PHẦN
THỨ HAI
ẤN
ÐỘ SUỐI NGUỒN THIÊNG LIÊNG (TT)
Dọc
đường phương bắc
Rừng
Sala tại Câu-thi-na
Xá-vệ
và Cấp Cô Ðộc
Hạt
cải cho Phật
Ðường
đi Nepal
Lâm-tì-ni,
khu vườn đã quên
Kathmandou
và khuôn mặt vàng
DỌC
ÐƯỜNG HƯỚNG BẮC
Chúng
tôi rời Varanasi đi ngược lên miền Bắc nhắm hướng Gorakhpur,
gần biên giới Nepal. Gorakhpur cách Varanasi khoảng 180 cây số,
là một thành phố nhỏ nhưng có đại học. Thế nhưng kẻ
hành hương như tôi có biết đến đến Gorakhpur chỉ vì đây
là trạm chuyển tiếp để đi thăm cách nơi quan trọng như
Lâm-tì-ni, Câu-thi-na, Sravasti.
Chiếc
Ambassador rời Varanasi rất sớm, nhắm hướng bắc, đi ngang
Lộc Uyển lần cuối. Trời mưa nhẹ và đường trơn ướt,
tôi lo ngại không biết tối ngay mình sẽ ngủ đâu, Câu-thi-na
hay Gorakhpur. Khoảng cách 180 cây số thật ra không đáng kể,
ngay cả tại Việt Nam tôi cũng tính mất cho bốn giờ là nhiều.
Thế nhưng chiếc Ambassador này quá nguy hiểm, bốn bánh xe mòn
nhẵn không còn chút gai, nó sẽ đưa tôi xuống đâu trên con
đường trơn và hẹp này. Chúng tôi lấy đường số 29, qua
Saidpur, đến Ghazipur, bên mặt chúng tôi sẽ là sông Hằng.
Từ Ghazipur chúng tôi sẽ bỏ sông Hằng đi thẳng lên phía
bắc, sau 60 cây sẽ băng sông Ghaghara, thêm 60 cây nữa là đến
Gorakhpur. Nếu đến đó sớm chúng tôi sẽ đến thẳng Câu-thi-na,
nơi Phật nhập diệt.
Rời
Varanasi không bao lâu quả nhiên chiếc xe suýt gây một tai nạn.
Trước một khúc quanh, tài xế thắng lại nhưng chiếc Ambassodor
vẫn cứ trờ tới, hướng về một chiếc xe bò đậu dưới
gốc cây với một bà già và một cô bé gái ngồi trên xe.
Họ run rẩy ngồi bất động không có phản ứng, còn tôi
lặng người đợi tai nạn tới như một ngày tại Delhi trên
cầu bắc qua sông Yamuna. May thay lúc chỉ còn cách xe bò chưa
đầy nửa mét thì xe hơi dừng lại. Chúng tôi ngồi đợi
trời hết mưa mới dám ra đi, làm sao chiếc xe này đưa chúng
tôi đi khắp vùng Bắc Ấn, tới trạm cuối cùng là Bhairawa
thuộc lãnh thổ Nepal, tổng cộng cả ngàn cây số.
Tài
xế nhìn tôi tỏ ý lo ngại khách không vừa lòng nhưng tôi
còn cách nào khác hơn là đi liều vì làm sao đổi hợp đồng,
thay xe trong cảnh hoang vu này. Tôi cũng không thể đòi anh đi
chậm lại vì xe đâu có thể đi nhanh trên con đường hẹp
và trơn này. Tôi đành đi và cố quên hiểm nguy.
Ðường
lên phía bắc này là một trong những đường chính của tiểu
bang Uttar Pradesh của Ấn Ðộ mà đoạn này ngày xưa nằm trong
vương quốc Kiều-tát-la (Kosala). Trong thời Phật tại thế
thì nhà vua của Kiều-tát-la là Ba-tư-nặc (Pasenadi). Ông cùng
tuổi với Phật, là một người rất mực khôn ngoan về chính
trị, thông thái về triết học, lại là một nhân vật đầy
tính người, thích ăn ngon và phụ nữ đẹp. Trước khi được
vua cha nhường ngôi, ông học tại đại học Takkasila và làm
thống đốc tại Varanasi.
Vương
quốc của Ba-tư-nặc trải dài từ đông sang tây khoảng 350
km, từ bắc xuống nam khoảng 270 km, phía tây quá Lucknow ngày
nay, phía nam đến tận sông Hằng. Kinh đô của Kiều-tát-la
chính là Xá-vệ (Sravasti), chỗ mà đức Phật được một
thương gia có tên là Cấp Cô Ðộc cúng dường một vườn
kỳ viên. Ðây là nơi Phật lưu trú đến trên 25 mùa mưa và
sẽ được nhắc đến trong những chương sau.
Ba-tư-nặc
hết sức tôn trọng đức Phật và trở thành cư sĩ của Ngài
và cũng vì thế mà Phật rất hay đến Kiều-tát-la để lưu
trú và giảng pháp. Chỉ trong Tương Ưng bộ kinh [1] thôi ta
có thể đếm Ba-tư-nặc đàm đạo với Phật 25 lần. Thế
nhưng cũng vì hiếu sắc mà Ba-tư-nặc gây một thảm họa
cho dòng Thích-ca.
Ngoài
chính hậu, Ba-tư-nặc có thêm bốn bà vợ mà bà thứ tư là
một người đẹp dòng dõi Thích-ca, tên là Vasabhakkhatiya. Bà
này sinh ra một hoàng tử, tên là Vidudabha, về sau nối ngôi
Ba-tư-nặc. Câu chuyện sẽ đơn giản nếu nó dừng tại đó.
Khổ thay vị hoàng tử này khi lớn lên khám phá ra rằng
Bản đồ các vùng hoạt động của đức Phật. Chú thích:
=Thị trấn trong thời Phật tại thế; o Thị trấn được
xây dựng sau này; Xá-vệ: Savatthi; Lâm-tì-ni: Lumbini; Bodh Gaya:
Bồ-đề đạo trường; Lộc uyển: Sarnath; Hoa Thị Thành: Pataliputra;
Na-lan-đà: Nalanda; Vương Xá: Rajagaha; _._._ Biên giới Nepal-Ấn
Ðộ; ......Ðường đi của thương nhân [2]
mẹ
mình không phải hoàn toàn là gốc quí tộc của dòng Thích-ca,
bà là con gái của một vị hoàng tử - vị này không ai khác
hơn là một anh em họ của thái tử Tất-đạt-đa - với một
tiện nữ nô lệ. Dòng Thích-ca đã dâng cho vua Ba-tư-nặc một
người bất xứng. Vị hoàng tử trẻ tuổi uất hận dòng
Thích-ca từ đó. Khoảng năm 487 khi Ba-tư-nặc viếng vương
quốc Thích-ca và hội đàm với Phật tại đó thì Vidudabha
thừa cơ cha vắng mặt ở kinh thành, lấy cắp ấn kiếm, lật
đổ phụ vương. Ba-tư-nặc bị mất ngôi, đi ngựa từ Ca-tì-la-vệ
về Vương Xá để cầu cứu A-xà-thế. A-xà-thế cũng là con
phản cha nhưng lại gọi Ba-tư-nặc bằng cậu. Mẹ của A-xà-thế,
bà Vi-đề-hi là em gái của Ba-tư-nặc. A-xà-thế sẵn sàng
đem quân chinh phạt nhưng đêm đó Ba-tư-nặc chết vì kiệt
sức, thọ 76 tuổi.
Bây
giờ Vidudabha rảnh tay đem quân đi trả thù dòng Thích-ca, dòng
bên ngoại đã sinh ra mình. Kinh sách kể lại Phật ba lần
ngăn ngừa được trận trả thù này nhưng qua lần thứ tư
thì Vidhdabha không muốn nghe nữa, chiếm Ca-tì-la-vệ, thẳng
tay giết tất cả thanh niên trong tuổi quân đội và cho phá
hủy thành. Thành đó là quê hương Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu)
của Phật mà ngày nay có tên là Tilaurakot thuộc địa phận
Nepal. Ðó là năm 485 hay 484, không lâu trước khi Phật nhập
diệt.
Với
Tần-bà-sa-la, Phật đã đem giáo pháp vào nước Ma-kiệt-đà,
với Ba-tư-nặc vào nước Kiều-tát-la. Theo nhà Phật học
Schumann thì “chính sách” truyền giáo của Phật rất rõ,
trước hết Ngài tranh thủ các nhà vua và khi các quân vương
theo Phật thì cả nước đều theo. Thế nhưng Phật không phải
lúc nào cũng thành công. Vương quốc, nơi mà Ngài thất bại
nặng nề, là Vamsa với nhà vua Udena tại kinh thành Kosambi.
Vamsa nằm phía nam nước Kiều-tát-la, phía tây của Varanasi,
ngày nay là quận Banda của tiểu bang Uttar Pradesh.
Phật
đã đến Kosambi nhiều lần và năm 520, Ngài lại đến với
hy vọng điều phục được nhà vua Udena. Nhà vua là một người
chỉ ham mê thế tục, đối với chuyện tâm linh ông càng ngán
ngẫm không muốn gặp Phật, câu chyuện xảy ra chẳng qua cũng
chỉ vì các bà vương phi. Vợ chính của ông là Samavati, bà
là người tha thiết với đạo pháp. Một bà khác trẻ hơn
tên gọi là Magandiya tìm cách bôi nhọ Samavati để chiếm lòng
sủng ái của vua, kế này xem ra đời nào cũng có. Bà kể
vua nghe Samavati ngây người ngắm Phật lúc Ngài đi khất thực
làm vua ghen tức ra lịnh bít cửa sổ của hoàng hậu. Về
sau Samavati chết cháy vì bị Magandiya đốt cung điện ám hại.
Cơ mưu bại lộ, Magandiya cũng chịu một cái chết thảm khốc
bằng hình phạt tử hình.
Về
sau con trai của Udena lại là người hâm mộ Phật pháp và
nhà vua cũng bớt thành kiến với giáo pháp và tăng đoàn nhưng
trong suốt 35 năm còn lại của đời mình, Phật không lưu
trú một mùa mưa nào tại Kosambi nữa.
Kosambi
nằm trên bờ sông Yamuna là điểm cực tây của vùng hoạt
động lúc Phật còn tại thế. Ðiểm cực đông là Campa, chỗ
cách Bhagalpur ngày nay khoảng 40Km. Ðiểm cực bắc là quê hương
Ca-tì-la-vệ và cực nam là Uruvela, chỗ Phật tu khổ hạnh.
Tổng cộng Phật đã du hành và hoạt động trong một vùng
đất rộng khoảng 600x300 km.
Ngày
nay vùng đất đó chỉ cần vài ngày là đi khắp. Phương tiện
di chuyển đã thay đổi nhưng cảnh vật và tập quán người
dân hầu như không đổi bao nhiêu. Dọc theo con đường đầy
bụi là ruộng mía, là xe bò, là những đám rước tôn giáo
đầy màu sắc và sự sùng tín. Xã hội Ấn Ðộ cho thấy
một niềm say mê tôn giáo khó tưởng tượng, điều mà tôi
chưa hề thấy tại Việt Nam hay Trung Quốc.
Lúc
tôi đến Gorakhpur thì hình như nơi đây có biến động chính
trị. Khắp nơi là công an cảnh sát đứng đầy, đường xá
vắng vẻ. Tôi sực nhớ Ấn Ðộ là một xứ sở đầy tranh
chấp chính trị mà nguồn gốc của chúng lại là tôn giáo.
Ðó là những hiềm khích dễ đổ máu giữa Hồi giáo, Ấn
Ðộ giáo và các bộ phái tôn giáo lớn nhỏ. Nghỉ ăn trưa
trong một khách sạn tại đây xong, chúng tôi vội vã đi Câu-thi-na.
Một nhân viên khách sạn xin đi nhờ xe tôi, quê hương anh
chính tại Câu-thi-na cách Gorakhpur 55 km. Người này nói được
tiếng Anh, nhờ vậy mà chúng tôi được một người hướng
đạo.
RỪNG
SALA TẠI CÂU-THI-NA
Cuối
năm 484 Phật rời Vesali đi về hướng Tây Bắc với một chủ
ý rõ rệt: Ngài sẽ từ bỏ thân người sau gần 40 năm giáo
hóa. Hướng đi của Ngài là Tây Bắc nên nhà Phật học Schumann
cho rằng Ngài muốn nhập diệt trong một tu viện tại Xá-vệ,
nơi Ngài từng sống rất lâu, nhưng trên đường đi Ngài chỉ
đến được Câu-thi na (Kusinara), tên ngày nay là Kasia, nằm
khoảng chừng giữa Vesali và Xá-vệ. Ðó là giả thiết của
Schumann, nhưng tôi không nghĩ khoảng cách địa lý là một
trở ngại cho một thánh nhân như Phật và khám phá thêm trong
kinh sách, Phật đã báo trước cho A-nan biết sẽ nhập niết
bàn ba tháng trước đó, tại chỗ của bộ lạc Malla. Trên
đường đi, Ngài đến Pava, gặp tại đó một người thợ
rèn tên là Cunda. Pava ngày nay có lẽ là Fazilnagar, cách Câu-thi-na
16 km, nằm trên quốc lộ 28 nối Vesali với Gorakhpur. Ðường
Phật đi ngày xưa hẳn là một con đường nhiều dân cư mà
ngày nay nó đã trở thành một quốc lộ nằm hướng đông
tây, nối liền hai bang Bihar và Uttar Pradesh.
Người
thợ rèn tốt bụng mời Phật và tăng đoàn thọ thực và
nấu một thứ thức ăn mà ngày nay người ta đoán là một
thứ nấm. Phật tự mình ăn thức ăn đó, không cho phép ai
được đụng tới và nói với A-nan rằng, “khắp trời người,
ta không thấy ai có thể ăn món ăn này mà sống sót”. Giờ
cuối cùng của Ngài đã điểm và Cunda có cái hân hạnh nấu
cho Ngài bữa ăn lần chót.
Rời
nhà Cunda, đoàn tăng già ra đi, băng qua một con sông nhỏ mà
ngày nay có tên là Little Gandak, đến Câu-thi-na. Ðây không
phải là chỗ xa lạ, Phật đã đến đây, nó thủ phủ thứ
hai của bộ lạc Malla. Dưới tàng cây Sala, A-nan làm một chỗ
nằm cho Phật nằm tạm và từ đây Phật không bao giờ đứng
dậy nữa.
Chiều
hôm đó Phật chỉ thị cho A-nan đừng lo lắng gì về việc
mai táng Ngài, đã có nhân dân quanh vùng giúp đỡ. Ðến lúc
đó thì A-nan mới biết Phật sắp giã biệt tăng đoàn và
khóc lóc than thở. Tối đó có một sa-môn tên Subhadda đến
thăm Phật và bị A-nan cấm không cho vào. Vị đạo sư lúc
đó như ngọn đèn sắp tắt nhưng vẫn nghe rõ lời van xin,
bảo A-nan cho ông vào và Subhadda trở thành vị đệ tử cuối
cùng của Phật lúc Ngài còn tại thế. Ngày hôm sau, Phật
cho tăng già một dịp cuối được hỏi về đạo pháp nhưng
tất cả mọi người đều im lặng. Lúc đó đêm đã gần
kề, cuối cùng Phật nói: “Này chư vị, thật vậy, các pháp
hữu vi đều vô thường, hãy tinh tấn”.
Sau
đó Schumann kể lại Phật “bất tỉnh” nhưng theo kinh điển,
Ngài đã đi vào thiền định, từ sơ thiền đến các xứ
định rồi trở lại sơ thiền. Phật nhập định hai chiều
thuận ngược như thế “đến hai mươi bảy lần” và cuối
cùng đúng lúc nửa đêm “Ngài nhập tứ thiền, lặng lẽ
mà đi” [3]. Ngài bỏ ứng thân bằng xác thịt này, bỏ một
tâm thức mang tính cá thể và đạt tới một dạng bất khả
tư nghì mà chúng ta gọi là “Ðại Niết bàn”. Ðó là năm
483 trước công nguyên.
Tôi
từ Gorakhpur đến Câu-thi-na vào một chiều mưa, rừng cây
Sala [4] ngày nay vẫn còn, lá xanh ngắt đẫm nước trông như
ngọc. Ðây là một nơi nhà dân chỉ có vài nóc, cách quốc
lộ 28 khoảng vài trăm mét. Lúc tôi vào thì có một đoàn
người Ấn Ðộ vào chiêm bái, nhưng khác hẳn với Lộc Uyển,
đây là một nơi hết sức vắng vẻ. Bây giờ như thế nhưng
ngày xưa, lúc Huyền Trang đến đây thì sao?
Huyền
Trang kể “...Ðây là nhà cũ của Cunda. Giữa đó là một
cái giếng do ông này đào khi cúng dường thức ăn cho Phật.
Dầu trải qua nhiều năm tháng lụt ngập, nước vẫn trong
và ngọt. Về phía tây bắc thành phố [5] độ 3,4 dặm vượt
qua sông Ajitavati [6], về bờ phía tây không xa lắm, chúng ta
đến một khu rừng có cây Sala. Cây Sala như cây Huk, vỏ cây
màu trắng xanh, lá lóng lánh và trơn dịu...Tại chỗ này có
một tinh xá bằng gạch, trong đó là tượng đức Như Lai nhập
Niết bàn. Ngài nằm đầu hướng về phía bắc như đang ngủ.
Bên cạnh tinh xá là một ngọn tháp do vua A-dục dựng lên;
dầu đã hư sụp, nhưng cũng còn cao gần 200 bộ...Phía bắc
thành phố vượt qua sông và đi bộ khoảng 200 bước có một
ngọn tháp. Ðây là chỗ làm lễ trà tỳ [7] nhục thân đức
Phật. Ðất hiện tại đen vàng, than và đất trộn với nhau...”
[8]
Sơ
đồ vùng Câu-thi-na. Chỗ ô vuông có chấm là chỗ Phật nhập
Niết-bàn. Chấm đen có chữ “Einascherungsstupa” là chỗ cử
hành lễ trà tỳ [9]
Ngày
nay tôi đến thì tinh xá và tháp do vua A-dục xây vẫn còn.
Nhưng theo tài liệu thì đền mà ngày nay ta thấy mới được
xây lại năm 1956, thay thế đúng nơi “tinh xá bằng gạch”
mà Huyền Trang kể lại. Trong tinh xá này là một bức tượng
Phật nhập Niết bàn dài 6,2m bằng đá được hoàn thành trong
thế kỷ thứ năm, đó chính là bức tượng mà Huyền Trang
mô tả. Bức tượng này đã nằm dưới đống gạch vụn của
tinh xá cũ và may thay được tìm thấy lại năm 1876 để hậu
sinh như chúng ta được đảnh lễ. Ðó là một cái đền có
mái cao, buổi chiều trời mưa nên bên trong mát lạnh. Tượng
Phật đắp y vàng nằm an tịnh, hai bàn chân để lộ ra ngoài.
Tôi lặng lẽ tìm chỗ ngồi trên nền đá dưới chân tượng,
trong đền mát lạnh và thơm mùi nhang khói, lòng biết rằng
ở nơi đây hai ngàn năm trăm năm trước, có một vị đạo
sư cũng phải lìa đời như mọi sinh vật trên trái đất này.
Ngài chủ động lấy thân người, sinh ra và lớn lên trong
số phận của đời làm người và cũng thông qua dạng người
đó để chỉ dạy cho con người những nhận thức và phương
pháp giải thoát khỏi vòng sinh tử. Ðến ngày cuối cùng của
đời mình Ngài cũng chịu bệnh tật và đau đớn, dùng chính
thân mình để minh họa cho giáo pháp mình. Ngài là người
thể hiện trước nhất và cụ thể nhất Bồ-tát đạo, cứu
cánh của Ðại thừa Phật giáo mà vài trăm năm sau mới bắt
đầu phát triển.
Lần
thiền định trong đền này này để lại cho tôi lòng an tịnh
khó quên, nó khác hẳn tại Bodh Gaya, nơi đầy người qua kẻ
lại. Lúc tôi ra khỏi đền thì trời đã dứt cơn mưa, lá
cây Sala vẫn còn lóng lánh. Hỡi các cây Sala này, theo kinh
điển thì tiền bối của các ngươi cũng đã chứng kiến
phút nhập diệt của Phật:
“...Bốn
cặp cây Sala,
vươn
tàng ra hợp lại,
thành
một vầng mây lá,
che
phủ thân vàng kim,
nằm
trên giường bảy báu...”
và
cây lá như các ngươi mà cũng biết đau buồn:
“...Lá
các cây Sala,
bỗng
biến thành trắng xóa,
như
một rừng hạc trắng,
rồi
thì lá hoa trái,
vỏ
cây và nhành cánh,
khô
dần thành nứt nẻ,
gẫy
rụng lả tả rơi...”. [10]
Sơ
đồ tại tháp Nhập niết-bàn. Hình tròn màu đen ở giữa
là tháp tròn cao 15m. Bên cạnh là chính điện (có chữ “Tempel”),
trong đó có tượng Phật nhập niết-bàn dài 6,2m. Xung quanh
là các tu viện [11]
Tôi
đi vòng quanh tháp bên cạnh đền, lòng ngẩn ngơ. Ngọn tháp
mà Huyền Trang cho là 200 bộ (khoảng hơn 60m) đó ngày nay chỉ
đo được khoảng 15m. Có tài liệu cho rằng đó là chỗ thờ
xá-lợi của Phật được chia cho bộ lạc Malla chứ không
phải của A-dục xây. Ngay tại nơi đây, cách đền khoảng
1,5 km là nơi hỏa thiêu nhục thân đức Phật mà Huyền Trang
cũng đã mô tả, ngày nay chỉ là một ngọn đồi con đường
kính 34m, cao 8m (xem hình 16). Ðó là nơi cử hành lễ “Trà
tỳ”, lễ hỏa thiêu cử hành khoảng một tuần sau khi Phập
nhập diệt. Ðó là buổi lễ không thể thiếu Ma-ha Ca-diếp,
đại đệ tử của Phật, lúc đó đang ở Linh Thứu đã vội
vã trở về tham dự. Lễ này được mô tả rõ ràng trong Ðại
Niết bàn kinh, phẩm Trà tỳ. Qua bao nhiêu năm tháng ngọn đồi
này đã bị nhiều
H
4: Lễ hỏa táng (trà tỳ) đức Phật. Bên mặt phía dưới
là Ca-diếp đang chắp tay cầu nguyện. Bên cạnh là cư sĩ
dang cúng dường hoa quả. Một tăng sĩ đang đổ hương trầm
vào lửa từ trong một bình đựng bằng vỏ ốc. Phía trên
là thiên nhân đang tấu nhạc, một vị khác đang rải hoa cúng
dường [12]
người
đào bới để tìm xá lợi Phật. Huyền Trang cũng từng nói
ai đến đây với lòng chí thành sẽ tìm thấy xá lợi. Tôi
không có chút tham vọng, biết mình làm sao đủ cơ duyên để
tìm thấy cái gì, chỉ nhớ rằng lúc mình đến là một buổi
chiều sau khi mưa tạnh, bầu trời hết sức quang đãng và
lòng hết sức thanh thản. Ðiều bất ngờ là vềà sau tại
Linh Quang tự gần Bắc Kinh tại Trung Quốc, tôi đã được
chiêm bái răng Phật, một trong bốn chiếc răng được tìm
thấy tại ngọn đồi con này, một trong các báu vật mà cả
Long Vương, Ðế Thích cũng giành nhau.
[1]
Samyuttanikaya
[2]
Hình trích của H.W.Schumann, sách đã dẫn
[3]
Theo “Phật thuyết đại bát niết bàn kinh“, Việt dịch
của Thích Nhất Chân
[4]
Tên khoa học là shorea robusta
[5]
Có lẽ Huyền Trang nói Kasia bây giờ
[6]
Tức là sông Little Gandak
[7]
Lễ hỏa thiêu
[8]
Trích Thích Thiện Châu, sách đã dẫn
[9]
Hình trích của H.W.Schumann, sách đã dẫn
[10]
Kinh đã dẫn, Việt dịch của Thích Nhất Chân
[11]
Hình trích của H.W.Schumann, sách đã dẫn
[12]
Hình trích từ H.W.Schumann, Buddhistische Bilderwelt, Eugen Diederichs
Verlag 1993
XÁ-VỆ
VÀ CẤP CÔ ĐỘC
Vì
Câu-Thi-Na chỉ là một làng nhỏ không có chỗ trú ngụ, chúng
tôi cho xe lấy đường 28 đi thẳng về hướng Tây, nhắm Basti,
cách đó khoảng 120 km. Trời đã tối, xe hư đèn, chỉ còn
đèn “pha”, chói mắt xe chạy ngược chiều nên hết sức
nguy hiểm. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được Basti, vào
một khách sạn xác xơ nhưng có cái tên sang trọng là Suyash
Palace. Hôm sau chúng tôi sẽ bỏ đường 28, lấy một con đường
không tên lên hướng bắc, qua Balrampur đến một thị trấn
tên gọi là Sravasti (Xá-vệ), ngày nay không có người ở.
Xá-vệ
không gì khác hơn chính là kinh đô nước Kiều-Tát-la của
nhà vua Ba-tư-nặc. Sravasti còn có tên là Savatthi, chính là
nơi Phật lưu trú 25 mùa mưa, giảng vô số kinh sách mà ta
thấy đầu kinh ghi là “Xá-vệ-quốc”. Tại Xá-vệ, Phật
giảng hai bộ kinh cao cấp nhất về mặt trí huệ, đó là
kinh Kim Cương và kinh Hoa Nghiêm. “Hội Hoa Nghiêm” được
mở tám lần cho trời người được nghe, phần lớn là tại
các cung trời, một lần trên địa cầu là tại rừng “Thệ
Đa” tại Xá-vệ. Hai ngàn năm trăm sau hội này, nhiều nhà
vật lý hiện đại kinh ngạc thấy rằng thế giới mô tả
trong phẩm “Nhập pháp giới” của Hoa Nghiêm hoàn toàn trùng
hợp với nhận thức của họ.
Rừng
Thệ Đa có tên là Jetavana, có người gọi là Kỳ viên, đó
là một khu vườn của một “trưởng giả” tên là Cấp
Cô Độc. Vị này là một thương nhân rất giàu có, ông làm
nghề “ngân hàng”, có lẽ ông nhiều của cải như Bill Gate
thời nay. Nhưng ông khác với các thương nhân ngày nay ở chỗ
rất tôn trọng và hết lòng hỗ trợ Phật pháp.
Nhà
ngân hàng Cấp Cô Độc có vợ người xứ Vương Xá, ông hẳn
là người đầu tiên làm cái nghề nhiều lợi tức này của
Ấn Độ. Ngày nọ, đến quê vợ giao dịch, ở tại nhà anh
rể, ông thấy trong nhà chuẩn bị nhộn nhịp. Hỏi ra ông
biết có người tên là “Đức Phật” ngày mai sẽ đến
thọ thực tại đây. Tối hôm đó ông thao thức chẳng ngủ
được, dậy sớm đi về phía rừng Trúc Lâm thì có người
gọi ông bằng tên tộc. Như thời nay, các đại phú ngày xưa
đều muốn dấu tên, ông giật mình hoảng sợ và mới hay
người đó là đức Phật đang đi kinh hành buổi sáng. Trong
bữa ăn ngày hôm đó, ông xin qui y và mời Phật về Xá-vệ
nghỉ trong mùa mưa. Phật nhận lời và cho hay chỗ lưu trú
chỉ nên yên tĩnh là được.
Cái
chỗ đó thật sự là yên tĩnh nhưng đắt tiền. Cấp Cô Độc
tìm ra được một khu vườn xanh tươi, nằm ở phía tây nam
kinh thành Xá-vệ. Thế nhưng vườn đó có chủ, nó là của
Jeta, con trai nhà vua Ba-tư-nặc. Jeta không chịu bán cho Cấp
Cô Độc nhưng dại dột nói chơi thêm “100.000 đồng tiền
vàng cũng chưa chắc chịu”. Chẳng may cho Jeta là Cấp Cô
Độc là thương nhân, rất sành về hợp đồng mua bán. Theo
luật thời đó hễ ai nêu giá là phải bán, nếu nhất định
không bán thì đã không nêu giá. Cấp Cô Độc kiện vị hoàng
tử, buộc phải bán với cái giá khổng lồ 100.00 đồng tiền
vàng. Và công minh thay, nền tư pháp của thời quân chủ ngày
đó không hề bênh vực con vua cháu chúa, Jeta phải bán với
giá này. Người ta cho rằng số tiền này đủ để mua vàng
trải đầy khu vườn. Đó là năm 526.
Khu
vườn này được trồng cây cối rậm rạp, một phần là
xoài nên có khi được gọi là “rừng xoài”. Ngày nọ có
một người đến thăm Phật vì lòng tò mò. Ông là nhà vua
Ba-tư-nặc, trị vì nước Kiều-tát-la. Ông nghe sa-môn Cồ-đàm
là con trai của Tịnh Phạn mà Tịnh Phạn thật ra là vua của
một tiểu quốc thần phục Kiều-tát-la. Đúng ra ta chỉ nên
gọi Tịnh Phạn là thống đốc [1] thì phải hơn. Ba-tư-nặc
đến tìm Cồ-đàm với sự dè dặt:
“Ba-tư
nặc: Thưa Cồ-đàm, phải chăng Ngài là người tự xưng là
Phật đã hoàn toàn giác ngộ?”
“Phật:
Đúng thế, ta tự xưng như thế!”
“Ba-tư-nặc:
Các vị Sa-môn và Bà-la-môn khác cũng trả lời tôi là họ
cũng giác ngộ hoàn toàn. Làm sao Ngài còn trẻ tuổi và xuất
gia chưa lâu mà gọi là giác ngộ hoàn toàn được?”
“Phật:
Thưa quốc vương, có bốn thứ ta không nên coi thường vì
tuổi còn trẻ: người chiến sĩ, con rắn độc, đốm lửa
và vị tỉ-kheo” [2].
Trước
sự hùng biện hóm hỉnh của Phật, Ba-tư-nặc không hề thấy
bị xúc phạm. Ông là nhà vua, cùng trẻ tuổi như Phật thế
nhưng không được liệt vào “bốn thứ”. Ngược lại ông
xin qui y trở thành cư sĩ.
Kể
từ năm 508 Phật xem vườn Kỳ viên là trú xứ mùa mưa của
mình, Ngài ở đó suốt 18 mùa mưa. Gần đó cách 600m về phía
đông có một khu vườn khác tên gọi là Pubbarama của tín
nữ Visakha tặng tăng đoàn, tại đó Phật lưu trú sáu
mùa mưa.
Từ
Basti đi Xá-vệ, đường dẫn qua những làng mạc vô danh, qua
những đám rừng rậm có thể làm ta hãi sợ. Bên mặt của
con đường xe chạy là con sông Rapti, ngày xưa tên gọi là
Achiravati. Kinh thành Xá-vệ ngày xưa nằm trên bờ sông này,
nhờ thế mà thuận đường mua bán vì sông chảy về phía
đông nam nhập chung với Hằng hà. Trên đường đi, chúng tôi
gặp một trận mưa to tưởng chừng như đại hồng thủy kéo
tới và cũng nhờ thế mà khi đến Kỳ viên tại Xá-vệ thì
mây đen đã tan, để lộ một vùng cây cối xanh tươi không
thể nào tả xiết.
Cám
ơn thay Nhà nước Ấn Độ, mặc dù dân nghèo lam lũ, mặc
dù đạo Phật đã biến mất cách đây 10 thế kỷ nhưng vẫn
để tâm săn sóc khu vườn lịch sử này để cho hậu thế
có thể tìm thấy trú xứ của Phật trong một tình trạng
xứng đáng với tầm vóc của nó.
Tôi
bước chậm rãi trong Kỳ viên trên con đường hẹp tráng xi
măng mà bây giờ đã sạch bóng sau cơn trưa và nhận rằng
lòng mình lúc nào cũng bình an khi đến các thánh địa. Đó
là lòng bình an kỳ lạ dù tâm lữ khách háo hức lớn
hơn mọi chỗ tôi từng đi qua. Ở đây tôi cảm nhận một
không khí thuần tịnh, ở Vesali một khí sắc vương giả,
ở Bodh Gaya một tâm tư kính sợ, ở Linh Thứu một lòng cảm
động vô hạn, ở Câu-thi-na một khí lực mát lạnh buồn
bã, ở Lộc Uyển một lòngï hân hoan. Nhưng ở mọi nơi, lòng
bình an luôn luôn chan hòa trong mọi cảm nhận đó, nó làm
nền cho chúng phát khởi.
Đây
là cây bồ-đề mệnh danh “A-nan”, nó được A-nan cho mang
một nhánh [3] từ cây bồ-đề gốc tại Bodh Gaya về và do
chính tay Cấp Cô Độc trồng. Cây này được trồng vì dân
chúng Xá-vệ hỏi Phật khi Ngài đi vắng thì lấy gì để
cung kính. Phật cho trồng cây này và đã từng thiền định
dưới gốc này một đêm. Ngày nay Phật đã đi vắng, tôi
đành cung kính Ngài bằng cách thắp một cây hương cắm dưới
gốc cây.
Đi
thêm khoảng 100m nữa thì bên trái là đền Gandhakuti, chỗ
thiêng liêng nhất của Kỳ viên, đó là trú xứ của Phật,
chỗ Ngài ở suốt 18 mùa mưa, ngày nay chỉ còn nền đá. Trên
nền này đã có nhiều công trình xây dựng sau đó, chúng cũng
lại bị đổ nát theo thời gian. Theo tài liệu khoa học thì
nền gạch nung còn lại ngày nay là từ thời đại Gupta (320-510
sau công nguyên). Trong thế kỷ thứ 5 lúc Pháp Hiển đến đây,
ông còn thấy dấu tích một ngôi tháp gỗ bảy tầng đã bị
cháy, thay vào
Sơ đồ vườn Kỳ viên. Phía trên là Gandhakuti. Phía dưới
bên mặt là cây bồ-đề [4]
đó
là một ngôi tháp gạch hai tầng. Hai thế kỷ sau, lúc Huyền
Trang đến thì ngôi tháp gạch cũng đã đổ nát. Có lẽ các
viên gạch đỏ này là di tích nền tháp xây trong thế kỷ
thứ năm đóù. Những cảnh thành hoại trong các kiến trúc
xây dựng này chỉ nhắc tôi nhớ lại kinh Kim Cương mà Phật
thuyết ngay tại chốn này:
Tất
cả pháp hữu vi,
Như
bào mộng, như huyễn thuật, như bọt nước,
Như
sương mai, như tia chớp,
Cần
phải quán như vậy.
HẠT
CẢI CHO PHẬT
«Năm
trăm năm trước Công nguyên, Phật Cồ-đàm, vị đạo sư thế
gian của lịch sử, đã sống trên trái đất này và du hành
liên tục không biết mệt mỏi từ nơi này qua nơi khác, để
tìm gặp được càng nhiều người càng tốt trong thời gian
Ngài còn tại thế.
Một
lần nọ có một bà mẹ đến tìm gặp Ngài tại một ngôi
đền, khóc lóc thảm thiết. Bà mang đứa con đã chết trên
tay và khóc lóc làm mọi người động lòng thương xót; vì
ai cũng biết mất con là nỗi đau đớn lớn nhất trên đời.
Bà mẹ van xin: “Hãy để tôi gặp Phật Cồ-đàm”, vừa
nói vừa gần như ngất lịm vì đau đớn. “Hãy cho tôi gặp
Ngài, Ngài sẽ có một phép lạ. Ai cũng nói Ngài có thể cứu
con tôi. Hãy để tôi tới Ngài”.
Phật
Cồ-đàm cho bà vào gặp ngay. Trước cửa, các tỉ-kheo đang
cầu nguyện cho chúng sinh được giải thoát; sau cánh cửa,
vị đạo sư ngồi trong sự an lạc với chính mình và thế
gian. Với ánh mắt Phật, Ngài nhìn thi hài tí hon của đứa
trẻ rồi nhìn khuôn mặt bà mẹ. Hơi ấm khó tả tỏa ra từ
hào quang của Ngài bao trùm căn phòng, Ngài để cho người
mẹ tuyệt vọng dần dần lấy lại được bình tĩnh, để
cho bà sắp xếp được tư tưởng đang rối loạn.
Bà
đưa cho Phật xem thi hài đứa con rồi gọi: “Con của con
đã chết. Con làm sao bây giờ. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy giúp
con. Hãy cứu nó sống dậy! Ngài là chúa tể của sự sống
chết, đã vượt qua sống chết. Hãy cứu chúng con. Nó là
niềm vui của gia đình. Từ nhiều năm nay, chúng con không mong
gì hơn là được đứa con. Bây giờ nó chết vì một thứ
bệnh hiểm nghèo. Hãy mang ánh sáng lại trong mắt của nó.
Hãy công bằng. Đứa con nhỏ tuổi này chết đi quá sớm”.
Bà
van cầu đức Thế Tôn và Phật cứ để như thế cho đến
lúc bà im lặng. Ngài nhìn đứa trẻ và đưa tay rờ vầng
trán đã lạnh. Cuối cùng Ngài nói: “Hãy nghe ta, hỡi người
đàn bà tốt dạ và trung thành. Nàng hãy đi từ nhà này qua
nhà khác trong đô thị này và hãy xin một hạt cải của một
nhà chưa có ai chết. Hãy mang hạt cải đó về đây và để
xem ta có thể làm được gì không”.
Người
đàn bà nghe xong mừng rỡ. Bà quì dưới chân Phật, cảm tạ
bằng cách rờ chân của Ngài. Phật để hai tay trên đầu
bà, truyền năng lượng an lạc lên người bà. Với phước
lành đó, bà ôm đứa con ra đi.
Bà
đi suốt ngày trong thành phố, từ nhà này qua nhà khác, và
xin hạt cải của tất cả gia đình mà trong đó chưa có người
thân nào chết cả. Đi tới đâu, bà cũng kể chuyện thương
tâm của mình, kể hoài, nhưng bà không tìm ra một gia đình
nào mà chưa từng đối diện với cái chết. Không mệt mỏi,
bà vẫn tiếp tục tìm kiếm, chỉ với hi vọng, xin được
một vài hạt cải đem về cho Phật, để Ngài cứu sống con
mình.
Cuối
ngày, bà vẫn không tìm ra được hạt nào cả, vì thực tế
cái chết đến với tất cả mọi người. Nhiều người xót
thương, đề nghị cho bà vài hạt cải, nhưng giấu chuyện
trong nhà có người chết. Nhưng người đàn bà nọ không đồng
ý, bà không thể lừa dối Phật. Bà chỉ cần tìm ra một
gia đình mà trong đó chưa có ai chết cả.
Mặt
trời đã lặn. Trong ánh sáng cuối ngày, bà đứng đó với
thi hài đứa con trên tay, và nghĩ về những câu chuyện hôm
nay bà đã được nghe. Bà không có một hạt cải nào cả
và bỗng nhận ra rằng, không ai thoát được cái khổ này
cả, cái khổ mà trước đó bà nghĩ rằng chỉ mình phải
chịu.
H
20: Nền đá đền Gandhakuti, nơi câu chuyện này xảy ra (Ảnh
của H.W.Schumann)
“Ta
không phải là một ngoại lệ, con ta cũng không phải là người
duy nhất phải chết”, lần đầu tiên bà nghĩ thế. “Cái
gì có sinh, ắt cái đó có diệt. Đó là điều không thể
thay đổi, vì thế ta phải kiếm cái không bao giờ sinh và
cũng không bao giờ diệt, phải tìm chân lý trường cửu mà
các bậc hiền nhân và đức Phật đang giảng thuyết. Ngài
đã đưa ta vào đúng đường”. Bà cảm tạ, nghiêng mình
về hướng Phật đang lưu trú.
Đêm
dần buông khi bà về lại đền Phật ở, thi hài đứa con
vẫn ở trong tay. Bà mẹ trẻ đó không tìm ra được một
hạt cải nào, nhưng được một tri kiến mà bà mang trong lòng
như một ngọn lửa bập bùng.
Càng
tới gần Phật, bà càng cúi đầu. Sau đó bà để đứa con
dưới chân Ngài và nói: “Bạch Thế tôn từ bi, con đã hiểu
những gì Ngài muốn nói. Cái vô thường thì phải chết, không
thể tránh khỏi. Nhờ Ngài, con đã thấy một chút của chân
như, cái chân như đó không chết, trong con và trong mọi thứ.
Cái chân như đó cũng chính là cái mà đứa con của con đã
thấy, ít nhất là trong một chốc ngắn ngủi, trước khi nó
tìm kiếm một đời sống khác. Và cái chân như đó, con đã
thấy ngay lúc con còn sống. Ánh sáng của tự tính thường
hằng là cái duy nhất vĩnh cửu. Và từ nay về sau, con xin
dựa vào nó thôi”.
Đức
Phật mỉm cười và gật đầu đồng ý, khi người mẹ xin
Ngài tiếp dẫn cho thần thức đứa con được sinh vào cõi
Phật, trong đó thức người chết được lưu trú trong một
giai đoạn, không bị thời gian và không gian lung lạc.
Cùng
với các tăng sĩ, Phật đặt thi hài đứa trẻ lên một đống
lửa và để cho thân cháy, trong lúc tâm của đứa trẻ được
đưa về cõi của tự tính, từ đó mà mọi hiện tượng phát
sinh” [5].
Câu
chuyện này được nhiều người biết và tôi đã nghe nó từ
hồi còn nhỏ. Nhưng hồi đó tôi có ngờ đâu đây là một
câu chuyện có thật và sẽ có một ngày mình sẽ đến tại
chỗ xảy ra sự tích này. Trong ngôi đền Gandhakuti này, Phật
ngồi trong phòng, « sau cánh cửa, an lạc với chính mình và
thế gian ». Biển giới thiệu đền này còn ghi rõ, ở đây
có một cầu thang đi lên tầng trên và Ngài thường xuất
hiện sau cánh cửa nọ. Ôi, đây là chỗ bậc đạo sư phát
tỏa hơi ấm bình an và êm dịu cho những ai đến với Ngài,
trong đó có người thiếu phụ mất con. Người đàn bà «
tốt dạ và trung thành » này tên là Kisagomi, quê tại xứ
Xá-vệ này, dòng dõi nghèo nàn, bị gia đình chồng hất hủi.
Sau khi con mất, bà đã xuất gia và trở thành một tôn giả
đắc quả A-la-hán.
Ngày
xưa đọc câu chuyện trên, tôi thầm nghĩ sao Phật không dùng
thần thông cứu đứa trẻ, Ngài là bậc toàn năng mà. Ngày
nay tôi biết rằng cái chết chỉ là một sự chuyển tiếp,
chắc gì sống sót là may mắn và cái chết là rủi ro. Và
tôi biết một điều quan trọng hơn là Phật, dù là bậc toàn
năng, Ngài không can thiệp vào đường đi nghiệp lực của
bất cứ ai, Ngài chỉ giảng cho chúng ta nghe cơ cấu và tác
động của chúng. Ngài cho thấy động lực của mọi đời
sống, mọi tái sinh là « tham, sân, si », đó là lòng tham ái,
sự giận dữ và óc vô minh. Chúng sinh ra mọi dạng đời sống
trong một vòng tròn bất tận mà Ngài gọi là « mười hai
nhân duyên ». Nếu ai muốn thoát khỏi vòng sinh tử đó thì
người đó tự tinh cần tu học, không ai có thể làm thế
cho ai.
Vì
lẽ đó mà Phật đã giáo hóa cho Kisagomi và có lẽ cho cả
thần thức đứa con, nhưng Ngài không cứu ai khỏi cái chết.
Ngay tại Xá-vệ này cũng còn có một nàng thiếu phụ khác
mất con được Phật giáo hóa. Nàng tên là Ubiri [6], một trong
bốn thứ phi của Ba-tư-nặc, sinh được con gái có tên là
Jiva. Jiva bị chết sớm, nàng đứng khóc tại nghĩa trang bên
bờ Achiravati. Phật đi ngang, chỉ nghĩa trang hỏi nàng, trong
đó có 84.000 người con gái tên là Jiva, nàng khóc cho ai ? Câu
nói nghe qua lạnh lùng đó mà giáo hóa được cho Ubiri, về
sau bà cũng trở thành tôn giả đắc quả A-la-hán.
Ngày
nay tại Xá-vệ, chúng ta còn được thấy chỗ đức Phật
phải tránh qua một bên khi Vidudabha đem quân tàn sát dòng Thích-ca.
Nơi đó có một ngôi tháp mà Pháp Hiển đã thấy hồi thế
kỷ thứ năm. Ngày đó Ngài cũng phải nhìn thảm họa xảy
ra cho dòng dõi mình, chúng phải diễn ra đúng qui luật nhân
quả mà hẳn Phật là người đại trí thấy rõ hơn ai hết.
Sai
trái thay những ai cho rằng đạo Phật là chỗ dung thân cho
những người yếu đuối bi quan. Ngược lại, kẻ đi trên
đường Phật giáo là người tự mình nắm lấy số phận
của chính mình mà trên con đường đó Phật hay Bồ-tát chỉ
là người hỗ trợ. Người Phật tử đích thật phải là
người tinh tấn, kẻ chiến đấu chống lại khuynh hướng
xấu ác nằm ngay trong tâm mình, kẻ « tự thắng chính mình
».
Schumann
dùng từ “Gouverneur“ để chỉ vị trí của Tịnh Phạn
[2]
Trích Tương Ưng bộ kinh 3,1.
[3]
Theo một tài liệu thì Mục Kiền Liên dùng thần thông đến
lấy nhánh con đó ở Bodh Gaya trong nháy mắt
[4]
Hình trích của S.Dhammika, sách đã dẫn
[5]
Trích “The snow lion’s turquoise mane“ của Surya Das, bản dịch
“Sư Tử tuyết bờm xanh“ của tác giả, Nhà xuất bản Tp
Hồ Chí Minh, 1999
[6]
Trích Tăng già thời Đức Phật, Thích Chơn Thiện, Viện nghiên
cứu Phật học Việt Nam, 1991
ĐƯỜNG
ĐI NEPAL ^
Tôi
đã đến thủ đô Kathmandu của Nepal bằng máy bay nhưng đi
đường bộ từ Ấn Độ qua Nepal là một chuyện không đơn
giản. Tôi đang vạch kế hoạch đi từ Xá-vệ đến Ca-tì-la-vệ
nằm bên kia biên giới Ấn Độ, thuộc nước Nepal. Đường
này dài chỉ khoảng hơn 140Km, có lẽ chính là đường ngày
xưa Phật từ Xá-vệ về thăm quê hương, cũng là đường
mà Vidudabha đem quân đi tàn sát dòng Thích-ca. Tôi thì nhắm
hướng Ca-ti-la-vệ với một ý định hòa bình hơn nhiều,
tôi đến Lâm-tì-ni (Lumbini) gần đó để thăm chỗ Phật đản
sinh.
Từ
Xá-vệ, tôi về lại Balrampur, kiếm chỗ ăn trưa rồi theo
chỉ dẫn của sở du lịch, đi về hướng Đông, nhắm hướng
Naugarh, rồi từ Naugarh đi ngược hướng bắc khoảng 20Km là
đến biên giới Nepal.
Chúng
tôi cho xe chạy nhanh không kể nguy hiểm vì nghe nói buổi tối
biên giới đóng cửa. Đường đi vắng người làm tôi lấy
làm kỳ, dù sao giữa hai nước Ấn Độ-Nepal cũng hẳn phải
có thương nhân qua lại. Theo bản đồ thì đường từ Naugarh
lên phía bắc, tới biên giới tôi sẽ gặp trạm biên phòng
" Checkpoint Birdpur ". Sau khi chạy xe suốt một đoạn đường
vắng vẻ, khoảng 6 giờ chiều chúng tôi đến đó thực.
Trạm
biên phòng chỉ có duy nhất một người lính Ấn Độ bồng
súng canh gác và không có xe cộ chờ đợi làm tôi ngờ ngợ.
Người lính nhìn tôi chăm chú khi tôi ngoan ngoãn rút giấy
tờ ra trình. Ông cho chúng tôi qua biên giới nhưng chiếc xe
phải ở lại. Thì ra đây chỉ là một " checkpoint " dành cho
người đi bộ. Tôi chỉ còn hai giải pháp, hoặc là cho xe
chạy lui tìm trạm biên giới khác, hoặc bỏ xe xách va-li đi
bộ qua Nepal tìm xe khác đi Lâm-tì-ni.
Tôi
nhìn quanh trạm biên phòng. Đây là một nơi vắng vẻ, bóng
tối đã buông màng, đâu đây có tiếng khỉ vượn kêu hú.
Không, tôi không dám qua biên giới với chiếc va-li trong tay,
làm sao kiếm ra xe trước khi bất trắc xảy ra. Tôi xách va-li
trở lại chiếc Ambassador yêu quí, anh tài xế tuy không nói
được tiếng Anh nhưng tốt bụng, tối nay tôi ngủ đâu cũng
không sao, miễn an toàn là được.
Sau
khi trao đổi với người lính bằng tiếng địa phương, tài
xế hộc tốc phóng xe lui về hướng Naugarh. Đến Naugarh, anh
lấy đường đi Pharenda, từ Pharenda xe lại ngược hướng
bắc đi Nautanwa, đó là thị trấn cực bắc của quận Maharajganj
để đến trạm biên giới Sonauli. Đường vòng này tốn chúng
tôi thêm cả trăm cây số, đi xe thêm hai tiếng đồng hồ
nhưng đó là quyết định đúng. Trên đường đi dần dần
tôi lấy lại sự an tâm vì xe cộ chạy ào ạt, biên giới
xem ra không đóng cửa ban đêm và hàng quán bên đường cho
tôi thấy đây là đường xá của khách lữ hành.
Sonauli
hiện ra với một rừng xe, xe vận tải, xe du lịch. Hai bên
đường là vô số hàng quán chật ních những người, đèn
sáng choang. Tôi nhảy xuống xe và bỗng nhớ bến phà Hải
Phòng cũng như các bến phà trên đường đi Hạ Long. Đó là
những nơi mà kẻ bán hàng rong hầu như nhiều hơn người
mua, nơi mà " xe con " tìm cách lách qua mặt các chiếc xe tải,
tìm cách đi trước và nhận lại những tiếng nguyền rủa.
Đây là một trong hai trục đường chính từ Ấn Độ đi Kathmadu,
nơi thương nhân và du khách qua lại. Xung quanh tôi đầy người
nước ngoài, lác đác có ai nói tiếng Đức, Anh và Pháp. Họ
cũng mang ba-lô như tôi, đa số mặt mày rất trẻ. Chúng tôi
phải tới trạm biên phòng làm thủ tục xuất Ấn Độ và
nhập Nepal. Trạm này làm việc nhặm lẹ làm tôi ngạc nhiên,
tôi đoán là mỗi ngày họ giải quyết hàng trăm hàng ngàn
người nước ngoài như chúng tôi, những kẻ phiêu lưu đi
đường bộ dưới chân Hy-mã lạp sơn này.
Tôi
đến Nepal, đây là mảnh đất của vua Tịnh-phạn ngày xưa,
quê hương của thái tử Tất-đạt-đa. Nơi đây hai ngàn năm
trăm nước có một con người vĩ đại của dòng Thích-ca được
sinh ra và có vô
Vùng
biên giới Ấn Độ-Nepal với vị trí của Lâm-tì-ni (Lumbini),
Ca-tì-la-vệ (Taulihava). Kapilavatthu trong địa phận Ấn Độ
là tên của thị trấn thế chỗ Ca-tì-la-vệ sau khi bị Vidudabha
phá hủy [71]
số
người vô danh cũng của dòng Thích-ca bị giết hại. Trời
đã tối nhưng không lạnh, tôi yên tâm cho xe chạy từ từ
về thị trấn Bhairawa chỉ cách biên giới 7 Km. Đây là thị
trấn cực nam của Nepal, có một sân bay nhỏ nối liền với
thủ đô Kathmandu. Bhairawa là thị trấn mới xây, hầu như
nó dành để tiếp đón khách du lịch đến thăm Lâm-tì-ni.
Trên đường từ Xá-vệ tới đây tôi ghi nhận ngoài bản
chỉ đường thông thường của Ấn Độ có những bản ghi
tiếng Anh sơn màu xanh, chỉ hướng về Lâm-tì-ni hay Ca-tì-la-vệ
còn bao nhiêu cây số. Hỏi ra thì đó là của người Nhật
làm, họ còn bỏ tiền ra hỗ trợ xây đường sá dẫn đến
vùng đất của nguồn suối thiêng liêng này. Nhờ thế mà
khách du lịch và kẻ hành hương có thể tìm lại miền đất
đã quên này. Cũng vì thế mà Bhairawa ra đời, cách Lâm-tì-ni
khoảng hơn hai mươi cây số, với nhiều khách sạn quốc tế
hiện đại và không hề rẻ tiền.
Khách
sạn tôi ở mang tên " Nirwana " (Niết-bàn), một cái tên siêu
thế gian tôi chưa hề thấy trong nhiều chuyến đi. Làm thủ
tục check-in, tôi đưa giấy tờ ra và thầm nghĩ mình đang
"nhập Niết-bàn". Buổi tối, ngồi trong lounge uống bia để
quên hết mọi nhọc nhằn và hồi hộp của ngày hôm nay, tôi
chợt thấy mình còn ham bia rượu và thầm nghĩ nếu " nhập
Niết bàn " mà dễ như thế thì đỡ cho tôi biết bao nhiêu.
LÂM-TÌ-NI,
KHU VƯỜN ĐÃ QUÊN ^
Vương
quốc của vua Tịnh-phạn thật ra rất nhỏ. Theo ký sự của
Huyền Trang, tiểu quốc Thích-ca có một chu vi chừng 4000 lí
(khoảng 1880Km). Theo Schumann đó là một vùng đất dài và hẹp
với 180.000 dân, có một diệïn tích chừng 2000 cây số vuông,
kinh đô là Ca-tì-la-vệ với khoảng 8000 dân. Tiểu quốc Thích-ca
thần phục nước Kiều-tát-la, mỗi năm phải đóng thuế,
bản thân vua Tịnh- phạn có khi phải đi hội họp tại Xá-vệ,
kinh thành của Kiều-tát-la cách đó khoảng 140km.
Vương
quốc của Tịnh-phạn có 9 thị trấn, trong đó có một nơi
tên là Devadaha. Tại Devadaha có hai chị em lọt vào cặp mắt
xanh của vua Tịnh-phạn, người chị là Ma-gia (Maya), người
em là Pajapati. Ma-gia không ai khác hơn là vị hoàng hậu sinh
ra thái tử Tất-đạt-đa. Pajapati cũng tặng cho vua Tịnh Phạn
hai con, một trai một gái.
Một
ngày nọ trong tháng năm của năm 563 trước công nguyên, bà
Ma-gia lúc đó đã 40 tuổi, thấy mình sắp sinh, xin với vua
Tịnh-phạn rời hoàng cung, về quê tại Devadaha để sinh con
đầu lòng. Đó là tục lệ thời đó, ngày nay nhiều nơi vẫn
còn. Thế nhưng bà không tới kịp Devadaha. Cách kinh thành chừng
25km, ngang một khu vườn tại làng Lâm-tì-ni, dưới một gốc
cây mà có người gọi là hoa Vô Ưu, người khác gọi là cây
Sala, bà sinh một người con trai mà ngày sau thành Phật.
Sinh
xong, hoàng hậu Ma-gia không còn lý do về nhà cha mẹ nữa,
bà trở lại Ca-tì-la-vệ. Ba ngày sau hoàng cung mời đạo sĩ
A-tư-đà đến xem tướng cho thái tử, hai ngày sau đó một
đoàn gồm tám bà-la-môn đến tham dự lễ đặt tên cho thái
tử. Trong đoàn tám người đó thì người trẻ nhất trong
số đó tên gọi là Kiều-trần-như. Ba mươi năm sau, Kiều-trần-như
gặp lại thái tử và ta được biết ông chính là người
trong nhóm năm người được Phật giáo hóa tại Lộc Uyển
sau khi đắc đạo.
Bảy
ngày sau khi sinh, Ma-gia mất, kinh sách chép bà tái sinh ngay vào
cõi trời Đao Lợi. Bà ở tại đó để đợi Phật có ngày
lên thuyết pháp cho bà nghe và 80 năm sau lúc Phật nhập Niết
Bàn tại Câu-thi-na cách chỗ sinh chừng 100km, bà hiện xuống
khóc tiễn.
Ca-tì-la-vệ
và Lâm-tì-ni sớm bị chìm vào quên lãng sau khi dòng Thích-ca
bị diệt vong. Trong thế kỷ thứ năm lúc Pháp Hiển đến
thì ở đây đã thành bình địa, ông chỉ nhắc đến một
phế tích không rõ ràng. Lúc Huyền Trang đến khoảng hai trăm
năm sau, ông ghi rằng một địa danh tên hiện nay là Tilaurakot
(cũng có tên là Taulihawa) phải là thành Ca-tì-la-vệ cũ. Còn
Lâm-tì-ni thì được Huyền Trang tìm ra chính xác. Ông thấy
nơi đó có một trụ đá của vua A-dục và ghi rõ trụ đã
bị hư hại, đầu trụ là hình con ngựa nằm lăn lóc trên
mặt đất. Sau đó không còn ai biết đến Lâm-tì-ni.
May
thay, năm 1806 các nhà khảo cổ đào bới ra được Lâm-tì-ni
và tìm thấy lại trụ đá của vua A-dục, nhưng hình đầu
con ngựa nay đã mất. Kì diệu thay, người ta còn đọc trên
trụ đá hàng chữ sau đây : " Hai mươi năm sau khi đăng quang,
nhà vua Devanampiya Piyadasi [72] đến đây và tỏ lòng ngưỡng
mộ vì Phật, người minh triết của dòng Thích-ca, đã được
sinh tại đây. Ngài cho dựng phiến đá và một trụ đá để
kỷ niệm nơi sinh của đức Thế Tôn. Làng Lâm-tì-ni được
miễn giảm khỏi đóng thuế và giảm phần nộp lợi tức
xuống còn 1/8 [73]". Đó là năm 245 trước công nguyên.
Tôi
đến đây vào một buổi sáng trời đẹp. Con đường từ
Bhairawa dẫn đến Lâm-tì-ni được UNESCO xây dựng, còn đoạn
đi tiếp từ Lâm-tì-ni về Tilaurakot (tức là Ca-tì-la-vệ ngày
xưa) chưa hoàn tất. Lâm-tì-ni là một khu vực xanh tươi nằm
dưới chân Hy-mã lạp sơn, phía Bắc là những đỉnh núi tuyết
lóng lánh. Lúc tôi đến hoa Vô Ưu không thấy nở, nó chỉ
nở vài ngàn năm một lần khi có bậc đại giác sinh ra.
Trong
vườn Lâm-tì-ni được rào bọc cẩn thận, ngày nay ta thấy
còn một hồ nước, huyền sử chép là nơi rồng hiện lên
tắm Phật. Hồ bây giờ tuy còn nước nhưng rêu xanh bám đầy
mặt hồ. Gần đó là trụ đá của A-dục cao 6,4 m, phía trên
có một niền sắt siết chặt, được rào bọc cẩn thận
và nhờ đó những hàng chữ nói trên, viết bằng ngôn ngữ
Brahmi và Ma-kiệt-đà vẫn còn đọc được. Tôi cũng ném vào
đó vài đồng tiền như mọi người, lòng đầy hoài vọng
và xúc cảm làm sao một trụ đá mà sống trên hai mươi thế
kỷ được. Lúc tôi đến, đền thờ hoàng hậu Ma-gia đang
được tu bổ, lều bạt ngổn ngang trên một nền gạch đỏ
thẫm. Đi quanh nền gạch của đền này, nghe nói nó mới xây
dựng trong năm 1933, tôi cố tìm một kẻ nứt để cắm một
nén nhang nhưng lạ thay không sao tìm thấy. Di tích trong đền
này được dời tạm qua một căn nhà khác, vào đó thì thấy
một phiến đá khắc họa lại sự tích đản sinh. Theo nhiều
tài liệu phiến đá này được hình thành trong thế kỷ thứ
hai hay thứ năm sau công nguyên.
Quyết
định của vua A-dục ghi trên trụ đá tại Lâm-tì-ni
[74]
Trong
nắng sớm bỗng có những tiếng trống nhỏ. Từ xa đi về
phía chúng tôi là một nhóm khoảng bốn năm người. Họ theo
đường ruộng đến Lâm-tì-ni, cứ đi vài bước lại đánh
một tiếng trống. Đó là những thanh niên trẻ, người Âu
có người Á có. Họ mặc đồ đen, không rõ tu sĩ hay cư sĩ,
mặt mày thành kính, rõ là đang đi thiền hành. Đến đền
thờ hoàng hậu Ma-gia họ đi vòng quanh đền cả chục lần,
tiếng trống nhỏ đều đều vang lên. Chúng tôi chắp tay vái
chào nhau với một lòng thiện cảm không nói ra lời. Không
rõ các vị mặc đồ đen này thuộc giáo phái nào nhưng về
sau tôi lại gặp nhiều người như thế tại Cửu Hoa sơn tại
Trung Quốc, thái độ họ cũng hết sức thành kính.
Trong
gió mai bỗng có tiếng phần phật, nhìn lại tôi thấy một
nhóm người khác đang giăng những hàng giây có mang những
lá cờ hình tam giác. Những lá cờ sa xuống đầu tôi, trên
đó là vô số Tạng ngữ. Đó là cách cúng dường của người
Tây Tạng, họ viết kinh lên cờ và cho nó tung bay trong gió.
Những lá phướn trắng vàng và đỏ tung phần phật hòa trong
tiếng trống dưới nắng sớm mang lại cho tôi một niềm an
bình rộn rã. Tôi đi quanh quẩn trong vườn, không muốn rời,
một chị người châu Á đi ngang nhắc khẽ tôi " Clockwise ".
Tôi cám ơn chị, lúc đó tôi đi ngược chiều nên chị nhắc
tôi hãy đi theo chiều kim đồng hồ. Đó là cách đi nhiễu
quanh các tháp tượng, luôn luôn phải theo chiều kim đồng
hồ mới thuận theo chiều của phước lạc.
Tiếng
trống đã dứt, các thanh niên áo đen đã tìm chỗ ngồi thiền
định dưới ánh sáng mặt trời êm dịu, mặt nhìn về hướng
đền hoàng hậu Ma-gia. Chúng tôi tìm chỗ ngồi thiền định
dưới gốc cây, đó là chỗ tôi có thể cắm nhang. Đó là
nén nhang Việt Nam cuối cùng trong ba-lô tôi.
KATHMANDU
VÀ KHUÔN MẶT VÀNG
Từ
Lâm-tì-ni tôi trở về khách sạn Nirwana và tiếc thay phải
làm thủ tục " xuất Niết-bàn " để lên máy bay từ Bhairawa
về Kathmandu, thủ đô Nepal. Có ba hãng hàng không nội địa
với những cái tên đáng kính ngưỡng là Buddha Air, Lumbini
Airways và Necon Air chở hành khách từ quê hương của Tất-đạt-đa
về Kathmandu cách khoảng 250km. Cuối cùng tôi chọn Necon Air.
Đây là công ty hàng không nội địa lớn nhất của Nepal với
vài chiếc máy bay hiệu Avro 44 chỗ ngồi.
Từ
xa tôi đã thấy đây phải là chiếc máy bay cũ nhất mà tôi
từng bước lên. Đó là chiếc máy bay có ba bánh, bánh sau
thấp hơn hẳn hai bánh trước nên thân máy bay không thẳng
mà nghiêng, thứ máy bay tôi từng thấy tại xứ ta thời còn
nhỏ xa xưa. Lên cầu thang tôi thấy rõ hàng ngàn những chiếc
đinh tán cũ kỹ trên thân máy bay và tự hỏi liệu chúng còn
sức chịu đựng. Nhìn kỹ tôi thấy lờ mờ hàng chữ " chế
tạo tại vương quốc Anh " và nghĩ rằng chiếc máy bay của
thời cố hỉ cố lai này chắc có may mắn thoát khỏi trận
oanh tạc của Hitler trong thời thế chiến thứ hai. Nó cũng
sẽ mang lại may mắn cho tôi.
Tôi
sớm quên chiếc máy bay cũ kỹ này vì mãi ngắm nhìn rặng
Hy-mã lạp sơn từ trên không. Chúng tôi bay về hướng đông
bắc, ngọn Everest nằm phía trước, hành khách không thể thấy.
Thế nhưng rặng Hy-mã lạp sơn là một dãy núi dài trên 6000km,
khắp nơi là những đỉnh toàn trên 7000m, núi tiếp núi, mây
liền mây, không phân biệt được đâu là mây đâu là núi.
Về sau rời Kathmandu đi Bangkok lần đầu tiên tôi được thấy
đỉnh Everest. Đỉnh núi đầy tuyết nên phải nhìn kỹ ta
mới thấy được nó, bầu trời và đỉnh núi hòa lẫn vào
nhau một màu. Chiều cao của Everest thật là khủng khiếp,
giữa các đỉnh bảy tám ngàn mét mà nó vẫn như một chiếc
nón chụp lên các đỉnh.
Nhìn
các rặng núi luôn luôn tôi có lòng kính sợ, nó phải là
trú xứ của thánh thần. Tôi nhớ lại biển cả, tuy nó cũng
mênh mông nhưng nó gây cho tôi sự thân tình gần gũi. Những
ngọn núi trắng óng ánh màu tuyết, dưới gió núi chúng tung
những đám bụi trắng đầy băng giá. Trên những đỉnh đó
hẳn không có sinh vật, cây cối không mọc được, chim chóc
không thể bay tới, con người không thể leo lên. Thế nhưng
hầu như chúng có thần, chúng xa lánh với sinh vật, thù nghịch
với sự sống, nhưng chúng vẫn thu hút con người ngưỡng
mộ hướng nhìn về chúng.
Về
sau tôi biết rằng trên đó vẫn có cây cỏ, chim chóc bay lên
đến độ cao năm sáu ngàn mét và con người, một thứ sinh
vật kỳ lạ, nó leo lên được các ngọn núi tuyết ấy, có
kẻ không cần mặt nạ dưỡng khí. Và hơn thế nữa, có những
kẻ độc cư trên các ngọn núi tuyết ấy hàng chục năm.
Và nếu con người khi sống trên mặt biển một vài ngày thì
tâm lý xã hội đã thay đổi như tôi hay nghe nhiều người
kể lại, thì những kẻ sống trên núi cao cũng sớm có những
nhận thức khác lạ như Govinda kể trong tác phẩm "Con đường
mây trắng" [75] . Vì thế tôi không ngạc nhiên khi biết những
người sống trên núi cao từ năm này qua năm khác thường
có những khả năng phi thường.
Máy
bay đến gần Kathmandu, phía dưới là núi đồi với vô số
ruộng lúa nằm trên các bậc cấp. Máy bay hạ cánh an toàn
tại sân bay quốc tế Kathmandu, nền hàng không của vương
quốc Anh không phải tầm thường, tôi tự nhủ. Sân bay Kathmandu
tuy nhỏ nhưng hiện đại, nhìn quanh toàn khách nước ngoài.
Sảnh đường đón khách của sân bay có một bức bích họa
to lớn diễn tả sự tích Phật đản sinh, chỗ tôi mới viếng
sớm hôm nay. Thì ra Nepal rất hãnh diện về Lâm-tì-ni, đó
là một thánh tích nằm trong nước họ. Trên bất cứ một
bản đồ nào của họ, dù nhỏ tới mấy, ta cũng tìm thấy
hàng chữ ghi Lâm-tì-ni ở cực nam nước Nepal. Dĩ nhiên khách
đến Nepal không phải chỉ vì Lâm-tì-ni mà có một số lớn
người đi leo núi, họ theo các tuyến "trekking" trên sườn
Hy-mã lạp-sơn.
Tôi
ngạc nhiên thấy Nepal xem ra tiến bộ hơn Ấn Độ trong nhiều
phương diện, nhất là cung cách làm việc trong sân bay, khách
sạn, các công ty du lịch. Đây là một xứ nhỏ, dân ít, tiếp
xúc nhiều với bên ngoài nhờ khách du lịch. Đời sống xã
hội của Nepal cũng đượm màu tôn giáo như Ấn Độ, nơi
đây Ấn Độ giáo và Phật giáo hầu như quyện vào nhau để
trở thành một. Tại các ngã tư đường trong thành Kathmandu
thường người ta tìm thấy một trụ đồng, bốn mặt có
bốn tượng đức Thích-ca tay bắt ấn nhìn ra bốn phía. Gần
đó là vô số đền tháp, thờ các vị thần Ấn Độ giáo
trong dạng thiên nhân, dạng phẫn nộ, dạng voi, dạng khỉ.
Kathmandu
là một thành phố nhỏ nhưng có đến bảy đền tháp được
Liên Hiệp Quốc thừa nhận là "di sản văn hóa". Đó là các
đền đài phần lớn được xây bằng gỗ, ngày nay bị phủ
đầy bằng một lớp bụi dày, không có ngân sách nào tu bổ
cho chúng. Tại trung tâm Durbar Square khách du lịch lui tới tấp
nập, họ hối hả chụp hình hầu như sợ rằng một ngày
gần đây các đền đài đó sẽ sụp đổ vì sự tàn phá
của thời gian.
Các
đền tháp nọ có thể không còn đứng vững được lâu nhưng
nghệ thuật tôn giáo của Nepal chắc vẫn sống mãi, tôi hy
vọng thế. Tôi nhớ một ngày nọ tại Delhi, mình lang thang
trên một con đường lớn. Trước một tiệm kim hoàn sang trọng
tôi thấy một bức tượng nằm trong tủ kính. Tượng trình
bày một dáng hình hết sức cao quí, tay cầm lưỡi kiếm.
Đầu tượng màu xanh đậm mang vương miện năm cánh, tượng
trưng cho năm trí. Mặt bức tượng được phủ bằng một
lớp vàng mờ, nét mặt rất trẻ và thanh thoát. Tay mặt tượng
cầm lưỡi kiếm bốc lửa, bên trái là hoa sen mang kinh Bát-nhã,
bàn tay trái hướng ra ngoài bắt ấn giáo hóa. Tôi biết đó
là tượng Văn-thù Sư-lợi, vị bồ-tát chủ trí huệ. Bức
tượng này hẳn hết sức đắt tiền, nằm trong tiệm kim hoàn
không phải để bán mà để trang hoàng. Tôi càng thấy xa vời,
không thể mua. Tôi đến Janpath, khu vực buôn bán của Delhi
thì chỉ tìm thấy tượng Văn-thù Sư-lợi bằng đồng, nét
thô, còn khuôn mặt bằng vàng mà tôi ưa thích đó không có.
Hình tượng thì bằng đất hay đồng cũng chỉ là hình tượng,
chất liệu và xấu đẹp không quan trọng, ta nên có tâm vô
phân biệt, tôi tự nhủ. Không, nhưng tôi muốn thế, muốn
nhìn ngắm khuôn mặt vàng của Văn-thù và hỏi ra mới biết
bức tượng đó là nghệ thuật của Nepal.
Vì
thế đến Kathmandu, trong lúc mọi người khác tìm đường
leo núi, tôi đi tìm bức tượng. Và đã tìm thì ra. Ngày nay
bức tượng Văn-thù với khuôn mặt phủ vàng mờ nằm trong
phòng làm việc của tôi. Những lúc bí không tìm ra tài liệu,
chữ nghĩa khi làm việc, tôi đều nhìn và hỏi thử khuôn
mặt vàng cao quí đó.
Ngày
nọ, tôi được biết Văn-thù Sư-lợi có "đạo trường" –
có người xem là trú xứ – tại Ngũ Đài sơn thuộc tỉnh
Sơn Tây ở Trung Quốc. Vì Văn-thù đã giúp nhiều lần khi
tôi cần đến, tôi quyết đi Ngũ Đài sơn đảnh lễ Ngài.
Về sau tôi mới hay cơ duyên còn cho mình đi nhiều nơi nữa
trên đất nước Trung Quốc mênh mông này.
[71]
Hình trích của S.Dhammika, sách đã dẫn
[72]
tức là A-dục
[73]
Thông thường là ¼
[74]
Hình trích của H.W.Schumann, sách đã dẫn
[75]
Govinda, Sách đã dẫn