THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
.
MÙA XUÂN DHARAMSALA
Nguyễn Xuân Nghĩa
...Khóa giảng hàng năm của đức Đạt Lai Lạt Ma là ngày hội cho Dharamsala...

Hàng năm, cứ sau Tết Âm lịch, Dharamsala lại như vào hội. 

Đấy là khi đức Đạt Lai Lạt Ma mở khoá giảng hàng năm kể từ rầm tháng Giêng.

Nằm tại tiểu bang Himachal Pradesh ở miền cực Bắc Ấn Độ, Dhramsala là một thị trấn miền núi, bậc thềm bước lên Hy Mã Lạp Sơn - tên của tiểu bang nói lên điều ấy. 

Là thủ phủ của quận Kangra, Dharamsala có thể được coi là một khu vực nghỉ mát. Tên Ấn Độ của thị trấn này là "Nhà nghỉ", và càng thích hợp với chức năng ấy khi người Anh tiến vào cai trị xứ Ấn Độ. Đây là nơi nghỉ hè của công chức Anh phục vụ tại New Dehli (thủ đô nay tên là Dehli). 

Nhưng Dharamsala cũng là một trung tâm tôn giáo lâu đời, nơi dân Ấn lập ra nhiều đền đài theo Ấn Độ giáo, hiện hữu cùng các tu viện Phật giáo của di dân Tây Tạng, từ bên kia biên giới đi xuống, từ thế kỷ thứ tám. Rồi theo đà bành trướng của Ấn Độ, kiến trúc của người Ấn lấn lướt dần các tu viện Phật giáo Tây Tạng. 

Thế rồi mọi thứ đều trở thành bình đẳng, gần như bình địa. 

Một trận động đất lớn vào năm 1905 đã tàn phá cả hai thị trấn Dharamsala và Kangra trong khu vực. Động đất cũng khiến người Anh tìm nơi nghỉ mát tại Shimla, bên kia vết nứt địa chấn, cho an toàn hơn.

Một trận động đất khác - nhân tạo lần này - lại khiến Dharamsala hồi sinh. 

Năm 1959, Trung Quốc tấn công thủ đô Lhasa và hoàn toàn thống trị Tây Tạng, khiến dân Tây Tạng phải theo đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong qua xứ Ấn. Sau khi dại dột đem thí Tây Tạng để "sống chung hoà bình" với Trung Quốc bằng cách khuyên Tây Tạng đừng chống đối mà nên nói chuyện với Bắc Kinh, Ấn Độ hồi tâm nghĩ lại khi nạn dân Tây Tạng từ bên kia biên giới dạt xuống. Vì vậy, năm 1960, Thủ tướng Jawaharlal Nehru mới đề nghị cho đức Đạt Lai Lạt Ma và dân Tây Tạng lập Chính phủ Lưu vong tại Dharamsala.... Từ đấy cộng đồng Tây Tạng lưu vong đã có đất tạm cư, và chọn vùng cao của Dharamsala, nơi còn dấu vết lại qua của tổ tiên họ từ nhiều thế kỷ trước. 

Dharamsala có hai khu vực cao thấp cách nhau chừng mươi cây số, hãy tưởng tượng Đà Lạt với Đơn Dương chẳng hạn. Ở cao độ chừng 1.700 thước, McLeod Ganj là địa danh còn lại từ thời Anh của vùng cao, một trung tâm hành chánh và văn hoá. Bên dưới, vùng thấp của Dharamsala là một trung tâm thương mại ở cao độ 1.510 thước. 

Một thành phố rất nhỏ, nói cách nhau vài trăm thước là một ý niệm về mặt phẳng. Trong thực tế, đó là vài trăm thước dốc! Đây là một thị trấn cheo leo và leo là quy luật!

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã chọn vùng cao, McLeod Ganj, làm nơi tái tạo lại một phần hồn của Tây Tạng với nhiều tu viện, đền thờ, trường học và một khu công thự dành cho chính quyền lưu vong. Vì vậy, khu vực McLeod Ganj đó còn có tên là Tiểu Lahsa, Little Lhasa, nơi có mấy ngàn người Tây Tạng cư ngụ cùng dân cư địa phương.

Và hàng năm, đến kỳ Monlam là Dharamsala lại như mở hội. 

Đây là dịp người dân Tây Tạng tán thán công đức của chư Phật và đức Đạt Lai Lạt Ma giảng pháp cho chư tăng và dân chúng. Khoá giảng của Ngài khởi sự từ mùng ba và sẽ kết thúc vào ngày 13. Chư tăng ở đây là các nhà sư ở ba tu viện Tây Tạng tại Ấn Độ và nhiều tu viện khác trên thế giới. Khách thập phương ở đây quả là những người của thập phương. Đấy là các Phật tử theo đạo, nghe pháp và sinh hoạt tại các tu viện ấy, ở Ấn Độ và trên thế giới, trong số này, có cả tu viện Tây Tạng ở Long Beach của Hoà thượng Geshela. Ông đi từ Mỹ qua Ấn Độ dự khoá giảng này và cũng có riêng một khoá giảng vào những ngày cuối.

Tại Dharamsala, người ta có thể nghiệm thấy một điều. Chính quyền và hàng tăng lữ Tây Tạng là những người có ý chí và viễn kiến. Từ những năm đầu của thập niên 60, công thự của Tây Tạng được thiết kế đơn giản, trang trí bằng cùng loại hoa văn Tây Tạng và hoàn tất thành một khối thống nhất chứ không chắp vá theo lối "tùy hỉ", có bao nhiêu làm bấy nhiêu mỗi năm làm thêm mộ chút. Điều ấy phải nói vì đấy là một khác biệt với các ngôi nhà hay công thự Ấn Độ được thấy mọi nơi.

Cao nhất, kiên cố và rộng lớn nhất là một tu viện, kiêm viện nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Trong tâm tư của lãnh đạo Tây Tạng, có ba vấn đề thường xuyên bật sáng là tự do cho quê hương và giáo dục cho dân chúng, tu tập cho tăng già. Tu viện này là một trung tâm giáo dục và tu tập tại Dharamsala. Nó nguy nga hơn dinh cơ của chính phủ.

Xây bên triền núi dốc ngược, tu viện này có bảy tầng cao thấp khác nhau và cao hơn dinh cơ của Chính quyền Tây Tạng và ngôi nhà của đức Đạt Lai Lạt Ma. Chung quanh quần thể kiến trúc ấy là những đỉnh núi tuyết ở xa và rất nhiều loại tùng bách và bá hương hay khuynh diệp. 

Một ngôi chùa Việt Nam thường phát triển theo bề ngang và ẩn mình trong cây cỏ thiên nhiên, tu viện Tây Tạng lại nằm rất cao trên đỉnh núi, thường trông xuống thung lũng ở bên dưới. Người Tây Tạng quả là không thể quên vị trí nguy nga của thủ đô và cung điện Lhasa ở quê nhà.

Dinh Chính phủ và tư thất của đức Đạt Lai Lạt Ma quay về hướng Nam, đối diện với Tu viện, bước qua là một quảng trường nhỏ vuông vắn chưa đầy trăm thước, phân nửa sân có che bạt nylon màu vàng có trang trí hoa văn Tây Tạng. Đây là nơi mỗi ngày mọi người đến nghe vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng thuyết pháp.

Ngài bước từ trong dinh qua cổng sắt sơn trắng và chào hỏi rừng người ngồi chật dưới đất rồi vào một hàng hiên lớn của tu viện bước lên một đài nhỏ phủ gấm vàng, có tán, có lọng và ngồi theo thế kiết già trên một ghế bành lớn, trước mặt là một cần máy ghi âm. Đức Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng là cả đường phố Dharamsala đều nghe thấy tiếng Ngài, vang vọng qua các triền núi nhờ hệ thống loa khuếch âm giăng mắc ở mọi nơi trên tu viện.

Dân số Dharamsala chỉ vỏn vẹn chưa đầy hai chục ngàn người, đa số là dân Ấn Độ, còn lại là mấy ngàn dân Tây Tạng và các nhà sư đang tu tập trong tu viện. 

Khi đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng, có chừng năm người ngồi nghe. Các nhà sư thì ngồi khắp mọi tầng lầu trong tu viện, khách thập phương thì ngồi đầy sân trước và tràn qua các bậc thang, bờ tường.

Nếu người ta có quên hoàn cảnh Tây Tạng thì việc tham dự khoá giảng này là một nhắc nhở. Mọi người đều đã phải liên lạc trước, từ xa, có thể là qua một tu viện Tây Tạng ở Hoa Kỳ, Na Uy, hay Hán Thành. Liên lạc trước để ghi danh và tới nơi là phải xin thẻ nhận diện, kèm theo tấm hình của mình. Nôm na là không phải ai đến cũng được. 

Qua những con dốc hay ngõ ngách nhỏ để tiến vào tu viện, mọi người được yêu cầu không đem theo máy ảnh, điện thoại di động, bật lửa, thuốc lá hay võ khí. Không chỉ được yêu cầu mà còn được khám xét và lục soát rất kỹ. Đây là lý do vì sao độc giả không thấy tấm hình nào!

Nhưng, mọi người cũng được yêu cầu đem theo một ca nước và dù chẳng cần nhắc thì cũng đem theo nệm ngồi! Tùy nơi xuất phát, mỗi nhóm lại được phân cho một ô dưới đất. Như người Đại Hàn có vài chục thì phân nửa là các nhà sư, mặc đạo bào màu xám viền nâu của Phật giáo Đại Hàn. 

Trong khoảng năm ngàn người ngồi nghe pháp, có lẽ phân nửa là các nhà sư Tây Tạng mặc áo đỏ. Tri trấn Dharamsala vào Xuân đã đỏ rực vì những tà áo này. Từ mờ sáng, khi các vị sư xếp hàng một - kỷ luật hơn các cư sĩ nhiều lắm - vào tu viện, ta thấy những cái đuôi dài trên bốn ngả dốc dẫn lên tu viện. Hình ảnh rất lạ và đẹp mắt.

Dù là mùa Xuân, khí trời Dharamsala vẫn còn lạnh, từ 45 đến 65 độ F, và còn lạnh buốt khi gió Xuân thổi lên. Trời trong xanh rất đẹp, bên dưới là một cảnh tượng lạ lùng. Dân Tây Tạng ăn mặc đầy màu sắc rực rỡ, có người còn mặc lễ phục - hãy nghĩ đến ngày Tết của ta. Các nhà sư - người Tây Tạng hay da trắng, nam và nữ, khá đông - thì mặc áo đỏ, nhiều người phải quấn khăn hay quấn chăn đỏ vì trời rất lạnh. Còn lại là khách quần phương với cách phục sức đa nguyên của họ!

Gần phân nửa những người ngồi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp là người da trắng. Còn lại là dân Á châu, da vàng. Người ta đến nghe từ tứ xứ, mỗi người lại một vẻ, rất lạ. Họ quấn khăn, đội mũ, choàng chăn, xách bị, cắp nệm bên nách. Có những người dị kỳ như pháp sư Thổ phồn trong truyện võ hiệp, có người như hippies tại Santa Cruz hay San Francisco, có người quấn tròn như con gấu theo kiểu New York, có người râu tóc bay trước gió như một Tạ Tốn da trắng. Nhiều người ăn mặc rất "casual", nhưng lịch sự với nhãn DKNY, giày Nikey, người đi dép râu Ấn Độ... Muôn hình muôn vẻ.

Nhưng, kỳ lạ vô cùng, khi có tiếng xướng danh của một vị sư Tây Tạng báo hiệu đức Đạt Lai Lạt Ma, mấy ngàn người ồn ào bỗng im phăng phắc. Và Ngài vừa bước ra là người ta quỳ, bò và nằm lạy dưới đất. Ba lần. Cả những nàng kiều nữ Bắc Âu lẫn các giáo sư Hoa Kỳ. Những người vào trễ và dù đứng dưới nên chẳng thấy đức Đạt Lai Lạt Ma họ vẫn kính cẩn quỳ lạy ba lần trên nền đất lạnh, rồi mới phủi áo tìm chỗ ngồi nghe. Hết chỗ thì leo lên bờ tường.

Mà làm sao nghe khi đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso đời thứ 14 nói pháp bằng tiếng Tây Tạng?

Khoa học kỹ thuật có giải đáp!

Mỗi người được yêu cầu đem theo một radio nhỏ có cắm ống nghe. Bật lên băng tần FM thì tìm ra lời phiên dịch ra từng thứ tiếng, kể cả Pháp, Ý hay Đại Hàn. Tiếng Anh là 92.5! Người viết đếm không được số ngôn ngữ được phiên dịch! Những người Việt đến từ Hoa Kỳ thì có hệ thống riêng, do một nhà sư Tây Tạng rất trẻ lập riêng cho mình! 

Khi bắt đầu bài giảng, vị Phật Sống của Tây Tạng thường hỏi: "Mọi người đã có trà chưa?" 

Lý do là mấy chục vị sư mỗi người một bình trà hơn một galông đã xen vào đám đông rót trà mời mọi người, theo sau là những khay bánh mì Tây Tạng. Hôm đầu tiên, các Phật tử được mời ăn xôi. Xôi hấp với bơ trộn cùng nho khô. Ngon vô tả! Trà cũng vậy, có pha chút sữa có đường nhưng không quá ngọt. Trời lạnh, quấn mình trong chăn ấm để uống trà thì chưa nghe pháp đã thấy mình thành tiên.

Nghĩa là ban tổ chức và người Tây Tạng phải làm chúng ta khâm phục về cách tổ chức và sự chu đáo của họ. Người nào cũng hiền hoà, ân cần và kiên nhẫn khi mỗi ngày mấy ngàn người như con nước đổ về tu viện hoặc rút xuống ăn trưa để lại trở về nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp.

Trong một buổi chiều, khi nói về lòng từ bi, Ngài đã bật khóc ở trên. Bên dưới, quỳ chung quanh, là những vị cao tăng, những đạo sư trọng tuổi, ngồi tĩnh lặng như những triết gia. Kinh nghiệm ấy là một điều khó quên.

Trong mấy tuần liền, đường phố Dharamsala - toàn ngõ hẹp đường dốc, bề ngang không quá chục thước, bên dưới là sườn núi hay vực - chật ních những người và hàng quán tấp nập khách thập phương. Nếu chịu khó leo cao một chút thì mình có thể lên tới  nhà hàng Chonor House do Richard Gere lập ra cho thiên hạ. Thức ăn ngon, dịch vụ chu đáo và còn có một khu riêng để truy cập Internet. 

Nhờ vậy mới kịp có bài này in trên Việt Báo! Thời khắc Dharamsala đi trước California 14 tiếng rưỡi. Cái rưỡi ấy là nét đặc trưng Ấn Độ! Và dù dọa nạt thế giới về IT, hệ thống Internet tại đây, dù là Dehli hay Dharamsala vẫn còn quá chậm. Hình quá lớn gửi về là bị đá ra ngoài. 

Những chuyện ấy, nghe thuyết pháp xong thì loài người trần tục sẽ phải tìm cách giả quyết cho độc giả!

NGUYỄN XUÂN NGHĨA 
(Việt Báo  3/7/2007, 12:02:00 AM)

ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH TRỜI 

Ghi nhanh về một chuyến đi nghe đức Đạt Lai Lat Ma...

Ngày "nguyên tiêu" của ta (đúng hơn, của Tầu), rầm tháng Giêng Âm lịch là một ngày "lễ trọng" của Phật giáo Tây Tạng, gọi là Moon Lam. Hàng năm, đức Đạt Lai Lat Ma chủ trì khóa lễ đầu Xuân và thuyết giảng trong hai tuần liền. So với lịch Tây năm nay là từ mùng ba đến 16 tháng Ba. 

Một mùa Moon Lam đáng nhớ trong lịch sử  Tây Tạng là vào đầu năm Hợi 1959, khi Trung Cộng xua quân vào Lahsa và ngày 17 tháng Ba năm đó, đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải rời thủ đô Lahsa khởi sự cuộc sống lưu vong. Những chi tiết này, Xuân Việt Báo Đinh Hợi đã có kể lại. Năm nay, người viết đã cùng một số Phật tử tại Hoa Kỳ (và nhiều nơi khác) qua dự lễ Moon Lam và khoá thuyết pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma tại thủ đô lưu vong của dân Tây Tạng, trên đỉnh Dharamsala của tiểu bang Himachal Pradesh của xứ Ấn Độ.

Từ Hoa Kỳ qua An Độ, đến thủ đô Dehli của xứ An, người ta đã lạc vào sự lầm than bất ngờ như lãnh một quả đấm vào ngực. Một cường quốc một tỷ mốt dân và bom hạch tâm thật ra là một nước nghèo chưa phát triển dù đã khởi sự cải cách từ 15 năm trước. 

Hình ảnh siêu kỹ thuật và hiện đại của Mumbay (Bombay cũ) là chuyện xa vời. An Độ có những chuyên gia thượng thặng và công chức cao cấp của quốc tế, nhưng họ là người của quốc tế và có lẽ hướng ra ngoài. Bên trong, xứ này vẫn hồn nhiên chạm mặt với sự khốn cùng, và coi chuyện ấy là thường. 

Rời Dehli bằng xe buýt, người ta phải mất nguyên một ngày di chuyển, khái niệm không gian là mấy trăm cây số thật ra không đáng kể bằng thời gian, vì di chuyển trên quốc lộ mà chỉ như liên tỉnh lộ của nhiều nước.

Nhưng càng tới Dharamsala người ta càng thấy lạnh, vì cao độ và ở vùng cực Bắc của xứ An. Và lại càng thấy sạch hơn nhờ không khí trong lành và con người cũng có kỷ cương hơn. Dân Sigh sống khá đông và rất tự trọng. Từ mờ sáng rời Dehli đêm khuya người ta mới tới Dharamsala và khu vực có cái tên hành chánh là Mcleod Ganj mà dân Tây Tạng lưu vong gọi là Little Lhasa. 

Sáng sớm hôm sau mặt trời mọc trên một hòn ngọc xanh. Đó là cảm nghĩ của người viết khi bước xuống đường. Lúc đó là sáu ruỡi sáng và tiếng niệm Phật của các nhà sư đã vang trên đồi núi xanh. Nghe rõ nhất là tiếng xướng kinh của chính đức Đạt Lai Lạt Ma. Giọng xướng trầm trầm và uy nghiiệm ấy thì không lầm được.

Những người Phật tử Việt Nam từ California qua Dhrarasala được chính Hoà thượng Geshela hương dẫn. Năm nay, thầy đã trên 84 mà vẫn di chuyển và sinh hoạt cùng các Phật tử trong suốt chuyến đi. Hình ảnh đáng nhớ là tại Phi trường LAX, thầy ngồi đợi máy bay mà vẫn định thần niệm chú. Cho mọi việc đều được tốt đẹp.

Cũng nhờ đi cùng một nhân vật như vậy, người viết mới được thăm viếng một trung tâm Phật giáo Tây Tạng tại Dehli do chính Geshela góp phần xây cất từ tám năm nay. Trung tâm vẫn chưa chính thức khai trương, nhưng đã cho thấy một nền nếp - và sự sạch sẽ - khác hẳn thành phố Dehli! 

Và tại Trung tâm này, các Phật tử mới được diện kiến hai nhân vật hầu như là thần thoại của Phật giáo Tây Tạng. Đại sư Lati Rinpoche, thày dạy và cố vấn về lý luận của đức Đạt Lai Lạt Ma. Và một nhà sư trẻ, được tin là hậu thân của Zong Rinpoche, thày dạy của Đaị sư Geshela thời xưa, khi còn ở tại Lahsa của Tây Tạng.

Một đạo sư của vị Đại sư Geshela tại Long Beach nay tái sinh làm một vị tăng Tây Tạng, mà "thực chất" là một vị Rinpoche, một vị hoá thân. Bên cạnh là Lati Rinpoche già lão mà vẫn sáng suốt, bình thản. Ngài được chính đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn cho một vị sư trẻ gốc Việt Nam là Kusho, mà nhiều người cũng tin là một vị đại sư đắc đạo tái sinh, dù chưa được ai công khai nói ra.

Khi bước vào thế giới ấy, người ta phải có những suy tư rất lạ.

Bầu cử tại Punjab, lạm phát tại An Độ, ngân sách 2008 của Mumbay và thế giới Tây Tạng đã hòa nhập trong những ngày đầu cùa một chuyến đi.... 

Và điều kiện tường thuật không dễ! Hi-tech An Độ và Thần thông Tây Tạng là những gì đó tưởng như không thể hoà nhập.

NGUYỄN XUÂN NGHĨA 
(Việt Báo 3/3/2007, 12:02:00 AM)
 


BI KỊCH TÂY TẠNG 

Trong một thế giới đóng kịch, dân Tây Tạng lại sống rất thực... 

DHARAMSALA - Ngày hôm nay, Thứ Bảy mùng 10 tháng Ba, người dân Tây Tạng có một sinh hoạt đặc biệt. 

Họ kỷ niệm ngày nổi dậy của dân Tây Tạng tại thủ đô Lhasa - mùng 10 tháng Ba năm 1959 - khi Trung Quốc đưa quân từ các tỉnh miền Đông, mà họ đã chiếm đóng từ 10 năm trước, tấn công Lhasa và đặt ách cai trị từ đó cho đến nay.

Từ hôm trước, nhiều xe phóng thanh đã len lỏi trên các đường dốc của Lhasa về lễ kỷ niệm nay. Thật ra, những bích chương biểu ngữ nhắc nhở biến cố đau buồn trên đã xuất hiện từ nhiều ngày trước. Xe phóng thanh - những chiếc xe con cóc nhỏ xíu - chỉ bắc loa kêu gọi từ sau ba rưỡi chiều. Trước đó, hầu như cả thị trấn Dharamsala chỉ thấy vang vọng lời thuyết giảng của đức Đạt Lai Lạt Ma trong khoá dạy của Ngài, bắt đầu từ mùng ba.

Từ ngôi đền thờ chính, nằm đối diện với "Cung điện" của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng và nơi nghỉ ngơi của đức Đạt Lai Lạt Ma, người Tây Tạng đã bắc loa truyền thanh bài giảng của Ngài. Nhưng, tân kỳ hơn thế, người ta còn phóng lời cầu kinh và những giải thích về Phật pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma lên băng tần FM.

Nhà nào trong khu vực cũng có thể bật radio lên nghe và dân Ấn Độ cũng vậy, vì lời giảng được trực tiếp phiên dịch ra Anh ngữ và nhiều thứ tiếng khác.

Cho tới khi khoá giảng trong ngày kết thúc, xe phóng thanh bắt đầu xuất hiện và nhắc đến ngày 10 tháng Ba. Và tối thứ Sáu, nhiều nơi đã có chiếu phim hoặc băng hình về cuộc nổi dậy 1959, và về những vụ đàn áp khác đã xảy ra tại Tây Tạng trước sự thờ ơ của thế giới.

Thế giới loài người có biệt tài.... đóng kịch!

Từ hơn ngàn năm nay, dân Tây Tạng đã có một sự chuyển hoá... đầy lợi hại nhờ Phật giáo. Tây Tạng từ bỏ chiến tranh, và hoàn toàn mưu cầu hoà bình theo lời Phật dậy. Ấy là mặt "lợi" nhìn từ đạo pháp. Mặt "hại" là xứ này không có khả năng tự phòng vệ trước những sức mạnh vốn không coi đạo pháp là gì!

Trong lịch sử Tây Tạng, có hai đế quốc đã triệt để khai thác điều ấy và làm thế giới bị lầm lạc về Tây Tạng. Trước hết là đế quốc Anh, kế tiếp là Trung Quốc. Hai xứ này tự coi là và được thế giới tưởng như là hai quốc gia am hiểu nhất về Tây Tạng. Và họ đóng kịch rồi cho cả thế giới vô tình đóng theo cùng một vở.

Năm 1904, cách đây trăm năm, đế quốc Anh nhòm ngó Tây Tạng nhưng không muốn đế quốc Nga xía vào cuộc chơi lớn này (the "Great Game" theo các nhà địa dư chính trị học) và cũng không muốn đế quốc Mãn Thanh mất lòng. Họ trình bày cho thế giới rằng Tây Tạng là một đất phụ dung của Trung Quốc. Nhưng, về thực chất, họ biết Tây Tạng là một xứ độc lập, có chủ quyền, nên ký kết những thỏa ước riêng với Lhasa.

Vừa độc quyền khai thác quan hệ song phương với Tây Tạng, vừa cho nhà Mãn Thanh uống nước đường về một tư thế không hề có tại Lhasa, họ vừa củng cố được vị trí của mình tại Hong Kong! Chuyện thiên hạ đại thế - geopolitics - của Anh vì vậy là một hài kịch.

Trung Quốc dưới triều Đại Thanh cũng biết rõ bài bản của vở kịch hơn ai hết.

Y như Thiên triều Bắc Kinh đối với Việt Nam thời xưa, họ biết rõ Tây Tạng không phải là chư hầu, một nước phụ dung hay trực trị. Họ hưởng cái hư vị của một đại cường có ảnh hưởng mà chẳng có thẩm quyền gì về thực tế.  Lý do là dân Tây Tạng luôn luôn nghĩ mình là người Tây Tạng, không hề là và không muốn là người Trung Hoa, hay thần dân của nhà Mãn Thanh.

Trước đó cũng thế, họ nhập nhằng gọi xứ này là Tây Tạng và giải thích chữ "Tạng" là tàng, là kho báu ở miền Tây - của Trung Quốc. Một kho báu họ với không tới vì ở quá xa và quá cao.

Đến khi Cộng sản Trung Hoa xuất hiện với Mao Trạch Đông, Trung Quốc trở nên thực tiễn hơn các Hoàng đế phong kiến thời xưa. Vừa chiếm được Hoa lục, Mao liền xua quân chiếm miền Đông Tây Tạng, với khẩu hiệu sau này trở thành quen thuộc: "giải phóng". 

Trước là giải phóng Tây Tạng khỏi chế độ phong kiến lạc hậu, sau - năm 1959 - là giải phóng Tây Tạng khỏi sự xâm lăng của "đế quốc", dù khi đó Lhasa chỉ có chừng tám học giả hay các nhà nghiên cứu Tây phương đang tìm hiểu về xứ sở huyền bí này!

Dân Tây Tạng vốn đã từ bỏ việc đao binh từ lâu nên không thể đương cự nổi. Và từ 1959, hơn một triệu dân Tây Tạng đã được giải phóng khỏi kiếp sống. Nôm na là bị giết, bị đấu tố đến chết. Và đền đài hay kho báu Phật giáo của họ bị phá tan.

Giết người chưa đủ, họ muốn thủ tiêu luôn nền văn minh Tây Tạng và tiến hành cải tạo văn hoá, tư tưởng. Họ đưa bảy triệu người Hoa vào sống với sáu triệu Tạng dân và đang biến dân Tây Tạng thành người Hoa. Họ khai thác tài nguyên hết sức phong phú của xứ này, và từ 1987 mới "trả lại" chút đỉnh, chừng 5% theo ước tính của giới lãnh đạo Tây Tạng, bằng hệ thống cầu đường - và gọi đó là "hiện đại hóa". 

Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhân loại đã ngoảnh mặt làm ngơ khi chín triệu người Do Thái bị Đức quốc xã sát hại. Ngày nay, sáu triệu người Tây Tạng sẽ không bị đẩy vào lò hỏa thiêu - nhân loại vốn đã văn minh hơn - nhưng di sản văn hoá và tôn giáo của họ đang bị tiêu diệt. Và họ có thể bị biến chất trước sức mạnh vật chất của một đế quốc quái quỷ.

Nhìn trên toàn cảnh như vậy, người ta mới thấy ra vị trí của đức Đạt Lai Lạt Ma và vai trò của người Tây Tạng lưu vong. 

Trong lễ kỷ niệm ngày hôm nay, vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng sẽ có một thông điệp nhắc nhở, kế tiếp là bài diễn văn của vị Thủ tướng Chính phủ Lưu vong Tây Tạng. 

Còn lại, thế giới có muốn tiếp tục là đồng lõa cho vở bi kịch Tây Tạng không? Lòng tham - một thị trường đông dân nhất thế giới - và sự khiếp nhược - ai dám đụng vào cái vảy ngược của con rồng - là những cám dỗ rất lớn!

Chỉ có dân Tây Tạng là không chịu sống trong vở kịch đó. Đáng kính vô cùng!

NGUYỄN XUÂN NGHĨA 
Việt Báo  3/10/2007, 12:02:00 AM

TỰ DO CHO TÂY TẠNG  
RFA & NGUYỄN XUÂN NGHĨA . 

...Tôi có mặt tại quảng trường trước tu viện chính của Phật giáo Tây Tạng ở Dharamsala trước rừng người đang quỳ gối cầu kinh...

Mùa Xuân năm Kỷ Hợi, ngày 10 tháng Ba năm 1959, dân Tây Tạng tại thủ đô Lhasa đã nổi dậy chống lại cuộc xâm lăng của quân đội Trung Quốc và bị thảm sát. Ngày 17, vị lãnh đạo tinh thần và chính trị của xứ này phải nửa đêm rời Lhasa vượt núi vượt đèo qua Ấn Độ. Đấy là đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 Tenzin Gyatso, mà những người theo Phật giáo Tây Tạng tin là hoá thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, một hiện thân của lòng từ bi. Từ đó, ngài đã thành lập Chính phủ Tây Tạng Lưu vong tại thị trấn Dharamsala trong bang Himachal Pradesh bên Ấn Độ và quảng bá Phật giáo trên toàn thế giới.

Để kỷ niệm biến cố xảy ra đúng 48 năm trước, mùa Xuân Đinh Hợi năm nay, vào ngày 10 tháng Ba vừa qua, dân Tây Tạng tại Dharamsala đã có cuộc biểu tình nhắc nhở thế giới về hiện trạng thiếu tự do của người Tây Tạng ngay trên quê hương của họ, hiện vẫn bị Trung Quốc cai trị và đồng hoá.

Cộng tác viên của đài Á Châu Tự Do, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa đã có mặt tại chỗ và tường trình lại về những sinh hoạt đấu tranh của người Tây Tạng tại thủ đô lưu vong của họ, ở Dharamsala. Sau đây là phần tường trình của ông gửi tới quý thính giả... 

- NXN: Trong bài diễn văn đọc ngày 10 tháng Ba vừa qua dưới cơn mưa tầm tã tại Dharamsala để kỷ niệm 48 năm cuộc nổi dậy của dân chúng Tây Tạng ở thủ đô Lhasa, vị Thủ tướng cầm đầu Nội các Kashag của dân Tây Tạng đã kêu gọi dân chúng cùng cầu nguyện vào ngày 14 để hồi hướng công đức cho vị lãnh đạo của họ là đức Đạt Lai Lạt Ma được trường thọ và chuyển pháp luân để làm thay đổi tình hình cho Tây Tạng.

Tôi có mặt tại quảng trường trước tu viện chính của Phật giáo Tây Tạng ở Dharamsala trước rừng người đang quỳ gối cầu kinh. Tâm thành và ý chí của đám đông chung quanh khiến chúng ta phải rùng mình và kính phục. Nhờ có thẻ báo chí do bộ Thông tin và Liên lạc Quốc tế của Chính phủ Tây Tạng cấp phát, chúng tôi được bước vào trong điện với máy ghi âm và thu hình.

- Câu hỏi: Theo chúng tôi hiểu thì ông đến Dharamsala để nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp từ mùng ba đến ngày hôm qua 13, và gặp gỡ một số cao tăng Tây Tạng. Ông có thể cho biết đôi chút về buổi thuyết pháp đó không?

- Hàng năm, ngày rầm Tháng Giêng âm lịch, tức là sau Tết Nguyên đán hai tuần, người Tây Tạng có hội lễ Monlam để cầu Phật vào đầu năm. Đấy cũng là cơ hội mà đức Đạt Lai Lạt Ma, Giải Nobel Hoà bình năm 1989, trực tiếp xuất hiện sau lễ Monlam và thuyết pháp cho tăng chúng và khách thập phương từ khắp nơi đổ về. Đề tài năm nay của Ngài là Bồ Tát Hạnh và Bồ Đề Tâm. Suốt một tuần, Dharamsala rực rỡ nắng Xuân ấm áp với khoảng năm sáu ngàn người, ngồi kín các tầng lầu của tu viện ra tới quảng trường bên ngoài. Phân nửa là các nhà sư Tây Tạng, kể cả các tỳ kheo và sư nữ da trắng, đã ngồi nghe pháp từ chính nhân vật được mọi người tôn là đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Phần còn lại là khách thập phương từ mọi nơi đổ về, nhưng phải ghi danh và có thẻ tùy thân mới được vào quảng trường. Non nửa số khách thập phương này là người Âu-Mỹ da trắng, còn lại là dân Á châu từ khắp nơi, như Nhật Bản Đại Hàn, Đài Loan, Ấn Độ và khá đông là người Nga tại Trung Á. 

Thế rồi đến ngày mùng chín, mọi sự lại chuyển động như một làn sóng ngầm. 

Các xe phóng thanh và tăng chúng áo đỏ leo dốc đi tới khắp nơi nhắc nhở dân chúng Dharamsala, mà chừng một phần tư là người Tây Tạng lưu vong, về cuộc biểu tình ngày mai để kỷ niệm cuộc nổi dậy tại Lhasa 48 năm trước.

Dân làng, kể cả người Ấn, có cho biết là ngày mai thể nào trời cũng mưa. Trước sự hoài nghi của chúng tôi, họ thản nhiên giải thích: bên kia núi có mấy con rồng, khi Bồ Tát thuyết pháp, chúng hoan hỷ phun mưa cho hoa cỏ tốt tươi và rửa sạch bụi trần. 

Đêm đó, quả nhiên giông bão vần vũ và mưa rơi nặng hột. Nhưng dù mưa lớn thì từ mờ sáng nhiều đoàn người đã kéo tới tu viện chính nằm trên đầu dốc nhìn xuống dinh Chính phủ Lưu vong. Họ đi trong mưa lũ, dưới khí lạnh có mười mấy độ, hô khẩu hiệu vang dội bằng tiếng Tây Tạng. Vào quảng trường chỉ được che bạt có một nửa, họ ngồi bệt xuống đất, tức là trên vũng nước mưa, chờ đức Đạt Lai Lạt Ma xuất hiện. 

Họ đây là người dân Tây Tạng, có đủ nam phụ lão ấu và các em học sinh thì mặc đồng phục màu xanh, Người nào cũng ướt như chuột, nhưng mặt mày rạng rỡ. Nơi che bạt nylon được dành cho các nhà sư và khách thập phương, rất nhiều là người Âu châu, từ đó đến Ấn Độ chỉ bay mất bốn năm tiếng. 

Từ trong dinh Chính phủ Lưu vong bước ra cùng nhân viên Nội các và Quốc hội Tây Tạng và quan khách Ấn Độ, đức Đạt Lai Lạt Ma được mọi người quỳ lạy ngay dưới đất. Sự tôn kính của mọi người với vị Phật Sống này là điều ai cũng thấy, và thấy là tự nhiên. Ngài chào hỏi mọi người và bước qua hàng rào các thiếu nhi mặc quốc phục. Đây là dàn hợp xướng có đầy đủ nhạc cụ sẽ hát quốc ca Tây Tạng để mở đầu buổi lễ.

- Câu hỏi: Ông có thể cho biết sơ qua về buổi lễ hôm mùng 10 đó không?

- Thưa mở đầu vẫn là một khoá lễ để tán thán công đức chư Phật theo phong tục Tây Tạng, kế tiếp là bài phát biểu của một vị cao tăng, hoá thân của một Lạt Ma, hiện là Thủ tướng của Chính quyền Tây Tạng lưu vong, tức là cầm đầu Nội các họ gọi loà Kashag. Sau đó là diễn văn của vị Chủ tịch Quốc hội Tây Tạng vì đức Đạt Lai Lạt Ma đã cải cách chính quyền theo nguyên tắc dân chủ và còn ngỏ ý muốn chỉ giữ một chức vụ tôn giáo trong cộng đồng Tây Tạng mà thôi. Trong số quan khách có nhiều chức sắc của chính quyền Ấn Độ và ba vị đã lên phát biểu và được dân chúng nhiệt liệt vỗ tay. Sau cùng mới là diễn văn chính thức của đức Đạt Lai Lạt Ma. 

Trước hết, Ngài ngợi ca và nguyện cầu cho những người Tây Tạng đã hy sinh vì xứ sở và cho những người vẫn đang bị tù đầy và bách hại trên quê hương mình. Sau đó, Ngài tổng kết về những đổi thay tiêu cực và tích cực từ phía Trung Quốc. Trong khi nhiều trí thức Hoa lục đã công nhận yêu cầu tâm linh của đời sống và nhiều người đã tìm hiểu về văn hoá và tôn giáo Tây Tạng như một giải pháp đáng chú ý thì một số lãnh đạo thủ cựu lại tăng cường chiến dịch đả kích Tây Tạng và ra tay đàn áp người dân tại Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc lại lập trường trung đạo Ngài đã đề nghị từ 28 năm nay để dung hợp quan điểm và quyền lợi của người dân hai nước, người Tây Tạng và người Hánh. Nhưng dù Hiến pháp Trung Quốc công nhận quyền tự trị của các sắc tộc thiểu số, chính quyền Bắc Kinh không duy trì và bảo vệ bản sắc và văn hoá của dân thiểu số và văn hoá của các sắc dân này đang bị tiêu diệt. Việc cải cách hạ tầng vận chuyển như đường xe lửa tại Tây Tạng chỉ gia tăng việc đưa thêm người Hán vào lãnh thổ Tây Tạng, đồng thời lạm thác tài nguyên và hủy hoại môi sinh Tây Tạng.

Dù một số người sắc tộc đã được kết nạp vào đảng Cộng sản Trung Quốc, đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu tiếp trước quần chúng ngồi quanh, quá ít người được đưa lên cấp lãnh đạo quốc gia và nhiều người trong số này còn bị phê bình là có tinh thần phân liệt. 

Kết thúc bài phát biểu, đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định rằng dân Tây Tạng không có ẩn ý gì khác, quan điểm của họ như được Ngài trình bày nhiều lần là phải thực sự tôn trọng quyền tự trị của người Tây Tạng. Và người Tây Tạng lưu vong đã thiết lập một cơ chế dân chủ đích thực để theo đuổi việc đấu tranh ấy, từ thế hệ này cho tới thế hệ khác. Từ năm 2002 đến nay, đôi bên đã có năm cuộc gặp gỡ để thẳng thắn thảo luận về những dị biệt hay nghi kỵ, những cuộc thảo luận này cần phải tiếp tục. Sau khi ngợi ca sự phấn đấu bền bỉ của dân Tây Tạng ở trong nước, Ngài ngỏ ý cảm tạ nhân dân và chính quyền Ấn Độ đã kiên trì và hào hiệp yểm trợ Tây Tạng và tri ân dân chúng và các chính quyền thế giới đã quan tâm và hỗ trợ Tây Tạng.

Sau buổi lễ kỷ niệm thật cảm động này, đức Đạt Lai Lạt Ma đã rẽ đám đông quỳ vái chung quanh để trở về tư thất ở bên kia quảng trường. Cả tiếng đồng hồ sau đám đông mới rút khỏi quảng trường và đi biểu tình tuần hành trên đường xá gập ghềnh của Dharamsala, một thị trấn ở trên cao độ 1.700 trăm thước, bậc thềm dẫn lên rặng Hy Mã Lạp Sơn. Bên kia là đất Tây Tạng và sáu triệu người dân đang khắc khoải sống cùng bảy triệu người Hán, như một loại công dân nô lệ.

- Câu hỏi: Trở về buổi cầu nguyện ngày 14, ông có thể tường trình cho thính giả biết những gì đã xảy ra.

- Chúng tôi đã chứng kiến một buổi lễ rất lạ. Trước hết, quảng trường và tu viện chính hiện đông đặc những người, có thể lên tới hàng vạn. Nên nhớ là dân số Dharamsala chỉ vỏn vẹn có hai vạn người mà thôi. Người ta ngồi ngổn ngang ở khắp mọi nơi, dưới sàn, dưới đất, ngoài đường, trên bờ tường và ngay bên trong các hành lang của một tu viện cao bảy tầng bên triền núi.

Trong chánh điện của Tu viện chính, đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi trên một bệ cao, ngai của Ngài có phủ gấm vàng, cùng màu với cái mão Ngài đội, phía sau là một tượng Phật cực lớn, được trình bày theo quy cách Tây Tạng. Trong chánh điện như một đại sảnh là các vị cao tăng áo đỏ, choàng khăn vàng. Ngồi chính giữa là vị Đạo sư Sakya Trizin, được coi là đại diện của cả hàng ngũ Tăng già lẫn giới chức trong Nội các Kashaq, Quốc hội và mọi địa phương Tây Tạng. Nếu trí nhớ của tôi không lầm thì Ngài được tin là một hoá thân của đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Theo đẳng trật Tây Tạng thì cao cấp nhất là đức Đạt Lai Lạt Ma, kế tiếp là đức Ban Thiền Lạt Ma mà vị hoá thân đã bị Trung Quốc bắt cóc và giam giữ ở một nơi bí mật từ nhiều năm nay. Vị thứ ba chính là Ngài Đạo sư Sakya Trizin này.

Vừa rồi, vị Đạo sư thay mặt mọi người đọc kinh thỉnh nguyện dài hơn 45 phút cho đức Đạt Lai Lạt Ma được trường thọ và còn hiện hữu trên thế gian này để cứu giúp dân tộc Tây Tạng và hoằng dương Phật pháp trên toàn thế giới. Sau đấy, Ngài dẫn đầu một đoàn người lên tới cả trăm để dâng phẩm vật cúng dường lên đức Đạt Lai Lạt Ma. 

Đáng chú ý nhất trong buổi lễ là sự xuất hiện của hai người, một nam một nữ, mặc trang phục rực rỡ màu sắc của các vị tiên tri được đồng nhập để loan báo một số chuyện vị lai cho riêng đức Đạt Lai Lạt Ma. Tiếng Anh gọi nhân vật này là Oracle.

Âm thanh và cảnh sắc tạo ra không khí trang nghiêm thần bí cho mọi người. Theo tín ngưỡng Tây Tạng, một vị thần nhân siêu phàm là Palden Lhamo có thể biết trước mọi sự và đầu năm thông báo tin tức theo thể thức bí truyền cho đức Đạt Lai Lạt Ma. Người tiếp nhận thông tin ấy được gọi theo tiếng Tây Tạng là Nechung, mà nếu tôi không lầm thì ta gọi là "chu cô" theo lối âm Hán Việt. Nhìn cảnh tượng đồng nhập rồi đồng thăng sau khi thì thầm với đức Đạt Lai Lạt Ma nay đã thay mão màu đỏ, chúng tôi có cảm giác bàng hoàng, rất lạ.

Cuối buổi lễ, các vị sư trẻ khuân từ trong điện ra hàng núi thức ăn và phẩm vật cúng dường để chia lộc Phật cho mọi người, cho cả vạn người ngồi la liệt khắp nơi. Riêng tôi thì giật mình thấy rất nhiều người da trắng vái lạy và nhận bánh được phát như một báu vật và kính cẩn ngồi ăn dưới đất. Thế rồi họ chồm dậy để quỳ lạy khi đức Đạt Lai Lạt Ma cùng hàng giáo phẩm Tây Tạng bước xuống và chen khỏi đám đông sùng bái để trở về tư thất. Buổi lễ kéo dài đúng hai tiếng 42 phút, và lần này, dưới ánh nắng chan hoà.

Tường thuật từ Dharamsala, Ấn Độ.

RFA & NGUYỄN XUÂN NGHĨA 
3/19/2007, 12:02:00 AM

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap