Nguyên
bản :
A
FLASH OF LIGHTNING IN THE DARK OF NIGHT
A
Guide to the Bodhisattva’s Way of Life
SHAMBHALA.
Boston & London 1994
Nguyện
Bồ đề tâm qúy báu nảy sinh
Ở
những ai nó chưa được phát sinh.
Và
nơi nào nó đã sanh ra,chớ để dừng tắt,
Mà
ngày càng lớn rộng khắp nơi nơi.
NỘI
DUNG
Lời
nói đầu của nhà xuất bản
Ghi
chú của những dịch giả
Dẫn
nhập: Con đường của Bồ tát
01.
Những lợi lạc của Bồ đề tâm
02.
Cúng dường và tịnh hóa
03.
Ôm lấy Bồ đề tâm
04.
Cẩn thận
05.
Chú ý
06.
Nhẫn nhục
07.
Tinh tấn
08.
Thiền định
09.
Trí huệ
10.
Hồi hướng
Chú
thích - Thuật ngữ
Lời
nói đầu
của
nhà xuất bản
Bồ
Tát Hạnh của Shantideva là một tác phẩm đã từng
được nhiều người trong chúng ta biết đến. Bồ đề tâm
và Bồ tát hạnh chúng ta cũng từng biết với chi tiết qua
những bộ kinh phổ biến rộng như kinh Hoa Nghiêm. Trong Một
Tia Sấm Chớp Sáng Trong Đêm Tối chúng ta được đức
Dalai Lama giảng dạy cho nghe về Bồ Tát Hạnh trong trọn một
tuần lễ vào tháng Tám 1991 ở Dordogne, miền tây nam nước
Pháp.
Điều
đặc biệt của cuốn sách này là nó được giảng giải theo
một truyền thống nhấn mạnh vào thực hành và bởi
một người được hàng triệu Phật tử của nhiều nước
xem là hiện thân của vị Phật của lòng Đại Bi, hay Bồ
tát Quán Thế Âm. Sự giảng giải về Bồ Tát Hạnh bởi một
vị Đại Bồ tát “Thiện ứng chư phương sở. Hoằng thệ
thâm như hải. Lịch kiếp bất tư nghì. Thị đa thiên ức
Phật. Phát đại thanh tịnh nguyện” (phẩm Phổ Môn),
chắc hẳn phải là đặc biệt.
Sự
đặc biệt đó không nằm trong những từ hoa mỹ, những tư
tưởng cầu kỳ, mà nằm trong sự giản dị, bao la và sâu
xa của tấm lòng đại bi vị tha của ngài ; và bởi thế nó
đánh động vào nơi thâm sâu của con người mỗi chúng ta.
Trong tác phẩm này cũng như trong những tác phẩm khác của
ngài, lời giảng dạy của đức Dalai Lama giản dị, bao la
và sâu xa. Giản dị, bao la và sâu xa như chính con người,
cuộc đời và thế giới.
Về
truyền thống thực hành, nó là nội dung thực sự của Phật
giáo. Bởi vì Phật giáo là sự thực hành Pháp của Phật
để chứng ngộ thực tại hầu làm lợi lạc cho mình và cho
người. Trong cuốn sách này, đức Dalai Lama nói : “Hơn
nữa những học giả Tây Tạng không bao giờ không biết đến
phương diện thực hành, và những hành giả có nhiều kinh
nghiệm tu chứng không hề xao lãng việc nghiên cứu. Điều
này với tôi là một đường lối rất tốt” (phần
Dẫn Nhập). Truyền thống nhấn mạnh vào thực hành này, cả
trước và sau thời Lý Trần – thời tiêu biểu của Phật
giáo Việt Nam – chúng ta cũng có, nhưng trải qua những thế
kỷ chiến tranh – nếu chỉ kể một trong những lý do chính
– nó đã bị mai một phần nào. Bởi thế, những tác phẩm
Phật giáo của những truyền thống thực hành khác nhau hẳn
sẽ ích lợi cho chúng ta trong bối cảnh ấy.
Ước
mong cuốn sách này đến được với nhiều người chú trọng
đến Bồ đề tâm, sức mạnh của sự thực hành của chính
họ và cũng là sức mạnh của dòng tương tục Phật giáo.
Tháng
12 năm 1998
Nhà
xuất bản Thiện Tri Thức.
GHI
CHÚ CỦA NHỮNG DỊCH GIẢ
Dầu
Dalai Lama đã trở nên một gương mặt quen thuộc ở Tây phương,
với nhiều sách xuất bản và những xuất hiện thường xuyên
trên vô tuyến truyền hình và trong các phòng hội thảo, cuốn
sách này đánh dấu một biến cố khác thường trong dịp ngài
viếng thăm châu Âu và Bắc Mỹ. Trong trọn một tuần lễ,
với một thính chúng hơn hai ngàn người dưới một lều vải
khổng lồ, ngài đã ban cho một giảng dạy truyền thống về
một tác phẩm cổ điển vĩ đại của văn học Phật giáo.
Bồ
Tát Hạnh của Shantideva là một bản văn bao trùm toàn bộ
con đường đi đến giác ngộ, và bởi vì nó không bao giờ
thôi gây nguồn cảm hứng, nó chứa đựng những phần đòi
hỏi bình giải chi tiết nếu chúng muốn được hiểu trọn
vẹn. Một bình giải nói miệng có thể cần vài tháng, và
với thời gian có được, không thể cho ngài bao trùm hết
tất cả ngoài những điểm chính yếu Shantideva trình bày.
Đặc biệt ngài chỉ có thể cho một dẫn nhập ngắn của
chương thứ chín rất khó, mà ngài định dạy chi tiết hơn
vào tháng Mười Một 1993. Cũng không có thời gian để ngài
bình giải chương thứ mười.
Một
hay hai chi tiết đặc biệt trong những tình huống của việc
giảng dạy xuất hiện trong sách này. Trong chương ba, khi ngài
giải thích phần này của bản văn, ngài mời những người
hiện diện phát Thệ Nguyện Bồ tát, dùng những lời của
Shantideva như là một nền tảng. Chương mười ở đây chủ
yếu là lời khuyên kết luận của Ngài trong sự hồi hướng
đánh dấu kết thúc những lời dạy.
Một
toan tính được làm trong bản dịch cuốn sách này, trong cả
hai bản văn gốc và bình giải, để tránh dùng một cách tổng
quát những đại danh từ giống đực mà người Tây Tạng,
một cách thuận tiện, thường không dùng đại danh từ nào.
Tuy nhiên, vì những lý do của giọng văn – đặc biệt trong
những câu kệ gốc trong đó sự chính xác và nhịp điệu
cũng rất được coi trọng – điều này không luôn luôn có
thể được. Nếu truyền thuyết về sự phổ biến lần đầu
tiên của bản văn này bởi Shantideva vào thế kỷ thứ tám
là đáng tin cậy, lời giảng dạy được gởi đến cho những
vị tăng đồng tu ở Nalanda, và ngôn ngữ và những ví dụ
ngài dùng liên hệ đến thính chúng toàn nam này. Trong lời
bình giải của mình, ngài Dalai Lama đã yêu cầu những độc
giả nữ chỉ hoán chuyển giới tính khi áp dụng những tư
tưởng của Shantideva (ví dụ trong thảo luận của ngài về
tham muốn xác thịt trong chương thứ tám) vào chính kinh nghiệm
của họ.
Trong
cuốn sách này, đức Dalai Lama biểu lộ sự hiểu biết sâu
xa của ngài, kết quả của sự tu học rộng rãi ngài đã
nhận được trong những trung tâm tu viện học tập ở Tây
Tạng, và cái thấy phi thường vào thân phận con người và
cái có nghĩa là một con người tốt và có trách nhiệm. Cách
thức đơn giản và linh hoạt trong đó ngài truyền thông những
chân lý mà ngài chứng tỏ bằng chính cuộc đời mình thì
được trình bày trong một giáo lý truyền thống Phật giáo.
Những phần của cuốn sách chứa đựng chất liệu có tính
cách hoàn toàn kỹ thuật, đòi hỏi một hiểu biết căn bản
về một số từ ngữ và ý niệm Phật giáo. Những giải thích
ngắn gọn về những từ ngữ được dùng rộng rãi trong Phật
giáo được đưa ra trong phần Thuật ngữ. Những tên và từ
chỉ xuất hiện không thường được giảng trong Chú thích
ở cuối.
Ban
dịch thuật Padmakara.
MỘT
TIA SẤM CHỚP SÁNG TRONG ĐÊM TỐI
BỒ
TÁT HẠNH CỦA SHANTIDEVA
DO
DALAI LAMA GIẢNG GIẢI
DẪN
NHẬP
CON
ĐƯỜNG CỦA BỒ TÁT
Tôi
đã nhận sự truyền thọ Bhodicharyavatara (Bồ tát hạnh) từ
Tenzin Gyaltsen, vị Rinpoche Kunu,(1) chính người đã nhận nó
từ một đệ tử của Rinpoche Dza Patrul,(2) ngày nay được
xem là một trong những người kế thừa tâm linh chính của
giáo lý ngài. Có kể lại rằng khi Patrul Rinpoche giảng giải
bản văn này, những điềm lành xuất hiện, như hoa vàng nở,
những cánh hoa của chúng nhiều thật khác thường. Tôi cảm
thấy rất may mắn khi có thể đến phiên mình đưa cho một
bình giải về tác phẩm Phật giáo cổ điển vĩ đại này.
Shantideva(3)
tạo ra bản văn này trong hình thức một đối thoại nội
tâm. Ngài xoay những vũ khí của ngài vào chính ngài, chiến
đấu với những tình cảm tiêu cực của ngài. Bởi thế,
khi chúng ta dạy hay nghe bản văn này, điều quan trọng là
chúng ta làm thế để tiến bộ về tâm linh, hơn là xem nó
chỉ là một chủ đề nghiên cứu hàn lâm. Với điều này
trong tâm, chúng ta bắt đầu mỗi buổi giảng dạy bằng sự
bày tỏ lòng tôn kính với Phật và đọc tụng những đoạn
trích từ các kinh.
Bỏ
đi các điều xấu
Thực
hành tốt đức hạnh ;
Chinh
phục tâm của mình :
Đó
là lời Phật dạy
Như
một ngôi sao, một ảo ảnh, hay một ngọn lửa,
Một
huyễn hóa, một hạt sương, hay một bong bóng,
Như
một giấc mộng, một tia chớp, hay một đám mây –
Người
ta phải xem thấy mọi sự hợp thành là như thế.
Khi
đọc tụng những lời này, chúng ta nên nghĩ về tính vô thường
và không có thực tại trong những hiện tượng và kết luận
với một lời cầu nguyện và hồi hướng:
Bằng
công đức này, nguyện chúng ta đạt được toàn giác
Và
chiến thắng kẻ thù của chúng ta, những hành vi có hại của
chúng ta
Và
nguyện cho chúng sanh, bị nhồi dập bởi những ngọn sóng
của sanh, già, bệnh, chết,
Được
giải thoát khỏi đại dương sanh tử.
Tiếp
theo chúng ta đọc tụng Bát Nhã Tâm Kinh, Ngợi Ca đức Văn
Thù, và dâng cúng mạn đà la.(4) Những ai trong các bạn không
thể đọc tụng những bài này, có thể đơn giản nghĩ đến
lòng tốt của đức Phật và quán chiếu về cái thấy tánh
Không, nó là ý nghĩa của những Kinh Bát Nhã Ba La Mật.
Cuối
cùng chúng ta cần lập lại những lời nguyện, quy y và phát
tâm Bồ đề của chúng ta ba lần :
Trong
Tam Bảo Phật, Pháp và Tăng
Chúng
ta quy y cho đến lúc giác ngộ.
Bằng
công đức thực hành bố thí, trì giới…
Nguyện
chúng ta đạt đến Phật tánh vì sự lợi lạc cho chúng sanh.
Bây
giờ chúng ta bắt đầu sự nghiên cứu của mình về Bồ Tát
Hạnh.
Đức
Phật, đạo sư của những lời dạy này, bắt đầu bằng
phát sinh mong muốn giác ngộ. Bấy giờ ngài góp chứa những
việc lành qua nhiều đời trong ba vô số kiếp. Cuối cùng,
trong thời đại khi tuổi trung bình của con người là một
trăm năm, ngài đi vào thế giới này và đạt đến giác ngộ
trên Tòa Kim Cương ở Bồ đề Đạo tràng, Ấn Độ. Trong
hai mươi lăm thế kỷ từ khi ngài lần đầu tiên chuyển Bánh
Xe Pháp(5) về những giáo lý rộng và sâu, con đường Phật
giáo đã là một trong những truyền thống tâm linh quan trọng
nhất của thế giới.
Tôi
thường nhìn những giáo lý của Phật dưới hai chủ đề
: hoạt động và cái thấy. Hoạt động nghĩa là dừng lại
sự làm hại những người khác. Đây là một điều có ích
một cách phổ biến, một điều mà tất cả mọi người đều
tán thưởng dù họ có là tôn giáo hay không. Cái thấy ám
chỉ đến nguyên lý phụ thuộc lẫn nhau (duyên sanh). Hạnh
phúc và đau khổ, và những chúng sanh trải nghiệm chúng, không
phải khởi ra mà không có nguyên nhân cũng không phải chúng
được gây ra bởi một đấng sáng tạo vĩnh cửu nào. Thật
vậy, mọi sự khởi từ những nguyên nhân tương đương với
chúng. Ý tưởng này được mọi tông phái Phật giáo chủ
trương, và như vậy tôi thường nói rằng quan kiến của chúng
ta là cái thấy phụ thuộc lẫn nhau.
Cái
thấy phụ thuộc lẫn nhau tạo cho một sự khai mở lớn lao
của tâm thức. Nói chung, thay vì thấu hiểu rằng điều chúng
ta trải nghiệm khởi sanh từ một mạng phức tạp những nguyên
nhân, chúng ta lại có khuynh hướng đổ gán vui hay buồn, chẳng
hạn, cho những nguồn gốc đơn lẻ, cá nhân. Nhưng nếu là
như thế, ngay khi chúng ta tiếp xúc với cái mà chúng ta cho
là tốt, đáng lẽ chúng ta vui một cách tự động, và ngược
lại, trong trường hợp những cái xấu, chắc chắn phải buồn.
Những nguyên nhân của vui vẻ và phiền muộn thì dễ dàng
để nhận ra và nhắm tới. Thật hoàn toàn đơn giản, và
có lý do chắc chắn cho sự giận dữ và luyến ái của chúng
ta. Ngược lại, khi chúng ta xem mọi sự khi chúng ta trải nghiệm
tạo thành từ một tương tác phức tạp của những nhân và
duyên, chúng ta thấy rằng không có sự vật đơn lẻ nào để
ham muốn hay ghét bỏ, và càng khó hơn cho những phiền não
luyến ái hay ghét bỏ nảy sanh. Theo cách này, cái thấy phụ
thuộc lẫn nhau làm cho tâm thức chúng ta thư giãn và mở ra
hơn.
Bằng
cách tu hành tâm thức chúng ta và quen thuộc với cái thấy
này, chúng ta thay đổi cách nhìn về các sự vật, và như
một kết quả, chúng ta dần dần thay đổi thái độ và ít
làm hại cho những người khác. Như có nói trong kinh :
Bỏ
đi các điều xấu ;
Thực
hành tốt đức hạnh ;
Chinh
phục tâm của mình :
Đó
là lời Phật dạy.
Chúng
ta cần tránh ngay cả những hành động xấu nhỏ nhất, và
cần thực hiện ngay cả những hành động tốt rất tầm thường
mà không hạ thấp giá trị của chúng. Lý do cho điều này
là hạnh phúc mà tất cả chúng ta đều muốn và khổ đau
mà tất cả chúng ta đều tránh được tạo ra một cách chính
xác bởi những hành động của chúng ta, hay là nghiệp. Mỗi
sự việc chúng ta nếm trải đã và đang được lập chương
trình bởi những hành động của chúng ta, và những hành động
ấy lại tùy thuộc vào thái độ của chúng ta. Bất cứ điều
gì chúng ta làm, nói hay nghĩ trong thời trẻ là nguyên nhân
của hạnh phúc và khổ đau chúng ta trải nghiệm trong tuổi
già. Hơn nữa, điều chúng ta làm trong đời này sẽ quyết
định hạnh phúc hay khổ đau của đời kế tiếp. Và những
hành động của kiếp (kalpa) này sẽ thành tựu trong những
trải nghiệm của kiếp tương lai. Đây là cái mà chúng ta
hiểu là định luật của nghiệp, định luật nhân quả.
Trên
căn bản này, một hành động được gọi là tiêu cực hay
xấu nếu nó đưa đến khổ đau, là cái mà chúng ta muốn
tránh. Nó được gọi là tích cực hay tốt nếu nó đưa đến
hạnh phúc, là điều chúng ta mong muốn. Chúng ta xem một hành
động là tốt hay xấu không phải theo phần của nó mà theo
việc nó dẫn đến vui vẻ hay buồn rầu. Điều này hoàn toàn
tùy thuộc vào động lực, và bởi thế, kinh nói, “Chinh phục
tâm của mình.” Một tâm thức không có kỷ luật sẽ trải
nghiệm khổ đau, nhưng một tâm thức có được sự kiểm
soát sẽ vui vẻ và an bình.
Biết
tất cả những phương pháp để điều phục tâm thức qua
những lời dạy về con đường rộng lớn và sâu xa là điều
quan trọng. Cái đối nghịch với giận ghét là thiền định
về tình thương. Để chinh phục sự luyến ái, chúng ta cần
tham thiền về cái xấu xí của điều hấp dẫn chúng ta. Cái
đối nghịch với kiêu hãnh là thiền định về những hợp
uẩn. Để chống lại vô minh chúng ta cần tập trung vào cử
động của hơi thở vào tính phụ thuộc lẫn nhau. Gốc rễ
của sự huyên náo của tâm thức thật ra là vô minh, vì mà
nó chúng ta không hiểu được bản tánh thực sự của sự
vật. Tâm thức được kiểm soát bằng cách tịnh hóa quan
niệm sai lầm của chúng ta về thực tại. Đây là lời dạy
của Phật. Chính là qua sự tu hành tâm thức mà chúng ta có
thể chuyển hóa cách thức chúng ta hành động, nói năng hay
suy nghĩ.
Đến
đây cần nói vài điều về lời dạy của Phật trong tổng
quát. Theo Đại thừa, sau khi đạt đến giác ngộ, đức Phật
chuyển Bánh Xe Pháp, nêu lên giáo lý của ngài trong ba giai
đoạn. Đầu tiên, ngài dạy Bốn Chân Lý Cao Cả, trên đó
toàn bộ giáo lý Phật giáo đặt nền. Những cái ấy là chân
lý về sự khổ, chân lý về nguồn gốc của khổ, chân lý
dừng dứt sự khổ, và chân lý về con đường. Với lần
chuyển hóa thứ hai (hay ở giữa), ngài ban cho những lời dạy
về tánh Không và những phương tiện sâu xa và chi tiết của
con đường, chúng làm thành những Kinh Bát Nhã Ba la mật. Với
lần chuyển bánh xe pháp thứ ba, ngài trình bày những lời
dạy về tánh Không trong một cách dễ thâm nhập hơn. Trong
những kinh như Kinh về Phật tánh, ngài nói đến một bản
tánh tuyệt đối, nó vắng bặt mọi ý niệm nhị nguyên chủ
thể và đối tượng. Đây cũng là chủ đề của Dòng tương
tục thiêng liêng.
Nguồn
gốc của khổ – có tên là những tình thức tiêu cực hay
những phiền não – có thể được hiểu với nhiều cấp
độ tinh vi khác nhau, và điều này đòi hỏi một sự hiểu
biết về bản tánh của những hiện tượng. Trong lần chuyển
bánh xe pháp thứ hai, đức Phật giảng giải chi tiết chân
lý dừng dứt sự khổ. Ngài bày tỏ rằng một sự phân tích
càng lúc càng vi tế những hiện tượng dẫn đến một quán
thấy tinh tế hơn vào bản chất của tánh Không. Sự thấy
rõ đó lại dẫn đến một thấu hiểu sâu xa hơn chân lý
về con đường.
Trong
lần chuyển bánh xe pháp thứ ba, chúng ta thấy một giải thích
chi tiết về con đường để đạt đến giác ngộ. Tiềm năng
này, gọi là Như Lai tạng, hay Phật tánh, là một cái gì chúng
ta vẫn luôn luôn có từ vô thủy. Khi chúng ta nói đến chân
lý của con đường, chúng ta không đang nói về một cái gì
hoàn toàn xa lạ với bản tánh của chúng ta, nó thình lình
xuất hiện như một cây nấm, như thể không có một hạt
giống hay nguyên nhân. Chính vì chúng ta có cái nền tảng này
hay khả năng này cho sự toàn trí tối hậu mà chúng ta có
thể đạt đến giác ngộ.
Những
bản văn thuộc thời chuyển pháp thứ hai bày tỏ bản tánh
trống không của những hiện tượng, trong khi Kinh về Phật
Tánh và những lời dạy khác thuộc thời chuyển pháp thứ
ba nhấn mạnh trí huệ, phương diện trong trẻo và sáng ngời
của tâm.
Đức
Phật dạy trước tiên Bốn Chân Lý Cao Cả, như là nền tảng
của toàn thể giáo lý của ngài. Khi ngài nói lên những lời
dạy, lời nói của ngài thích hợp với những nhu cầu và
khả năng tâm thức. Cách ngài dạy chuyển biến đáng kể,
và điều ngài nói sâu xa nhiều hay ít tùy theo những người
ngài nói với. Bởi thế, quan trọng là phải biết lời dạy
nào biểu thị ý nghĩa tối hậu và lời dạy nào tùy theo
những khả năng riêng biệt của các đệ tử của ngài. Nếu
trên phân tích, chúng ta thấy những lời đức Phật khi hiểu
theo nghĩa đen có vẻ không có luận lý hay đưa đến những
mâu thuẫn, chúng ta phải hiểu rằng những lời dạy ấy là
một phát biểu tương đối về chân lý cần thiết phải thích
ứng với sự hiểu của những người riêng biệt. Ngược
lại, nếu những lời của ngài có thể hiểu theo nghĩa đen
và không có mâu thuẫn nào hay khuyết điểm nào, chúng ta có
thể chấp nhận những lời dạy đó như phát biểu chân lý
tối hậu.
Niềm
tin thì rất quan trọng trong Phật giáo, nhưng trí huệ thì
còn quan trọng hơn. Niềm tin chân thật phải đặt nền tảng
trên luận lý. Chỉ nói, “Tôi quy y,” hay “Tôi sùng mộ,”
một cách mù quáng và không suy nghĩ, thì không có giá trị.
Không có sự cứu xét hợp luận lý, thì không thể phân biệt
hoặc là đức Phật đang nói trong một nghĩa thích ứng hay
tương đối hay là lời ngài phải được hiểu y nguyên như
phát biểu chân lý tối hậu. Đó là vì sao kinh điển nói
đến bốn sự nương y :
Không
y vào cá nhân, mà y vào lời dạy.
Không
y vào lời nói, mà y vào ý nghĩa.
Không
y vào nghĩa thích ứng, mà y vào nghĩa rốt ráo.
Không
y vào hiểu biết trí thức, mà y vào trí huệ.
Trái
với sự hiểu biết trí thức thông thường, bản tánh thực
sự của tâm thì trong sáng và thấu hiểu và không hề bị
che phủ bởi những ngăn chướng. Sự thực hành của Đại
thừa hoàn toàn đặt nền trên cái hiểu này.
Ở
Tây Tạng, mọi lời dạy của đức Phật, từ Bốn Chân Lý
Cao Cả đến những tantra yoga tối thượng, đều được giữ
gìn và thực hành trong trật tự truyền thống sau đây. Giai
đoạn đầu là Thanh Văn thừa, hay Căn Bản thừa, con đường
của Bốn Chân Lý Cao Cả. Bắt đầu với Giới,(6) nó dạy
sự tu hành giới luật, người tiến bộ nhờ ba mươi bảy
thực hành dẫn đến giác ngộ, nhờ đó phát triển hai sự
tu hành về định và huệ. Ba sự tu hành này là căn bản cho
hai thừa kia.
Giai
đoạn thứ hai là Đại thừa, cốt ở thực hành sáu ba la
mật : rộng lượng, giới luật, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí huệ. Giai đoạn thứ ba là Kim Cương thừa, thừa
của những mật chú, nó nêu lên những phương cách phi thường
để thành tựu sự tập trung thâm sâu qua sự hợp nhất của
an định của tâm thức và quán chiếu sáng tỏ (shamatha và
vipashyana) và để tiến bộ qua bốn loại tantra : krya, upa,
yoga và anuttara.
Phật
giáo nở hoa trong hàng thế kỷ trong nhiều quốc gia nhưng chính
ở Tây Tạng mà cả ba con đường này, Thanh Văn thừa, Đại
thừa, và Kim Cương thừa, được giữ gìn trọn vẹn. Thật
vậy có thể đi qua cả ba giai đoạn này trong giáo trình của
chỉ một buổi. Hơn nữa, những học giả Tây Tạng không
bao giờ không biết phương diện thực hành, và những hành
giả đầy kinh nghiệm không hề xao lãng việc nghiên cứu.
Điều này đối với tôi là một cách thức rất tốt cho công
việc.
Theo
dòng thời gian, những dòng phái khác nhau xuất hiện trong truyền
thống trọn vẹn này, được ảnh hưởng bởi những đạo
sư phi thường, các ngài ở những thời điểm và nơi chốn
khác nhau đã diễn bày những giáo lý theo những cách thức
có hơi khác biệt.(7) Bởi thế chúng tôi có truyền thống
cổ Nyingma và những truyền thống mới Kadam, Sakya, và Kagyu.
Truyền thống Gelug hiện tại tiến hóa từ dòng Kadam. Mặc
dù những khác biệt giữa những dòng phái này, chúng đều
hiện thân đầy đủ những lời dạy của đức Phật, phối
hợp những sự thực hành của Kinh thừa và Đại thừa. Truyền
thống Bon, đã có ở Tây Tạng trước khi Phật giáo đến,
cũng tiến tới chỗ có một bộ đầy đủ những lời dạy
của đức Phật.
Bồ
Tát Hạnh được những vị thầy của mọi trường phái Tây
Tạng đánh giá cao, và có lẽ có cả trăm vị đã viết những
bình giải về nó. Khi tôi nhận được sự chỉ dạy về Bồ
Tát Hạnh từ Kunu Rinpoche, ngài thường nhắc đến một bình
giải tuyệt hảo được viết bởi Minyak Kunzang Sonam,(8) một
đệ tử của Jamyang Khyentse Wangpo.(9)
Bồ
Tát Hạnh cô đọng giáo lý của ba lần chuyển bánh xe pháp
của đức Phật. Tôi sẽ đọc nó to lên để các bạn nhận
được sự trao truyền tâm linh, nó là một nguồn ân phước.
Tôi sẽ không giải thích bản văn theo từng từ, mà sẽ bình
giải về những điểm chính yếu.
Khi
nhận những lời dạy, quan trọng là phải có thái độ đúng
đắn. Không phải thực hành Pháp một cách thích hợp khi nghe
với ý định có được lợi lộc vật chất hay danh tiếng.
Mục tiêu của chúng ta không phải là một tái sanh cao hơn
trong đời sau, như chẳng hạn một vị trời hay một con người
quyền năng. Cũng không phải chúng ta chỉ muốn sự giải thoát
riêng cho chúng ta khỏi vòng sanh tử. Đây là những thái độ
chúng ta cần từ chối. Thay vào đó, chúng ta hãy nghe những
lời dạy với mong muốn cương quyết đạt đến trạng thái
toàn giác vì tất cả chúng sanh, họ thì nhiều vô cùng. Để
thành tựu mục tiêu này, cần thiết thực hành con đường
sâu xa và bao la được diễn tả trong bản văn này. Nếu chúng
ta có thể duy trì động lực này, bất cứ hành động tốt
nào chúng ta làm sẽ trở thành nguyên nhân cho giác ngộ tối
thượng. Dầu nếu một mong muốn như thế không đến với
chúng ta một cách tự nhiên, ít nhất chúng ta cũng cố gắng
phát triển một thái độ tích cực khi nghe.