trò của đời sống cũ, thí dụ trở thành
tu viện trưởng tại những tu viện ngày xưa.
Quanh
Lhasa có ba tu viện lớn nhằm đào tạo tăng sĩ tới cấp bực
thứ tư Geshe, đó là Drepung, Ganden và Sera. Trong cả ba thì
Drepung lớn nhất, đó là tu viện có lúc chứa đến 10.000
tăng sĩ. Trong các vị tu học tại Drepung có một vị tên là
Losang Gyatso, về sau trở thành Đạt-lai lạt-ma thứ năm, người
lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng trong thế
kỷ 17. Trong ba tu viện Drepung, Ganden và Sera, chúng tôi chọn
đi Drepung.
Drepung
nằm dưới chân một ngọn núi, cách Lhasa khoảng 10km. Từ
xa ta đã thấy đây là một hệ thống những tòa tu viện rất
lớn, với danh từ ngày nay ta có thể gọi là "campus". Đó
là một làng đại học Phật Giáo với hàng chục công trình
xây cất.
Drepung
được một đệ tử của Tông-khách-ba tên là Jamyang Choje
xây dựng đầu tiên năm 1416. Trong những thế kỷ sau Drepung
được tiếp tục xây dựng để trở thành tập hợp tu viện
lớn nhất của phái Cách-lỗ và cũng của toàn Tây Tạng với
hàng chục điện thờ, khám thờ và vô số tranh tượng. Trong
chính điện lớn nhất mà người Tây Tạng gọi là Dukhang,
ta thấy bức tượng Văn-thù, vị bồ tát chủ trí tuệ mà
tôi đã được đảnh lễ tại Ngũ Đài sơn Trung Quốc. Đây
là nơi đào tạo khoảng 400 vị Geshe và 50 vị tái sinh Tulku
học tập trí huệ bát nhã của Ngài. Trong thời gian Đạt-lai
lạt-ma thứ năm trị vì, Drepung cũng trở thành trung tâm quyền
lực chính trị của Lhasa.
Trong
chính điện Dukhang này, đây là nơi tập hợp quan trọng nhất
của các cuộc hành lễ với hàng ngàn tăng sĩ, với thanh la
não bạt, với những loại kèn đồng rất dài phát ra tiếng
rất trầm. Ta đã biết âm nhạc tế lễ đóng vài trò rất
quan trọng trong Phật Giáo Tây Tạng. Những loại âm thanh đều
đại diện cho những yếu tố của pháp giới. Những tiếng
rất trầm hầu như phát ra từ lòng đất nói lên nền tảng
vô thủy vô chung của vạn sự, những tiếng xập xỏa ngắn,
sắc và vang dội nhảy múa trên âm trầm không dứt, chúng
đại diện cho thế giới hữu hiện khi có khi không của vạn
pháp. Chính điện này cũng là nơi hàng ngàn người tụng niệm
cùng lúc, dưới những bức tượng vàng vĩ đại, trong tiếng
âm thanh của chuông trống, trong tiếng niệm thần chú của
vị chủ lễ.
Tôi
đi qua những con đường lát đá. Đó là những nơi mà ngày
xưa tăng sĩ tranh luận về nhân minh học, môn logic lý luận
Phật Giáo hết sức sâu sắc. Đó là nơi mà tăng sĩ phải
trả lời ngay những câu hỏi câu đố được đưa ra song song
với một tiếng vỗ tay rất lạ của người hỏi. Cách vỗ
tay đó được xem để đánh thức tâm trí của người được
hỏi. Phái Cách-lỗ là môn phái chịu lý luận nhất trong các
môn phái Phật Giáo xưa nay. Họ cho rằng đã theo đại thừa
thì phải biết lý luận để giáo hóa cho những người muốn
học hỏi và cách giáo hóa dễ làm nhất là lý luận logic.
Tôi
đến những phòng thờ của các vị tu viện trưởng. Nơi đây
tôi mới biết rõ những gì Govinda đã kể trong cuốn "Con đường
mây trắng" (Govinda,sách đã dẫn) . Đó là những chỗ ngồi
thiền định mà trên đầu là một tấm lụa nhiều màu tượng
trưng cho bầu trời. Dưới bầu trời đó, xung quanh đều là
tranh tượng của Phật Bồ tát, các vị tăng sĩ sống một
cuộc đời tôn giáo cả ngày lẫn đêm. Trước mặt họ luôn
luôn là tượng Phật, họ cúng đèn, tượng trưng cho giác
ngộ; cúng nước, tượng trưng cho đời sống.
Đây
là nơi mà hàng ngàn người sống cuộc đời phạm hạnh, bồi
dưỡng trí huệ, tăng trưởng bồ đề tâm, quán niệm về
cái vô thường của sự sống, về sự miên viễn của cái
chết. Những người đó theo bước của Văn-thù, dùng lưỡi
kiếm bén chém màn vô minh để phá vòng sinh tử. Vô minh là
khâu đầu tiên của "mười hai nhân duyên". Nơi đây tại Tây
Tạng, người ta học kỹ những giáo lý tiểu thừa như tứ
diệu đế, mười hai nhân duyên..., đâu phải chỉ có luật
tạng. Ôi, đó là những giáo lý tiểu thừa tưởng như giản
đơn nhưng không bao giờ ta hiểu hết. Tiểu thừa hay đại
thừa chỉ có một mục đích duy nhất là xé "miếng da voi
của vô minh". Hai trường phái đó đối với người Tây Tạng
chỉ là phương tiện tùy theo căn cơ hành giả. Nơi đây người
ta quí trọng đức Văn-thù, mỗi lần đọc Trung quán luận
người ta cầu đến Văn-thù . Bao nhiêu tăng sĩ Tây Tạng đã
lên đường đi bộ đến Ngũ Đài sơn. Ngài là người giúp
tăng sĩ phá vòng vô minh. Phá được vô minh là chấm dứt
cái chết lẫn cái sống, thoát được vòng tử sinh do quỉ
sứ đang ôm giữ [10]. Những tăng sĩ đó ngày nay đâu cả
?
Ngày
nay Drepung chỉ còn là nơi thăm viếng của khách du lịch. "Dấu
xưa xe ngựa hồn thu thảo". Tôi đi ngẩn ngơ qua những tòa
nhà với tường vách dày vài mét nay đã đổ nát, những tấm
cửa gỗ to nặng nay đã tróc sơn đỏ. Giữa những tòa nhà
trống vắng, vài người Tây Tạng đứng hút thuốc nói chuyện
phiếm dưới nắng mai, vài chú tiểu tăng uể oải mở cửa
cho chúng tôi được vào những khám thờ đặc biệt. Sự yên
lặng nơi đây xem ra nói lên một điều mà Sangharakshita(Sangharakshita,
sách đã dẫn) đã tiên đoán. Đó là Phật Giáo Tây Tạng
không có tương lai, không thể phát triển được nữa. Chỉ
vài thế hệ nữa thôi, dưới sự cai trị của người Hán,
Phật Giáo Tây Tạng sẽ biến mất trên thế giới.
"CON
TRÂU ĐIÊN"
"Con
trâu điên" (The crazy Yak) là tên một quán ăn thuần túy Tây
Tạng. Buổi tối chúng tôi ngồi trong một tiệm ăn tự chọn
của người Tây Tạng. Có lẽ tiệm này chủ yếu dành cho
khách du lịch và người nước ngoài, nội cái tên bằng Anh
ngữ cũng nói lên điều đó. Chúng tôi ngồi thở sau khi lên
một cầu thang hẹp để đến một gian phòng lớn theo đầy
Thangka [11] . Không khí loãng trên cao nguyên làm người ta rất
mau mệt, nhất là sau khi đi tham quan các tu viện trên núi.
Vì thế không có gì sung sướng hơn buổi chiều tối được
ngồi nghỉ, ăn uống và suy ngẫm những gì mình đã thấy
trong ngày.
Chúng
tôi ngồi nghỉ trước khi đến bàn ăn tự chọn xem thử trong
đó có những món gì. Chắc là không thể có thịt trâu Yak,
"con trâu điên" chắc chỉ là tên gọi lạ tai. Yak là sinh vật
đặc trưng của Tây Tạng, chẳng thế mà tại một ngã tư
lớn của Lhasa có một tượng đồng rất sinh động của hai
con trâu. Người ta không thể làm thịt trâu, Yak là con vật
có ích nhất cho dân Tây Tạng. Đối với họ con trâu là cả
một gia tài.
Trâu
Yak không giống trâu Việt Nam. Trâu Việt Nam đã chậm chạp
mà nó còn chậm hơn. Điều khác nhất là lông nó rất dài,
có lẽ để chống lạnh. Trên cao nguyên Tây Tạng tôi không
thấy bò, chỉ trâu Yak lo chuyện đồng áng. Sữa trâu để
dùng làm trà bơ, một chất bổ dưỡng mà tôi có dịp nếm
ngay hôm nay. Mỡ trâu dùng để thắp đèn mà mùi của nó ngai
ngái hết sức khó quên. Nhưng trâu cho người cái quan trọng
nhất, đó là phân trâu. Ở đây tôi không nói chuyện tiếu
lâm, thật sự phân trâu là thứ quí nhất, nó là chất đốt
chủ yếu. Đi ngang làng mạc Tây Tạng ta thấy mỗi nhà đều
đắp trên tường hay phơi ngoài ngõ những bánh tròn tròn mới
nhìn qua tưởng như bánh chưng. Thế nhưng nó không phải thứ
để ăn mà để đốt, đó chính là phân trâu Yak. Phân trâu
Yak khi đốt cho một ngọn lửa không mùi và rất nóng. Trên
một xứ cao nguyên lạnh giá, hiếm gỗ thì phân trâu Yak là
nguồn nhiên liệu quí giá.
Trên
tường, đức Phật A-di-đà trong một bức Thangka thật lớn
mỉm cười nhìn chúng tôi đến bàn lấy thức ăn. Chắc Ngài
từ bi chấp nhận kẻ ăn mặn như tôi trong xứ của Phật
pháp này. Quả nhiên như tôi đoán, không có thịt trâu Yak,
nếu có tôi cũng chẳng ăn. Xung quanh tôi có những nhóm du
lịch khác, lác đác có kẻ nói tiếng Đức xen lẫn tiếng
Anh và lạ thay, trong số họ có nhiều người ăn chay, họ
hỏi nhau món nào không có thịt. Cuối cùng tất cả chúng
tôi đều vui lòng vì các món chay mặn đều có, tôi sớm tìm
ra một món thịt, đó là thịt trừu. Tôi phải ăn thịt để
lấy sức leo núi, phải uống bia để tiêu món thịt, đó là
lý luận của những kẻ còn tham ăn tục uống như tôi. Thế
nên dưới nụ cười của đức Phật từ bi, tôi ăn thịt
trừu chăn trên sườn Hy-mã lạp sơn và uống bia Lhasa lấy
nước từ những suối nguồn tinh khiết đó.
Tôi
không phải là kẻ duy nhất ăn thịt trên cao nguyên Tây Tạng
này. Nơi đây khí hậu quá lạnh nên không có bao nhiêu rau
cải, rất nhiều người Tây Tạng phải ăn thịt để sống,
kể cả nhiều tăng sĩ. Đã có nhiều cuộc tranh luận về
việc ăn thịt hay không ăn thịt trong giới tăng sĩ, nhưng
nói chung chỉ tăng sĩ của phái Cách-lỗ mới tuyệt đối
ăn chay, tăng sĩ mũ đỏ có nhiều người ăn thịt, tăng sĩ
miền bắc ăn thịt nhiều hơn người miền nam. Lý do đơn
giản là miền bắc Tây Tạng quá lạnh, thực vật cũng không
mấy thứ sống nổi.
Tôi
đã vào trong nhà bếp của tu viện Drepung xem thử. Ngày nay
đó không còn là nơi nấu cho hàng trăm hàng ngàn người ăn
nữa nhưng những chiếc nồi to tướng nhắc tôi đây đã một
thời náo nhiệt. Tôi bỗng nhớ câu chuyện của vị "đầu
bếp giác ngộ" [12] và tự hỏi không biết vị đầu bếp
nào đã nấu nướng nơi đây và "năng lực tâm linh" của người
đó còn vương trong căn nhà đầy mồ hóng này hay không. Đầu
bếp của các tu viện không phải là người thường, họ là
những lạt-ma không kém phần cao trọng. Người Tây Tạng cho
rằng thức ăn của những đầu bếp giác ngộ mới mang lại
phước lành cho người ăn, tất cả sản phẩm do tay người
làm ra, dù là sản phẩm gì, đều mang dấu ấn tâm linh của
người đó. Tôi đọc lại câu chuyện nói trên và để ý
thấy câu "lạt-ma đầu bếp này hàng năm trời đứng dưới
thịt trâu xông khói". Thì ra người ta vẫn ăn thịt trâu Yak.
Thế thì tăng sĩ và cư sĩ đâu còn gì khác nhau ?
Quan
niệm về đời sống tu sĩ tại Tây Tạng có nhiều điều
khác biệt so với tăng sĩ của các nước khác. Nếu tại các
nước theo Thượng tọa bộ người ta tin rằng chỉ tăng sĩ
mới đạt quả A-la-hán thì đại thừa Phật giáo cho rằng
cư sĩ cũng như tăng sĩ đều mang Phật tính trong tâm, ai cũng
có thể đạt giác ngộ. Dù thế, nhưng tại Ấn Độ và Trung
Quốc người ta còn phân biệt cư sĩ, tăng sĩ cũng như giới
luật dành cho hai hạng người đó. Còn tại Tây Tạng sự
phân biệt đó không còn rõ nét, có nhiều lạt-ma sống cuộc
đời thế tục, có gia đình nhưng vẫn hành lễ như tu sĩ
và được tín đồ trọng vọng. Nếu tại Ấn Độ vị cư
sĩ nổi tiếng nhất là Cấp Cô Độc thì tại Tây Tạng, người
đó là Marpa, "nhà đại phiên dịch".
Theo
nhiều tài liệu, Marpa sinh năm 1012 tại nam Tây Tạng. Từ hồi
trẻ ông đã học tiếng Phạn và bán toàn bộ sản nghiệp
để dành tiền đi Ấn Độ. Ngày xưa người Tây Tạng đi
Ấn Độ là dấn thân vào một chuyến phiêu lưu gian khổ,
mười người đi bỏ mạng đến bảy tám người. Lý do là
khí hậu Tây Tạng thì lạnh và khô, Ấn Độ thì nóng và
ẩm, rất nhiều người đau ốm dọc đường. Ai đi Ấn Độ
trở về đã là một kỳ công được nhiều người nể trọng.
Marpa
đi Ấn Độ tổng cộng ba lần. Lần đầu ông gặp Naropa,
đó là một vị đại thành tựu giả [13] và học đạo với
vị này suốt 16 năm. Naropa là một vị hành giả tiêu biểu
của đại thừa mật giáo của Ấn Độ, là người đồng
thời của A-đề-sa và là một trong những nhân vật quan trọng
của viện Phật học Na-lan-đà tại Patna. Ông là người truyền
lại cho Marpa phép Đại Thủ Ấn [14] và bộ "Du già lục pháp"
[15] với nhiều phép khổ luyện hết sức huyền bí. Marpa đem
nhiều kinh sách, đặc biệt là của đại thừa của thời
kỳ cuối, về Tây Tạng. Ông sống một cuộc đời nông phu,
lấy vợ sinh con và đem hết sức mình ra dịch thuật kinh sách.
Sau đó ông lại đi Ấn Độ lần thứ hai, học thêm nhiều
phép bí truyền. Về lại Tây Tạng, ông gặp một người xuất
chúng của Tây Tạng và thâu nhận làm học trò. Người đó
không ai khác hơn là Milarepa (người khổ hạnh áo vải). Milarepa
bị Marpa hành hạ gần muốn tự tử chẳng qua là Marpa muốn
giải ác nghiệp cho ông. Về sau, Milarepa đắc đạo và thành
lập phái Ca-nhĩ-cư (Kagyupa), một trong bốn tông phái của
Phật Giáo Tây Tạng và cư sĩ Marpa được xem là tổ thứ
ba [16] của phái này. Lần thứ ba lúc tuổi đã cao, Marpa lại
đi Ấn Độ một lần nữa vì một phép bí truyền, đó là
giáo pháp "đoạn giáo". Nơi đây ông gặp lại vị thầy Naropa
lần cuối. Người cư sĩ Marpa có nhiều điều giống với
tăng sĩ Huyền Trang, kẻ sống trước ông ba thế kỷ. Hai vị
đều là người đi Ấn Độ thỉnh kinh sách về nước mình
và được tôn là "đại dịch sư".
Tôi
ngẫm nghĩ điều đó trong "Con trâu điên" trong lúc có người
mang lại một tách trà bơ cho tôi. Tôi vui mừng được uống
thử trà bơ nổi danh mà tất cả các sách về Tây Tạng đều
nhắc tới. Đó là thứ trà mà người ta uống rất nóng và
tiếc thay, nó có mùi ngai ngái của mỡ trâu. Tôi đặt tách
trà xuống và thành thực mà nói tôi thấy bia Lhasa ngon hơn
và có lẽ sẽ chỉ uống trà này nếu không có gì để uống
nữa và nhất là nếu cần nó để có chút hơi ấm khi sắp
chết cóng vì lạnh. Sau đó tôi hết sức ngưỡng mộ khi người
ta đem bánh Tsampa ra. Đó là thứ bánh làm bằng bột mì mà
các tăng sĩ Tây Tạng hay tự tay làm để cúng dường các
vị nữ thần Không hành nữ [17]. Tsampa, có ngày ta được
nếm thử ngươi, được ăn thứ mà nữ thần cũng ăn, tôi
sung sướng tự nhủ. Thế nhưng, Tsampa quá ngọt và vẫn không
tránh được mùi mỡ trâu, tôi ăn không nổi.
Tôi
sắp điên vì mỡ trâu chứ không có con trâu nào điên cả,
đó là kết luận của tôi ngày hôm đó.
TRÊN
CAO NGUYÊN
Mặc
dù nằm trên độ cao 3700m nhưng Lhasa chỉ là một thung lũng
hiền hòa. Ngoài thung lũng Yarlung Tsangpo, Tây Tạng chỉ toàn
là núi non hiểm trở. Miền bắc của Tây Tạng giáp giới
với dãy núi Côn Luân, đó là một vùng lạnh lẽo quanh năm,
dân Tây Tạng cũng không ai muốn lên đó. Miền nam Tây Tạng
chính là dãy Hy-mã lạp sơn mà cách Lhasa khoảng chừng 800km
đường trường về phía tây nam là đỉnh Everest cao nhất
thế giới với độ cao 8848m.
Như
ta biết, cao nguyên Tây Tạng được sinh ra cách đây khoảng
40 triệu năm, lúc bán đảo Ấn Độ di chuyển đụng phải
đại lục châu Á. Sự va chạm đó không nhẹ nhàng cho lắm,
nó đội lên thành hàng chục ngọn núi cao và đồng thời
sinh ra những khe núi sâu khủng khiếp mà tiếng Anh gọi là
"Canyon". Thế nên tại Tây Tạng có sáu ngọn núi cao trên 8000m,
50 ngọn trên 7000m. Chúng được tuyết trắng quanh năm che phủ,
sườn của chúng chứa đầy băng vạn niên dày hàng chục
mét. Dưới chân núi là những hẻm sâu thăm thẳm và lạ thay
trong những hẻm đó có những nơi vô cùng ấm áp, hoa lá xinh
tươi. Dưới chân những ngọn núi đó hồ, có cả hồ nước
mặn, mặt nước của chúng len lỏi vào trong những rảnh sâu
của chân núi để sinh ra những bờ hồ khúc khuỷa với một
sắc đẹp vô song.
Tuyết
tan trên núi vào những ngày hè tích tụ từ bao nhiêu triệu
năm chảy xuống hồ Manasarova dưới chân Ngân Sơn để sinh
ra con sông Yarlung Tsanpo mà ta đã biết. Con sông này chảy từ
trên cao nguyên với độ cao gần 7000 mét về biển nên ta có
thể hình dung nó vượt qua bao nhiêu hẻm núi sâu để về
đồng bằng. Tại phía đông Tây Tạng nó chảy qua một loạt
thác với một đoạn sông chỉ dài có 45km mà mất 3000m độ
cao. Đó là một trong những hẻm núi nổi danh nhất thế giới,
tính từ trên đỉnh núi xuống mặt nước cao trung bình trên
5000m. Từ trên núi nhìn xuống sông mà tưởng như từ trên
máy bay nhìn xuống đất. Cảnh quan của hẻm núi này vượt
qua cả hẻm Colca ở Peru, của sông Colorado của Mỹ.
Xe
chúng tôi chạy nhằm hướng nam, trở lại thung lũng sông Yarlung
Tsangpo. Đường này là đường đi sân bay nhưng cũng chính
là trục đường đi Kathmandu. Thế nhưng từ đây đến Kathmandu
còn 850km và đường còn vượt nhiều ngọn đèo của Hy-mã
lạp sơn nên nếu có ai đi thì phải tính mất ba ngày đường.
Hôm nay chúng tôi chỉ đến Gyantse và ngày đó tôi đã biết
thế nào là đường núi và sự nhọc nhằn.
Xe
chúng tôi đi là một chiếc bus nhỏ hiệu Toyota. Trên đường
đi tôi sớm biết là chiếc xe này không phải là loại xe thông
dụng tại Tây Tạng mà nơi đây người ta hay chở du khách
đi bằng loại xe đường núi với 4500cc phân khối, thùng xe
cao và động cơ vận hành cả bốn bánh. May thay chiếc Toyota
đã đi đến nơi mặc dù có khi nó phải lội nước vì đường
bị ngập vì suối tràn.
Không
bao lâu sau khi vượt sông Yarlung Tsangpo chúng tôi lấy một
con đường nhỏ đến Gyantse, thành phố lớn thứ ba của Tây
Tạng. Gyantse là thành phố được xây dựng năm 1365, là nơi
giao dịch buôn bán với các nước miền nam như Nepal, Ấn Độ,
nơi bán trâu Yak và lông trừu. Như thế là đường từ Lhasa
đi đến Gyantse phải rộng rãi lắm, tôi tự nghĩ và sau đó
thấy mình sai lầm. Đây là con đường nguy hiểm nhất mà
đời tôi đã đi qua, nhưng là con đường tuyệt diệu nhất.
Đó
là con đường đi về Hy-mã lạp sơn nằm ở phía nam. Trước
mặt tôi là những ngọn núi tuyết bạc trắng xóa. Xe càng
lúc càng lên cao, đường càng ngày càng khúc khuỷ. Những
ngọn núi khi trước mặt khi bên trái, bên mặt, khi ẩn khi
hiện nhưng mỗi lần được thấy chúng, nỗi kính sợ lại
trở về với tôi. Tôi nhớ mười năm về trước, tại Simla
mình được thấy những ngọn này và lòng mình chấn động
dữ dội. Đó là buổi bắt đầu, hôm nay hầu như là những
ngày cuối cùng, ai biết được đời mình có cho phép mình
đi du hành nữa, nhất là trên cao nguyên Tây Tạng này. Mười
năm qua tôi đi trọn một vòng hành hương, từ tứ động tâm
ở Ấn Độ đến tứ đại danh sơn ở Trung Quốc để cuối
cùng đảnh lễ vị Đức hạnh cao quí tại Jokhang. Đó là
một vòng học hỏi với kinh sách tiểu thừa tại Ấn Độ
đến các khái niệm rộng lớn của đại thừa của Trung Quốc
và cuối cùng là những quan niệm kỳ bí của kim cương thừa
tại Tây Tạng.
Những
gì tôi được thấy của mười năm qua bỗng nhiên trở lại
khi những ngọn núi đầy tuyết xuất hiện trước mặt tôi.
Tôi quên nỗi bực dọc về những gì đã thấy trên đường
phố Lhasa, về sự hiện diện của lính tráng Trung Quốc. Tôi
nhớ lại tại Simla chính mình đã tự nhủ, núi non đâu phải
để con người quản lý. Trung Quốc hay Tây Tạng không có
ai "quản lý" được núi non, những ngọn núi này chỉ là đỉnh
của những băng sơn ẩn mật, hiện ra một chút cho người
đời thấy diện mục của mình. Những ngọn núi hôm nay tôi
thấy không phải là những ngọn mà tôi thấy tại Simla vì
chúng cách nhau quá xa, dễ chừng cả ngàn cây số. Nhưng hề
gì, tất cả những ngọn Hy-mã lạp sơn đều cao quí như nhau,
đến đây là đi trọn một vòng của đời tôi.
Đường
xe chạy không hề là con đường tráng nhựa như tôi nghĩ,
nó chỉ là đường đất. Tôi tự hỏi không biết mùa đông
con đường này sẽ ra sao. Nhưng điều đó không làm tôi lo
ngại mà những con đường đèo này không hề có gì che chắn
tại những khúc quanh. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, lạnh người
nhìn xuống thấy những hẻm núi sâu hun hút, xe rớt xuống
đó thì khỏi có ai sống sót. Anh lái xe cũng tay mang găng trắng,
đó là thói quen của tài xế tại Trung Quốc, Tây Tạng. Thế
nhưng sao không thấy anh treo hình thần bảo hộ như tài xế
Ấn Độ ?
Tôi
sớm tìm những chuyện khác mà nhìn để quên cơn sợ. Trên
các sườn núi nhiều đàn trâu Yak xuất hiện, chúng mang trên
cổ những vòng vải vàng đỏ và chậm chạp nhai cỏ. Tiếng
chuông treo cổ trâu vang xa trong tiếng động cơ của xe, thế
nhưng tôi nhận ra một sự tĩnh lặng vô cùng trên cao nguyên
này. Cái bao la của không gian, màu sắc rực rỡ của trời
đất và sự tĩnh lặng mênh mông này phải là điều kiện
tuyệt vời để con người thiền định và để mở rộng
ý thức quán chiếu. Đây là chỗ con người gần trời hơn,
chỗ ý thức vươn tới những tầm cảm nhận cao hơn mà thông
thường ta không đạt tới.
"Khampa",
người hướng dẫn du lịch nói ngắn. Chúng tôi sớm thấy
các lá phướn phất phới và những đụn đá từ từ hiện
ra. Đây là đỉnh đèo đầu tiên mà chúng tôi đã vượt qua,
đó là đèo Khampa, nó có cao độ 4794m. Tôi nhảy xuống xe
và thấy rõ, sức mình đã yếu đi thêm vì độ cao. Đỉnh
đèo này cao hơn Lhasa khoảng 1100m. Nắng sáng rực trong không
khí trong vắt và gió thổi phất phới những lá phướn. Nhờ
nắng nên gió không làm tôi lạnh. Những lá phướn mang lời
kinh đã thổi vào không gian vô số phước lành, có lẽ đó
là lý do mà tài xế không cần treo hình các vị thần bảo
hộ.
Tôi
đi thêm vài bước và đứng sững lại trước một cảnh quan
tuyệt diệu. Trước mắt tôi là hồ Yamdrok. Hồ xuất hiện
trước mặt tôi như một lớp ngọc thạch, màu của nó là
màu xanh lục sáng turquoise, nó như màu của lá chuối non sáng
rực dưới ánh sáng mặt trời. Tôi đã thấy nhiều hồ nhưng
các nơi đó, màu nước thường xanh dương đậm nhạt tùy
chỗ. Còn màu xanh lục sáng rực này của một hồ nước thì
tôi chưa hề thấy. Hồ nằm dưới chân của ngọn Nojin Kangsa
cao 7223m, mặt nước xanh lục của nó mới nhìn có vẻ không
thật vì màu của nó quá kỳ lạ và rực rỡ. Màu nước nổi
bật lên, hầu như gần với mắt hơn còn xung quanh là núi
màu xanh thẫm lại chìm xuống, rút ra xa. Cảnh quan này dường
như một bức họa siêu thực hay một bức tranh của trẻ con
vẽ với những màu sắc và đường nét không có thật trong
thiên nhiên.
Tôi
ném một viên đá vào đụn đá theo cách chúc lành của người
Tây Tạng và lên xe xuống đèo. Sung sướng thay cho tôi, sau
đó xe chạy 50km nữa theo con đường sát theo bờ hồ. Mặt
dù đã mệt nhưng tôi nhất định không nhắm mắt ngủ. Ai
nỡ ngủ khi chạy bên cạnh hồ Yamdrok này. Đường dọc theo
bờ hồ cũng là một con đường quanh co, nước hồ len lỏi
vào những góc nhỏ nhất của các chân núi để đi đến đâu
ta lại có một cảnh quan mới về hồ và núi, lại có một
bức tranh siêu thực trước mắt.
Hồ
Yamdrok là hồ lớn thứ ba của Tây Tạng, diện tích mặt nước
của nó khoảng 638 cây số vuông, nằm ở độ cao 4441m, được
xem là hồ thiêng của Tây Tạng. Hồ lớn nhất là một hồ
nằm ở phía bắc tên là Namtso, nước mặn, nằm ở độ cao
4718m, nằm cao nhất trên thế giới, đó cũng là một hồ thiêng.
Từ Lhasa đến đó chỉ khoảng chừng 150km nhưng cả đi lẫn
về cũng phải mất đến ba ngày. Tôi chưa được đến đó
nhưng người ta nói đó là một trong những nơi để lại ấn
tượng sâu nhất khi đi Tây Tạng. Đó là một chiếc hồ với
sự tĩnh lặng "không thể tả xiết", nằm trên cao nguyên hoang
dã mà sát xung quanh bờ là những ngọn núi cao sáu ngàn mét.
Đi
dọc bờ hồ Yamdrok được khoảng 50km chúng tôi đi về hướng
tây và lên đèo Karo, vượt núi Nojin Kangsa. Con đường chạy
sát ngọn núi hùng vĩ này đưa chúng tôi lên tới độ cao
5010m. Tới đỉnh đèo tôi xuống xe và cảm hơi thở buốt
giá của ngọn núi. Trên trời, nơi đây không còn chim chóc
bay lượn. Nhìn lên sườn núi, tôi khám phá những tảng băng
vạn niên đã lan tới gần sát đường xe chạy. Vào đúng
mùa hè nên một ít băng tan, sinh ra những dòng thác nhỏ trắng
bạc chảy dọc trên sườn núi, nhìn xa như một dải lụa
tinh khiết.
Độ
cao này làm tôi khó thở thực sự. Trong kính chiếu hậu của
chiếc xe bus, môi tôi đã tím bầm. Tôi lê những bước mệt
nhọc xung quanh chỗ xe đậu, cố hít hơi thật dài và thấy
nao lòng. Đây là chốn cao nhất trên địa cầu mà tôi đã
tới và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại. Xung quanh tôi là
nhiều người Tây Tạng đang tìm cách bán đồ lưu niệm cho
khách du lịch, cho thuê trâu Yak để khách cỡi chơi cho biết.
Tội nghiệp thay cho họ, làng của họ ở dưới chân đèo,
nhưng dắt bộ trâu lên đỉnh vì du khách chỉ dừng ở đỉnh
đèo. Tôi đi ra xa, chân tránh phân trâu và mắt tìm vài viên
đá. Tôi bỏ được một viên đá của ngọn đèo cao nhất
này vào ba-lô. Một viên khác tôi mang lại đụn đá cầu nguyện
ở trên đèo, đổi lấy một viên đã nằm lâu tại đó. Cuối
cùng, tôi mang được về nhà hai viên đá của núi Nojin Kangsa,
trú xứ của vị thần Nojin, đó là kỷ vật của tôi từ
Hy-mã lạp sơn.
GYANTSE,
ĐÔ THỊ TÀN TẠ
Sau
khi qua thêm một ngọn đèo nữa, đèo Zhimi cao 4370m, chúng tôi
đến Gyantse. Ngày trước nó là đô thị nối giữa Lhasa và
Shigatse, ngày nay không còn đóng vai trò quan trọng sau khi một
con đường khác mới được xây, chạy dọc theo thung lũng
Yarlung Tsanpo, nối liền hai đô thị nói trên. Thế nhưng Gyantse
là thủ phủ một thời thịnh trị, số phận của nó liên
hệ mật thiết đến phái Tát-ca(Sakyapa). Gyantse một thời
lại là một trung tâm thương mại của Tây Tạng và cũng vì
thế mà Gyantse bị người Anh tiến hành một cuộc xâm lược
đổ máu vào năm 1904.
Ngày
nay Gyantse là một đô thị buồn tẻ và đầy bụi bặm. Khách
đến đây là để đi thăm tu viện Palkhor và ngôi đền Kumbum,
man-đa-la vĩ đại ba chiều.
Palkhor
là một đại tu viện nằm trên sườn một ngọn đồi mà
chạy dọc trên đỉnh đồi là một bức tường thành chạy
dài bao bọc xung quanh. Tôi nhớ đến Vương Xá tại Ấn Độ
và biết rằng người xây dựng Palkhor ngày xưa có ý định
biến đây là một đô thị riêng biệt của tu viện. Quả
thật như thế, ngày xưa đây là một tổng thể gồm 16 tu
viện. Cách mạng văn hóa đã đưa những hồng vệ binh trẻ
tuổi lên đây và phá hủy hầu hết các công trình. Ngày nay
đến đây du khách khó mà ngờ ngày xưa đây là chỗ tập
hợp của rất nhiều tăng sĩ, và quan trọng nhất đây là
chỗ mà ba giáo phái Tây Tạng cùng nhau tu học. Đã đến lúc
tôi phải xem lại lịch sử của bốn giáo phái lớn của Tây
Tạng, đó là Ca-nhĩ-cư, Ninh-mã, Tát-ca và Cách-lỗ.
Như
trong một chương trước đã nhắc tới, giáo phái Ca-nhĩ-cư
được Marpa truyền qua Tây Tạng khoảng thế kỷ thứ 11. Giáo
pháp này bắt nguồn từ Phổ Hiền. Phổ Hiền trong Ca-nhĩ-cư
không phải là bồ tát Phổ Hiền trong Phật giáo Trung Quốc
mà là hóa thân của Pháp thân. Phổ Hiền truyền cho Tilopa
và Tilopa truyền cho Naropa. Marpa, học trò của Naropa, lĩnh hội
phép Đại thủ ấn và Du-già lục pháp tại vùng đất thiêng
Bihar Ấn Độ. Giáo pháp này chú trọng đến phép truyền tâm,
trực tiếp từ đạo sư đến học trò. Ngày nay phái Ca-nhĩ-cư
vẫn còn tồn tại với tên Drukpa-Kagyu và Drigung-Kagyu.
Phái
thứ hai là Ninh-mã (Nyingmapa), được xem là phái cổ nhất
Tây Tạng. Phái này thống nhất truyền thống tu tập của
Liên Hoa Sinh và của các tăng sĩ có tiếng khác như Vimalamitra
và Vairocana. Phái Ninh-mã có những bí pháp quan trọng như Đại
Du-già (Maha-Yoga), A-nậu du-già (Anu-Yoga) và A-tì du-già (Ati-Yoga),
Đại cứu kính (Dzogchen). Hiện nay phép Đại cứu kính được
một số lạt-ma truyền bá tại phương tây.
Phái
thứ ba là Tát-ca mà tên Tây Tạng là Sakya. Sakya nghe ra gần
giống với Sakyamuni (Thích-ca mâu ni) nhưng thực ra không liên
quan gì cả. Sakya trong Tạng ngữ có nghĩa "đất xám", đất
chưa được cày bừa canh tác. Phái này được thành lập từ
năm 1073, đó là năm mà đền Sakya nổi tiếng được xây dựng,
theo khải thị của A-đề-sa. Phái này nổi tiếng là nghiên
cứu kinh sách nghiêm túc, biện luận xuất sắc. Người luận
giải quan trọng nhất có lẽ là Buton (1290-1364), kẻ đã xếp
đặt hệ thống kinh điển của Tây Tạng lại có thứ tự
trong hai đại tạng Kanjur và Tanjur. Kanjur và Tanjur được tất
cả các giáo phái của Tây Tạng thừa nhận là chính qui và
có thẩm quyền chung. Buton lập ra hẳn một bộ phái tên là
Shalupa. Phái Tát-ca lại có thêm một yếu tố nữa là liên
hệ đến chính trị và triều đình Mông Cổ. Như ta đã biết,
nhà vua Mông Cổ Hốt Tất Liệt hậu đãi một vị tăng sĩ
Tây Tạng như thần tiên, đó chính là Phát-tư-ba(Phagpa ,1235-1280),
một vị sư trưởng của phái Tát-ca. Hốt Tất Liệt phong
cho trường phái Tát-ca là kẻ nắm quyền Tây Tạng, điều
đó xảy ra khoảng cuối thế kỷ thứ 13, đầu 14. Chế độ
tăng lữ có thể được xem bắt đầu từ đây và đó là
thời gian mà Gyantse được xây dựng, nó được xem là thủ
phủ của Tây Tạng suốt một thời gian khoảng 80 năm. Tát-ca
đóng vai trò quan trọng trong các thế kỷ sau và ảnh hưởng
lên cả Tông-khách-ba, người ra đời năm 1357 và cũng là người
sáng lập ra phái thứ tư, phái Cách-lỗ.
Đại
sư Tông-khách-ba được gọi là "nhà cải cách" vì là người
soát xét lại toàn bộ kinh điển và tổng kết thành quả
của mình trong hai bộ luận chính: Bồ-đề đạo thứ đệ
(Lamrim Chenmo) và Chân ngôn đạo thứ đeä (Ngagrim Chenmo). Phái
Cách-lỗ do Tông-khách-ba sáng lập sau này và vì thế mà có
tên "tân phái" trong lúc ba phái kia được gọi là "cựu phái".
Tăng sĩ phái Cách-lỗ đội mũ vàng như Tông-khách-ba, chú
trọng đến Luật tạng và giữ giới luật nghiêm minh. Phép
tu quan trọng của Cách-lỗ là cân đối giữa Chỉ và Quán
để đạt Định, phát triển trí huệ và bồ-đề tâm. Như
ta biết các vị tăng sĩ trong dòng Đạt-lai và Ban-thiền đều
thuộc phái Cách-lỗ và kể từ cuối thế kỷ thứ 16, các
vị Đạt-lai nắm quyền chính trị trong tay, tương tự như
các vị Tát-ca trong cuối thế kỷ 13.
Bốn
tông phái nói trên của Tây Tạng thật ra rất gần nhau về
mặt lý thuyết cơ bản, họ tôn trọng và học hỏi lẫn nhau.
Cái khác của họ phần lớn là xuất phát từ những dòng
truyền tâm, từ những quan hệ riêng biệt giữa thầy trò,
rất đặc trưng của Kim Cương thừa. Thật ra tính đa nguyên
tôn giáo đã có truyền thống lâu dài tại Tây Tạng. Cụ
thể là khi Hốt Tất Liệt đề nghị với Phát-tư-ba hãy cấm
các tông phái khác hoạt động thì Phát-tư-ba đã từ chối
yêu cầu độc đoán đó, cho rằng điều đó không phù hợp
với "Pháp". Bản thân Tông-khách-ba cũng học tập với các
vị sư trưởng của phái Tát-ca. Vị Đạt-lai thứ năm, thuộc
dòng Cách-lỗ nhưng rất gần với phái Ninh-mã. Đó là những
biểu hiện sinh động của lòng kính trọng lẫn nhau của các
giáo phái.
Vì
thế tại Gyantse, trong tổng thể Palkhor ta có ba tu viện của
Shalupa, bốn của Tát-ca và chín của Cách-lỗ. Đặc biệt
ta tìm thấy chính điện rất lớn dành chung cho tất cả các
môn phái với rất nhiều khám thờ, được xây dựng năm 1418.
Tôi
vào chính điện, đi ngang trước những ngọn đèn mỡ trâu.
Trên bàn thờ là từng nhóm bảy chén nước theo cách cúng
dường của người Tây Tạng, được xếp chỉnh tề. Một
người phụ nữ còn trẻ đang châm dầu vào đèn để ánh
sáng không bao giờ tắt, đó là loại mỡ trâu do họ tự mình
chọn lựa và đi bộ đường xa đem tới tu viện. Đó là điều
duy nhất mà những người nghèo khổ Tây Tạng có thể cúng
dường các bậc giác ngộ. Lòng ân cần của họ đối với
"Pháp" được thể hiện giản đơn như thế nhưng nó quí hơn
hành động của những kẻ bố thí hàng trăm lần nhiều hơn
về vật chất nhưng tâm thiếu tỉnh giác, lòng không rộng
mở. Ra khỏi Lhasa, tôi càng mới thấy rõ nước Tây Tạng
rất nghèo, người dân không có gì hơn ngoài một niềm tin
tôn giáo mãnh liệt, một sự tự dâng hiến trọn vẹn. Ở
trong mọi tu viện, nơi đâu tôi cũng thấy những người tự
nguyện đi châm dầu cho đèn được sáng mãi, thay nước cho
bàn thờ luôn luôn được thanh tịnh. Tại đô thị Gyantse
đang tàn tạ này, trong tu viện Palkhor đã bị cách mạng văn
hóa phá hoại nặng nề này, vẫn không bao giờ thiếu niềm
tin đó.
KUMBUM,
MAN-ĐA-LA VĨ ĐẠI
Gyantse
còn có một công trình mà không nơi nào trong cao nguyên mênh
mông Tây Tạng có được, đó là đền Kumbum, man-đa-la ba chiều
vĩ đại. Đền Kumbum nằm bên cạnh Palkhor, có lẽ đây chính
là công trình xây dựng thu hút được một ít du khách đến
Gyantse. Liệu họ có biết ý nghĩa của ngôi đền Kumbum này
không ?
Đền
này được xây dựng năm 1436 gồm có 9 tầng, 108 cửa và 77
khám thờ. Toàn bộ đền có khoảng 100.000 hình tượng Phật,
Bồ-tát, hộ pháp..., nên nó được mệnh danh là "đền thập
vạn Phật". Đền được nghệ nhân Tây Tạng và Nepal xây
dựng, nhìn từ xa người ta thấy cặp mắt Phật, vẽ theo
kiểu Nepal. Sở dĩ đền này được gọi là man-đa-la ba chiều
vì nó biểu diễn quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo Tây
Tạng. Theo Govinda [18] , các đền thờ Tây Tạng đều có năm
phần, tượng trưng cho năm yếu tố xây dựng nên vũ trụ.
Phần dưới của đền hình khối, tượng trưng cho yếu tố
"đất", bền vững, ổn định. Đó là yếu tố của các chất
đặc, nặng, là nền móng của mọi sắc hình. Trên hình khối
là hình cầu, có khi hình bán cầu. Hình cầu tượng trưng
cho yếu tố "nước", sự luân chuyển, sự di động. Ngược
lại với đất, nước có tính bất định và trôi chảy. Trên
hình cầu là một hình nón cụt. Hình nón cụt tượng trưng
cho "lửa", dáng của nó giống ngọn lửa hướng về phía trên.
Trên hình nón cụt là những dĩa, mặt dĩa ngửa về phía trên,
nhìn ngang giống như hình bán cầu. Những dĩa tròn này tượng
trưng cho "gió" hay không gian. Cuối cùng nằm trên tất cả
là một chấm tròn hình nhọn như lửa tượng trưng cho "thức".
Thức
chỉ là một chấm, khác với bốn yếu tố khác, nó không
có kích thước. Thức chứa đựng tất cả mà không bị hạn
chế trong dạng hình nào cả. Thức được biểu diễn bởi
một chấm không có kích thước vì nó là giao điểm giữa
tầng mức vật chất với một mức độ khác mà ta gọi là
tâm linh.
Từ
xa đền Kumbum cho thấy nó được xây dựng theo kiến trúc
nói trên. Hình khối phía dưới có năm tầng sơn trắng. Phần
hình cầu tượng trưng cho yếu tố nước được xây bằng
hình ống tròn với bốn cửa sổ. Phần trên là mái điện
thếp vàng với bốn cặp mắt Phật nhìn ra bốn phía. Tôi
đi vào đền và biết trước mình sẽ không đủ dức tham
bái hết 77 khám thờ, mà bản thân mỗi khám thờ lại là
một man-đa-la.
Người
nước ngoài vào thăm đền hẳn sẽ lạc lối với hàng chục
ngàn tranh tượng Phật, mỗi vị có một chút khác biệt. Đối
với họ chỉ có một vị Phật lịch sử Thích-ca mâu-ni. Phật
tử tiểu thừa hay cả đại thừa, trong số đó có tôi, cũng
không dễ hiểu tất cả tranh tượng ở đây. Thế nhưng nếu
ta hiểu rằng, hệ thống "ba thân" - Pháp thân, Báo thân và
Ứng thân - trong Kim cương thừa đóng vai trò quan trọng bậc
nhất trong triết lý về vũ trụ của Phật Giáo Tây Tạng,
ta có thể hiểu các tranh tượng và man-đa-la trong đền Kumbum
đều được xếp đặt có thứ tự. Cho nên, bên cạnh quan
niệm "năm yếu tố" trong công trình Kumbum đã nói ở trên,
ta cần hiểu đền này diễn tả thêm ba dạng xuất hiện của
Phật tính trong ba thân, Ứng thân, Báo thân và Pháp thân. Đó
là lý do mà các sách vở ghi rằng, đi một vòng Kumbum từ
dưới lên trên là đi một vòng, từ vòng tử sinh luân hồi
đến Niết-bàn.
Các
tầng dưới cùng của điện Kumbum diễn tả hình tướng các
vị Phật và Bồ-tát trong dạng Ứng Thân, đó là các vị
đã sống thật trên trái đất này như Thích-ca mâu-ni và các
đệ tử của Ngài. Người ta có thể nhận ra điều đó qua
áo quần, bình bát, cây bồ-đề...Các bức bích họa diễn
tả đời sống của Ngài cách đây 2500 năm. Kể cả các tiền
kiếp của Phật cũng được xếp vài loại Ứng thân.
Trên
những tầng cao hơn là dạng Báo thân của Phật. Đó là những
hình tượng diễn tả các vị giác ngộ trong một thế giới
khác, trong các cõi Tịnh độ. Đó là hình ảnh của Phật
trong kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa với vô số hào quang
và bảo vật. Quan trọng nhất, trong dạng Báo thân, các vị
Phật xuất hiện thông qua những "mẫu hình cơ bản" [19] của
vũ trụ. Đó là năm dạng cơ bản của tâm thức. Vũ trụ
quan của Kim cương thừa quan niệm mọi hiện tượng tâm vật
trong thế gian đều được xếp thành năm "họ" mà đứng đầu
năm họ đó là năm vị Ngũ phương Phật. Nơi đây ta gặp
hình tướng năm vị Phật mà đại thừa ít nhắc tới, đó
là các vị Đại Nhật, Bất Động, Bảo Sinh, A-di-đà và Bất
Không Thành Tựu. Các dạng này cần được hiểu như năm khía
cạnh của Phật tính, năm dạng này cũng như những màu của
ánh sáng mặt trời bị tách ra khi đi qua một lăng kính. Năm
vị Ngũ phương Phật đó vì thế cũng có năm màu sắc khác
nhau. Lý do là màu sắc cũng như các loại hình cơ bản khác
như năm hướng, ngũ uẩn, năm trí, năm yếu tố (nói trong
chương trước) đều được xếp trong các họ đó. Quan niệm
về các mẫu hình cơ bản là hết sức sâu sắc và đóng vai
trò quan trọng trong nền tâm lý học hiện đại.
Trên
tầng cao hơn của Báo thân là dạng Pháp thân với các hình
tượng các vị A-đề Phật (Adibuddha) hay Bản sơ Phật. Pháp
thân thường được hình dung như một cái gì vô hình vô tướng,
không biến hoại. Thế nhưng đối với Kim cương thừa, Pháp
thân có thể hóa hiện thành các vị A-đề Phật để giáo
hóa mà phái Ninh-mã gọi là Phổ Hiền, phái Cam-đan gọi là
Kim cương tát-đỏa (Vajrasattva) , phái Cách-lỗ gọi là Kim
cương trì (Vajradhara) . Trên tầng cao nhất của Kumbum ta thấy
một bức tranh trình bày Kim cương trì.
Đi
từ dưới lên trên là đi xuyên qua tất cả mọi dạng của
đời sống, từ thực tại lịch sử trên mặt địa cầu mà
ai cũng thừa nhận, đến các tầng Báo thân mà chỉ có "cặp
mắt thiện nghiệp hi hữu" [20] mới thấy được và cuối
cùng là Pháp thân, thực tại tuyệt đối tối hậu vượt
lên thực tại qui ước, nằm ngoài mọi tri chứng.
Tôi
thở nặng nề leo lên những cấp bậc cuối cùng của Pháp
thân, bước ra ngoài bao lơn và đứng trên chóp đỉnh của
Kumbum nhìn ra bốn phía. Gyantse nằm trên độ cao gần 4000m,
cao hơn Lhasa khoảng hơn 300m. Gyantse đã cao mà từ chân đền
lên đây ta phải leo 32m nữa. Khoảng cách đó là đoạn đường
vô tận từ đời làm người cho đến Niết-bàn mà ngay cả
đức Thích-ca cũng tu học qua "vô lượng kiếp". Từ trên đỉnh
Kumbum ta lại thấy xung quanh là mênh mông những ngọn núi mà
bản thân Gyantse lại chỉ là thung lũng của sông Nyang Chu.
Phía dưới chân tôi là đời làm người với bụi và cát.
Từ trên này tôi có thể thấy xe của du khách đang đậu chờ
chúng tôi và nhiều người Tây Tạng đang vây quanh bán đồ
lưu niệm và xin tiền. Tôi nhìn quanh và chợt thấy mình có
lẽ là những người ít ỏi trong đoàn lên tới đỉnh của
Pháp thân, những người khác xem ra không ai muốn leo vì quá
nhọc mệt.
Tôi
không thể ở lâu trong dạng Pháp thân. Chờ cho hơi thở trở
lại bình thường, tôi lại leo xuống, thế nhân đang chờ
tôi.
SHIGATSE
VÀ DÒNG BAN-THIỀN LẠT-MA
Nhìn
bản đồ, ta thấy Gyantse quả thật là ngã tư của nhiều
con đường lữ khách. Cách Gyantse khoảng 300km về phía nam
là Gangtok, thủ đô nước Sikkim. Từ Gyantse ta chỉ đi về
phía tây thêm 100km là đến Shigatse, đô thị lớn thứ hai
của Tây Tạng. Từ Shigatse mà đi về hướng tây nam thêm khoảng
500km là đến Kathmandu, thủ đô Nepal. Mấy năm về trước
tại Kathmandu tôi đã ngắm đường đi Tây Tạng, nào ngờ
hôm nay tôi đứng trên đất Tây Tạng nhìn về Nepal.
Thế
nhưng hướng về miền tây Tây Tạng, lòng tôi rộn rã không
vì gì khác mà chỉ vì Ngân sơn [21], nó còn cách Gyantse chỗ
tôi đang đứng đến hơn 850km, chỗ đó là niềm mơ ước
nhiều năm nay của tôi. Tôi mơ ngày đến Ngân sơn lúc đứng
tại cao nguyên Simla tại Ấn Độ mười năm về trước. Đến
Ngân sơn là đến núi Tu-di trên địa cầu. Đến Ngân sơn
là thăm trú xứ của thánh thần, là đến nơi sinh ra các sông
thiêng như sông Hằng của Ấn Độ, như sông Yarlung Tsangpo
của Tây Tạng. Nếu đến được đó tôi sẽ đi thêm khoảng
200km nữa là đến Tsaparang, kinh đô tàn tạ của vương quốc
Guge. Người ta không thể được tất cả, phải chăng phải
còn một chỗ chưa đạt tới để lòng còn mơ ước, tôi tự
nhủ.
Đường
từ Gyantse tới Shigatse là một con đường đi qua một cao nguyên
xanh tươi nằm trên độ cao 4000m, chạy dọc theo con sông Nyang
Chu. Nyang Chu chỉ là một con sông nhỏ, nước trong xanh. Tây
Tạng là xứ thưa dân, xe chạy cứ cả vài chục cây số mới
thấy xuất hiện làng mạc ruộng đồng. Thỉnh thoảng vài
tu viện đổ nát hay phế tích nằm cao trên đỉnh đồi hiện
ra như một tiếng gọi trầm mặc vang vọng từ quá khứ. Đâu
phải chỉ vương quốc Guge, tất cả các triều đại của
Tây Tạng đều đang tàn tạ.
Khoảng
20km trước khi đến Shigatse ta có thể thấy tu viện Shalu.
Tu viện này mới đầu được xây năm 1040, có kiến trúc hỗn
hợp của người Hán và Tây Tạng. Ngày nay ta còn thấy mái
của tu viện được lợp bằng một thứ ngói có tráng men
xanh của đời nhà Nguyên, đó loại ngói ta hay thấy tại các
chùa của Trung Quốc. Ngói này cũng là loại ngói tráng men
của các cung điện xứ Huế. Dưới mái ngói này của tu viện
Shalu thuộc phái Tát-ca, Buton đã tu học và kết tập kinh điển
thành các bộ Kanjur và Tanjur. Trong tu viện Shalu này Buton cũng
đã lấy tên của tu viện mà sáng lập ra bộ phái Shalupa.
Xe
đến Shigatse lúc trời đã tối. Đây là đô thị lớn thứ
hai sau Lhasa và bộ mặt của nó đang dần dần biến thành
một thành phố nhỏ của Trung Quốc với các sạp hàng với
cửa cuốn bằng kim loại. Lại những cơ quan nhà nước với
hai người lính bồng súng trước cửa. Cách đó không xa là
các tiệm ăn, trước mỗi tiệm cũng có hai người Hán, nhưng
là hai cô gái đứng trước cửa mời chào chúng tôi.
Shigatse
đã được xây dựng trên một độ cao 3900m khoảng trong thế
kỷ thứ 13. Shigatse có một tu viện nổi tiếng, đó là Tashilhunpo,
nó được kiến lập năm 1447. Tu viện này do các đệ tử
của Tông-khách-ba trụ trì. Nó nổi tiếng ở chỗ các sư
trưởng đầu tiên của nó chính là vị Đạt-lai thứ nhất
và thứ hai và các vị sư trưởng thừa kế được gọi là
Ban-thiền lạt-ma. Khi vị Đạt-lai thứ năm lên ngôi thì vị
thầy của ông tên là Choki Gyeltshen (1475-1542) được phong làm
Ban-thiền đời thứ tư. Vì Đạt-lai là hiện thân của Quán
Thế Âm nên Ban-thiền, thầy của Đạt-lai được xem là hiện
thân của A-di-đà. Các vị Đạt-lai và Ban-thiền được xem
là đời đời làm thầy trò của nhau, vị này ấn chứng cho
vị kia khi một vị được khám phá là mới tái sinh. Potala
là cung điện của dòng Đạt-lai và Tashilhunpo là tu viện của
dòng Ban-thiền. Hai dòng đều có trách nhiệm giáo hóa của
mình nhưng công việc chính sự chỉ do các vị Đạt-lai nắm
giữ. Thế nhưng trong thế kỷ hai mươi, với sự có mặt của
Trung Quốc, vấn đề không còn đơn giản như thế.
Tôi
đến tu viện Tashilhunpo, từ xa đã thấy mái điện mạ vàng
sáng rực. Điện có nhiều công trình, được bao bọc xung
quanh bởi một lớp tường thành mà tín đồ Tây Tạng nào
cũng đi một vòng trước khi bước vào. Toàn thể công trình
của điện chiếm một diện tích 150.000 mét vuông. Điện được
xây dựng để thờ Di-lặc, vị Phật tương lai và vì thế
trong chính điện ta thấy ngay bức tượng vĩ đại của Ngài
với chiều cao 27m, đúc toàn bằng đồng. Tôi yêu tượng Di-lặc
của Tây Tạng hơn cách trình bày Ngài của Trung Quốc. Mỗi
lần đến đảnh lễ tượng Di-lặc của Tây Tạng tôi đều
nhìn lên để thấy cặp mắt xanh biếc đầy trí tuệ của
Ngài. Tôi nhớ Ung Hòa cung tại Bắc Kinh với bức tượng Di-lặc
cao 18m đẽo từ một cây gỗ trầm hương. Nơi đó Ngài đã
nhắc tôi "không có gì được thành tựu hết". Đó là cách
nói của Ngài mà ngày nay ta sẽ nói một cách hiện đại là
"không có gì tồn tại trên cơ sở tự tính cả" [22]
. Bức tượng tại Tashilhunpo cao hơn tại Ung Hoà cung, cặp
mắt Ngài vẫn xanh biếc, hình như nhìn ngắm những gì diễn
ra tại Shigatse lịch sử này một cách bí ẩn và hóm hỉnh.
Vì rằng những gì xảy ra tại Shigatse cũng chẳng có tự tính,
tất cả đều dựa lên nhau mà thành.
Điều
gì đã xảy ra tại Shigatse và Tashilhungpo ? Đã từ lâu Trung
Quốc tìm cách chia rẻ hai dòng Đạt-lai và Ban-thiền. Khoảng
năm 1924 Đạt-lai thứ 13 và Ban-thiền thứ 9 có mâu thuẫn
với nhau, kể từ khoảng thời gian đó ta có thể nói Ban-thiền
chủ trương thân Trung Quốc, còn quan điểm của Đạt-lai là
duy trì và phục hồi nền độc lập chính trị của Tây Tạng.
Khi Trung Quốc tiến quân vào Tây Tạng và Đạt-lai thứ 14
lưu vong đi Ấn Độ năm 1959 thì sau đó vị Ban-thiền thứ
10 cũng bị giam lỏng tại Bắc Kinh. Đến năm 1978 Bắc Kinh
bỗng nhiên tôn vị Ban-thiền lên làm phó chủ tịch Quốc
hội. Mưu kế đó không mới mẻ cho lắm, chẳng qua là một
biện pháp chính trị để giữ "mặt trận đoàn kết dân tộc".
Tháng giêng năm 1989, Ban-thiền được về lại Shigatse, đến
tu viện Tashilhunpo để làm lễ tế tự cho tháp mới xây của
các vị Ban-thiền từ thứ 5 đến thứ 9. Trong buổi lễ đó,
bỗng nhiên Ban-thiền thứ 10 chết, lúc đó ông mới 51 tuổi.
Ông ít khi được về lại Tashilhunpo, nay về lại tu viện
của mình sau khi bị giam lỏng và chết ngay tại lúc tế tự
các tiền thân của chính mình. Bí ẩn thay cái chết của ông.
Về mặt chính thức thì ông chết vì bịnh tim, nhưng ai biết
được điều gì đã xảy ra.
Ngày
nay tại Tashilhunpo khách có thể đi thăm tháp thờ di cốt hai
vị Đạt-lai thứ nhất và thứ hai, tháp của các vị Ban-thiền
thứ 5 đến thứ 9. Và kể từ khoảng 10 năm nay có thêm tháp
của vị Ban-thiền thứ 10 mà hình chụp của ông cho thấy
là một người thông thái và khỏe mạnh. Dưới chân Di-lặc
bao nhiêu điều đã xảy ra, hẳn chỉ có Ngài mới biết rõ.
Đối với Di-lặc, cái chết hiển nhiên không phải là sự
chấm dứt. Còn đối với tôi, cái chết bí ẩn của Ban-thiền
chỉ lập lại thêm một lần nữa, là Phật giáo hãy xa rời
triều đình và quyền lực, hãy bỏ lại đằng sau "tám bận
tâm thế gian" [23] .
Sau
khi Ban-thiền thứ 10 chết, dĩ nhiên người ta đi tìm thân
tái sinh của ông. Theo nguồn tin chưa chính xác, vị Đại-lai
hiện nay đã xác định một thiếu niên sinh đầu những năm
90 là hậu thân của ông. Thế nhưng không ai tiết lộ thiếu
niên này hiện đang ở đâu vì lý do an ninh. Còn những người
lãnh đạo Bắc Kinh cũng tuyên bố đã tìm ra hậu thân của
Ban-thiền thứ 10. Buồn cười thay, họ đâu tin có sự tái
sinh mà phải cất công đi tìm và ngày ngày phải lo cung dưỡng
vị đó tại Bắc Kinh. Ngày nay tại Tashilhunpo hình của thiếu
niên đó do Bắc Kinh "ấn chứng" được thờ như Ban-thiền
thứ 11. Hỡi Di-lặc, cái nhìn của Ngài có gì bí ẩn và hóm
hỉnh ?
DỌC
SÔNG YARLUNG TSANGPO
Tôi
hiểu tâm trạng của nhiều người Tây Tạng khi họ không
muốn rời miền cao nguyên của họ để xuống đồng bằng.
Và tôi cũng thể hiểu tại sao bà Alexandra David-Néel lúc tuổi
đã 75 mà vẫn còn đi Tây Tạng lần thứ ba. Vì lẽ gì mà
xứ Tây Tạng quyến rũ con người đến thế ?
Xe
chạy dọc theo Yarlung Tsangpo, từ Shigatse về lại Lhasa. Đây
là con đường mới, được gọi là "new road", tôi đang từ
giã hướng tây để trở lại phương đông. Tôi ngoái nhìn
lại lần cuối hướng tây, nơi Ngân sơn đang ngự trị, nơi
vương quốc Guge đang chờ tôi.
Tôi
đã biết đoạn sông Tsangpo miền đông nam Lhasa, nơi mà các
nhà vua Tây Tạng đã một thời xây dựng. Giờ đây tôi sẽ
chạy khoảng trên 350km theo Tsangpo và xem con sông này sẽ biến
dạng thế nào trên cao nguyên trùng điệp những đá này. Tôi
sẽ không thể đi hết mấy ngàn cây số dọc Tsangpo được
vì con sông này hiểm trở thế nào ta đã biết, nhưng cũng
vì Tây Tạng đất rộng người thưa, người đi trên đường
còn không có, làm gì có thuyền đi trên sông. Thật vậy, tôi
không thấy một bóng thuyền nào cả trên con sông này, kể
cả trong những đoạn sông hết sức hiền hòa. Tôi nhớ đến
Trường Giang của Trung Quốc và chợt thấy mình so sánh sai
lầm. Người Trung Quốc đông đến mức họ phải sống trên
sông hồ, còn tại Tây Tạng, thiên nhiên quá hào phóng, đất
đai quá bát ngát, con người lẫn dê trừu chỉ là một chấm
nhỏ trong cảnh quan vô tận. Đó là chưa kể thung lũng Yarlung
Tsangpo tương đối đông dân, còn những nơi khác như miền
bắc, miền đông Tây Tạng thì sự tĩnh lặng là âm thanh ngự
trị thế giới. Cảnh quan vô tận, màu sắc rực rỡ trong
một sự tĩnh lặng đến nao lòng, không có nơi nào trên thế
giới ta có thể tìm thấy sự tương tự. Đó phải là ấn
tượng ai ai cũng có khi đến Tây Tạng.
Có
người dừng lại ở những ấn tượng đó và vội tìm những
cảm giác quen thuộc để tâm tư bớt hoảng sợ vì sự xa
lạ. Nhưng cũng có người sớm thấy rằng cảnh quan thiên
nhiên bao la đó không làm ta lo sợ hay bơ vơ mà dường như
trời đất đến gần với ta hơn, thân tình hơn. Đi thêm một
bước, cảnh quan, màu sắc và sự tĩnh lặng, đó là con đường
dẫn ta đến một cánh cửa. Con đường đó không hề giản
đơn và ngắn ngủi, nó có thể rất dài và vì ta chưa đến
nơi để mở cửa nên không mấy ai biết nó dài bao nhiêu.
Đó là cánh cửa của tâm linh, của ý thức được nâng lên
và mở rộng. Tôi đoán như thế thôi vì mình chưa hề đi
được xa. Thế nhưng tôi biết, thiên nhiên rộng mở làm ý
thức ta lan tỏa. Màu sắc rực rỡ và thuần tịnh cho ta sớm
biết, màu sắc chính là những "mẫu hình nguyên thủy", những
cánh cửa trực tiếp dẫn vào sự chứng nghiệm. Sự tĩnh
lặng đang ngự trị chỉ kéo ta về với nhận thức rằng
tất cả âm thanh đều là sự nhảy múa vô thường trên nền
tảng bất di bất dịch này.
Thế
nên cảnh quan thiên nhiên tuyệt diệu của Tây Tạng không
chỉ làm hứng khởi tầm nghe nhìn của chúng ta vốn thường
bị mây mù, khói đục và tiếng ồn che phủ. Nó tích cực
hơn, nó dẫn đường mở lối cho nhận thức và ý niệm về
cái miên viễn đang hiện hình trước mắt ta. Tâm ta biết
rằng cái miên viễn không phải đi tìm đâu xa, nó nằm ngay
trước mắt, nó hiện diện ngay trong lòng, chỉ mắt vướng
bụi nên không thấy nó, chỉ lòng chưa tỉnh nên không nhận
ra nó. Nhưng cái miên viễn cũng không phải trần trụi sờ
sờ ra đó để ai cũng có thể ngắm nghía mà muốn tới với
nó phải đi hết đoạn đường phi hữu phi không, phải tự
tay mở cánh cửa vô môn, phải nghe được thứ tiếng không
lời, phải vào chốn ẩn mật chỉ dành cho những người biết
dâng hết tâm ý, biết buông rơi chính mình. Cảnh quan Tây
Tạng là bước khởi đầu, không phải là đoạn kết thúc.
Con
đường gọi là "new road" này nhìn trên bản đồ tưởng như
xa lộ nhưng thực ra chỉ là một con đường nhỏ chạy dọc
theo thung lũng Yarlung. Xe chạy khi gần khi xa mặt sông. Có khi
xe phải lội nước vì có một con suối nào do băng tan sinh
ra, chảy từ sườn Hy-mã ngang nhiên băng qua đường lộ để
xuống sông Yarlung Tsangpo. Có đoạn thung lũng hẹp lại, đường
phải chạy trên sườn núi, dưới là sông. Và cũng có khi
đường chạy trên núi cao và dưới kia là hẻm núi, sông Yarlung
Tsangpo bây giờ nằm xa tít phía dưới như một giải lụa
màu ngọc thạch. Dưới kia chính là những "hiệp", chúng đẹp
hơn, sâu hơn, hiểm yếu hơn cả Trường Giang tam hiệp mà
tôi từng biết. Thế nhưng tại sao những hẻm núi này không
hề nổi tiếng ? Có lẽ vì con người ít tới đây quá, so
gì được với dân Trung Quốc ở Trường Giang. Những "hiệp"
này thật ra là rất đẹp nhưng cảnh quan ở Tây Tạng ở
đâu cũng vô song, đó là lý do chúng không nổi tiếng. Nhưng
tại sao chúng phải nổi tiếng, cảnh quan thiên nhiên đâu
phải để con người thừa nhận và khen tặng. Thiên nhiên
quá cao quí và con người bé nhỏ biết bao.
Xe
dừng ở một thị trấn nhỏ tên là Tadruka, chúng tôi xuống
ăn trưa. Tadruka làm tôi nhớ những thị trấn trên quốc lộ
số 1 của Việt Nam, nó là chỗ ăn uống dọc đường cho lữ
khách. Thị trấn nằm bên sông Yarlung Tsangpo, phía trên là
đường xe chạy, phía dưới là bến phà qua bên bờ bắc của
sông. Chủ quán rõ là một phụ nữ trẻ người Hán, chị
có nước da sáng trắng khác hẳn người Tây Tạng. Chị mừng
quýnh khi thấy khách vô cả loạt và thú thật với chúng tôi
là phải chạy đi mua thức ăn. Chúng tôi có thì giờ, người
hướng dẫn đoàn nói. Chồng chị là một người Tây Tạng,
anh lo làm bếp. Chúng tôi tự nhiên vào bếp xem anh nấu nướng.
Anh là người Tây Tạng nhưng lại nấu theo kiểu Trung Quốc,
chắc học cách làm bếp của vợ. Chỉ với một cái nồi
đáy tròn mà anh diệt gọn tất cả các món, chay mặn đều
có, rau thịt không thiếu. Từ chiếc nồi đó mà anh đem thức
ăn bốc khói ngùn ngụt thẳng lên bàn, trưa hôm đó chúng
tôi có một bữa ăn ngon lành hiếm có. Những người dân giã
chân chất biết bao, người dân Hán hay Tạng có bao giờ chống
nhau, họ là những hình ảnh đẹp của con người sống thân
ái và hạnh phúc. Ở đâu cũng thế, thời nào cũng thế, những
xung đột giữa các quốc gia, giữa các bộ tộc, giữa các
giáo phái đều do tham vọng quyền lực của những người
lãnh đạo.
Từ
tiệm ăn này mà nhìn qua sông tôi lại thấy thăm thẳm những
cao nguyên và núi đá, không có một bóng người, dưới sông
không thấy ai qua phà. Mặc dù tiệm ăn ồn ào tiếng cười
nói nhưng sự tĩnh lặng vẫn trùm khắp, hầu như tiếng ồn
vội tắt ngay trong không gian bao la này.
Không
gian bao la và tĩnh lặng nhưng không hề là sự chết vì màu
sắc nơi đây quá sống động. Những màu sắc rực rỡ này
làm ta nghĩ đến màu các vị Phật trong dạng Báo thân. Tôi
chợt nhớ tại Tây Tạng, màu sắc là phương tiện để tạo
linh ảnh, là cách để đi vào những tầng tâm thức ẩn mật.
Sắc đỏ là tượng trưng lòng từ bi. Sắc lục tượng trưng
cho sự an lạc, lòng vô úy, sự xả bỏ. Sắc vàng là màu
của ánh mặt trời, là sự tăng trưởng, lớn mạnh, sự già
giặn sung mãn. Sắc xanh là màu của tri kiến, của đại trí,
của không gian mênh mông. Những màu sắc thuần tịnh này hầu
như nhấc ta khỏi thế giới của Ứng thân để đi vào Báo
thân.
Vì
những lẽ đó mà Phật giáo Tây Tạng hay vận dụng phép tạo
linh ảnh. Đối với người Tây Tạng, việc vận dụng linh
ảnh để biết trước những chuyện xảy ra trong tương lai,
để biết chuyện cách xa vạn dặm xem ra bình thường, họ
không cho đó là cái gì huyền bí. Cảnh quan và màu sắc trên
cao nguyên này hầu như nằm giữa dạng Ứng thân và Báo thân,
con người sống trên đây hầu như thường xuyên qua lại giữa
những tầng tâm thức.
Cái
miên viễn tuyệt diệu mà người thường như tôi cảm thấy
tại Tây Tạng phải chăng là mùi vị đầu của một cái mà
ta nói chữ là "Pháp thân" ? Tôi thì không bao giờ nghĩ mình
sẽ chứng được cái đó, thật ra tôi cũng chưa bao giờ muốn.
Thế nhưng nếu người-đồng-bằng tại Trung Quốc hay Việt
Nam hình dung về Pháp thân một cách hết sức xa xôi và trừu
tượng thì xem ra Phật Giáo Tây Tạng nói về nó một cách
khá cụ thể. Họ xem Pháp thân là một điều có thể thực
chứng được, có thể "thấy" được nó, miễn là tu học
đúng cách, miễn là có thầy hướng dẫn.
Báo
thân và Pháp thân là những điều quá xa vời đối với Phật
tử thông thường. Nhưng tại Tây Tạng, nhiều người cho rằng
các đạo sư có trình độ có thể truyền linh ảnh cho những
ai muốn thấy Báo thân. Còn con người thì trong một đời
làm người có thể chứng Pháp thân. Đó là lý do tại sao
Phật Giáo Tây Tạng có nhiều phép tu huyền bí, có khi xa lạ
đối với chúng ta.
Liệu
bà Alexandra David-Néel trở lại Tây Tạng lúc tuổi đã cao
để chứng thực điều gì hay không thì tôi không biết. Nhưng
cảm nhận của tôi tại cao nguyên Tây Tạng là hết sức rõ.
Đó là một miền đất có một không hai trên địa cầu, nơi
đó con người có đầy đủ những yếu tố để sống một
đời sống viễn ly, để nhìn vào bên trong, để mở rộng
những biên giới của ý thức và để vươn lên một mức
độ tâm linh cao hơn. Liệu những yếu tố đó chỉ do những
tính chất địa lý vô song của Tây Tạng sinh ra hay vì phần
đất này nằm trong vòng ảnh hưởng tâm linh vĩ đại của
những ngọn núi ẩn mật, của những dòng sông thiêng liêng,
của những vị giác ngộ đã sống nơi đây, của những con
người đang thiền định đâu đó trong khe núi vách rừng,
điều đó tôi không rõ.
Xe
đã rời sông Yarlung Tsangpo để ngược về phía bắc hướng
về Lhasa. Tôi sắp rời Tây Tạng để trở về đồng bằng.
Nơi đó sẽ có một bầu khí quyển dễ thở hơn cho tôi nhưng
phố phường chật hẹp, mây mù và tiếng huyên náo của cuộc
đời sẽ chờ đón tôi.
GIÃ
TỪ TÂY TẠNG
Rồi
cũng có ngày tôi rời Lhasa, lên máy bay về lại Tứ Xuyên.
Tôi nhớ G.Tucci, nhà Phật học và Tây Tạng học người YÙ.
Ông viết: "Từ Lhasa ra đi không giống như từ giã một thành
phố nào đó. Dễ trở lại một nơi nào bất kỳ, nhưng Lhasa
là không thể đạt tới, hầu như nó nằm ngoài thế giới
này. Từ đó ra đi cũng như tan một giấc mơ mà không biết
rằng nó có trở lại không".
Lhasa
ngày nay còn mong manh hơn thế vì nó đang chết dần chết mòn.
Những bước chân rầm rập của lính tráng đang chôn vùi một
nền văn minh độc đáo. Và không phải chỉ Lhasa thôi, Shigatse,
Gyantse cũng đang thay đổi, những đô thị khác mà tôi chưa
tới được hẳn cũng dần dần mất đi gia tài văn hóa của
mình. Toàn cả nước Tây Tạng đang từng ngày đáng mất quá
khứ của mình, đang trở thành một "khu tự trị" vô danh.
Ngắm
nhìn điện Potala lần cuối, tôi nhớ lại một lời tiên tri.
Lời đó nói rằng vị Đạt-lai lạt-ma thứ 14 hiện nay là
vị cuối cùng, sẽ không còn vị tái sinh nữa. Đạt-lai là
rường cột tinh thần của dân Tây Tạng mà nếu vị hiện
nay đã trên 65, không còn vị nào tái sinh nữa thì số phận
Tây Tạng coi như an bài. Mà cũng đúng thay, làm sao có ai lật
ngược được tình thế của dân tộc Tây Tạng.
Ngày
nay Trung Quốc đang ngự trị Tây Tạng, họ ra sức xây dựng
miền cao nguyên lạnh lẽo này để dễ đồng hóa. Công bằng
mà nói, người Trung Quốc xây đường sá rất giỏi. Tại
Trung Quốc, những nơi hẻo lánh và hầu như chỉ có khách
Phật tử hành hương như Ngũ Đài sơn, Cửu Hoa sơn đều được
xây dựng cầu đường hết sức nghiêm túc. Tôi tới đảnh
lễ được những nơi đó là cũng nhờ họ và không quên,
xây đường đắp cầu cũng là một công đức lớn, theo quan
điểm đạo Phật. Tại Tây Tạng, Trung Quốc xây dựng nhiều
công trình hạ tầng như đường xá, bệnh viện, trường học...,
đó là điều tôi không thể không nhắc tới.
Điều
khách quan hiện nay là Tây Tạng đã đi qua một hướng mới,
người dân không thể trở lại đời sống cũ. Tôi từng thấy
tu sĩ Tây Tạng mang cả điện thoại di động thì làm sao quay
lại bánh xe lịch sử, nếu có ai muốn. Tôi nghĩ rằng nếu
Đạt-lai có trở lại Tây Tạng thì ông cũng không hề muốn
dân mình sống một cuộc sống lạc hậu. Và nếu ông trở
về thì liệu ông và những người Tây Tạng theo ông có đủ
trình độ chính trị và kinh tế để đưa một dân tộc đi
lên ?
Tôi
không muốn lạc lối vào những giả định vô bổ và cũng
chẳng có "giải pháp" nào cho dân Tây Tạng. Tâm tư của tôi
có lẽ cũng giống như những người đã đi Tây Tạng, đó
là tiếc thương một nền văn minh thật sự độc đáo đang
suy tàn. Hơn nữa đối với tôi, đó không phải là một nền
văn minh bất kỳ mà nó là kim cương thừa Phật giáo, nó là
bước phát triển tiếp của đạo Phật, sau tiểu thừa Ấn
Độ và đại thừa Trung Quốc. Và nếu đại thừa Trung Quốc
thu liễm trong mình cả tiểu thừa Ấn Độ thì kim cương thừa
Tây Tạng dung chứa cả tiểu thừa lẫn đại thừa. Phật
Giáo Tây Tạng nói có lý rằng, tiểu thừa, đại thừa hay
kim cương thừa đều là từng bước phát triển cho mỗi cá
thể. Phật giáo Tây Tạng là hiện thân đích thực của Kinh
Pháp Hoa mà Phật thuyết tại đỉnh Linh Thứu, tất cả các
"thừa" đều là phương tiện, là "lấy lá giả vàng" để
dẫn độ chúng sinh.
Vì
thế mà nền văn minh Tây Tạng chết đi thì đối với tôi
là Phật giáo đang suy tàn trên toàn thế giới. Tại Ấn Độ
như đã nói, Phật giáo đã diệt vong từ thế kỷ thứ 11,
12. Tại Trung Quốc thời hoàng kim của Thiền Tông cũng bùng
lên và tắt lụi cách đây đã nhiều thế kỷ. Và tại Tây
Tạng, có lẽ tôi đồng ý với Sangharakshita [24], ông cho rằng
đạo Phật sẽ diệt vong trong vài thế hệ nữa.
Nhưng,
đức Thế Tôn cũng chẳng đã nói, giáo pháp của Ngài cũng
sẽ diệt vong như mọi chuyện trên đời. Cái gì có sinh, cái
đ