BA
LỜI ĐÁNH VÀO
ĐIỂM
TRỌNG YẾU
Giáo huấn Đặc
biệt của Khepa Shri Gyalpo
Ba Lời Đánh
vào Điểm Trọng yếu
của Patrul
Rinpoche
Kính
lễ đạo sư
Cái
thấy (kiến) là Longchen Rabjam (Sự Bao La Vô hạn Vĩ Đại).
Sự
thiền định (thiền) là Khyentse Ozer (Những Tia sáng của Trí
Huệ và Tình Thương).
Hành
động (hành) là Gyalwe Nyugu (Con trai của các Đấng Chiến Thắng).
Đối
với người thực hành theo cách này,
Thì
không nghi ngờ gì nữa về sự giác ngộ trong một đời.
Nhưng
cho dù không được như thế, vẫn được hưởng hạnh phúc
– A la la.
Cái
thấy, Longchen Rabjam thì như sau :
Đánh
trúng điểm trọng yếu bằng ba lời,
Trước
tiên, hãy để tâm các bạn ngơi nghỉ buông lỏng.
Không
lan man, không tập trung – vô niệm.
Trong
khi thả lỏng và an trụ một cách quân bình trong trạng thái
đó
Bất
thần kêu lên PHAT.
Mạnh
mẽ, ngắn gọn và sắc bén – hoàn toàn trong sáng.
Không
có bất cứ cái gì – hoàn toàn trong sáng.
Một
sự trong sáng không bị ngăn che.
Một
rỗng rang toàn triệt vượt lên ý niệm.
Hãy
nhận ra điều này như giác tánh Pháp Thân.
Nhận
ra bản tánh của các bạn, đó là điểm trọng yếu thứ nhất.
Sau
việc nhận ra này, dù tâm các bạn động hay tĩnh,
Dù
các bạn giận hay tham, vui hay buồn,
Trong
mọi lúc và trong mọi tình huống
Hãy
biết Pháp Thân đã được nhận ra
và
hãy để ánh sáng con hợp nhất với ánh sáng mẹ đã được
nhận biết.
Hãy
nghỉ ngơi trong trạng thái tỉnh giác không thể diễn bày.
Hãy
cứ tiêu diệt sự vô-niệm, hỉ lạc, và vọng tưởng.
Hãy
để chữ (âm tiết) của trí huệ và phương tiện đột ngột
đánh gục chúng.
Không
có sự khác biệt giữa thiền định và hậu-thiền định.
Không
có phân chia giữa các thời khóa và những gián đoạn.
Hãy
liên tục ngơi nghỉ trong trạng thái không bị phân chia.
Tuy
nhiên, chừng nào mà các bạn chưa đạt được sự kiên cố,
Thì
điều cần yếu là thực hành sự từ bỏ các phóng tâm.
Hãy
chia sự thiền định của các bạn thành các thời khóa.
Trong
mọi lúc và trong mọi tình huống
Hãy
hộ trì sự tương tục duy nhất của Pháp Thân.
Hãy
xác quyết rằng không có cái gì khác hơn điều này.
Có
sự xác quyết ở một điều; đó là điểm trọng yếu thứ
hai.
Vào
lúc này, những ưa thích và ghét bỏ của bạn, những niềm
vui và những nỗi muộn phiền
Và
mọi tư tưởng thoáng qua của bạn không có ngoại trừ nào
Hãy
để mặc không dấu vết trong trạng thái nhận biết.
Bằng
cách nhận biết Pháp Thân,
Giống
như thể vẽ một hình dạng trong nước,
Không
có khe hở giữa việc nhận ra bất kỳ điều gì xuất hiện
và tự-giải thoát.
Bất
kỳ điều gì xảy ra là thực phẩm tươi mới cho tánh giác
trống không.
Bất
kỳ cái gì là niệm tưởng đều là một biểu lộ của Pháp
Thân siêu việt,
Không
dấu vết và giải thoát tự nhiên – A la la.
Cách
các niệm tưởng xuất hiện thì giống như trước,
Nhưng
cách chúng được giải thoát là điểm then chốt đặc biệt
nhất.
Không
có điều này, sự thiền định chỉ đơn thuần là con đường
lầm lạc.
Sở
hữu nó là trạng thái không bị tạo tác của Pháp Thân.
Có
được sự xác tín vào giải thoát; đó là điểm trọng yếu
thứ ba.
Cái
thấy này được đặc ân với ba điểm trọng yếu,
Được
trợ giúp bởi sự thiền định của trí huệ kết hợp với
lòng bi,
Và
bởi hành động phổ biến của những con trai của các Đấng
Chiến Thắng.
Cho
dù các Đấng Chiến Thắng trong ba thời cùng nhau thảo luận,
Sẽ
không có giáo huấn nào siêu việt hơn giáo huấn này.
Bậc
terton Pháp Thân của sự phô diễn của giác tánh
Đã
khám phá giáo huấn này như một kho tàng từ cõi giới của
trí huệ.
Nó
không như những cái lấy ra từ đất và đá.
Nó
là di chúc của Ngài Garab Dorje.
Nó
là tâm yếu của ba dòng truyền thừa.
Nó
được bí mật trao cho đệ tử tâm đắc.
Nó
là ý nghĩa sâu xa và những lời nói tâm huyết.
Nó
là những lời tâm huyết, là yếu nghĩa.
Đừng
để yếu nghĩa phai nhạt.
Đừng
để giáo huấn tiêu tan.
Đây
là giáo huấn đặc biệt của Khepa Shri Gyalpo.
CHƯƠNG
1
DẪN
NHẬP – KÍNH LỄ
Xin
hãy lắng nghe giáo lý này với động lực trong sạch, cần
phải nghĩ rằng : “Tôi sắp nghe giáo lý và thực hành để
dẫn dắt tất cả chúng sinh vô hạn như không gian đến trạng
thái toàn giác.”
Có
tất cả chín thừa. Trong chín thừa này, có ba thừa ngoại
dẫn dắt ta thoát khỏi nguồn gốc của đau khổ. Nhóm thừa
thứ hai là các tantra ngoại, là những sự tiếp cận đem lại
sự tỉnh giác nhờ những giới luật khổ hạnh. Và sau đó
có ba thừa bí mật gồm các phương tiện thiện xảo dẫn
đến kết quả cuối cùng. Khi các bạn nói đến bất kỳ
thừa nào trong chín thừa thì điều tối quan trọng là bàn
về hành động và động lực. Như vậy, động lực là gì?
Động lực là để giải thoát tất cả chúng sinh trong vòng
sinh tử, tâm thức họ bị lôi cuốn vào ba lỗi lầm của
bình chứa, sáu sự ô nhiễm và năm cách suy tưởng sai lầm.
Ta phải phát sinh động lực rằng : “Tôi sắp giải thoát
tất cả chúng sinh đến trạng thái Phật tánh toàn giác nhờ
sự lắng nghe và thực hành giáo lý Đại Viên Mãn. Tôi thực
hiện điều này bởi tất cả chúng sinh đã từng là những
cha mẹ tốt lành của tôi.”
Động
lực riêng của ta phải được kết hợp với lòng bi mẫn
vĩ đại nhắm tới sự giác ngộ. Các bạn cần phát triển
sự thiết tha này và dấn mình vào động lực này. Đây là
điều nhắm tới để sẵn sàng giải thoát tất cả chúng
sinh. Các bạn luôn luôn nên bắt đầu sự thực hành của
các bạn với một thái độ bi mẫn và quan tâm tới những
người khác và với một ý hướng đạt sự giác ngộ là
vì lợi lạc của họ.
Khi
đang nghe giáo lý các bạn cần tập trung vào năm điều xác
tín. Đừng nghĩ rằng bất kỳ điều gì trong những hiện
tượng được nhận thức của các bạn là bình phàm. Ví dụ,
nơi chốn chúng ta đang ở ngay bây giờ –Los Angeles – không
được nhận thức như một chốn bình phàm cấu tạo bởi
các chất thể như đất và đá mà đúng hơn, ta cần nhận
thức nó như cõi Akanistha, như tịnh thể Dewachen của Đức
Phật A Di Đà, hang Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ. Ta cần nhận
thức vị thầy là Đức Phật Vajradhara, Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni hay Đức Padmasambhava, thay vì nhìn ngài như một con người
bình thường với một thân xác bất tịnh. Giáo lý cũng cần
được nhìn như sự chuyển Pháp luân vĩ đại. Thời gian là
một sự tương tục không ngừng nghỉ. Những người nghe Pháp
không được nhận thức như những người bình thường với
những thân xác bất tịnh, mà đúng hơn là những Bồ tát,
các daka và dakini.
Điều
hết sức quan trọng là lắng nghe giáo lý với động lực
và hành động trong sạch. Động lực phải thực hiện với
tâm. Tối quan trọng là phải loại trừ hay từ bỏ bất kỳ
loại độc chất tinh thần nào, để khơi dậy Bồ đề tâm
quý báu, và hình dung năm điều xác tín một cách rõ ràng.
Theo
lịch sử, Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được
truyền dạy theo ba lối : Đức Phật đã dạy bằng các phép
màu nhiệm, bằng luận cứ theo lối của học giả hay pandita
vĩ đại, và nhờ sự thiền định theo lối của vị A la hán.
Đức Phật dạy bằng ba phép màu nhiệm : sự hiển lộ kỳ
diệu của thân, phép màu của ngữ, diễn tả nhiều loại
vấn đề khác nhau; và phép màu nhiệm của tâm, diễn đạt
giáo lý phù hợp với nhu cầu và năng lực của những cá
nhân. Nhờ năng lực của những phép màu nhiệm, ngài có thể
tỏa ra những tia sáng đủ màu từ thân ngài, bao trùm vũ trụ
và làm nguôi dịu nỗi khổ ở đó. Đây là một cách thức
mà ngài đã dạy, và có liên quan trực tiếp tới thân tướng
của ngài.
Khi
Đức Phật trình bày giáo lý lần đầu tiên, ngài phóng ra
những tia sáng trắng, đỏ và xanh dương chói ngời tới ba
thế giới và làm nguôi dịu nỗi khổ ở đó. Ánh sáng thì
còn sáng rực hơn một triệu mặt trời. Nó tỏa chiếu khắp
mọi cảnh giới và làm nguôi nỗi đau khổ ở những nơi đó.
Những nỗi khổ của các địa ngục, chẳng hạn như sự lạnh
và nóng, và những nỗi khổ của các ngạ quỷ, như sự đói
và khát, đã được giảm bớt. Những đau khổ của cõi súc
sinh, chẳng hạn như bị sai sử và hành hạ một cách tàn
nhẫn, được vơi dịu. Ánh sáng đã tịnh hóa nỗi khổ cho
rất nhiều chúng sinh trong các cõi khác nhau.
Đại
dương sinh tử trải qua sự biến động bất thường và chư
Phật xuất hiện trong vòng sinh tử xuất hiện trong phạm vi
những sự kiện thời gian và không gian. Khi chư Phật xuất
hiện, có những chúng sinh đã sẵn sàng để tự do và vì
thế họ có thể được giải thoát nhưng chúng sinh không chín
mùi để giải thoát không thể có được lợi lạc từ chu
kỳ soi sáng đó. Vì thế vị Phật đó không thể giải trừ
đau khổ của họ. Mọi kinh điển thường nói rằng nhờ sự
thiền định mà ta có thể tẩy trừ đau khổ của tất cả
chúng sinh, hay nói rằng Đức Phật tẩy trừ đau khổ của
tất cả chúng sinh. Nếu các bạn hỏi : “Nếu như Đức Phật
đã tẩy trừ một cách kỳ diệu mọi đau khổ thì tại sao
vẫn còn chúng sinh?” Thực tế là có ba cách qua đó chúng
ta có thể đạt giải thoát nhờ những sự ban phước của
Đức Phật. Cách đầu tiên là nhờ được diện kiến Đức
Phật và nhờ nhận lãnh giáo lý và do đó tìm ra con đường
của ta đi đến sự giác ngộ. Cách thứ hai là mặc dù Đức
Phật đã tịch diệt hoặc chúng ta không thể tìm gặp ngài,
giáo lý của Đức Phật được truyền dạy bởi một người
hay trong giáo lý được ghi chép lại của Đức Phật, cung
cấp cho chúng ta những giáo huấn cần thiết nhờ đó ta có
thể đạt được giải thoát. Cách thứ ba và là cách sâu
xa nhất là bằng sự thấu suốt trực tiếp tức thời thực
tại như nó là, và bằng cách tôi muốn nói là Đại Viên
Mãn, đó là trạng thái giác tánh của riêng các bạn. Nhờ
sự toàn giác của ngài, Đức Phật thấu suốt những năng
lực tinh thần của tất cả chúng sinh và đã giảng dạy một
cách phù hợp. Ngài có thể diễn tả tất cả các ngôn ngữ
trong một lời và trong một lúc.
Giờ
đây, chúng ta không toàn thiện như một vị Phật và vì thế
khi tôi giảng dạy tôi phải nói bằng tiếng mẹ đẻ của
tôi và các bạn phải nỗ lực để hiểu rõ. Mỗi một tiếng
phải được dịch lại. Đó không phải là hoạt động của
một bậc đạo sư giác ngộ vĩ đại như Đức Phật Thích
Ca. Khi Đức Phật giảng dạy, bất luận các bạn nói bằng
ngôn ngữ nào – dù là tiếng Tây Tạng, tiếng Anh hay tiếng
Trung Quốc, hoặc ngôn ngữ của các thú vật hay của các cõi
giới khác – các bạn có thể nghe Pháp bằng ngôn ngữ của
riêng mình. Trong tương lai, chúng ta sẽ được giác ngộ và
vào lúc đó chúng ta có thể diễn đạt Giáo Pháp phù hợp
với lợi ích và năng lực của chúng sinh. Bây giờ chúng ta
không thể làm điều đó bởi tâm thức chúng ta bị ngăn che
bởi nghiệp và những mê lầm. Chúng ta là những người đang
ở trên con đường.
Lối
giảng dạy của một pandit hay học giả xuất phát từ các
viện Đại học Phật giáo Ấn Độ Nalanda và Vikrara-malashila.
Giáo lý được ban ra phù hợp với năm điều xác tín và năm
nguyên lý. Năm nguyên lý là : tác giả, thính giả vì họ mà
giáo lý được kết tập, loại giáo lý được viết ra, nơi
giáo lý được truyền dạy, và phần tóm lược từ đầu
tới cuối.
Lối
giảng dạy của bậc A La Hán được trình bày phù hợp với
ba sự thanh tịnh (trong sạch) – ngữ của bậc thầy thì thanh
tịnh, tâm người nghe thì thanh tịnh và chủ đề của sự
giảng dạy thì thanh tịnh. Điều này có nghĩa là cả vị
thầy lẫn đệ tử đều có ý hướng và động cơ tích cực
và vị thầy giảng dạy ý nghĩa của Phật Pháp một cách
rõ ràng và chính xác, không chút sai lầm trong sự diễn giảng.
Hôm nay, tôi sắp giảng theo lối của một đại giả (mahapandita).
Bản
văn gốc bắt đầu với một sự kính ngưỡng : “Con kính
lễ bậc guru, là hiện thân của lòng bi mẫn vô song.” Chúng
ta kính lễ và khẩn cầu guru, hay lama (vị thầy), bởi ngài
là hiện thân của Tam Bảo. Bất kỳ sự giảng dạy nào về
cái thấy (kiến), thiền định (thiền) và hành động (hành)
đều bắt đầu với một sự khẩn cầu đạo sư. Từ Tây
Tạng “lama” được định nghĩa là : “la” nghĩa là “cao”
và “ma” là mảy may tiêu cực. Không gì cao cả hơn một
đạo sư. Sự tương đồng thì như việc có những đám mây,
tia chớp, các máy bay và những sự xuất hiện trong bầu trời
nhưng không có gì cao hơn mặt trời, mặt trăng hay các vì
sao. Cùng cách đó, không có gì cao hơn hay siêu việt hơn bậc
đạo sư trong lãnh vực cái thấy, thiền định và hành động.
Cách định nghĩa khác của “la” là “cao” giống như bầu
trời và “ma” có nghĩa là “mẹ”. Bậc đạo sư là người
dẫn dắt giải thoát tất cả chúng sinh bằng lòng đại bi
giống như một bà mẹ dẫn dắt các đứa con của bà. Không
có guru yoga thì sẽ không có cơ hội để giác ngộ bởi có
nói rằng nếu bậc đạo sư không hiện hữu thì thậm chí
từ “Phật” cũng sẽ không được nghe nói tới. Tất cả
chư Phật trong một ngàn kiếp xuất hiện nhờ bậc đạo sư
và đạo sư là Phật, Pháp, và Tăng. Vì thế, chúng ta kính
lễ thân, ngữ và tâm của bậc đạo sư.
Chư
Phật trong quá khứ đã đạt giác ngộ, chư Phật trong hiện
tại đang trở nên giác ngộ, và chư Phật trong tương lai sẽ
đạt được giác ngộ, tất cả các ngài đã hay sẽ đạt
được Phật quả nhờ sự tiếp cận các bậc đạo sư tâm
linh toàn hảo và nhờ thực hành các điểm trọng yếu trong
cái thấy, thiền định, và hành động với các ngài.
Bởi
các bạn là Phật tử nên điều thiết yếu là các bạn phải
được chấp nhận bởi một đạo sư. Các đệ tử nên tuân
theo các giáo huấn của đạo sư trong bất kỳ điều gì ngài
giảng dạy, theo cùng cách một đứa trẻ vâng theo sự chỉ
dạy của cha mẹ thật tốt lành của nó cho tới khi chết.
Các bạn phải tiếp cận bậc đạo sư theo ba cách. Lúc ban
đầu các bạn phải trở nên một người có kinh nghiệm trong
việc lựa chọn đạo sư, rồi thành thục trong sự tiếp cận
đạo sư một cách đúng đắn, và sau đó lão luyện trong việc
học tập ý hướng của cái thấy và hành động của đạo
sư.
Sau
đó các bạn phải tiếp cận vị đạo sư qua ba cách làm vui
lòng – qua sự cúng dường để tuân theo bất kỳ điều gì
ngài dạy các bạn, qua sự cúng dường lòng tôn kính và phụng
sự ngài, và qua các vật cúng dường.
Chúng
ta kính lễ bậc đạo sư bởi nhờ sự khẩn cầu ngài mà
chúng ta khẩn cầu tất cả chư Phật. Đạo sư là hiện thân
của Tam Bảo. Đạo sư là hiện thân của tất cả các phẩm
tính tích cực như lòng bi mẫn, sự thấu suốt, và năng lực
tâm linh. Những phẩm tính của các ngài thì vượt lên phẩm
tính tầm thường và thế tục, sự thấu suốt của các ngài
thì không phải là sự hiểu biết thông thường rất giới
hạn mà ta thường hiểu. Ta có thể nói người nào đó có
sự hiểu biết là bởi họ nói năng rõ ràng hay có một nền
giáo dục cao. Ta có thể tin rằng người nào đó có sự hiểu
biết rộng lớn vì sự thông hiểu về toán học của họ.
Người ta có thể có cảm tưởng rằng người nào đó chói
sáng bởi tài năng của họ trong việc làm điện ảnh. Tuy
nhiên, một bậc tâm linh thì không đo lường được bằng
các hiện tượng thông thường.
Mọi
trí thông minh bình thường của con người thì vô nghĩa và
mặc dù trí thông minh đó đã chế tạo ra những đồ vật
như các máy bay và xe hơi, chúng rất ích dụng trong nhất thời,
nhưng cuối cùng những kết quả thì tiêu cực. Chúng làm ô
nhiễm môi trường và hủy hoại đất đai. Mọi sự thông
minh của con người, dù có tinh vi hay không, cũng chỉ là kinh
nghiệm về sự vận hành của một giấc mộng. Chúng ta có
những môn khoa học vĩ đại chẳng hạn như chiêm tinh học
có thể tiên đoán tương lai và y học có thể chữa trị các
bệnh tật của thể xác chúng ta, nhưng môn khoa học ban tặng
cho ta hạnh phúc viên mãn là Pháp. Đây là sự hiểu biết
siêu việt, nó như mặt trời tẩy trừ bóng tối, soi sáng
mọi sự trong thế giới này. Nó như con mắt có thể tri giác
mọi sự. Sự hiểu biết vĩ đại này, nó khiến cho ta tri
giác hay hiểu biết tất cả các hiện tượng, là giáo lý
Đại Viên Mãn. Giáo lý Đại Viên Mãn rất sâu xa. Điều quan
trọng là phải tin tưởng giáo lý này và không chút hoài nghi.
Cho tới khi các bạn đạt được giác ngộ các bạn phải
tin tưởng cỗ xe (thừa) Đại Viên Mãn, hơn là nương tựa
vào các hiện tượng thông thường.
Đạo
sư sẽ chỉ dạy các bạn từ bỏ sự tham luyến đối với
hoạt động của cuộc đời bình thường này và sẽ đặt
các bạn trên con đường sâu xa dẫn thẳng tới trạng thái
giác ngộ. Trong đời này, chẳng có ý nghĩa gì nếu các bạn
có tài sản và của cải lớn lao. Khi các bạn chết, các bạn
không thể mang theo mình bất kỳ thứ gì. Các bạn phải để
lại thân xác vật lý của mình và tiếp tục đi một mình
tới thế giới kế tiếp. Vào lúc đó, chỉ có các tích tập
đức hạnh và ác hạnh của các bạn, chỉ có các yếu tố
thuộc nghiệp này đi theo các bạn. Đó là lý do tại sao điều
hết sức quan trọng đối với tất cả các bạn là gặp được
một bậc thầy tâm linh có phẩm tính trong đời này. Nếu
các bạn liên hệ với các vị thầy tâm linh tiêu cực, họ
sẽ dẫn các bạn đi lạc đường. Họ sẽ nói là các bạn
có thể phạm vào các hành động xấu và các bạn không cần
dấn thân vào bất kỳ hành vi đức hạnh hay đạo đức nào.
Ví dụ như một vài vị thầy giảng dạy một con đường
đưa người ta đến việc tự vẫn trong khi những vị thầy
khác đưa ra điều vô nghĩa to lớn gây nguy hại cho con người
như khi nói “các bạn có thể nhảy vào lửa”. Những thứ
đó là tà kiến và không dính dáng gì tới Pháp. Theo Giáo
pháp, nếu các bạn tự tử các bạn phải tái sinh năm trăm
đời trong địa ngục thấp nhất. Bởi các bạn đã bước
trên con đường Phật giáo, và đặc biệt là trên con đường
Đại Viên Mãn, các bạn đã giữ một lời nguyện tránh làm
hại tất cả chúng sinh, kể cả chính bản thân mình. Các
bạn phải nhận thức sâu sắc cuộc đời các bạn vì chính
cuộc đời này cho phép các bạn thực hành pháp và tích tập
đức hạnh. Thậm chí nếu các bạn có thể sống thêm một
ngày, điều ấy là một ân phước. Vì thế, dĩ nhiên là các
bạn không thể tự làm hại mình hay những người khác. Cho
dù các bạn cực kỳ đau yếu, các bạn phải dùng một vài
hình thức thuốc men để duy trì thân xác các bạn.
Các
bạn sợ hãi về đời sau và nỗi khổ của samsara (sinh tử),
các bạn sợ hãi về nỗi khổ của các cõi thấp, bởi vì
bất kỳ các bạn tái sinh ở đâu thì sinh tử cũng là vòng
tròn của sự đau khổ, từ sự tái sinh cao nhất cho tới cõi
địa ngục thấp nhất. Samsara bị tràn ngập bởi ba nỗi khổ
: nỗi khổ của khổ, nỗi khổ toàn khắp, và nỗi khổ bởi
sự vô thường. Các bạn nên nhìn samsara như ổ rắn độc,
xứ sở của Yaksha (dạ xoa), những kẻ ăn thịt người, một
hầm lửa, hay một xứ đầy gươm đao. Samsara sản xuất một
cách tự nhiên nỗi đau khổ của sinh và tử. Khi các bạn
chứng ngộ sự thực hay thực tại của Đại Viên Mãn, thì
cũng giống như trở thành một con chim với đôi cánh. Một
con chim không sợ mình sẽ rơi xuống một thung lũng sâu, và
trong cùng cách đó bất cứ lúc nào có sự chứng ngộ thì
không còn bận tâm về việc các bạn sẽ kinh nghiệm nỗi
đau khổ của sinh tử. Một câu tục ngữ nói : “Khi cưỡi
con ngựa Bồ đề tâm, ta trở nên hạnh phúc hơn và hơn nữa,
có được một tâm thức trong sáng – điều ấy có gì là
sai lầm?” Vì thế, nếu các bạn hiểu biết Bồ đề tâm,
làm thế nào các bạn có thể biếng lười?
Điều
này có nghĩa là khi ta có một mục đích chẳng hạn như việc
đạt được giác ngộ, chúng ta phải có một cỗ xe để đi
tới mục đích đó. Trong trường hợp của thực hành Đại
thừa thì Bồ đề tâm, hay tâm giác ngộ, là cỗ xe mà ta phải
đi trong sự tìm kiếm giác ngộ này. Cỗ xe này trong Đại
thừa là cỗ xe của sáu sự hoàn thiện, hay ba la mật. Khi
chúng ta có sáu sự toàn thiện này – trong tiếng Tây Tạng
nghĩa đen của từ này có nghĩa là “đi sang bờ bên kia”
– thì hạnh phúc, hỉ và lạc mà chúng ta kinh nghiệm sẽ
ngang bằng với sự quang minh của tâm, và sự quang minh và
lạc sẽ hợp nhất làm một, cũng như phương pháp và trí
huệ được hợp nhất làm một. Trong cùng cách thế, nếu
ta muốn đi Trung Quốc ta phải đáp máy bay và ta đến đó.
Nơi đó là đích đến. Nếu ta muốn đi Tây Tạng, ta đi trên
một máy bay và tới nơi đó. Máy bay là cỗ xe. Khi các bạn
ở trên máy bay, các bạn không ở Tây Tạng. Điều này chỉ
ra rằng trong cái thấy của con đường Bồ tát có một sự
phân cách giữa cỗ xe và đích đến.
Bây
giờ trong trường hợp của Dzogchen chúng ta cũng phải thực
hành Dzogchen với một tâm giác ngộ, với Bồ đề tâm, nhưng
chúng ta phải nhận thức rằng mục đích và cỗ xe là một.
Và như thế với tâm thái đó, tịnh quang của giác chiếu
và đại lạc của sự hoàn tất con đường đó ở trong ta
vào chính giây phút này. Vấn đề là khi chúng ta bàn về shunyata,
hay tánh Không, và đặt nó trong một phạm trù và sau đó đề
cập tới tâm giác ngộ của Bồ đề tâm và đặt nó trong
phạm trù khác, chúng ta cố gắng suy tưởng chúng một cách
riêng rẽ và chúng ta ắt phải thất bại. Một sự thấu suốt
về tánh Không và một thái độ được đặt nền trên lòng
bi mẫn chân thành đối với tất cả sinh loài không thể bị
phân cách. Để chứng ngộ Bồ đề tâm, tánh Không không thể
được thấu suốt một cách riêng rẽ với lòng bi mẫn chân
thực và Bồ đề tâm không thể bị phân cách với sự thấu
triệt về tánh Không. Vì thế khi tánh Không và Bồ đề tâm
được hợp nhất thì khi đó và chỉ khi đó một sự thấu
suốt đích thực về Dzogchen mới xảy ra.
Chúng
ta sắp thảo luận giáo lý Dzogchen về Ba Lời Đánh vào Điểm
Trọng yếu. Cái thấy (kiến) là : bất kỳ điều gì hiện
hữu là sự xuất hiện của sinh tử và Niết bàn, cả hai
đều toàn hảo như nhau trong trạng thái của Pháp giới (dharmadhatu).
Đây là nền tảng căn bản thoát khỏi bất kỳ những thái
cực nào của các ý niệm hay sự tạo tác. Tathagatagharba (Như
Lai Tạng) là cái thấy. Thuật ngữ “nền tảng căn bản”
ám chỉ Pháp giới. Có ba cách để nhìn không gian này : đó
là không gian bên ngoài, không gian bên trong, và không gian bí
mật. Không gian bên ngoài là không gian ở bên ngoài chúng ta.
Không gian bên trong là không gian trong đó các năng lực của
thân thể ta chuyển động. Nó là tính rỗng rang của tâm.
Nhưng vào lúc này chúng ta đang nói về không gian bí mật –
giác tánh bất nhị. Đó là không gian ở đó trí huệ và ánh
sáng là một, và tịnh quang này là không gian bí mật và chiều
kích tối hậu của thực tại. Vậy thì, nếu các bạn hỏi
: “Làm thế nào ta có thể thấu hiểu được chiều kích
bí mật này của thực tại?” Nó thật đơn giản. Hãy tĩnh
lặng, an dịu, và hãy nhìn ra ngoài. Hãy nhìn bằng đôi mắt
các bạn và để cho mắt nghỉ ngơi trong không gian trước
mặt các bạn. Đừng dán chặt cái nhìn của các bạn vào
bất kỳ vật gì. Không gian bên trong tức là tâm các bạn,
sẽ nối kết với không gian bên ngoài, tức cảnh giới của
cái nhìn mà các bạn kinh nghiệm. Các bạn sẽ nhận ra rằng
các hình tướng xuất hiện trước mặt các bạn và tự tâm
của các bạn sẽ trở thành một trạng thái duy nhất của
tỉnh giác toàn diện, trong đó, không có phân cách giữa cái
được thấy, cái thấy, và tâm là người thấy. Sự hợp
nhất của không gian bên ngoài và không gian bên trong, hình
tướng xuất hiện và tâm, là chiều kích bí mật của thực
tại trong đó không có gì để bám giữ và không có gì để
từ bỏ.
Các
bạn an trụ trong an định, nhận ra rằng tâm các bạn có ba
phẩm tính. Bản chất của tâm là tánh Không, Pháp Thân; bản
tánh của tâm là sự trong sáng và quang minh, Báo Thân; và chức
năng của tâm như lòng bi mẫn viên mãn toàn khắp là Hóa Thân.
Chân tánh của tự tâm thì không gì khác hơn chính là Pháp
giới (dharmadhatu). Tâm các bạn – như bản tánh của nó –
có phẩm tính mở trống và đó là Pháp giới bí mật. Nó
vượt khỏi mọi sự tạo tác chẳng hạn như các nguyên nhân
và điều kiện (duyên).
Bản
chất của tâm là không gian căn bản thoát khỏi sự tạo tác
và siêu vượt nhân, duyên, và thời gian. Nó không hiện hữu,
bởi nó trống không một cách tự nhiên, nhưng nó có hiện
hữu, vì nó là trạng thái nguyên thủy của mọi sự – các
hiện tượng và bản tánh của các hiện tượng, hay Pháp tánh
(dharmata). Nó thực sự là phương diện rốt ráo của tánh
mở trống, bản chất của tâm các bạn, một khi các bạn
an trụ trong sự quân bình an định của Đại Viên Mãn.
Tất
cả chúng sinh đều có pháp giới (dharmadhatu) như bản chất
của tâm, nhưng chỉ khác nhau ở chỗ có nhận ra nó hay không.
Vì vậy, chúng ta có hai con đường, đó là sinh tử và Niết
bàn, nhưng ta có cùng một nền tảng.
Trạng
thái đó của Như Lai Tạng, thoát khỏi sự tạo tác, là cái
chỉ ra hay ám chỉ tới sự trong sáng của tâm khi các bạn
đang thiền định về Dzogchen. Chúng ta có bầu trời và mặt
đất và giữa chúng là không gian, nó không có bất kỳ màu
sắc hay hình thể nào. Bản chất của tâm chúng ta thì giống
như thế. Nó hoàn toàn tự do và trong sáng, một cái bao la
vĩ đại. Mọi sự xuất hiện trong sinh tử và Niết bàn đều
toàn thiện một cách viên mãn trong trạng thái đó. Đó là
cái thấy (kiến), “cái bao la vô hạn vĩ đại”. Đó là
ý nghĩa của danh hiệu Longchen Rabjam.
CHƯƠNG
2
CÁC
ĐIỀU TIÊN QUYẾT : CÁI THẤY,
THIỀN
ĐỊNH VÀ HÀNH ĐỘNG
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đã trình bày tám mươi bốn ngàn Pháp
môn trong thế giới này để đáp ứng những nhu cầu và khả
năng của chúng sinh với các khuynh hướng về nghiệp khác
nhau trong vòng sinh tử. Tám mươi bốn ngàn pháp môn này được
chứa đựng trong chín thừa, gồm có ba thừa thấp, ba mật
thừa ngoại, và ba mật thừa nội. Tất các các thừa đều
dẫn tới thừa thứ chín, Dzogchen (Đại Viên Mãn, Đại Toàn
Thiện). Tất cả chúng đều được cô đọng trong Dzogchen.
Giáo lý quý báu về Dzogpa Chenpo (Dzogchen) là cực điểm và
cốt tủy của Phật pháp. Con đường này nhanh chóng đưa ta
tới sự giải thoát. Thật vậy, nếu các bạn bắt đầu thiền
định sáng nay, các bạn có thể đạt được giải thoát lúc
chập tối. Giáo lý Dzogchen thì sâu xa như thế. Đây là một
giáo lý rất thích hợp cho những người lười nhác, những
người ngu si, những người tăm tối, hay người người không
có thời giờ. Nói vậy không có nghĩa là giáo lý này được
dành cho những người như thế, nhưng có nhiều người không
có thời giờ, năng lực, hay sự giáo dục để nghiên cứu
và suy niệm các sự truyền dạy khác nhau của Pháp. Pháp thì
như một đại dương mênh mông và không ai có thể uống cạn
nó. Giáo lý này cũng tuyệt hảo đối với những người thông
tuệ và đã từng nghiên cứu nhiều, bởi nó sẽ là cực điểm
của sự giáo dục, nghiên cứu và phân tích của họ. Giáo
lý này là giáo lý tối cao và bao gồm tất cả tám mươi bốn
ngàn giáo pháp. Đây là pháp siêu việt cho người lười nhác,
người ngu si và người đần độn cũng như cho người từng
trải, học giả, và thiền giả. Đây là giáo lý siêu việt
của Đại Viên Mãn.
Có
một số chuẩn bị cho con đường rất sâu xa này. Điều tiên
quyết chính yếu là khơi dậy Bồ đề tâm. Trong thế giới
này không có duy nhất chúng sinh nào tốt lành với chúng ta
như cha mẹ của riêng ta. Các ngài đã cho chúng ta cuộc đời
và đã nuôi dưỡng chúng ta. Các ngài đã cho chúng ta thực
phẩm và quần áo cho tới khi chúng ta đủ khôn lớn để tự
lo cho mình. Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối
với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu
lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng
sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc
khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng
ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên
của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta,
Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm
chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé
nhất. Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn
phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận
ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của
các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn.
Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với
chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn
hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các
bạn để làm lợi lạc cho họ. Các bạn không nên giới hạn
sự chăm sóc và thương yêu đối với những người mà các
bạn yêu quý một cách dễ dàng. Các bạn cần cố gắng làm
lợi lạc những người thực sự đau khổ và cần sự giúp
đỡ. Nếu các bạn thực hành theo cách này thì đây là một
dấu hiệu cho thấy các bạn đang phát triển tâm thái Bồ
đề tâm. Tôi muốn khuyến khích mọi người ở đây quan tâm
tới việc cứu giúp chúng sinh khỏi bị làm hại, thực sự
cứu lấy mạng sống của chúng sinh. Bởi các bạn sống gần
biển, các bạn có thể phóng sinh một số cá. Là các hành
giả Dzogchen các bạn được yêu cầu thực hiện điều có
thể để giúp ích cho những người khác, đặc biệt là cứu
mạng sống của họ. Các bạn có thể mua cá sắp bị giết
và thả lại chúng xuống nước, cứu mạng sống của chúng.
Đây là một thực hành rất quan trọng.
Nói
chung, các bạn nên luôn luôn đặt những người khác lên trên
hay lên trước các bạn. Đây là dấu hiệu của một hành
giả Dzogchen, là người khiêm tốn và không tự phụ. Điều
tiên quyết khác là hiểu biết cách làm thế nào quan hệ hài
hòa với các thành viên của gia đình. Các bạn có lòng từ
và bi một cách tự nhiên đối với những người đó và vì
thế các bạn nên nỗ lực sống thuận hòa. Hoàn toàn không
thích hợp đối với một hành giả Dzog-chen khi sống một
cuộc hôn nhân không hạnh phúc, luôn luôn xung đột. Việc
xử sự theo tính chất đó là một cách thức hủy hoại cuộc
đời ngắn ngủi với người vợ (hay chồng) mà các bạn đã
thực sự chọn lựa để chung sống bởi các bạn muốn được
hạnh phúc. Đâu là trọng tâm của việc xung đột với người
đáng lý phải là suối nguồn của hạnh phúc của các bạn
trong một thời gian ngắn ngủi? Điều ấy làm cho mục đích
của cuộc sống, ngay cả trong ý nghĩa bình thường nhất,
trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Điều quan trọng là phải xem
xét các nguyên lý căn bản của Pháp và áp dụng chúng vào
cuộc đời các bạn, sống hòa hợp với người bạn đời
và cha mẹ của các bạn, phụng sự họ và đền đáp lòng
tốt của họ. Cũng rất quan trọng khi dạy dỗ con cái các
bạn đừng làm hại các thú vật, bao gồm cả những côn trùng.
Đây là tất cả những giới luật cho sự thực hành Dzogchen.
Thật ra, đây là những samaya (giới nguyện) Dzogchen.
Ở
Tây Tạng, nếu một gia đình có vài con trai, người ta thường
trở thành một nhà sư. Người nào đó trong gia đình sẽ đi
vào con đường Pháp. Ở phương Tây, người ta thường là
các hành giả cư sĩ và vì thế điều thật quan trọng là
duy trì các nguyên lý của Pháp trong đời sống hàng ngày và
gia đình các bạn. Có lẽ nguyên tắc quan trọng nhất là tự
chế đừng nổi sân hận, bởi sân là nguyên nhân cho sự tái
sinh trong cõi địa ngục. Sự sân hận được biểu lộ đối
với những người thân yêu thì tệ hại nhất. Đây là cách
thức của Pháp, và tôi lưu ý điều này bởi vì đây là các
vấn đề thứ yếu đối với giáo lý Dzogchen mà chúng ta sắp
đi sâu hơn. Xin ghi nhớ những vấn đề này trong tâm.
Trong
Dzogchen các bạn phải củng cố cái thấy, thiền định, hành
động và kết quả. Các bạn phải hiểu biết về bản chất
(tinh túy), sự phô diễn, và sự vận dụng cũng như nền tảng,
con đường và quả. Có những dị biệt phải được hiểu
rõ. Giáo lý này mô tả cách làm thế nào nhận ra bản tánh
của ta, và cách thức xác quyết bản tánh đó như một điểm
cốt lõi, và làm sao có được sự xác tín trong giải thoát.
Giáo lý này như một bài ca kim cương đánh vào cái tinh túy.
Nó là ngữ kim cương có thể thực sự thức tỉnh tâm. Khi
củng cố cái thấy, các bạn phải nhận thức rằng mọi hiện
tượng phức tạp, mọi pháp xuất hiện, đều bắt nguồn
từ tâm. Một khi điều đó được củng cố, thì các bạn
phải nhìn vào bản tánh của tâm. Mọi sự là sự vận dụng
(trò nô đùa) của tâm và tự nguyên thủy, bản tánh của
tâm thoát khỏi bất kỳ tạo tác hay căn bản nào. Bản tính
của tâm là ba thân. Sinh tử và Niết bàn xuất hiện từ tâm,
và tâm không có căn bản hay gốc rễ. Bản tánh của tâm là
Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân. Chứng ngộ bản tánh đó
là chứng ngộ cái thấy của Long-chen Rabjam, “cái bao la vô
hạn vĩ đại”.
Cái
thấy đó thì tự nhiên. Bản tánh của lửa là nóng. Bản
tánh của đất là nặng. Bản tánh của nước là ướt. Bản
tánh của gió là chuyển động. Bản tánh của cái thấy là
ba thân và đó là bản tánh của tâm. Khi các bạn nghĩ rằng
nước thì ướt một cách tự nhiên, lửa nóng tự nhiên, đất
nặng tự nhiên, không khí chuyển động tự nhiên, và một
trái cầu pha lê thì trống không tự nhiên, thì tương tự
như thế, các bạn có thể nghĩ rằng tâm thoát khỏi sự tạo
tác nhưng trong sáng chói ngời một cách tự nhiên từ nguyên
thủy. Sự trong sáng của bản tánh trống không đó của tâm
được biểu lộ bởi ba thân. Ba thân là cái gì bất khả
phân như bản tánh của tâm, và bản tánh đó thoát khỏi mọi
giới hạn của tâm thức ý niệm. Khả năng để nhận ra bản
tánh đó là trí huệ và trí huệ đó được so sánh với vipashyana,
hay quán chiếu thấu suốt. Bản tánh trống không thì bất
động, được so sánh với shamatha hay sự an trụ yên bình.
Trong
Dzogchen, vipashyana hay quán chiếu thấu suốt, tương ứng với
bản chất (tinh túy) trong khi shamatha, hay sự an trụ yên bình
tương ứng với cái vẫn được thấu suốt. Shamatha giống
như một đại dương không có chút sóng, bất động và vipashyana
thì như bản tánh của đại dương, đó là nước. Bản tánh
hay bản chất của tâm thức chúng ta là Pháp Thân. Khi chúng
ta thấu suốt bản tánh đó chúng ta thấu suốt svabhavikakaya
(Thân Tự Tánh), nó là Phật tánh vốn như vậy. Khi chúng ta
nhìn thẳng vào bản tánh của tâm, chúng ta đang nhìn thẳng
vào bản tánh của chúng ta như giác tánh vốn có, nó trống
không nhưng hoàn toàn trong sáng. Khi chúng ta tri giác bản tánh
trống không của nó, đó là vipashyana, quán chiếu thấu suốt.
Ta
tiếp cận với shamatha trong thiền định Dzog-chen là ngơi nghỉ
trong rigpa, hay giác tánh nội tại, không chạy theo niệm tưởng
nào và tập trung sự tỉnh giác vào cái gì bên trong mà không
có bất kỳ sự phân chia thực sự nào giữa bên ngoài, bên
trong và ở khoảng giữa. Rigpa là vipashyana, hay sự quán chiếu
thấu suốt, và thấy nó như nó là, là kinh nghiệm về cái
trong sáng không bị ngăn che. Sự tươi mới trinh nguyên của
trạng thái rigpa không bao giờ có thể bị ngăn che một cách
cố ý, bởi bản tánh của nó thì hoàn toàn thấu suốt và
rộng khắp, tuy nhiên không có đối tượng. Mặc dù với tư
cách là một thiền giả, các bạn là một chủ thể, nhưng
không có chủ thể nào đang quan sát sự thiền định. Không
có bên trong và bên ngoài trong loại thiền định này. Nó hiện
hữu, và tuy thế không có người đang kinh nghiệm sự hiện
hữu của nó. Đây là một điểm quan trọng : Điều ta phải
làm sáng tỏ trước hết là việc chúng ta nhận ra rigpa phải
được duy trì – duy trì trong ý nghĩa là khi ta thực hành
cái thấy, cái thấy là nhãn kiến của chúng ta. Nếu nhãn
kiến của ta được tập trung vào giác tánh và chúng ta không
duy trì giác tánh đó, chúng ta sẽ trở nên mê lầm bởi các
tạo tác niệm tưởng và các vấn đề thuộc cảm xúc. Sự
nhận ra rigpa mà chúng ta đang nuôi dưỡng và hoàn thành, trong
thực tế sẽ biến thành vô minh bởi sức mạnh của các tiến
trình tư tưởng và các xung đột cảm xúc. Rigpa là cái đối
nghịch của vô minh. Giác tánh là cái đối nghịch với vô
minh. Nơi chỗ hai thứ này đi vào tâm thức là cái thấy. Như
thế, về nền tảng cái thấy là nhãn kiến của một cá nhân
về thực tại, như thế nào nó tri giác thực tại. Vì thế
nếu cái thấy là rigpa, thì nó đúng là cái mà chúng ta gọi
là Phật tánh của sự giác ngộ nguyên thủy. Nhưng nếu việc
chúng ta nhận ra rigpa không được duy trì, thì có nguy cơ bị
rác rến cảm xúc và tri thức làm cho rigpa này trở nên bị
ngăn che bởi vô minh, và cái thấy của ta sẽ thực sự trở
nên một cái thấy vô minh. Chúng ta có thể dễ dàng bị mắc
bẫy trong mọi loại vấn đề và tình huống ghê gớm do bởi
ta không duy trì được sự nhận ra rigpa.
Khi
ngơi nghỉ trong tánh giác rigpa, các bạn sẽ vẫn kinh nghiệm
nhãn thức, nhĩ thức và v.v..., nhưng các bạn không bị phóng
tâm ra khỏi Phật tánh thậm chí trong chốc lát. Các tri giác
giác quan là phần của sự phô diễn không bị che chướng
của giác tánh nội tại. Các bạn phải biết làm thế nào
nhìn thấy, làm cách nào nhận thức giác tánh nội tại. Nếu
các bạn không làm được, các bạn có thể ở trong trạng
thái thiền định trầm trệ vô ký không đem lại kết quả
gì.
Hãy
ghi nhớ, không có chủ thể nhưng có một kinh nghiệm. Kinh
nghiệm là sự trong sáng không bị ngăn che. Sự trong sáng được
kinh nghiệm nhưng không bằng tâm thức ý niệm. Kinh nghiệm
sự trong sáng thì đơn giản là kinh nghiệm về rigpa như nó
là, một cách tự nhiên. Việc thành tựu nền tảng này về
cái thấy thì siêu vượt tâm thức, siêu vượt sự ý niệm
hóa, và siêu vượt các sự xuất hiện (hình tướng) khách
quan, bởi nó thì thuần tịnh tự nguyên sơ.
Những
kinh nghiệm nào đó thường xuất hiện trong thiền định,
chúng là kinh nghiệm về lạc, sự trong sáng, và vô-niệm.
Nếu ta trở nên bám dính vào các kinh nghiệm này như một
vài loại quả trên con đường, ta sẽ tạo nên các nguyên
nhân cho vòng sinh tử. Ví dụ nếu ta trở nên dính mắc vào
lạc khi nó phát khởi trong tâm, vào lúc sự dính mắc đó
xuất hiện nó tạo nên các nguyên nhân cho sự tái sinh trong
dục giới. Nếu ta trở nên dính mắc vào sự trong sáng, điều
đó tạo nên những nguyên nhân cho sự tái sinh trong sắc giới.
Nếu ta trở nên dính mắc vào một trạng thái vô-niệm, nó
siêu vượt ý niệm, điều đó gây nên những nguyên nhân để
tái sinh trong cõi vô-sắc, là một nơi chốn có nhiều người
không phải là Phật tử đang nhập thiền (định). Nếu không
hiểu rõ điều này, không có sự hiểu biết về các cạm
bẫy, sự thiền định của ta có thể bị tổn hại.
Thật
bất hạnh, ở xứ sở này có một trở ngại to lớn, đó
là việc canh chừng giờ giấc. Luôn luôn là thời gian. Mọi
sự phải đúng giờ và khi việc gì đó đã xong thì nó phải
được chấm dứt và ta không thể thậm chí đi đây đó và
tiêu khiển bởi lẽ mọi người đang luôn luôn nhìn đồng
hồ. Và sau đó có vấn đề ngôn ngữ, vì thầy và trò nói
những ngôn ngữ khác nhau, phải chờ việc dịch lại và không
thể cảm thông nhau một cách trực tiếp. Những điều này
làm cho sự việc hơi khó khăn. Nhưng nếu các bạn học thiền
định về Dzogchen một cách đúng đắn, thì cho dù các bạn
bị ném vào tù không có thực phẩm trong một thời gian dài,
các bạn sẽ không đau khổ vì cái đói hay nỗi khó chịu.
Một người an trụ trong cái thấy sẽ không dễ bị đau khổ.
Nếu ta an trụ trong cái thấy, ta không sợ hãi và thoát khỏi
đau khổ. Còn nếu không, đau khổ sẽ miên man, vô tận. Các
bạn phải chứng ngộ cái thấy với sự xác tín toàn vẹn
để các hiện tượng của nỗi đau đớn và muộn phiền ngừng
phát sinh.
Tôi
muốn thảo luận về bản chất (tinh túy), bản tánh và phẩm
tính của giác tánh nội tại. Bản chất của rigpa, giác tánh
nội tại, phải được xác định. Bản chất của trái cầu
pha lê này ở trước mặt tôi thì giống như nước được
chứa trong một chiếc ly. Đó là bản chất của đồ vật
này. Bản chất của bơ là dầu, bản chất của tất cả chúng
sinh là tánh Không. Nó bao gồm tất cả chúng sinh trong sáu
cõi sinh tử. Khi chúng ta nghĩ tưởng về sáu cõi chúng ta cần
quan tâm tới chúng sinh trong các cõi bardo, vô lượng chúng
sinh trong một trạng thái vô sắc, là những chúng sinh kinh
nghiệm chính mình trong một thân thể tinh thần. Nó được
tạo nên bởi tâm thức họ nhưng họ kinh nghiệm có một sắc
tướng. Khi các bạn chết, các bạn sẽ lang thang trong trạng
thái đó, một kinh nghiệm mà các bạn đã từng lập đi lập
lại nhiều lần.
Tất
cả chúng sinh trong các cõi này là chúng sinh hữu tình và có
cùng Phật tánh. Vấn đề là tạm thời, bản tánh này đã
bị ngăn che. Nhưng sự hiện hữu như một chúng sinh hữu tình
của họ thì không vĩnh cửu. Nó vô thường bởi bản tánh
thường hằng của họ, bản tánh nguyên sơ của họ, bản
chất của sự hiện hữu của họ, là tánh Không, nó tự do
đối với bất kỳ tạo tác nào. Ý niệm về việc có một
cá tính đồng nhất như một cá nhân thì không có nền tảng.
Mỗi cá nhân đã từng lang thang trong vòng sinh tử trải qua
vô lượng cuộc đời trong quá khứ, từ vô thủy cho tới
ngày nay.
Tâm
thức thì thường hằng và trạng thái nhận thức cứ tiếp
tục lang thang đó thì thường hằng. Lang thang trong sinh tử
có nghĩa là có cái gì đó không chết. Cái gì đó vẫn đang
tiếp diễn và cái đó là tâm thức. Có nhiều sự phân chia
tâm thức, là điều mà tôi sẽ không đề cập tới ngay bây
giờ, nhưng tâm thức không có màu sắc. Kinh nghiệm về một
dòng tương tục đang tiếp diễn chỉ có sự hiện hữu tạm
thời nhưng nó không hiện hữu một cách tuyệt đối, bởi
lẽ bản tánh căn bản của trạng thái nhận thức là ba thân.
Bản tánh nguyên thủy của trạng thái nhận thức đó là mạn
đà la bao la của ba thân của tâm Phật.
Đó
chính là bản tánh của các bạn, nhưng trong khi ở trên con
đường các bạn không tỉnh giác về trạng thái đó hoặc
các bạn không ở trên con đường. Các bạn bị ngăn che bởi
ba độc và bị mắc kẹt trong tính chất tạm thời này của
sự ngăn che. Vì thế các bạn phải đi vào con đường thực
hành Dzogchen để được giới thiệu lại bản tánh ba thân
của các bạn, là Phật tâm.
Ở
một nơi nào đó trên con đường các bạn sẽ có thể chứng
ngộ tự-tánh như trí huệ bẩm sinh nguyên thủy và kinh nghiệm
mình đang ở trong mạn đà la vĩ đại của giác tánh nội
tại, là Phật tánh. Khi các bạn chứng ngộ được mạn đà
la trí huệ vĩ đại đó, là bản tánh bẩm sinh của riêng
các bạn, thì các che chướng thô và tế sẽ hoàn toàn được
tịnh hóa trong Pháp giới (dharmadhatu). Khi cả hai loại che chướng
hoàn toàn bị tẩy sạch trong cõi giới của sự thật tuyệt
đối, vajradhatu (kim cương giới), thì đó là Phật.
Nếu
các bạn ở trong sự vô minh, nó giống như một màn mây ngăn
che bầu trời gây nên bóng tối tạm thời. Nó là một tính
chất tạm thời của tâm nhị nguyên, sự hiện diện của
sự bám chấp và dính mắc, nó sẽ được tẩy sạch thành
dharmadhatu, đó là Phật tánh nền tảng.
Cái
thấy Dzogchen của thiền định có thể được chứng ngộ
nhờ shamatha và vipashyana. Đây là điều các bạn cần nghiên
cứu. Mọi khía cạnh của Dzogchen phải được thấu suốt.
Nếu các bạn sắp thưởng thức một bữa ăn, các bạn nên
thưởng thức toàn bộ những gì được mời. Tương tự như
vậy, để thực sự nhận thức sâu sắc Dzogchen, các bạn
cần hiểu biết lịch sử của Dzogchen, nó đã được đưa
vào thế giới này như thế nào, làm thế nào để thực hành
nó, nó dẫn tới giải thoát ra sao. Các bạn cần hiểu rõ
tất cả những chi tiết khác biệt của con đường vĩ đại
này. Một khi các bạn thấu suốt và hiểu rõ những chi tiết
khác biệt này, các bạn sẽ nhận thức rằng không có gì
khác là quan trọng. Mọi hoài nghi sẽ được cắt đứt khỏi
tâm các bạn và các bạn sẽ đi thẳng tới mục tiêu của
mình bằng thực hành Dzogchen. Các bạn sẽ vượt lên sự hoài
nghi hay do dự. Sẽ không có các giới hạn, và các bạn sẽ
được hướng dẫn tới sự thiền định giác tánh nguyên
thủy và không thứ gì khác ngoài nó, cho tới khi các bạn
nhận ra chân tánh của các bạn là ba thân, không bao giờ hoài
nghi, xa lìa nó. Các bạn phải có sự xác quyết đó. Sau đó
các bạn sẽ được chuẩn bị cho giây phút chết là cái gì
sắp xảy ra.
Vào
lúc chết, khía cạnh mẹ của tịnh quang ló rạng. Trong thời
gian ở trên con đường, các bạn có cơ hội để thực hành
khía cạnh con của tịnh quang, cuối cùng chuẩn bị để gặp
gỡ mẹ. Nếu các bạn không có sự nhận ra đó nhờ việc
thực hành trong đời này, thì khi các bạn kinh nghiệm giây
phút chết và khía cạnh mẹ của tịnh quang xuất hiện, các
bạn sẽ không nhận ra mẹ và sẽ tiếp tục lang thang trong
sinh tử. Nếu các bạn đã từng làm hiển lộ khía cạnh con,
thì vào lúc chết con và mẹ sẽ hợp nhất và các bạn sẽ
được tái sinh trong một cõi Phật. Nếu điều đó không xảy
ra thì sự sinh ra làm người quý báu này đã bị phí phạm.
Giờ đây các bạn phải chuẩn bị trong khi các bạn có cơ
hội để thực hiện như thế.
Các
bạn phải hiểu rằng khía cạnh con và khía cạnh mẹ của
tịnh quang chỉ là một. Vấn đề ở đây là tịnh quang chỉ
là tịnh quang, nhưng có một khác biệt trong nhãn kiến của
hành giả. Một người sơ học tri giác tịnh quang trong một
cách thức không giống với một hành giả có kinh nghiệm hơn
tri giác nó. Thế giới không thay đổi nhưng tri giác của cá
nhân thì thay đổi. Khi các bạn nói về tịnh quang của nền
tảng, đó là nói rằng tự nền tảng các hiện tượng không
là gì khác hơn tịnh quang. Tịnh quang của con đường có ý
nghĩa là hành giả trưởng thành sẽ bắt đầu nhận thức
rằng các sự vật đã từng luôn luôn là và sẽ luôn luôn
là tịnh quang. Tịnh quang cũng vẫn y như thế. Nó là một
vấn đề của tri giác. Khi chúng ta nói về tịnh quang của
khía cạnh mẹ hay nền tảng, chúng ta đang nói về một tri
giác trưởng thành về tịnh quang của toàn bộ thực tại.
Đây không phải là một tịnh quang khác biệt với tịnh quang
của con đường, hay khía cạnh con.
Một
cách để tập trung vào tịnh quang là ngồi trong một tư thế
thiền định và để tâm nghỉ ngơi trong một trạng thái trong
sáng. Cách thức khác xảy ra khi các bạn đang rơi vào giấc
ngủ. Chính các bạn đang ở trong trạng thái đó khi giữa
giấc ngủ sâu và sự tỉnh táo, có một điểm ở đó ta cảm
thấy như một người ở giữa bầu trời xanh vô hạn nơi
không có nền, không trên, không dưới, không có gì ở hai
bên. Nếu các bạn đi ra ngoài và nhìn bầu trời, các bạn
biết rằng bầu trời có màu xanh dương. Nhưng giờ đây chúng
ta đang nói về tâm thức các bạn trở thành một với bầu
trời xanh vô hạn không có phương hướng, trung tâm và chu
vi, và đây là cái mà ta gọi là tịnh quang nền tảng. Nó
chói ngời và không có phương hướng hay chu vi, không có các
biên giới.
Tôi
muốn nhắc lại là mẹ và con cùng là một và các bạn đang
không chuẩn bị cho điều gì khác. Không có tịnh quang nào
khác. Tất cả những gì các bạn đang làm là trưởng thành
và thấy vẫn một ánh sáng đó. Theo thời gian các bạn trưởng
thành và nhìn xung quanh, các bạn thấy ánh sáng theo một cách
khác và vì thế không phải là ánh sáng đã thay đổi mà là
vì các bạn đang nhìn nó với sự trưởng thành chín chắn
hơn. Tuyệt đối cần thiết phải hiểu rằng khi các bạn
nói về các khía cạnh mẹ và con của tịnh quang thì các bạn
không nói về hai loại ánh sáng khác nhau mà đúng hơn là các
khác biệt trong sự tri giác về ánh sáng. Cũng tương tự như
một em bé Tây Tạng đang học nói một từ như “ánh sáng”,
chúng có thể nói “oksel” bởi chúng không biết rằng từ
đó là “osel”. Khi chúng lớn lên chúng sẽ phát âm nó một
cách đúng đắn. Tình huống ở đây thì cũng thế. Ánh sáng
thì vẫn là ánh sáng đó nhưng chính sự trưởng thành của
hành giả và tri giác của họ thay đổi.
Bản
văn gốc nói rằng bản chất (tinh túy) là Pháp Thân và bản
tánh của Pháp Thân là sự trong sáng chói lọi. Tánh Không
và sự trong sáng thì không-hai. Tánh Không là bản tánh căn
bản của Bồ đề tâm, giống như bơ và dầu là một trong
bản chất. Đây là cách thức để hợp nhất cái thấy với
thiền định. Đây là cách ta cần thấu suốt tên Khyentse Ozer.
Ba
tên trong bản văn gốc tương ứng với cái thấy, thiền định
và hành động. Cái thấy là “sự bao la vô hạn vĩ đại”,
tên của Longchen Rabjam, Đức Longchenpa toàn trí vĩ đại. Thiền
định, là sự hiện thực hóa cái thấy, được định nghĩa
như Khyentse Ozer, tên của Jigme Lingpa, và có nghĩa “những
tia sáng của sự thấu suốt trí huệ và từ ái”. Khi hai
thứ này được hợp nhất, nó là bản chất (tinh túy), dharmakaya
(Pháp Thân) và sự trong sáng phát sinh từ đó. Tinh túy, Pháp
Thân, cái bao la vô hạn vĩ đại này không có các biên giới
hay giới hạn. Nó là cái thấy. Thiền định, những tia sáng
của hiểu biết và tình thương, là sự trong sáng của tánh
Không. Sự trong sáng phát sinh từ tánh Không.
Cái
thấy là Longchen Rabjam. Cái thấy xảy ra nhờ chứng ngộ được
tánh vô ngã của cá nhân và tánh vô ngã của các hiện tượng,
tức thực tại như nó là. Nhận thức này lần lượt nhường
bước cho sự thấu suốt về trí huệ nguyên thủy. Cái thấy
là Longchen Rabjam, nó có nghĩa là nhờ một sự thấu suốt
về tánh Không của các hiện tượng, ta chứng ngộ được
bản tánh của các hiện tượng như nó là.
Vì
thế cái thấy là “sự bao la vô hạn vĩ đại”. Điều đó
có nghĩa là ta thành tựu chánh định về sự chứng ngộ bản
tánh của thực tại như nó là. Từ đó xuất hiện “các
tia sáng của hiểu biết và tình thương”. Bằng việc nhận
ra rigpa, ta có một sự thấu suốt về bản tánh của lòng
bi mẫn và thực tại. Như thế, chúng ta có hai loại prajna,
hay trí huệ, xảy ra ở đây, với sự trong sáng phát sanh và
soi chiếu nhờ sự thấu suốt bản tánh của ta và người.
Đây là điều mà “các tia sáng của hiểu biết và tình thương”
muốn nói tới.
Từ
nền tảng của tánh Không, sự trong sáng hay năng lực trí
huệ nguyên thủy chiếu tỏa lòng từ và bi cũng như thần
lực. Phải có thần lực để đi tới tất cả chúng sinh hữu
tình theo cách này. Thần lực đó ám chỉ tới hành động
(hạnh) và nó đưa chúng ta tới cái tên thứ ba trong bản văn
gốc – Gyalwe Nyugu, “con trai của các đấng Chiến Thắng”
đệ tử của ngài Jigme Lingpa. Hành động là khả năng để
thực sự dấn mình vào hoạt động biểu lộ cái thấy và
thiền định này.
Hành
động là Gyalwe Nyugu. Điều này ám chỉ sự kiện ngài Gyalwe
Nyugu là một Bồ tát phi thường mà sự chứng ngộ thì ngang
bằng với sự chứng ngộ của Đức Văn Thù. Ngài đã có
cái thấy Dzogchen cao tột, và hoạt động của ngài là hoạt
động của sáu ba la mật. Để dẫn dắt chúng sinh, bằng lòng
từ và bi của ngài, ngài đã dấn mình vào sáu ba la mật.
Như vậy, mặc dù sự kiện là ta có thể có sự chứng ngộ
vĩ đại như Đức Văn Thù, nhưng giống như các đám mây có
thể ngăn che mặt trời chứng ngộ, các ác hạnh có thể ngăn
che sự chứng ngộ. Hoạt động của Gyalwe Nyugu minh họa tầm
quan trọng của hành động, bất luận cái thấy của ta cao
cả đến đâu. Điều này biểu lộ con đường lý tưởng
đi tới giác ngộ nhờ cái thấy, thiền định và hành động.
Cái
thấy tương ứng với tên Longchen Rabjam, sự bao la vô hạn
vĩ đại. Đức Longchepa đã rất nhấn mạnh vào cái thấy
trong giới hạn của việc củng cố nền tảng căn bản. Thiền
định tương ứng với tên Khyentse Ozer, những tia sáng của
hiểu biết và tình thương là tên của Ngài Jigme Lingpa. Sự
nhấn mạnh ở đây nằm ở chỗ hợp nhất hiểu biết (trí
huệ) và tình thương như căn bản cho thiền định. Trọng
tâm của sự thiền định này là hợp nhất sự hiểu biết
trí huệ nguyên thủy này và thiện tâm từ ái. Ngài Gyalwe
Nyugu là một đệ tử của Jigme Lingpa và ngài đã đặt tầm
quan trọng to lớn ở hành động. Gyalwe Nyugu có nghĩa là “con
trai của các đấng Chiến Thắng”, con trai của chư Phật
và chư Bồ tát. Hành động của Dzog-chen biểu lộ trong hình
thức sáu ba la mật : bố thí, nhẫn nhục, giới luật, tinh
tấn, thiền định, và trí huệ siêu việt.
Cái
thấy, thiền định và hành động được thấu suốt nhờ
một giảng giải về ý nghĩa của các tên của ba đạo sư
dòng truyền thừa vĩ đại này, cũng như trên các khía cạnh
mà mỗi vị đã nhấn mạnh. Chúng ta cần trở thành các bình
chứa (pháp khí) thích hợp và cần hiển lộ Dzog-chen trong
đời chúng ta. Chúng ta có may mắn lớn lao được gặp con
đường này, được thực hành và giống như các đạo sư
vĩ đại trong quá khứ, chẳng hạn Đức Long-chenpa và Milapera.
Tốt nhất là trải đời mình trong ẩn thất, và tự chế
đối với việc gặp gỡ những người thế gian, để sang
một bên các hoạt động và hành xử của thế giới bình
thường và nhất tâm thực hành cho tới khi tâm thức ta được
giải thoát trong cõi giới của tánh thanh tịnh nguyên sơ.
Trong
thực hành Dzogchen, ta phải nhận thức nền tảng như Phật,
con đường như con đường của sự không-thiền định, và
quả như cái gì không được tìm kiếm, đó là sự tự do
đối với bất kỳ mục đích nào. Nền tảng ám chỉ nền
tảng của bổn tâm ta mà thực ra nó là Pháp Thân. Bản chất
(tinh túy) là tánh Không. Bản tánh của nó là sự trong sáng,
Báo Thân. Nó hiển lộ qua lòng bi mẫn, là Hóa Thân. Nhờ việc
nhận ra bản tánh của bất kỳ điều gì xảy ra, ta có sự
quán chiếu vào bản tánh của các niệm tưởng và các cảm
xúc, và do đó ta nhận thức được rằng chúng không hiện
hữu như vậy. Điều này được kể đến như Phật thuộc
phạm vi con đường. Thực tế là giác tánh đó xuất hiện
tự nhiên và mọi phẩm tính thì tràn đầy trong giác tánh
xuất hiện tự nhiên đó. Quả Phật bất khả đắc không
được chứng ngộ từ nơi chốn nào khác ngoài giác tánh tự-sinh
của riêng ta. Tâm ta là Phật thuần tịnh, thân ta là sự phô
diễn của bổn tôn và mạn đà la. Không cần tìm kiếm ở
bất cứ nơi nào khác hơn là ngay ở nơi ta. Phật mà ta không
cần phải tìm kiếm ở nơi nào khác chính là Phật của giác
tánh tự sanh của chúng ta.
Ba
trạng thái của Phật được toàn thiện trong bổn tâm ta.
Vào lúc này chúng ta đang kinh nghiệm phạm vi nền tảng cũng
như phạm vi con đường, và khi tất cả các pháp và các hình
tướng bình phàm bị cạn kiệt trong trạng thái vĩ đại siêu
vượt tư tưởng, chúng ta sẽ kinh nghiệm Phật của quả.
Trong phạm vi nền tảng, khi ta đang ở trong một trạng thái
vô minh, đó như thể có một năng lực cho cái gì đó nhú
mầm lên nhưng mầm chồi đã không xuất hiện. Năng lực là
cái căn bản, Phật thuộc phạm vi nền tảng là bản tánh
của chúng ta, và khi mầm chồi xuất hiện thì đó là phạm
vi con đường, nó sẽ tiếp tục phát triển cho tới khi kết
quả sau cùng được thành tựu, nó là trạng thái Phật quả.
Tự căn bản con đường trợ giúp mầm chồi để nó lớn
mạnh thành cái gì vốn sẵn có – tức là Phật. Khi trạng
thái Phật quả đó được chứng ngộ, thì nó vẫn vốn là
tiềm lực nguyên sơ và bẩm sinh của ta từ vô thủy.
Truyền
thống Dzogchen siêu vượt các giới hạn của sinh tử bởi
gốc rễ của sinh tử là sự bám chấp vào bản ngã, và điều
đó phải bị tiệt trừ. Cách thức duy nhất mà nó có thể
bị tiệt trừ là nhờ sự tiếp cận này. Vì thế ngay cả
những phương pháp của chư vị Thanh Văn, Độc Giác Phật,
Bồ Tát, và ba trường phái tantra ngoại cũng dẫn tới trạng
thái vô song của cái thấy, thiền định và hành động của
Dzogchen. Tất cả giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được
Đức Padmasambhava trình bày trong truyền thống Dzogchen.
Một
khi ta đạt được giác ngộ và thành tựu một trạng thái
giải thoát, hoàn toàn siêu vượt mọi sự ở trong samsara (sinh
tử), thì chúng ta không thể quay trở lại sinh tử. Một vị
Phật sẽ không bao giờ ngừng là một vị Phật. Một khi sự
giác ngộ được thân chứng, nó là một trạng thái không
ngừng nghỉ và không bao giờ vơi cạn. Trong các truyền thống
khác, niềm hy vọng của ta là sẽ được tái sinh trong thiên
đường hay trong một trạng thái cao hơn, và điều ấy rất
có thể xảy ra. Tuy nhiên, nếu nó không là Phật tánh, nếu
không là sự chứng ngộ Phật tánh, thì ta sẽ ở trong cảnh
giới cao đó cho tới khi nghiệp bị cạn kiệt và tiếp tục
đi sang trạng thái tái sinh kế tiếp, vẫn còn ở trong sinh
tử. Một khi nghiệp của ta tự cạn kiệt, cái chết xảy
ra và ta tiếp tục đi sang trạng thái tái sinh kế tiếp cho
tới khi gốc rễ của sinh tử – sự bám chấp vào bản ngã
– bị loại bỏ. Các bạn cần luôn luôn ghi nhớ trong tâm
rằng sự tiếp cận Dzogchen là để tiệt trừ tận gốc sự
bám chấp vào một cái ngã này, sự thiếu tỉnh giác về chân
tánh của ta, đây là khả năng tiệt trừ mọi sự che chướng.
CHƯƠNG
3
ĐIỂM
TRỌNG YẾU THỨ NHẤT :
NHẬN
RA BẢN TÁNH CỦA CÁC BẠN
Các
giáo lý Dzogchen tiệt trừ ngay cả những che chướng vi tế
nhất ngăn trở ta trong việc chứng ngộ Phật tánh. Đó là
các che chướng thô, các che chướng vi tế và các khuynh hướng
tập quán. Thêm vào đó, chúng ta có các che chướng xảy ra
từ khi được thụ thai trong một tử cung. Giây phút tâm thức
trung ấm được lôi kéo vào tử cung của bà mẹ nó, ở đó
nó trú ngụ một thời gian nhất định, tâm thức trở nên
hoàn toàn bị che chướng đến nỗi cho dù một cá nhân đã
từng là một đại học giả trong đời trước, khi được
sinh ra từ tử cung người ấy phải trải qua toàn bộ tiến
trình học hỏi một lần nữa. Các bạn sẽ không nhớ lại
kiến thức mà các bạn đã có trong quá khứ và thậm chí
sẽ phải học lại vần abc. Cũng có sự che chướng xảy ra
từ sự kết hợp tính dục, và cho tới khi ta có thể chuyển
hóa các khuynh hướng tập quán thông thường nhờ sự thực
hành thuộc giai đoạn phát triển, các che chướng này rất
khó tẩy trừ.
Trong
Dzogchen, chúng ta nương tựa vào cái thấy, thiền định, và
hành động. Ba điều này phải được thành tựu trong đời
này. Trong khi các bạn ở trên con đường, nhiều chướng ngại
có thể xuất hiện, và các bạn phải học cách đưa chúng
lên con đường đức hạnh và chuyển hóa chúng. Một chướng
ngại ám chỉ bệnh tật và các loại quấy rầy khác nhau xảy
ra, chẳng hạn như các tai nạn. Điều mà ta phải giải thoát
là những niệm tưởng phiền não xuất hiện và khiến cho
ta cảm thấy buồn hay vui hoặc bất kỳ điều gì khác. Khi
bệnh tật xảy ra và các bạn có một niệm tưởng về sự
khó chịu, các bạn phải giải thoát các niệm tưởng của
mình khỏi chướng ngại đó. Chướng ngại sẽ nảy sinh, nhưng
các niệm tưởng được giải thoát và đây là điều được
nhắm tới bằng cách đưa các chướng ngại vào con đường.
Để làm được như thế các bạn cần nhận ra các chướng
ngại khi nó đang xuất hiện. Nhờ sự nhận ra này chướng
ngại có thể được tự-giải thoát. Rất cần thiết phải
vẫn tự do đối với việc mong cầu lẫn sự buồn phiền
để tiến bộ theo con đường của thực hành Dzogchen.
Như
tôi, đã nói hôm qua, Ba Lời Đánh vào Điểm Trọng yếu tương
ứng với tên của ba đạo sư vĩ đại. Cái thấy là Longchen
Rabjam, “sự bao la vô hạn vĩ đại”. Thiền định là Khyentse
Ozer, “các tia sáng của trí huệ và tình thương”. Hành động,
hay sự hoạt động, là Gyalwe Nyugu, “con trai của các đấng
Chiến Thắng”. Với cái thấy này về sự bao la vô hạn vĩ
đại, thiền định về các tia sáng của trí huệ và tình
thương, và hành động của tất cả các đấng Chiến Thắng,
ta sẽ có năng lực trong đời này để tẩy trừ sự bám chấp
và dính mắc nhị nguyên, gốc rễ của vô minh, và cội nguồân
của việc bám chấp vào một bản ngã. Quả thật, ta không
chỉ có thể tẩy trừ mà còn có thể tiêu diệt hoàn toàn
độc tố này từ tận gốc rễ của nó. Không nhận ra được
cái thấy thì việc tiệt trừ này sẽ không thể có được,
và vì thế tiến trình này phải thật rõ ràng.
Ta
phải hiểu rõ bản tánh nền tảng của tánh Không, cũng chính
là sự hiểu biết về bản tánh của tâm. Sự hiểu biết
bản tánh nền tảng của tánh Không có hai phần : ta phải
phát triển sự xác tín vào sự vô ngã của cái ta và sự
vô ngã của mọi sự xuất hiện. Điều này có nghĩa là ta
tiệt trừ tâm thức nhị nguyên của sự bám nắm vào một
cái ta và sự dính mắc vào các sự xuất hiện. Khi đó, ta
có thể nhận thức được rằng mọi sự xuất hiện thì không
hiện hữu.
Được
bao gồm trong “mọi sự xuất hiện” là sáu tri giác : sự
thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và ý thức, chúng bao gồm
căn bản của kinh nghiệm khách quan. Tất cả những tri giác
này không hiện hữu từ quan điểm của bản tánh nền tảng
của tánh Không. Và cực chủ thể của tri giác, có nghĩa là
bản thân ta, thì không hiện hữu. Một khi hai trạng thái của
sự vô ngã hay không hiện hữu này được nhận thức, ta ở
trong một vị trí để được giới thiệu một cách đúng
đắn vào cái thấy của Dzogchen. Đây là cái thấy về bản
tánh bẩm sinh của ta như giác tánh nội tại, thoát khỏi sự
tin tưởng rằng có một cái ta thực sự hiện hữu và có
thực của các sự xuất hiện.
Tiến
trình của sự xác quyết điều này là trước tiên khám phá
sự không hiện hữu của cái ta (bản ngã). Để thực hiện,
ta phải mổ xẻ thân xác ta, ấy là nói vậy, trong một cố
gắng định vị cái “ta” này, bản ngã này, quan niệm về
cái ngã này, để xem nó hiện hữu trong đầu ta, trong tứ
chi hay các bộ phận khác của cơ thể, hoặc ở trong ngũ uẩn
(sắc, thọ, tưởng, hành, thức), và theo đuổi sự nghiên
cứu này cho tới khi ta đi tới kết luận rằng bản ngã thực
sự không hiện hữu. Sau đó, ta bắt đầu nhận thức sâu
xa thân xác như một nhà khách và tâm như một người khách
trong căn nhà đó. Vào lúc chết, tâm và thân tách lìa, nhưng
khi chúng ta còn sống thì chúng ở trong sự hợp nhất toàn
hảo. Chính là trong lúc các bạn còn sống các bạn phải thấu
suốt chân tánh của mối tương quan của chúng. Thân xác ở
đây trong thế giới này. Nó là một sản phẩm của thế giới
này, một sản phẩm của các yếu tố (các đại), và nó tan
rã trở lại vào thế giới loài người này, ở đó nó tan
hoại. Tâm thức đi sang đời sống kế tiếp, trạng thái trung
ấm và được Yama, Thần Chết, mời đi tiếp. Thần Chết
xuất hiện cùng các sứ giả của ông ta và đưa tâm thức
tới trạng thái tái sinh kế tiếp. Cái thực sự dẫn dắt
tâm thức là các tích tập thuộc nghiệp tích cực và tiêu
cực của ta. Nếu ta có thiện nghiệp trổi vượt thì ta sẽ
được tái sinh trong các tầng cấp hiện hữu cao hơn, trong
các cõi trời và cao xa hơn nữa. Nếu ta có các tích tập tiêu
cực trổi vượt thì ta sẽ tái sinh trong các cõi thấp. Với
sự hiểu biết này, các bạn có thể hiểu rõ tầm quan trọng
của việc học pháp Dzogchen.
Có
nhiều truyền thống Dzogchen khác nhau. Trong truyền thống của
tôi, sự nhấn mạnh nằm ở việc có được sự xác quyết
của cái thấy bằng cách nhận ra giác tánh nội tại. Một
khi giác tánh nội tại được nhận ra, nó phải được duy
trì bằng sự thiền định. Nhờ sức mạnh của thiền định,
hành động của ta thiện lành một cách tự nhiên. Dĩ nhiên,
ta còn phải thực hiện các thực hành như các sự lễ lạy,
cúng dường mạn đà la, sáu ba la mật, và v.v... và ta vẫn
còn phải quan tâm tới việc từ bỏ ác hạnh và tích tập
thiện hạnh. Có những người nói rằng một khi hành động
hay sự hoạt động đã được chứng ngộ thì không cần thiết
phải thực sự làm bất cứ thực hành nào với thân thể
của các bạn, và các bạn có thể thực hành sáu ba la mật
với tâm các bạn. Nhưng khi chúng ta nói về hành động có
tính chất giác ngộ thì điều này bao gồm cả hoạt động
vật lý, nó phải được thực hiện với một tâm thức không
bao giờ dao động khỏi sự tỉnh giác của cái thấy, nó là
sự nhận ra bản tánh của các bạn như giác tánh nội tại.
Như vậy, khi các vọng tưởng xuất hiện, chúng được tự
giải thoát ngay khi xuất hiện. Đó là sự thiền định, bởi
nhờ việc hộ trì nhận biết của các bạn về giác tánh
nội tại mà các ý niệm xuất hiện và được tự-giải thoát
một cách tự nhiên. Cái thấy của Dzogchen hủy diệt sự phóng
tâm. Thiền định cho phép ta chịu đựng mọi khía cạnh của
nghịch cảnh và hành động được giải thoát khỏi các giới
hạn của sự mong cầu và phiền muộn. Kết quả là sự đạt
được trạng thái Phật quả. Và bởi vì tất cả chúng ta
phải đau khổ vì sự sinh, già, bệnh, và chết nên cực kỳ
quan trọng là phải thọ nhận các sự ban phước của giáo
lý Dzogchen, và khi thực hành Dzogchen rất cần thiết và lợi
lạc nếu thực hiện các thiện hạnh với thân thể ta. Khi
thực hành Dzogchen các bạn còn cần tận lực để học hỏi
con đường Sutra (Kinh) và nhận thức bản tánh của tánh Không
theo sự tiếp cận kinh điển, bởi lẽ bất kỳ điều gì
được học hỏi từ các thừa khác sẽ nâng cao cái thấy
Dzogchen của các bạn.
Đây
là một giáo lý dễ hiểu, có thể được ban cho những người
bình thường, và không cần một thời gian dài để thành tựu
hay đòi hỏi thật nhiều điều phức tạp. Nó được truyền
dạy bởi ba dòng truyền thừa : dòng truyền dạy tâm-truyền-tâm,
dòng truyền dạy nhờ các biểu tượng và dòng khẩu truyền.
Về sự truyền dạy, tất cả các truyền thống Dzogchen được
bao hàm trong hai phạm trù được gọi là trekchod và tošgal.
Trekchod có nghĩa là “cắt đứt thấu đến tánh thanh tịnh
nguyên thủy” và tošgal nghĩa là “vượt qua tới hiện diện
tự nhiên”. Sự cắt đứt để đi đến tánh thanh tịnh nguyên
thủy có nghĩa là chứng ngộ cái thấy. Sự vượt qua tới
sự hiện diện tự nhiên có nghĩa là sự nhận ra bốn thị
kiến của thực hành tošgal. Bốn thị kiến này là : gặp
gỡ Pháp tánh (dharmata), kinh nghiệm mở rộng, rigpa đạt tới
mức độ viên mãn của nó, và sự tiêu tan các hiện tượng
trong chân tánh của chúng. Kết quả của sự tu tập này là
thân cái-bình-trẻ-trung, là nơi ngơi nghỉ bất biến của
đấng bảo hộ nguyên sơ, Đức Saman-tabhadra (Phổ Hiền).
Truyền
thống Dzogchen này là một pháp môn người ta thường nói là
không thể truyền bá rộng rãi, nhưng ở Tây Tạng, tôi dạy
Dzogchen trên một căn bản quy củ, đặc biệt cho những người
lớn tuổi. Có khoảng sáu tới bảy trăm người lớn tuổi
ở Golok đến học giáo lý Dzogchen với tôi. Những người
Tây Tạng già này không thể nghe và nhìn rõ, nhưng họ là
các hành giả hảo hạng. Và rồi có mọi thanh niên đến thọ
nhận
giáo lý Dzogchen, họ luôn luôn nói họ yêu thích được nghe
Pháp và Pháp cực kỳ hấp dẫn đối với họ biết bao, nhưng
một khi rời khỏi phòng của tôi họ không thực hành do bị
phóng tâm bởi những thứ khác. Tôi biết rằng trong tương
lai tôi sẽ bị chỉ trích bởi người ta sẽ nói rằng tôi
đến Mỹ và giảng dạy rộng rãi pháp Dzogchen, và đây là
điều tôi sẽ phải đối phó. Tuy nhiên, xin hãy hiểu rõ rằng
tôi đến đây là vì lợi lạc của chúng sinh và tôi có một
mục đích, một lý do để có mặt nơi đây, tôi dự định
hoàn thành mục đích ấy và đó đúng là những gì tôi đang
làm.
Tôi
có một vài lời khuyên cho các lama và các nhà sư có mặt
ở đây hôm nay. Các lama và nhà sư cần có một chứng ngộ
nào đó về Dzogchen, đặc biệt là nếu họ sắp nhận lãnh
các sự cúng dường để làm các thực hành nhân danh người
đã chết. Nếu họ không có bất kỳ chứng ngộ Dzogchen nào
thì làm sao họ có thể dẫn dắt một tâm thức từ trạng
thái bardo đi tới trạng thái cao hơn của sự giải thoát,
hoặc thậm chí chỉ đơn giản trợ giúp người khác tẩy
trừ các chướng ngại? Các chướng ngại phát sinh từ các
ý niệm và vì thế nếu người nào đó không có bất kỳ
chứng ngộ Dzogchen nào thì sẽ có thêm các ý niệm được
tạo ra và vị lama hay nhà sư sẽ không có năng lực để loại
trừ ý niệm mà trước hết chúng gây nên chướng ngại. Điều
rất quan trọng là phải thực hành Dzogchen để thành tựu
tất cả các thực hành này vì sự lợi lạc của những người
khác và đó là lý do tại sao tôi đang ban tặng các giáo lý
này ở đây. Ít nhất, ta cần có Bồ đề tâm. Điều tiên
quyết quan trọng nhất đối với Dzogchen là Bồ đề tâm.
CHƯƠNG
4
ĐIỂM
TRỌNG YẾU THỨ HAI :
XÁC
QUYẾT Ở MỘT ĐIỀU
Điểm
trọng yếu đầu tiên là sự nhận ra chân tánh của các bạn,
điều này đã được thảo luận. Điểm trọng yếu thứ hai
là sự xác quyết trên một điều trong thiền định. Việc
nhận ra bản tánh của ta là sự thành tựu cái thấy. Một
khi bản tánh của ta được nhận ra, sự thiền định cần
được hiểu rõ. Thiền định được sử dụng để xác quyết
trên một điều, có sự xác quyết trên một điều, đó là
sự nhận ra bản tánh của riêng ta. Như Ngài Jigme Lingpa đã
nói : “Trong khi ngơi nghỉ trong sự nhận ra rigpa, sẽ không
có thậm chí một mảy tóc xao lãng lang thang và một nguyên
tử thiền định nào.” Các giáo huấn này là những giáo
lý tối hậu về việc tọa thiền thế nào và làm sao duy trì
an định suốt trong ba thời quá khứ, hiện tại và tương
lai tức là trong ban ngày, trong ban đêm, trong khi thiền định,
và trong các kinh nghiệm hậu-thiền định. Trong mọi lúc và
trong mọi tình huống, ta không ngừng an nghỉ trong rigpa. Đây
là sự thực hành thiền định, là điểm trọng yếu thứ
hai về sự xác quyết trên một điều. Chính điều đó là
cái mà các bạn duy trì không ngừng nghỉ. Tâm thì không ngừng
nghỉ, và nếu sự tỉnh giác được duy trì thì ta không bao
giờ xa lìa với chân tánh của ta. Rigpa có nghĩa là sự nhận
ra bản tánh của tâm.
Ngày
hôm qua tôi đã nói qua về sự thiền định shamatha và vipashyana,
sự an trú yên bình và sự quán chiếu thấu suốt. Các tiếp
cận Dzogchen với các giáo lý này thì khác biệt các trường
phái Phật giáo thấp hơn. Sự an trú yên bình thì giống như
một đại dương không có sóng, hoàn toàn yên tĩnh. Thông thường,
bản tánh của đại dương là sự chuyển động và sự phô
diễn của mọi sự chuyển động đó là những con sóng. Khi
nước lắng dịu và yên tĩnh, nó trở nên trong trẻo và các
bạn có thể thấy rõ nó. Nó trở nên hoàn toàn trong vắt
và được so sánh với sự quán chiếu thấu suốt. Cũng thế,
sự trong sáng xuất phát từ một tâm thức an tĩnh. Bởi bản
tánh của giác tánh nội tại thì không bị ngăn che bởi bất
cứ điều gì, không có những phân biệt hay các giới hạn
được áp đặt lên tâm thức. Không có các biên giới. Những
trạng thái xuất hiện trong bầu trời như các đám mây và
bóng tối, ngăn che sự tinh khôi của không gian, và điều đó
tương tự như các ý niệm phát sinh trong tâm chúng ta. Khi chúng
ta nghỉ ngơi trong giác tánh rigpa, các che chướng đó không
hiện diện, và khi chúng không hiện diện, chúng ta đang an
trụ một cách yên bình. Khi chúng ta đang an trụ yên bình trong
rigpa, sự trong sáng của rigpa hiện diện bẩm sinh và sự trong
sáng đó là sự quán chiếu thấu suốt. Các con sóng của sự
mê lầm bị tiệt trừ và giác tánh nội tại tự-sinh tự
biểu lộ như sự quán chiếu thấu suốt. Sự quán chiếu thấu
suốt này cũng có thể được gọi là svabhavikakaya hiện
thân của bản tánh của thực tại như nó là sự trong
sáng trống không, nó cũng là Pháp Thân. Nó không tách lìa
Pháp Thân. Trong khi duy trì cái thấy rigpa, là sự thiền định,
bất kỳ điều gì xuất hiện trong tâm, dù là các cảm xúc
về nỗi vui hay nỗi buồn, đều không được đeo đuổi theo.
Nếu các bạn đeo đuổi các tư tưởng và cảm xúc xuất hiện,
đeo bám vào tri giác chủ thể và khách thể, thì các bạn
đang sử dụng tâm thức ý niệm bình thường và đang tích
tập các khuynh hướng tập quán. Không có gì để làm với
rigpa. Không có sự thiền định được áp đặt lên cái thấy
Dzogchen. Cái thấy là sự thiền định. Nếu có điều gì được
áp đặt, một vài loại kỹ thuật, thì nó trở thành tri giác
mê lầm, các hiện tượng mê lầm.
Ta
phải quen thuộc với sự duy trì cái thấy trong trạng thái
tự nhiên của nó. Nếu ta không quen thuộc với điều đó
thì sự thiền định là một dòng vọng tưởng ngăn che rigpa.
Làm thế nào các bạn có thể củng cố việc nhận ra rigpa
của các bạn nếu như các con sóng vọng tưởng đang liên
tục đổ tràn lên nó? Đây là một giáo huấn trực chỉ cốt
tủy về cách thiền định không thiền định. Không có gì
để nắm giữ như là một sự thiền định. Các bạn phải
hợp nhất cái thấy và sự thiền định giống như nước
và sữa. Nếu các bạn không biết cách nào để làm điều
này, các bạn là một người bình thường đang thực hành
một vài hình thức thiền định thấp hơn. Nói thế không
có nghĩa là các loại thiền định khác là các cấp bậc không
có giá trị trên con đường, nhưng chúng không phải là thiền
định Dzogchen.
Dzogchen
không có thiền định. Bản tánh thì trống không và bản tánh
trống không đó là sự bao la vô hạn của Pháp tánh. Nó là
cái gì không bao giờ xa lìa các bạn nhưng các bạn hoàn toàn
chưa từng thấy nó trước đây. Vì thế giờ đây các bạn
phải làm sáng tỏ nó. Các bạn phải hiểu rõ sự quân bình
của bổn tâm các bạn, nó là giác tánh nội tại, sự trong
sáng trống không thoát khỏi bất kỳ loại tạo tác nào. Dù
điều gì xuất hiện, niềm hạnh phúc hay nỗi buồn phiền,
hoặc bất cứ điều gì, hãy chỉ cho phép nó được biểu
lộ như nó xuất hiện tự nhiên từ tánh Không và sau đó
tan hòa trở lại vào tánh Không. Để tiến trình đó có thể
xảy ra một cách tự nhiên, mà nó sẽ như thế, các bạn phải
thành tựu sự xác quyết trong cái thấy và duy trì nó trong
sự thiền định. Nếu các bạn không có sự xác quyết mạnh
mẽ, các bạn sẽ không có năng lực cần thiết để duy trì
cái thấy khi đứng trước một cuộc tấn công của các vọng
tưởng.
Các
bạn đừng tự cho mình là một đại thiền giả, có những
tư tưởng như : “Không ai thiền định tốt hơn tôi.” Đó
là một thái độ không thích đáng không nên có sau khi thọ
nhận và thực hành các giáo lý này. Một người thấu hiểu
Dzogchen biết rằng “tôi” không hiện hữu. “Tôi” thì
không hiện hữu, vì thế hãy quên cái “tôi” không hiện
hữu đó đi và để cho bản tánh của các bạn an trú trong
trạng thái tự nhiên của nó. Rồi thì các khuynh hướng nhị
nguyên sẽ xuất hiện, nhưng giống như các đám mây thình
lình hình thành trong bầu trời, chúng sẽ tan biến ngay sau
đó. Chúng đến và đi một cách tự nhiêu nếu chúng không
được đeo đuổi. Dù chúng tốt hay xấu chúng sẽ xuất hiện
và tan hòa trong không gian trống không của giác tánh nội tại.
Điều hết sức quan trọng là hiểu rõ sự không thiền định
của đại định tự-sinh và duy trì trạng thái này trong mọi
lúc và trong mọi tình huống.
Trong
Phật giáo, có những cách tiếp cận khác chẳng hạn như phái
Tiểu thừa, nếu người trong phái đó bị hấp dẫn bởi một
người khác phái thì người ấy phải lập tức nghĩ tưởng
: “Ồ người đó không đáng ao ước bởi thân thể anh (cô)
ấy
được tạo nên bởi thịt, xương và máu” và tu tập tâm
thức để suy tưởng về đối tượng như cái gì đáng nhàm
chán. Hoặc nếu người nào đó có ác cảm đối với những
kẻ thù và bám luyến với những người thân thì lập tức
họ tu tập tâm thức bằng cách nghĩ : “Ồ thôi nào, điều
này không đúng, mặc dù bây giờ tôi cảm nhận nó, nhưng
vì trong quá khứ những thân quyến này đã từng là các kẻ
thù của tôi và những kẻ thù này đã từng là quyến thuộc
của tôi”. Và họ phải nỗ lực thay đổi sự mê lầm của
mình bằng cách hiểu biết trên bình diện trí thức sự tiếp
cận đúng đắn là gì. Đây là cách tiếp cận của các truyền
thống khác, và khi tôi nói “các truyền thống khác”, tôi
muốn nói rằng nó vẫn là một tiếp cận của Phật giáo
nhưng không phải là cách tiếp cận của Dzogchen. Xin hiểu
rõ rằng cách đối trị sự xuất hiện của các vọng tưởng
chỉ đơn giản là duy trì cái thấy. Với cách đối trị độc
nhất này mọi ý niệm được giải thoát, cho dù chúng vui
thích hay không đáng ưa. Có thể các mê lầm của các bạn
đang sôi sục như nồi súp, nhưng nó không thành vấn đề,
bởi nếu các bạn duy trì cái thấy thì bất luận các mê
lầm đó có thể mạnh mẽ đến đâu, chúng sẽ tan biến khi
đứng trước giác tánh nội tại là bản tánh của các bạn.
Với một bí quyết này tất cả các vấn đề được đồng
thời giải quyết.
Cái
thấy giải trừ các sự phóng tâm, thiền định cho phép ta
chịu đựng mọi tình trạng nghịch cảnh, hành động là an
trụ ở trên sự lấy và bỏ, và kết quả là đạt đến
nơi chốn an nghỉ bất động. Một khi ta đã thực sự thành
tựu Dzogchen theo cách này, thì cho dù có ai hăm dọa giết các
bạn, các bạn sẽ không sợ hãi vì thiền giả Dzog-chen biết
rõ rằng không có gì là chân thật hay thực có, mà đúng hơn,
nó là một ảo tưởng. Đơn giản sự sợ hãi đã không được
kinh nghiệm ngay lúc hình thành. Theo các hệ thống triết học
khác, có vô số cách đối trị được sử dụng để làm
việc với các niệm tưởng sinh khởi, cản ngăn chúng ta an
trụ trong giác tánh rigpa. Nhưng khi lên tới Dzogchen thì có
một cách đối trị độc nhất và đó là duy trì sự nhận
ra giác tánh nội tại.
Bằng
cách biết rõ một điều, mọi sự được giải thoát, mọi
sự được tự do. Có ba cách để giải thoát các vọng tưởng
: nhận biết các vọng tưởng là gì, theo cách các bạn nhận
ra một người quen cũ; hiểu rõ rằng chúng không ích lợi
và cũng chẳng có hại; và để chúng tự-giải thoát giống
như một con rắn đang khoanh tròn mở mình ra một cách tự
nhiên.
Bản
chất của tâm là sự chói sáng trống không, giống như những
tia sáng chói lọi của mặt trời. Có những tình thế ngăn
cản năng lực và sự chói sáng của mặt trời, chẳng hạn
như bóng tối, những đám mây và mưa dông. Những tình thế
này thì tương tự như các ý niệm ngăn che sự nhận ra rigpa
của chúng ta, và vì thế mặt trời tạm thời bị ngăn che
đối với cái thấy của chúng ta. Những đám mây này trên
bầu trời là những tình thế nhất thời, nhưng rồi một
cơn gió mạnh xuất hiện và xua tan mây mù. Tám mươi bốn
ngàn loại mê lầm thì cực kỳ mãnh liệt nếu như các bạn
không thể phân biệt giữa một vọng tưởng thô và tế. Nó
rất nguy hiểm và các bạn có thể rơi vào một quan kiến
hư vô theo đánh giá của thiền định Dzogchen. Ta có thể để
cho mình hoàn toàn mờ đục, ngơ ngẩn, và bị sốc, ở trong
một tình trạng tăm tối không nhận biết tình trạng là như
thế và cho rằng nó là thiền định. Nếu các bạn bị cảnh
sát bắt giữ bởi hoạt động phi pháp nào đó mà các bạn
dính vào, thình lình các bạn bị bắt và bị lôi đi, các
bạn sẽ hoàn toàn xúc động. Khi ấy, mặc dù có ai đang nói
với các bạn, các bạn sẽ không nhận ra anh ta. Điều đó
giống như trạng thái tăm tối nặng nề này mà một thiền
giả có thể mắc phải, nó không phải là giác tánh nội tại
mà là một sự trệch hướng trầm trọng. Nó cũng giống như
một trạng thái ngủ sâu, trong đó không có các giấc mơ hay
sự tỉnh giác nào mà chỉ là một trạng thái mờ đục, nặng
nề, tăm tối. Gốc rễ của những gì gây nên trạng thái
này phải bị cắt đứt, loại bỏ.
Ở
Tây Tạng chúng tôi tin là có loài rồng. Thật vậy, chúng
tôi biết chúng hiện hữu, nhưng có lẽ do sự giáo dục Tây
phương của các bạn nên các bạn không tin là chúng có thật.
Các bạn có thể cho rằng chúng chỉ là sự kếât hợp của
các dòng điện dương và âm tạo nên các hình dạng của những
con rồng trên bầu trời, nhưng các bạn hoàn toàn không biết
điều gì khác. Các bạn không biết về điều mà các bạn
đang bàn. Những con rồng thì luôn luôn hiện hữu nhưng các
bạn không tin tôi. Những con rồng này, một loại thuộc loài
rắn, thực sự sống ở đáy các đại dương, những con sông,
và các vùng nước khác. Chúng sống trong nước, nước là
không gian của chúng và thực sự không có sự phân biệt nào.
Khi chúng nổi lên từ dưới nước, chúng tạo nên một loại
hiện tượng bão táp do bởi năng lực chúng dùng để nổi
lên. Ở Golok, có một con sông được gọi là Machu, nó rất
rộng, giống như sông Hằng ở Ấn Độ. Tôi nhớ điều gì
đó đã xảy ra ở đấy khi tôi còn là một đứa bé. Một
con rồng nổi lên từ sông Machu như một cơn bão táp khổng
lổ. Có vẻ nhưng thể toàn thể thị trấn sẽ bị tiêu hủy
nhưng con rồng đã nhấc bổng thị trấn lên và đặt xuống
ở vị trí khác, hoàn toàn nguyên vẹn, không có chút thiệt
hại nào. Những con rồng này có rất nhiều năng lực kỳ
diệu. Tôi biết các bạn không tin tôi.
Tương
tự như vậy, các bạn cho rằng các niệm tưởng bất thiện
thì vô hại. Từ quan điểm Dzogchen, khi các bạn đang ở trong
thiền định, chúng không làm hại giác tánh nội tại. Bản
tánh của tâm thì không mê lầm, nhưng khi các niệm tưởng
mê lầm phát sinh, hình thành và được vận dụng, chúng tích
tập các khuynh hướng gây tổn hại cho bản tánh thiện do
bởi sự phóng tâm xuất hiện. Bản tánh của chân lý, Pháp
tánh, thì không bao giờ bị tổn hại bởi bất kỳ điều
gì là xấu ác. Điều đó không thể. Nhưng một cách tạm
thời, vòng sinh tử bắt đầu hoạt động. Mỗi một chúng
sinh hữu tình có các tập quán và khuynh hướng khiến cho họ
đi vào vòng sinh tử, họ có các tập quán của sự tái sinh
đặc thù đó. Chúng sinh trải nghiệm đau khổ và hỉ lạc
từng lúc gián đoạn. Chúng sinh vẫn ở trong sinh tử là do
bởi ác hạnh. Một sự tái sinh cao hơn hay tâm thái cao cấp
hơn nữa do bởi tự tích tập đức hạnh. Đây là một dấu
hiệu cho thấy đức hạnh và ác hạnh thì lợi lạc và có
hại một cách tương ứng cho tới khi nào vòng sinh tử còn
tồn tại. Cho tới khi nào tất cả các pháp phức hợp bị
cạn kiệt vào bản tánh nền tảng của thực tại thì tiến
trình hại và lợi này mới ngưng hiện hữu. Đó là trạng
thái Phật quả, và ta sẽ không thoát khỏi vòng tròn của
sinh tử lợi và hại và v.v... – cho tới khi nó được
thành tựu. Các bạn phải duy trì khía cạnh tỉnh thức của
nền tảng giác tánh nội tại và hiểu rõ sự phô diễn vô
thường của các hiện tượng. Nền tảng thì không tạm thời.
Nền tảng, tánh Không, thì thường hằng nhưng sự hoạt động
của nền tảng khi nó tự phô diễn thì tạm thời, đôi khi
tích cực và đôi khi tiêu cực. Các bạn phải duy trì sự
tỉnh giác về nền tảng trong suốt thời gian của sự phô
diễn và trong sự phô diễn đó các kinh nghiệm khác như sự
hỉ lạc, trong sáng và vô niệm sẽ xuất hiện. Những kinh
nghiệm này sẽ xuất hiện nhưng chúng cần được nhìn như
các khía cạnh của sự phô diễn.
Ba
kinh nghiệm này về sự hỉ lạc, trong sáng, và vô niệm không
bao giờ được lầm lẫn như các khía cạnh của thiền định
Dzogchen. Trong mọi lúc và trong mọi tình huống, ta phải duy
trì sự nhận biết về giác tánh nội tại tươi mới, trần
trụi như bản tánh trí huệ nguyên thủy của tâm. Việc lạc
hướng bằng cách bám víu vào các ý niệm thông thường là
hiểu sai con đường Dzogchen và ta sẽ tiếp tục tích tập
các nguyên nhân cho sự tái sinh trong sinh tử. Do trở nên tham
luyến sự hỉ lạc, ta đi vào cõi dục; do trở nên tham luyến
sự trong sáng, ta đi vào sắc giới; và do tham luyến sự vô
niệm, ta đi vào cõi vô sắc. Các vọng tưởng ngăn che giác
tánh trống không, nhưng bản tánh của chúng là Pháp Thân.
Vì thế khi các vọng tưởng xuất hiện, chúng không gây nên
sự đe dọa mà chỉ là sự phô diễn của Pháp Thân, và ta
không cần có bất kỳ phản ứng đối kháng nào với chúng.
Dù nó là sự hỉ lạc, trong sáng hay một vài kinh nghiệm về
hạnh phúc xuất hiện trong tâm thức các bạn, hãy để tâm
các bạn ở trong bản tánh trinh nguyên của giác tánh nội
tại của nó.
Trong
bản văn gốc nói : “Sau đó, dù tâm các bạn sôi nổi hay
yên tĩnh, dù các bạn sân hận hay tham luyến, dù vui hay buồn,
trong mọi lúc và mọi cơ hội hãy chấp nhận Pháp Thân đã
được nhận ra và để cho ánh sáng con hợp nhất với ánh
sáng mẹ đã được nhận biết. Hãy nghỉ ngơi trong trạng
thái giác tánh không thể diễn bày. Hãy tiêu diệt nhiều lần
sự vô niệm, hỉ lạc, trong sáng, và vọng tưởng. Để cho
âm tiết của trí huệ và phương tiện tức khắc đánh gục
chúng. Âm tiết đó là PHAT. PHAT được cấu tạo bởi hai chữ,
PHA và T. Chữ PHA là chữ tương ứng với nguyên lý nam, phương
tiện