9
TRÍ
HUỆ
1.
Tất cả những ngành này của Giáo Pháp
Bậc
Đại Lực đã diễn bày để vì trí huệ.
Bởi
thế, những ai muốn chấm dứt sanh tử
Phải
phát sanh trí huệ này.
Có
nhiều loại trí huệ. Chẳng hạn, có hai loại trí huệ tương
đối đạt được qua sự nghiên cứu năm khoa học chính truyền
thống.(39) Cũng có trí huệ để làm việc cho sự lợi lạc
của những người khác. Khi Shantideva nói ở đây rằng “Tất
cả những ngành này của giáo pháp đã được diễn bày để
vì trí huệ,” ngài nhắm chỉ đến trí huệ chứng ngộ tánh
Không, thực tánh của mọi sự vật. Đây là trí huệ tối
hậu.
Để
thấu hiểu tánh Không, chúng ta không cần năm ba la mật đầu,
và chúng cũng không thiết yếu ngay cả cho sự khai triển cái
quán thấy sáng tỏ của vipashyana. Nhưng như chúng ta sẽ thấy,
chúng là cần thiết nếu chúng ta muốn làm lợi lạc cho những
chúng sanh khác.
Nagarjuna
nói trong Bảy Mươi Bài Kệ về tánh Không :
Như
thế, đức Phật nói :
Mọi
sự vật khởi sanh từ những nguyên nhân và điều kiện ;
Thấy
chúng có thực tức là vô minh
Từ
đây khởi sanh chuỗi mười hai nhân duyên.(40)
Hơn
nữa, có nói trong Bốn Trăm Bài Kệ :
Hạt
giống của hiện hữu sanh tử là thức ;
Những
hiện tượng là cánh đồng của thức.
Nếu
chúng ta thấy sự không thực của sự vật,
Là
chúng ta hủy hoại hạt giống của hiện hữu sanh tử.
Những
đoạn này có thể được giải thích theo nhiều cách, nhưng
theo truyền thống của Chandrakirti, là truyền thống mà Shantideva
gắn liền, giáo lý của Nagarjuna và dòng của các ngài nói
rằng bám chấp vào cái ngã như là một thực thể tức là
vô minh, và sự vô minh tin rằng những hiện tượng thực sự
hiện hữu ấy tạo thành một vòng xích mười hai nhân duyên.
Điều ấy làm khởi sanh hiện hữu sanh tử, đến lượt cái
này là một vòng xích mười hai nhân duyên khác.
Đoạn
thứ hai phát biểu rằng hạt giống của hiện hữu sanh tử
này là loại thức có những đối tượng, hay hiện tượng,
như là cánh đồng của kinh nghiệm nó. Nếu những đối tượng
này được hiểu là không có thực tại tối hậu, vô tự
tánh, hạt giống này của hiện hữu sẽ bị phá hủy, và
nó bị hủy hoại hoàn toàn khi trí huệ thấu hiểu rằng những
hiện tượng là không có hiện hữu chân thực được khai
triển hoàn toàn.
Mọi
trường phái của Phật giáo, với một thiểu số ngoại trừ,
chấp nhận rằng ý niệm một cái ngã của con người, cái
tôi, là tùy thuộc vào năm hợp uẩn. Chúng bác bỏ niềm tin
vào một cái ngã hiện hữu độc lập với năm uẩn này. Lý
thuyết vô ngã tuy nhiên còn đi rất xa hơn là sự phủ nhận
cái tôi của con người. Người ta phải nhắm đến thấu hiểu
rằng mọi hiện tượng là trống không, không có hiện hữu
thực, vô tự tánh và thật ra có một cách thế hiện hữu
cực kỳ vi tế.
Như
chúng ta đã nói, khi chúng ta thấy rằng những hiện tượng
hay đối tượng của tâm thức thì không có thực thể nào,
hạt giống của hiện hữu sanh tử bị phá hủy. Cái ngược
lại với cái hiểu này là bám chấp vào niềm tin rằng sự
vật có một thực tại cứng đặc, và đây là định nghĩa
của vô minh.
Là
một sai lầm khi tin rằng những người thực hành những thừa
thấp là không thể tự giải thoát khỏi những thức tình
tiêu cực và nhờ đó đạt được giải thoát khỏi sanh tử.
Thật vậy, nghĩ như thế ấy là một vi phạm trọng yếu những
giới luật Bồ tát. Khi những người theo những con đường
của Thanh Văn và Độc Giác Phật trở thành A La Hán,(41) họ
hoàn toàn thoát khỏi những che chướng sanh ra bởi những thức
tình tiêu cực. Họ cũng phải có một chứng ngộ tánh Không,
nếu khác đi, họ không thể giải thoát khỏi sanh tử. Trí
huệ thấu hiểu tánh Không thật ra đem lại ba loại giác ngộ
: của Thanh Văn, của Độc Giác Phật và của Bồ tát.
Khi
Shantideva nói, “Tất cả những ngành này của Giáo Pháp /
Bậc Đại Lực đã diễn bày để vì trí huệ,” ngài ám
chỉ đến trí huệ của Bồ tát và không phải đến cái quán
thấy tánh Không được tu hành bởi Thanh Văn và Độc Giác
Phật khi các ngài tiến bộ trên những con đường tương ứng
của các ngài. Vậy thì cái gì là đặc biệt nơi trí huệ
của Bồ tát ? Tại sao họ thiền định về tánh Không ? Những
Bồ tát nhằm giải thoát mình không chỉ khỏi những che chướng
tạo ra bởi những thức tình tiêu cực mà còn khỏi những
che chướng chúng là những trở ngại đối với hiểu biết.
Họ phải giải thoát khỏi cái trước, trước khi họ có thể
giải quyết cái sau.
Tuy
nhiên, có thể nói rằng trong một số trường hợp nào đó
những thức tình tiêu cực cung cấp cơ hội cho một kết quả
tốt, như khi sự thương yêu những người khác khởi lên qua
tham muốn. Như tục ngữ nói, “Chất thải hôi thối từ thành
phố Serkya làm phân bón màu mỡ cho những cánh đồng mía.”
Tuy nhiên, quả thật những kẻ thù thực sự của Bồ tát,
và những ngăn cản lớn nhất trong công việc của họ vì
những người khác, là những che chướng phủ che toàn giác.
Nhưng bởi vì những cái này nằm trong những dấu vết còn
lại do những thức tình tiêu cực để lại, từ đó mà cái
sau phải được trừ bỏ trước khi những chướng ngại cho
hiểu biết có thể được dở đi.
Như
thế, khi những Bồ tát thiền định về tánh Không, mục tiêu
của họ là chủ yếu trừ diệt những chướng ngại này đối
với hiểu biết. Để làm điều này, chỉ có một cái hiểu
thuộc trí thức về bản chất vi tế của sự vật thì không
đủ. Trí huệ trừ diệt những che chướng này phải được
nâng đỡ bởi những thực hành như rộng lượng và các ba
la mật khác.(42) Đức Phật dạy những thực hành khác nhau
này khiến những Bồ tát có thể đạt được sự quán thấy
sáng tỏ qua đó họ trừ diệt những chướng ngại đối với
hiểu biết và rồi làm việc cho lợi lạc của những người
khác.
Nói
về sự phát sanh trí huệ để chấm dứt khổ đau, Shantideva
ám chỉ đến khổ đau của tất cả chúng sanh. Dù sao, bản
văn này là để nói về những hoạt động của Bồ tát, và
chẳng phải chúng ta chỉ mới bàn luận cái gì là sai lầm
trong sự yêu chuộng bản thân mình và tại sao là quan trọng
trong sự việc nghĩ đến những người khác sao ?
Khi
rộng lượng… được thực hành như những ba la mật, được
thực hành với một thấu hiểu rằng chủ thể, đối tượng
và bản thân hành động, tất cả đều không có hiện hữu
chân thật, đều vô tự tánh, khi ấy những hành động này
trở nên rất sâu xa và hoàn toàn siêu việt sự rộng lượng
bình thường…
Chúng
ta cần ghi nhận rằng Shantideva nói về rộng lượng trước
tiên và đặt chủ đề trí huệ chỉ ở sau cùng. Ngài có
một lý do cho điều ấy. Trong Toát Yếu Mọi Thực Hành ngay
trước khi bắt đầu sự diễn giải của ngài về tánh Không,
ngài trình bày với nhiều dẫn chứng từ các kinh rằng chính
đức Phật, trước khi bắt đầu nói về cùng chủ đề, đã
nói về tính không hấp dẫn và vô thường của những hiện
tượng và về bản chất của khổ. Người ta có thể hầu
như nghĩ rằng thế giới của những hiện tượng là chủ
đề chính của lời dạy của ngài, bởi vì chỉ khi kết luận
ngài mới nói rằng những sự vật không có hiện hữu thực
sự và khách quan. Tuy nhiên, có một lý do cực kỳ quan trọng
trong việc làm của ngài theo cách ấy. Để bắt đầu, ngài
bàn luận những mặt tích cực và tiêu cực của sự vật,
đặt nền tảng cho một sự thấu hiểu rõ ràng về chức
năng không sai chạy của chân lý tương đối, theo đó những
sự vật đúng là hiện hữu. Chính trên nền tảng của hiện
hữu tương đối của chúng mà đức Phật giải thích rằng
những hiện tượng là vô tự tánh. Chỉ ở nơi có một nền
tảng mới có thể xác nhận tánh Không. Như có nói : “Hình
thể là tánh Không ; tánh Không là hình thể.” Bởi vì có
hình thể, chúng ta mới có thể nói về sự không hiện hữu
của nó. Nếu không có hình thể, cũng không có tánh Không
của hình thể. Khi có những hiện tượng mà chúng ta có thể
nói đến như là trống không, chúng ta nói có một căn cứ
cho tánh Không. Không có căn cứ đó, tánh Không là không thể
quan niệm được.
Một
giải thích những thực hành của cái đầu tiên trong năm ba
la mật, bắt đầu với rộng lượng, cho chúng ta một cái
thấy rõ ràng về căn cứ cho tánh Không. Ví dụ khi chúng ta
thực hành về rộng lượng để loại trừ cho bản thân chúng
ta và những người khác mọi khổ đau do nghèo cùng, chúng
ta nhận biết chân lý tương đối của nhân và quả. Khi được
giải thích sau đó rằng, trong chân lý tuyệt đối, tất cả
mọi cái ấy thực sự không có hiện hữu thật, chúng ta đã
được đặt nền vững chắc trong chân lý tương đối và
như thế được bảo vệ khỏi lạc vào những cực đoan triết
học của thường còn và đoạn diệt.
2.
Quy ước và tối hậu –
Hai
chân lý này được tuyên bố là hiện hữu.
Chân
lý tối hậu thì không ở trong phạm vi của trí thức,
Vì
trí thức được cho là quy ước.
Có
một sự phân biệt, về những sự vật có thể hiểu biết
được, giữa chân lý tương đối (quy ước) và chân lý tuyệt
đối (tối hậu). Theo bản văn gốc, chân lý tuyệt đối không
thể tri giác được bằng trí thức.
Như
chúng ta thấy trong Bát Nhã ba la mật :
Trí
huệ ba la mật thì không quan niệm được, không biểu lộ
được và không diễn tả được.
Nó
không sanh, không diệt ; như hư không.
Chỉ
có một tâm giác ngộ mới có thể hiểu biết nó.
Trước
Bà Mẹ của tất cả chư Phật, con xin đảnh lễ.
Lại
nữa trong Kinh Kim Cương Cắt Đứt nói :
Bản
tánh tuyệt đối của chư Phật,
Thân
thể tuyệt đối của những vị hướng dẫn tâm linh,
Không
thể được hiểu bằng trí thức.
Lý
do của điều này, như Shantideva nói, là trí thức là một
cái gì hiện hữu nơi mức độ của chân lý tương đối.
Tuy nhiên, sự giải thích về điểm này là tế nhị, vì ở
sau trong bản văn, chúng ta sẽ đọc về loại khác của trí
thức và thông minh. Shantideva tiếp tục :
3.
Hai loại người được phân biệt :
Thiền
giả và người thường.
Những
ý niệm của người thường sụp đổ,
Bị
những tri kiến của những thiền giả bác bỏ.
4.
Và trong hàng những thiền giả này
Cái
thấp hơn trong mức độ quán chiếu bị bác bỏ bởi cái cao
hơn.
Những
so sánh được cùng chủ trương ;
Và
để hoàn thành mục đích, phân tích bị bỏ qua một bên.
Khi
bản văn nói đến quán chiếu hay thông minh, nó ám chỉ sự
thấu hiểu về sự không có hiện hữu chân thật. Trong việc
sử dụng trí huệ phân biệt để phân tích những hiện tượng,
những trường phái khác nhau đạt được những mức độ
khác nhau của sự thấu hiểu này, và những cái nào với những
tri kiến triết học cao hơn bác bỏ những tri kiến kém tiến
bộ hơn.
Vả
lại, có hai loại trí huệ phân biệt. Một cái phân biệt
sự vật theo chân lý tương đối, và cái kia phân biệt sự
vật theo chân lý tuyệt đối. Ở đây trong bản văn, quán
chiếu hay thông minh, ám chỉ trí huệ phân biệt nó phân tích
bản chất tuyệt đối của những sự vật và không phải
là thông minh trong nghĩa thông thường hơn về những hiện
tượng tương đối. Và nếu bài kệ được xem xét theo con
đường sâu xa và con đường rộng lớn, thì chính là con đường
sâu xa mà nó ám chỉ đến.
Có
nói trong Đi Vào trung Đạo : “Người ở mức độ đi xa thêm
có trí thông minh cao cấp.” Khi một Bồ tát đạt đến địa
thứ bảy, ngài được gọi là đi xa thêm (viễn hành địa),
thông minh của ngài vượt hơn thông minh của một Thanh Văn
hay Độc Giác Phật. Cho đến lúc đó, những Bồ tát từ địa
thứ nhất trở lên vượt hơn Thanh Văn và Độc Giác Phật
bởi vì gia tộc của các ngài, chứ không bởi vì năng lực
của trí thông minh của các ngài, hay sự thấu hiểu tánh Không
của các ngài.(43) Chỉ khi các ngài đạt đến địa thứ bảy,
trí thông minh của các ngài mới cao hơn. Cũng có nói rằng
ở điểm này các ngài vượt hơn Thanh Văn và Độc Giác Phật
với khả năng của các ngài, trong một khoảnh khắc, nhập
vào và khởi lên khỏi diệt tận định.
Khi
Shantideva nói rằng chân lý tuyệt đối không thể được tri
giác bằng trí thức, ngài không ám chỉ đến trí thông minh
nhận biết chân lý tuyệt đối mà là đến trí thông minh
bị che chướng, nó quan niệm ra sự phân hai của chủ thể
và đối tượng. Chân lý tuyệt đối là cái gì chúng ta phải
trải nghiệm với một tâm thoát khỏi những ý niệm và trong
đó không có những ý niệm nhị nguyên như thế. Chân lý tương
đối là cái được tri giác bởi trí thông minh nhị nguyên,
ý niệm.
Những
truyền thống không phải Phật giáo của Ấn Độ cổ thời
cũng nói về những chân lý tuyệt đối và tương đối. Những
nhà Samkhya chẳng hạn, nhìn bản chất nguyên sơ như chân lý
tuyệt đối, và cái còn lại tức là hai mươi lăm đối tượng
của hiểu biết (như cái Ngã) như chân lý tương đối. Ngay
giữa những trường phái Phật giáo khác nhau – Vaibhashika,
Sautrantika, Chittamatra và Madhyamika – hai chân lý được giải
thích theo những đường lối có hơi khác biệt.
Từ
tương đối đôi khi được gọi là một chân lý che ám và
đôi khi là một chân lý quy ước, tùy theo mạch văn. Và chân
lý tuyệt đối cũng có thể có nhiều nghĩa khác nhau. Khảo
Luận về Trung Tâm và những Cực Đoan nói đến chân lý tuyệt
đối tuyệt đối, chân lý tuyệt đối thực hành, và chân
lý tuyệt đối đạt được. Lại nữa, trong Mật thừa tối
thượng người ta nói đến quang minh tuyệt đối. Hơn nữa,
để giải thích những thực hành đặc biệt của Mật thừa,
hai chân lý được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Ví
dụ, phương diện như huyễn và vô thường của những hiện
tượng là thuộc về chân lý tương đối, trong khi phương
diện tương tục bổn nhiên của chúng thuộc về chân lý tuyệt
đối.
Bởi
thế khi chúng ta nói về chân lý tuyệt đối, chúng ta luôn
luôn cần quy chiếu với văn cảnh, hoặc Kinh thừa hay Mật
thừa, và nếu Mật thừa, thì với tantra riêng biệt. Bấy
giờ chúng ta nắm được một cái hiểu chính xác về chân
lý tuyệt đối trong mạch văn đó. Điều này rất quan trọng.
Nếu chúng ta cố gắng áp dụng chỉ một cái hiểu tổng quát
về chân lý tuyệt đối cho bản văn đặc biệt nào đó, chúng
ta có thể rất bối rối, lầm lộn.
Có
nói trong Những Bài Kệ Gốc của Trung Đạo rằng những lời
dạy của Phật dựa vào hai chân lý : chân lý của thế giới
tương đối và cái tối thượng, chân lý tuyệt đối. Điều
này được giải thích chi tiết trong Đi Vào Trung Đạo, nó
nói rằng, vì tất cả hiện tượng được tri giác theo cả
hai cách đúng đắn và sai lầm, chúng ta hiểu bản chất của
chúng theo hai cách. Cách được tri giác đúng là chân lý tuyệt
đối, và cách được tri giác không đúng là chân lý tương
đối. Điều này ám chỉ đến những phát hiện của kinh nghiệm
không ý niệm, thuộc về chân lý tuyệt đối, và những phát
hiện của phân tích ý niệm, thuộc về chân lý tương đối.
Chính trên căn cứ của những cái này mà chúng ta kiến lập
sự hiểu biết về tánh Không. Nhưng ở đây chúng ta chỉ
nói về kinh nghiệm không ý niệm của chân lý tuyệt đối.
Với ngoại lệ này, những cách thức phân biệt những chân
lý là giống nhau như trong Đi Vào Trung Đạo.
Tại
sao chúng ta cần chứng ngộ tánh Không ? Chúng ta không muốn
khổ đau, và chúng ta biết rằng gốc rễ của khổ đau là
tâm thức không được thuần hóa. Vì do tâm thức tri giác
và hiểu biết sự vật một cách sai lầm, những tình thức
tiêu cực khởi lên và tâm thức không bao giờ bình yên. Đây
là lý do tại sao chúng ta khổ. Để không khổ, chúng ta phải
khai triển cái tâm thức không sai lầm, trí thông minh tri giác
chân tánh của những hiện tượng. Tri giác sai lầm khởi sanh
bởi vì chúng ta không thấy được những sự vật như chúng
là.
Nhiều
cái chúng ta tri giác thì chúng ta tri giác trong một cách sai
lầm, thấy sự vật không như chúng thật sự là. Do vậy mà
chúng ta bị lừa gạt. Để không bị lừa gạt, chúng ta không
nên chấp nhận những tri giác của chúng ta đúng như chúng
ta kinh nghiệm chúng. Rất quan trọng phải phân tích và thẩm
xét chúng ta đang nhìn sự vật có đúng như chúng thực sự
là hay không. Chúng ta nên tự hỏi cái gì những tri giác của
chúng ta đang che đậy. Nếu chúng ta làm thế, một thấu hiểu
về hai chân lý sẽ sanh khởi trong tâm thức chúng ta.
Mọi
sự chúng ta tri giác – núi non, nhà cửa… – tác động chúng
ta theo cách này hay cách khác. Chúng ta cần thẩm xét thực
tánh của chúng. Những tri giác của chúng ta, và những phương
diện tích cực và tiêu cực mà chúng ta góp thêm cho chúng,
tạo thành chân lý tương đối. Chân lý tương đối là cái
chúng ta tìm thấy khi chúng ta kinh nghiệm sự đa thù của những
hiện tượng trong một cách thức tương đối, không tiến
thêm trong việc phân tích bản chất của chúng. Những phát
hiện của phân tích bởi tâm thức quy ước tạo thành chân
lý tương đối.
Nếu,
theo chân lý tuyệt đối, những sự vật không có hiện hữu
chân thật, vô tự tánh, thì tại sao chúng ta nói đến chân
lý tương đối như là chân lý ? Bởi vì nó là thật đối
với người tri giác. Nó là thật đối với tâm thức bị
vô minh che phủ, tâm thức ấy tin vào thực tại của những
tri giác của nó. Như Đi Vào Trung Đạo nói, cái bị biến
đổi và che ám bởi vô minh và được tri giác như là thật
thì được gọi là chân lý tương đối.
Đối
với tâm thức nào thì sự đa thù của những hiện tượng
là thật ? Chỉ có thể là cái tâm thức vô minh lầm loạn
nó tin rằng những sự vật hiện hữu một cách khách quan.
Thật tánh của những sự vật bị che ám bởi sự bám chấp
vô minh của tâm thức vào những sự vật và vào cách thức
chúng hoạt động. Như thế, chân lý tương đối căn cứ trên
những phát hiện của tâm thức nó khảo sát sự vật theo
một cách quy ước. Nếu chúng ta phân tích hơn nữa và cố
gắng nhìn thấy bản tánh thực của những hiện tượng, chúng
ta có thể phát hiện bản tánh tối hậu của thực tại. Ở
đây chúng ta phân biệt giữa cách thức những sự vật xuất
hiện (chân lý tương đối) và cách thức chúng thật sự là
(chân lý tuyệt đối), nó là cái được tri giác bởi tâm
thức không bị lừa gạt.
Có
hai cách để tiếp cận chân lý tuyệt đối : một hình dung
tích cực về nó có thể đạt được qua nghe, tư duy, và thiền
định, và một sự thấu hiểu về nó nhờ vào phủ định
có thể đạt được bởi phân tích. Đối với lý trí thì
rõ ràng là nếu người ta có thể phát hiện qua phân tích
cái gì thực sự hiện hữu thì người cũng có thể phát hiện
nó qua nghe, tư duy và thiền định. Nhưng sự kiện là, cái
người ta có thể phát hiện qua nghe, tư duy và thiền định
thì không thể phát hiện bởi phân tích. Chẳng hạn, bản
tánh tuyệt đối là cái gì có thể được kinh nghiệm qua
nghe, tư duy và thiền định. Khi người ta thẩm xét bản tánh
của cá nhân và của tất cả hiện tượng, người ta phát
hiện rằng bản tánh của chúng là tánh Không. Tánh Không này
là một chân lý tuyệt đối nó lộ rõ với tâm thức. Người
ta có thể thấy nó với tỉnh giác của mình. Một khi nó đã
được kinh nghiệm, không cần thiết phải trở lại chứng
minh, giải thích nó. Bằng cách quy chiếu vào kinh nghiệm của
mình về bản tánh này mà người ta có thể nhớ lại, nắm
lại nó. Sự hiện hữu của nó là thật, và người ta không
phải nương dựa vào biện luận để chứng minh rằng nó có.
Thế nên khi người ta có một xác tín nào đó rằng không
có hiện tượng nào là thực sự hiện hữu, người ta không
cần giải thích điều đó trở lại hay lập lại sự thẩm
xét. Bản tánh tuyệt đối này được xác minh qua nghe, tư
duy, và thiền định là cái chúng ta có thể kinh nghiệm.
Tuy
nhiên, khi người ta trông chờ bản tánh tuyệt đối này hay
là tánh Không, và cố gắng tìm ra nó ở đâu, người ta không
thể tìm thấy nó. Bản tánh của nó là không hiện hữu. Khi
người ta lấy bản tánh tuyệt đối (mà người ta đã kinh
nghiệm qua nghe, tư duy và thiền định) làm đối tượng để
phân tích, người ta không thể tìm thấy nó. Đấy là vì sao
nó được gọi là không hiện hữu tự bản chất. Lấy một
ví dụ, chúng ta có thể nói rằng một cái bình có bản chất
tánh Không, nhưng khi chúng ta tìm kiếm tánh Không ấy, nó là
không hiện hữu. Tất cả cái mà chúng ta có thể tìm thấy
là tánh Không của tánh Không, nhưng chúng ta không thể tìm
thấy tánh Không. Cái đã được tìm thấy bằng cách kinh nghiệm
nó qua nghe, tư duy và thiền định không thể được tìm thấy
qua phân tích như vậy.
Đây
là một điểm quan trọng. Sự thấu hiểu về chân lý tuyệt
đối đến từ nghe, tư duy, và thiền định là một cái gì
có thật và có thể được kinh nghiệm. Nhưng ở trong chân
lý tuyệt đối nó xuất hiện qua sự phân tích về chính bản
thân tánh Không, không có cái gì hiện hữu cả.