CHƯƠNG
6
BARDO
VÀO LÚC CHẾT
Tối
nay tôi muốn bàn về Bardo của Giây Phút Chết, “sự giải
thoát tự nhiên nhờ sự chuyển di tâm thức, nó làm rõ ràng
điều không xác quyết”. Nó tương tự việc nhận một ân
xá từ một vị vua. Sự tương đồng này muốn nói tới một
tình huống ở đó một người bị nhà vua bắt đi đày bỗng
nhiên nhận được tin cho biết lệnh ân xá đã được ban
ra và anh ta được tự do trở về. Người ấy sẽ cảm thấy
vững tin và không còn sợ hãi khi nghe những tin tức đó. Tương
tự như vậy, bởi nhận lãnh các giáo huấn trực chỉ về
sự tự-xuất hiện và tiến trình chết như con đường, là
điều trước đây đáng sợ, không chắc chắn và không rõ
ràng, thì thình lình nó rõ ràng và hiển nhiên. Đó là lý
do tại sao các bạn cần thực hành Giáo Pháp sâu xa này và
được chuẩn bị đầy đủ cho giây phút chết.
Giây
phút chết này cũng được gọi là “sự coi giây phút chết
như con đường”. Nếu các bạn nhận lãnh và thực hành các
giáo lý về sự chuyển di tâm thức này, các bạn sẽ có khả
năng tiếp cận giây phút chết mà không sợ hãi. Các bạn
sẽ hoàn toàn được chuẩn bị để diện kiến định mệnh
của các bạn không chút nghi ngại. Bằng cách nhận lãnh các
giáo lý về phowa từ một bậc thầy tâm linh có phẩm chất,
các bạn bắt gặp một thực hành để phân biệt giữa samsara
(sinh tử) và Nirvana (Niết bàn). Các bạn nhận được cơ hội
để thực sự vượt qua vòng sinh tử. Các bạn phải chuẩn
bị cho giây phút chết trong khi các bạn còn sống. Nếu các
bạn đã từng chuẩn bị, khi giây phút cái chết đến các
bạn sẽ nhớ lại rõ ràng các giáo huấn trực chỉ và sử
dụng chúng. Điều này sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào sự thực
hành mà các bạn đã hoàn tất trong đời các bạn.
Ngài
Jetsun Milarepa nói : “Vì sợ chết, tôi chạy trốn vào núi
để thiền định và nhớ lại sự vô thường của cuộc đời.
Đạt được chỗ an nghỉ bẩm sinh và bất biến của sự
bất tử là sự tỉnh giác bên trong về cái chết và lẽ vô
thường.” Nếu ta được chuẩn bị cho cái chết thì cũng
giống như đang được chuẩn bị cho cuộc chiến đấu : khi
biết quân địch đang đến gần thì điều khôn ngoan là có
vũ khí trong tay. Cũng thế, khi chuẩn bị cho giây phút chết,
là một thời điểm của nỗi đau khổ to lớn, các bạn cần
được chuẩn bị đầy đủ để đối mặt giây phút đó
một cách trực tiếp và chiến thắng nó. Các bạn phải lợi
dụng cơ hội để thực hành trong khi các bạn còn sống. Toàn
bộ một cuộc đời thực hành Pháp được thể hiện vào
giây phút chết. Cực kỳ quan trọng vào lúc chết là các bạn
phải an trụ không phóng tâm và phải sử dụng các giáo huấn
trực chỉ mà các bạn đã được ban cho.
Từ
lúc sinh ra cho tới lúc chết, chúng ta ở trong Bardo Đời Này.
Từ lúc bệnh tật hay điều kiện (duyên) sẽ gây nên cái
chết của chúng ta bắt đầu cho tới khi hơi thở bên trong
bị trục xuất, chúng ta kinh nghiệm Bardo Giây Phút Chết. Khi
chúng ta chết, chúng ta từ giã thế giới này và mọi sự
trong đó. Chúng ta từ bỏ gia đình, bạn bè và những người
thân yêu của ta. Chúng ta phải chia lìa với tất cả những
người đã từng rất thân thiết với ta cũng như chia lìa
với
tài sản của ta và mọi sự là quan trọng trong suốt đời
ta. Các câu kệ gốc viết : “Tôi sẽ từ bỏ mọi bám chấp,
khát khao và tham luyến vào lúc chết.” Cực kỳ quan trọng
là phải buông bỏ sự tham luyến của các bạn đối với
những hiện tượng của đời này. Theo cách này, các bạn
có thể tập trung một cách rõ ràng vào các giáo huấn các
bạn đã nhận lãnh trong đời này và các thực hành các bạn
đã hoàn tất. Vào lúc chết, các bạn có thể thực sự chứng
ngộ tịnh quang vô sinh và đi vào pháp tánh, nhưng điều đó
sẽ tùy thuộc vào sự thực hành mà các bạn đã hoàn tất.
Sự
chuẩn bị tốt nhất cho cái chết là hoàn thiện hai giai đoạn
của thực hành Dzogchen trong suốt đời các bạn. Chúng là
trekchod, sự cắt đứt để đi vào cái thuần tịnh nguyên
sơ, và tošgal, sự vượt qua với sự hiện diện tự nhiên.
Nếu điều này không thể làm được, thì các bạn nên chuẩn
bị bằng cách nhận các giáo huấn về phowa, sự chuyển di
tâm thức vào lúc chết. Một cá nhân có thể đã từng nhận
được mọi giáo huấn cần thiết để thành tựu Dzogchen,
hay kinh nghiệm các sắc tướng như ảo tưởng huyễn hóa,
hoặc Bardo của Trạng Thái Mộng nhưng có thể không đủ khả
năng để thành tựu sự thực hành. Những người không có
cơ hội để thực hành các kỹ thuật sâu xa do những phóng
tâm trong các hoạt động hàng ngày có thể là những nhà lãnh
đạo, những gia chủ v.v... Trong những trường hợp như thế,
các giáo huấn sâu xa bị mất hút trong đời sống đó. Vì
thế tâm thức vẫn cần đến một phương pháp nhờ đó sự
giác ngộ có thể được thành tựu mà không cần thiền định.
Phương pháp đó là phowa, cũng được nhắc đến như sự tự-giải
thoát ngay trên nhận biết, nó cho phép một người không thiền
định đi vào một trạng thái tỉnh giác giải thoát khỏi
vòng sinh tử và như thế ám chỉ tới một nơi chốn an nghỉ
bất biến. Với phowa, một người bình thường vẫn có một
cơ may để đạt được giải thoát bằng cách tự quen thuộc
với kỹ thuật sâu xa này.
Có
hai giai đoạn đối với thực hành phowa : sự chuẩn bị trước
cái chết và sự chuyển di tâm thức thực sự vào lúc chết.
Giai đoạn đầu tiên được thực hành khi các bạn còn khỏe
và vẫn còn có thể thực hành nó. Không có sự thực hành
phowa, các bạn sẽ không sẵn sàng vào lúc chết và sẽ không
có sự chuyển di tâm thức vào lúc đó. Các bạn cần chuẩn
bị tâm thức cho sự không thể tránh được của cái chết
và sự chuyển tiếp xảy ra trong cách thức tương tự cách
những con chim di trú từ những khí hậu lạnh lẽo tới khí
hậu ấm áp trong mùa đông. Biết rằng cái chết không thể
tránh được và thời gian của nó thì bất định, các bạn
nên thành tựu sự thực hành càng sớm càng tốt. Trong cách
này, các bạn có khả năng du hành tới đích điểm của các
bạn mà không có bất kỳ trở ngại hay che chướng nào. Một
sự tái sinh làm người quý báu với những tự do và đặc
ân của nó thì cần thiết để thực hành phowa. Một hành
giả phowa phải tỉnh giác về sự quý báu của việc tái sinh
làm người này và nỗ lực duy trì nó bao lâu ông còn có thể
được mang thân người.
Các
dấu hiệu của cái chết có bốn loại : hai dấu hiệu đầu
tiên phải thực hiện với thứ tự thời gian, là các dấu
hiệu chỉ ra rằng cái chết không lập tức và các dấu hiệu
cho thấy là cái chết thì lập tức. Các dấu hiệu này được
trình bày trong bản văn gọi là Tsenma Rangdrol, Sự Tự-Giải
Thoát của các Đặc Tính. Nó ích lợi để các bạn tự làm
quen thuộc với các dấu hiệu này bởi nếu chúng được nhận
ra thì các bạn có cơ hội để tăng tiến sự thực hành của
các bạn.
Về
điểm này, tôi muốn nói rõ rằng phowa không bao giờ được
dùng để thâu ngắn đời người. Các dấu hiệu của việc
tới gần của cái chết thì quan trọng và ích lợi trong việc
trợ giúp hành giả nhanh chóng thành tựu sự thực hành. Bất
kỳ cố gắng nào để đẩy nhanh tiến trình hấp hối đều
cực kỳ tiêu cực và tương tự như việc tự tử, là một
trong những hành động thuộc về nghiệp xấu nặng nề nhất
mà một người có thể mắc phạm.
Có
nhiều lý do cho điều này. Lý do hiển nhiên nhất là không
có gì quý báu hay hi hữu hơn sự tái sinh làm người này và
vì thế nó cần được duy trì càng lâu càng tốt. Đức Phật
đã dạy rằng nghiệp tiêu cực do bởi lấy đi mạng sống
của một chúng sinh phải được hoàn trả năm trăm đời trong
các cõi địa ngục. Trong thân thể các bạn có tám mươi tư
ngàn loại ký sinh vật sinh sống, nhờ vậy mà không bị bệnh
tật vật lý hay sự mất quân bình. Khi các bạn đau ốm, các
ký sinh vật cũng kinh nghiệm sự bệnh tật. Vì thế, nếu
các bạn tự sát, các bạn đang đồng thời tiêu diệt nghiệp
bằng cách tái sinh trong các cõi địa ngục năm trăm đời
đối với mỗi ký sinh vật. Các bạn đừng bao giờ nên nghĩ
ngợi tới việc lấy đi mạng sống của chính mình.
Từ
một quan điểm Kim Cương thừa, việc lấy đi mạng sống của
chính các bạn hoàn toàn là sự hủy diệt các bổn tôn hòa
bình và phẫn nộ cư trú trong thân Kim cương. Đây là tư tưởng
thậm chí còn tệ hơn các trọng tội. Năm trọng tội là giết
cha, giết mẹ, giết một vị A La Hán, gây nên một sự mất
hòa hợp trong tăng đoàn hay cố ý làm đổ máu một đấng
Thiện Thệ. Các bạn cần cực kỳ thận trọng về bất kỳ
khuynh hướng nào dẫn đến một cái chết non qua hành động
này. Ngay cả trước khi ta cân nhắc trong việc thực hiện
pháp phowa thực sự là sự chuyển di vào lúc chết, những
buổi lễ nào đó cần được thực hiện để đánh lừa cái
chết. Nếu đã có các dấu hiệu cho thấy cái chết của ta
là chắc chắn thì có các buổi lễ có thể được cử hành
để lừa dối hay trì hỗn cái chết, và sau khi chúng đã được
cử hành ba lần, sau đó và chỉ sau đó mới là lúc thích
hợp để tiến hành pháp phowa thực sự.
Những
buỗi lễ đó đưa chúng ta tới giây phút thực sự mà các
bạn sẽ thực hiện sự chuyển di tâm thức, khi hoàn toàn
không thể đảo ngược lại được giây phút chết. Như tôi
đã đề cập tới trước đây, có hai giai đoạn đối với
sự thực hành phowa : sự tu tập khi ta còn sống trong sự chuẩn
bị cho cái chết của ta và sự chuyển di tâm thức thực sự
vào lúc chết. Trong cả hai trường hợp, ba nhận thức phải
được củng cố. Ba nhận thức này là nhận thức kinh mạch
trung ương như con đường, tâm thức của các bạn như kẻ
du hành trên con đường và đích đến là Dewa-chen, Cõi Cực
Lạc. Một khi các bạn đã củng cố ba nhận thức này, tâm
thức được tu tập để đi lên con đường kinh mạch trung
ương hướng thẳng tới mục đích là trái tim Đức Phật
A Di Đà, đấng an trú trong cõi Dewachen.
Trước
khi bắt đầu giai đoạn đầu tiên của sự thực hành, hãy
suy niệm bốn tư tưởng chuyển hóa tâm và hãy khơi dậy Bồ
đề tâm. Sau đó các bạn bắt đầu thực hành bằng cách
ngồi trong tư thế hoa sen viên mãn (kiết già), xương sống
thật thẳng, với đôi bàn tay trong bộ ấn như sau : các lòng
bàn tay đặt nhẹ trên hai đầu gối với các ngón tay duỗi
và hướng xuống trong cử chỉ chạm đất. Hãy quán tưởng
một chữ HUNG xanh dương thật trong sáng và chói ngời trong
trái tim các bạn. Từ chữ HUNG chính trong trung tâm tim của
các bạn một chữ HUNG khác chiếu sáng và đi xuống, phong
tỏa lỗ dưới (hậu môn), đóng cánh cửa tái sinh trong các
cõi địa ngục. Một lần nữa, từ chữ HUNG trong trung tâm
tim các bạn, một chữ HUNG thứ hai chiếu tỏa ra, đi xuống
lỗ của lối vào bí mật và đóng cánh cửa tái sinh trong
cõi súc sinh. Chữ HUNG khác tỏa chiếu từ chữ HUNG trong trung
tâm tim các bạn và phong tỏa miệng. Hai chữ HUNG nữa chiếu
ra phong tỏa hai lỗ tai. Hai chữ HUNG nữa chiếu ra phong tỏa
ra hai lỗ mũi. Rồi tưởng tượng rằng các lỗ còn lại được
phong tỏa bởi chữ HUNG khiến cho tâm thức không thể thoát
ra khỏi thân thể từ bất kỳ nơi nào khác hơn là lỗ mở
ở đỉnh đầu.
Ở
lỗ mở trên đỉnh đầu, hãy quán tưởng một chữ HAM trắng
lộn ngược. Hãy bắt đầu bằng cách quán tưởng một cách
rõ ràng kinh mạch trung ương chạy xuyên qua giữa thân các
bạn và nó có hình dạng của một ruột cừu khô được thổi
phồng lên, trong suốt nhưng rõ ràng. Kinh mạch trung ương chạy
suốt từ tận lỗ mở ở đỉnh đầu các bạn xuống tới
chỗ dưới rốn bằng bề rộng bốn ngón tay. Nó có màu trắng
sáng, chói ngời và chạy thẳng lên. Trong trung tâm của kinh
mạch năng lực trung ương là bản tánh của giác tánh của
ta. Nó có hình dạng của một bindu ánh sáng, màu trắng, chói
ngời, trong sáng, nổi và rung động như thể sẵn sàng vút
lên. Các bạn cần quán tưởng bindu năng lực ánh sáng, là
giác tánh của các bạn, trong trung tâm kinh mạch trung ương
để nó có thể vọt lên thật dễ dàng và ra khỏi đỉnh
đầu các bạn. Rất cần quán tưởng một chỗ mở rộng của
kinh mạch trung ương ở lỗ mở trên đỉnh đầu không có
sự ngăn che nào.
Sẽ
có nhiều dấu hiệu là cái chết sắp xảy ra và một vài
trong số các dấu hiệu này sẽ xảy ra trong các giấc mộng.
Thái độ tinh thần của ta sẽ thay đổi khi sức khỏe thể
chất thay đổi. Đây là một vấn đề rộng lớn mà tôi không
có thì giờ để đi vào. Có nhiều dấu hiệu để tìm kiếm
sự xác định là thật ra cái chết có sắp xảy ra không.
Tuy nhiên, cho dù các dấu hiệu xuất hiện thì các bạn cũng
chỉ có thể chết sau nhiều năm. Một số người chết trẻ,
một số chết già. Một số chết vì các loại vũ khí và
một số bởi chiến tranh. Một số chết vì bom đạn.
Cách
thức chết của chúng ta thì không chắc chắn nhưng sự kiện
chúng ta sẽ chết thì tuyệt đối chắc chắn. Bởi sự không
chắc chắn này, các bạn cần sẵn sàng để thực hiện giai
đoạn thứ hai của sự thực hành phowa vào bất kỳ giây phút
nào có được. Đối với các hành giả Đại Viên Mãn, vua
của mọi kỹ thuật chuyển di sẽ được sử dụng, và đó
là hợp nhất giác tánh nội tại của ta với tâm của đạo
sư. Bản tánh của tâm là rigpa, giác tánh trống không nội
tại, và nhờ năng lực của thực hành thiền định mà ta
có thể thể hiện giác tánh nội tại vào lúc chết. Thật
quen thuộc với việc hợp nhất giác tánh nội tại của ta
với tâm của đạo sư là điều rất quan trọng. Việc duy
trì trạng thái quân bình này vào lúc chết được gọi là
sự chuyển di tâm thức tối thượng bằng sự thể nhập cái
thấy Pháp Thân.
Kỹ
thuật bậc trung là sự hợp nhất các giai đoạn phát triển
và thành tựu được gọi là “sự chuyển di tâm thức Báo
Thân”. Phowa Hóa Thân được thành tựu qua ba nhận thức,
nó cho phép tâm hành giả chuyển di tới cõi cực lạc Hóa
Thân.
Vào
lúc chết, sau khi bốn yếu tố (tứ đại) đã phân tán lẫn
vào nhau, ba giai đoạn của sự tan rã xảy ra theo thứ tự
liên tiếp. Sự xuất hiện đầu tiên là một tia sáng trắng.
Sự xuất hiện thứ hai là một tia sáng đỏ. Sự xuất hiện
thứ ba là một sự thoáng ngất, một kinh nghiệm của sự
rơi vào vô thức và sau đó tịnh quang, ánh sáng căn bản,
tự trình hiện. Trừ các Bồ tát với sự chứng ngộ cao nhất,
các giai đoạn tan rã này xảy ra cho tất cả mọi người vào
lúc chết. Điều thật quan trọng là bản thân các bạn phải
quen thuộc với chúng. Những giai đoạn này rất mãnh liệt
bởi vì sự tan rã có tính chất sinh học ảnh hưởng tới
tâm thức. Cách thức duy nhất để vượt qua sự khó khăn
của giai đoạn tan rã là bằng đại định của cái thấy
kim cương, một đại định mà chỉ các Bồ tát với chứng
ngộ cao tột mới có thể thành tựu. Có nhiều giáo lý về
các giai đoạn tan rã xảy ra vào lúc chết. Ngài Patrul Rinpoche
đã ban cho một số giáo lý liên quan tới các giai đoạn tan
rã này và chúng rất ích lợi cho những người sơ học bởi
sự tiếp cận thì thẳng tắt.
Khi
các giai đoạn tan rã bắt đầu, thị lực của ta bị mất
đi như thể nhãn thức ngưng hiện hữu. Nhĩ thức ngưng hiện
hữu. Thân thức ngưng hiện hữu. Sáu tri giác của giác quan
bị suy kiệt khi tiến trình tan rã xảy ra. Vào một lúc nào
đó trong giai đoạn tan rã này, ta không còn kinh nghiệm các
phản ứng như sự hạnh phúc hay đau khổ nữa. Những cảm
xúc đó bị tẩy trừ khỏi tâm thức. Rồi tới một lúc trong
tiến trình tan rã này khi người hấp hối không còn nhận
biết họ là ai hay những ai đang ở đó với họ. Vào lúc
đó, năng lực của nhãn quan tan rã vào nhãn thức. Tất cả
các giác quan khác cũng mất đi năng lực của chúng bằng cách
tan rã vào bản tánh căn bản của ta, là Phật tánh, chính
nó kinh qua ba giai đoạn đã được đề cập ở trên. Một
cách đồng thời, các đại tan rã. Thịt tan vào địa đại,
vào lúc đó người hấp hối cảm thấy một cảm giác nặng
nề và không thể chuyển động được nữa. Máu tan vào thủy
đại và các chất lỏng trong thân thể chảy ra qua các khiếu
mà không thể kiểm soát được. Khi hơi ấm tan vào hỏa đại
thân thể trở nên giá lạnh. Khi hỏa đại tan vào gió (phong),
sự tỉnh giác trở nên rất lờ mờ và thân thể lạnh giá
hơn nữa. Khi năm đại trong thân thể tan trở về yếu tố
căn bản, các năng lực giác quan tan rã một cách tương ứng.
Như
thế, tôi đang thực sự nói về điều gì ở đây? Tôi đang
nói về tiến trình mà mỗi một và tất cả mọi người trong
chúng ta sẽ kinh qua, tuy nhiên ngay cả bây giờ khi các bạn
nghe những lời này, các bạn có thể nghĩ rằng tôi đang nói
về người nào khác đang hấp hối, nhưng đây chính là điều
mà tất cả chúng ta phải trải qua.
Vào
lúc chết, nghiệp tiêu cực của con người trội vượt hẳn
lên và gây nên sự đau khổ ghê gớm. Đây là nỗi đau khổ
mãnh liệt nhất mà các bạn sẽ luôn luôn kinh nghiệm. Người
hấp hối có một vài năng lực để hiểu biết về sự tái
sinh kế tiếp của họ và để phản ứng lại việc đó trong
những giây phút cuối cùng này. Tâm thức mê lầm có thể
biểu lộ theo một cách mà những lời cuối cùng người đang
hấp hối thốt ra thì hoàn toàn tiêu cực và khó chịu. Nếu
họ sắp đi xuống cảnh giới địa ngục thì họ có thể
biểu lộ những khuynh hướng của cảnh giới địa ngục trong
thái độ tinh thần và sự biểu lộ qua thân thể ngay trước
khi chết. Nếu họ sắp đi tới cảnh giới ngạ quỷ hay cảnh
giới súc sanh, họ có thể biểu lộ các khuynh hướng đó.
Sẽ có các dấu hiệu và các biểu lộ. Người hấp hối có
thể thực sự thấy được nơi tái sanh trước khi các dấu
hiệu và biểu lộ này xảy ra và điều này sẽ trở nên rõ
ràng hiển hiện. Ngài Milarepa nói : “Một người xấu thấy
nơi tái sanh tương lai của mình và vào lúc đó vị thầy trở
thành sự tương thuộc duyên sanh của chân lý không sai chạy
về nhân và quả.”
Những
người sắp đi vào cảnh giới địa ngục sẽ mọc lên một
cách tượng trưng những chiếc sừng và răng nanh, và nhìn
thấy Yama, Thần Chết đang đến dẫn tay họ tới cõi địa
ngục, nơi đó họ sẽ bị thiêu đốt trong các loại địa
ngục. Thậm chí họ sẽ có kinh nghiệm này trước khi tới
đó. Đây không phải là câu chuyện nào đó mà tôi đang bịa
đặt. Nó xảy ra như thế nhưng các bạn vẫn nghĩ rằng nó
sắp xảy ra cho người nào khác. Nỗi đau khổ của cái chết
thì không thể nghĩ lường.
Năm
ngoái khi tôi ở Delhi, một hôm chúng tôi đã viếng thăm một
vườn bách thú, ở đó có một cái chuồng nhốt ba con rắn
khổng lồ. Vài con chim nhỏ được thả vào chuồng cùng với
một ít hạt để chúng đủ sống cho tới khi các con rắn
ăn thịt chúng. Những con rắn chắc chắn sẽ ngấu nghiến
những con chim nhỏ bé đó vì chúng là con mồi của lũ rắn.
Tuy nhiên, những con chim không có ý niệm gì về số phận
của chúng. Và như thế, mặc dù mọi người nhìn vào chuồng
có thể thấy rằng ngày mai các con chim sẽ chết, nhưng chính
chúng thì hoàn toàn không biết gì về tình trạng nguy hiểm
của chúng. Việc này gây ấn tượng cho tôi như một ví dụ
cổ điển về thân phận của chúng sinh. Tất cả chúng ta
đều thích dấn mình vào những vấn đề thế gian, cuộc đời
chúng ta bị tiêu mòn bởi công việc và những hoạt động
khác, và chúng ta không thấy được bản chất của sinh tử
trong khi nó thật hiển nhiên. Không thấy được điều đó,
người ta tiếp tục theo đuổi các hoạt động thế tục mà
không có bất kỳ sự tỉnh giác nào về số phận của họ
: cái chết đó đang tới gần vào bất cứ giây phút nào như
một sự thật đối với những con chim trong cái chuồng đó.
Thật buồn khôn tả khi nhìn thấy tình trạng nguy cấp và
sự vô minh của chúng sinh. Quá rõ ràng là chúng sinh cần Pháp
để họ có thể né tránh được Yama, Thần Chết, khi ông
ta đến dắt tay họ đi. Có một cơ hội để chuẩn bị nếu
như các bạn có thể gặp được Pháp và thực hành nó. Nếu
các bạn không chuẩn bị, các bạn sẽ giống như một con
cừu bơ vơ lạc lối, gặm cỏ thơm ngon trên những sườn
dốc cao, xa bầy và những hình thức khác của đời sống,
và khi nó đang vui hưởng bữa tiệc thì bất thần không biết
từ đâu một con chó sói nhảy xổ ra và ăn nó ngấu nghiến.
Đừng quên rằng Thần Chết đang đến gần. Vào lúc đó các
bạn sẽ bị tràn ngập bởi bất kỳ nguyên nhân của cái
chết nào. Nguyên nhân của cái chết sẽ là kinh nghiệm mãnh
liệt nhất về nỗi đau khổ mà các bạn chưa từng có trong
đời các bạn. Các bạn sẽ bị tràn ngập bởi các giai đoạn
tan rã. Điều thiết yếu là phải chuẩn bị và làm việc
như thế trong khi các bạn vẫn còn có thể.
Có
hai giai đoạn đối với tiến trình tan rã : sự tan rã bên
ngoài và sự tan rã bên trong. Sự tan rã bên ngoài là sự tan
rã liên tục của năm đại, đó là địa, thủy, hỏa, phong
và không đại. Điều này đã được giảng rõ. Vào lúc này,
người hấp hối không thể phân biệt hay nhận ra các tri giác
của giác quan. Điều này chỉ ra rằng các xuất hiện đang
tan lẫn vào giai đoạn xuất hiện của ánh sáng đỏ. Hơi
thở bên ngoài đã ngưng nhưng hơi thở bên trong vẫn còn hiện
diện trong thân. Cái chết hãy còn chưa xảy ra. Như thể là
có một ngọn nến hay đèn bơ nhỏ còn cháy trong trung tâm
tim vì hơi thở bên trong đang hiện diện, và tâm thức vẫn
còn ở trong thân, mặc dù người ấy không còn thở nữa.
Tuy thế cái chết chưa xảy ra vì hơi thở bên trong vẫn còn.
Vào
lúc này, sự tan rã bên trong xảy ra. Hạt giống (chủng tử)
nguyên thủy mà chúng ta nhận từ cha chúng ta lúc thụ thai,
một bindu trắng gồm tinh chất trong đỉnh đầu, đã tồn
tại ở đó từ lúc thụ thai. Khi các đại tan rã và hơi thở
bên ngoài ngưng lại, bindu trắng này nhỏ xuống qua kinh mạch
chính giống như một ngôi sao băng đi vào trái tim. Người
hấp hối kinh nghiệm điều này như một tia ánh sáng trắng,
giống như mặt trăng xuất hiện trong một bầu trời trong
trẻo và làm tràn đầy nó khiến mọi sự trở nên trắng
ngần. Khi bindu hay giọt tinh chất đi vào tim chúng ta, ba mươi
ba vọng tưởng liên kết với sự sân hận tạm thời bị
ngưng lại. Nếu người hấp hối đã thành tựu cấp bậc
chứng ngộ nào đó lúc sống, thì vào lúc này người ấy
sẽ chứng ngộ Hóa thân và đạt được giải thoát bằng
cách đi vào một trạng thái tỉnh giác thuần tịnh không thể
thối chuyển được, là nơi họ sẽ được giải thoát khỏi
vòng sinh tử. Đối với người đó, mọi vọng tưởng sẽ
vĩnh viễn chấm dứt hay chuyển hóa thành sự giác ngộ. Tuy
nhiên, một người bình thường kinh nghiệm một sự ngưng
dứt tạm thời của những ý niệm được đặt nền trên
sự sân hận vào giây phút giọt trắng đi xuống. Điều này
được gọi là sự xuất hiện màu trắng tan hòa vào giai đoạn
xuất hiện của gió.
Ngay
khi giọt trắng đi tới trái tim, chủng tử nguyên thủy được
nhận từ mẹ chúng ta vào lúc thụ thai đã tồn tại trong
trung tâm rốn của ta suốt cuộc đời ta, nó cũng được gọi
là chủng tử trứng hay chủng tử máu, đi lên kinh mạch trung
ương và tan vào trái tim, hợp nhất với chủng tử trắng.
Vào lúc này, có một tia sáng đỏ như thể mặt trời bất
ngờ xuất hiện trong một bầu trời trong trẻo làm tràn đầy
nó với một ánh sáng đỏ chói. Bốn mươi ý niệm kết hợp
với sự tham dục bị ngưng lại. Nếu người hấp hối đã
là một hành giả thành tựu trong cuộc đời, người ấy sẽ
có khả năng đạt được giải thoát trong sự tỉnh giác Báo
Thân của Không-Lạc và chứng ngộ trạng thái giải thoát
bất thối chuyển. Đối với một người bình thường, kinh
nghiệm về sự ngừng dứt của bốn mươi ý niệm được
liên kết với tham dục này là tạm thời và chỉ xảy ra vào
thời điểm chủng tử đỏ đi lên. Điều này được gọi
là giai đoạn xuất hiện của màu đỏ tan vào giai đoạn cận-đạt
đến bóng tối.
Khi
hai chủng tử này hợp nhất ở trung tâm tim, chúng được
kết dính lại với nhau và lập tức kinh nghiệm cận tử bắt
đầu. Đây là một kinh nghiệm về bóng tối hoàn toàn, không
có ý thức, vào lúc này bảy ý niệm được đặt nền trên
sự mê lầm và vô minh bị dừng lại. Đây cũng là lúc mà
một hành giả hảo hạng chứng ngộ Pháp Thân, đặc biệt
là khi các thực hành Dzogchen đã được thành tựu. Nếu người
hấp hối là một hành giả của giai đoạn phát triển thì
người ấy, nhờ thói quen của sự thực hành deity yoga trong
đời, sẽ có thể tập trung trên chủng tự hay các chữ mantra
trong tim của deity (bổn tôn). Việc đi vào sự tỉnh giác thiền
định của bổn tôn theo cách đó sẽ đưa đến giải thoát
vào giây phút này. Nếu người hấp hối đã thực hành tsalung,
thì nhờ thói quen của sự thực hành Không-Lạc trong một
trạng thái của bốn hỉ lạc, họ sẽ đi vào trạng thái
tỉnh giác trí huệ. Một hành giả bình thường hơn có thể
nhớ lại sáu hồi niệm vào lúc này. Chúng là hồi niệm về
bổn tôn, giới luật, tăng đoàn, đức hạnh và v.v... Dù có
thể ở trong bất kỳ tình huống nào, các hành giả phải
nhớ lại và sử dụng thói quen mạnh mẽ nhất của họ vào
giây phút quyết định này. Nếu người hấp hối là một
tăng hay ni, người ấy có thể nhớ lại các cam kết đã được
lập ra để duy trì các nguyện hay giới luật nào đó. Nếu
người hấp hối đã thực hành bố thí, họ có thể nhớ
lại các hành động bố thí và hành vi đạo đức đó mà
họ đã quen thuộc. Nếu người ấy đã từng là một hành
giả trì tụng thần chú, người ấy có thể nhớ lại các
thói quen của tâm. Nếu người ấy đã từng là một hành
giả Dzogchen, người ấy có thể nhớ lại cái thấy (kiến)
và đạt được giải thoát trong Pháp Thân bằng cách hợp
nhất giác tánh bất nhị với Đức Phật Vajradhara hay Samantabhadra
(Phổ Hiền). Sự hồi niệm này thì tối cao. Nếu người ấy
đã là một hành giả mahayoga hay anu yoga, người ấy có thể
thấu suốt kinh nghiệm của Đức Vajradhara và đạt giải thoát.
Nếu người ấy đã trì tụng OM MANI PADME HUNG, thì riêng điều
này đã có thể là một hồi niệm rất mãnh liệt của kinh
nghiệm cận tử.
Trái
lại, nếu người hấp hối không có các thói quen tích cực
hay đức hạnh, thì sau khi các tia sáng trắng và đỏ xảy
ra và hai chủng tử hợp nhất, trong kinh nghiệm cận tử về
bóng tối tâm thức sẽ mê lạc vào a lại da, là thức nền
tảng rộng khắp. Trái lại, một hành giả vào giây phút kinh
nghiệm cận tử sẽ tri giác sự ló rạng của ánh sáng căn
bản, kinh nghiệm tịnh quang, tinh khiết như một bầu trời
không mây, rực rỡ và chói ngời. Kinh nghiệm đó giải thoát
khỏi bất kỳ che chướng hay dấu vết che chướng nào. Nếu
người ấy đã được đưa vào tịnh quang trong đời mình
và quen thuộc với sự thiền định, thì người ấy có thể
đã từng thể nhập tịnh quang được minh họa khiến khi tịnh
quang mẹ xuất hiện, thì sẽ giống như một đứa trẻ nhận
ra được mẹ nó và lập tức nối kết bằng cách nhảy vào
lòng bà. Tịnh quang được minh họa, nhờ năng lực của sự
nhận thức, chuyển hóa thành ánh sáng mẹ hay ánh sáng căn
bản. Không có gì quan trọng hơn việc nhận ra ánh sáng mẹ
vào lúc này.
Nhưng,
điều này có thể hoàn toàn chỉ là lối nói hoa mĩ, chỉ
là bàn luận suông. Nếu các bạn không thực hành, nghiệp
của các bạn sẽ quá tiêu cực khiến không thể hiểu thấu
điều này và các bạn sẽ hoàn toàn tiếp tục lang thang trong
sinh tử. Không có thực hành các bạn hoàn toàn rất tầm thường
và sẽ chỉ kinh nghiệm ánh sáng trắng, ánh sáng đỏ và sự
tối sầm. Đây là một kinh nghiệm khó vượt qua đến nỗi,
nói đúng ra, chỉ có các hành giả cao cấp nhất mới có thể
thực sự chiến thắng giây phút này trong một ý nghĩa tuyệt
đối và thành tựu thân cầu vồng. Trong tất cả những trường
hợp cá biệt khác sẽ chỉ là những dấu vết vi tế của
những mê lầm thuộc về nghiệp. Mọi chúng sinh trong ba cõi
đều phải chết trong cách này, không một ai được miễn
trừ tiến trình này. Ngay cả những lama giàu có nhất cũng
phải ra đi theo lối đó. Chẳng có lợi lạc gì đối với
các hoạt động mà bản thân các bạn dính líu vào để tích
lũy của cải. Bằng cách đi vào con đường với cam kết chân
thực và samaya (hứa nguyện) trong sạch, người ta hoặc hướng
trực tiếp tới mục đích giải thoát hoặc lạc đường và
trộn lẫn Pháp thanh tịnh với cái thấy bất tịnh cùng các
hoạt động bất tịnh, do đó đổi hướng và tiến về sự
tái sinh trong các cõi thấp. Đây là lý do vì sao rất cần
sử dụng tốt đẹp sự tái sinh làm người quý báu này.
Các
bạn đã nhận được các giáo huấn trực chỉ cốt tủy bắt
nguồn từ Đức Padmasambhava nhưng ngoài việc ấy ra tình huống
của các bạn thực sự là rất vô ích. Tuy nhiên, nếu các
bạn có thể hoàn toàn nhận thức được sự quý báu của
những giáo lý dẫn tới giải thoát này, thì lần lượt các
bạn có thể thực sự đạt được giải thoát. Các bạn có
thể nhận ra điều đó không? Các bạn có thể thiền định
về nó? Đây có phải là điều mà các bạn thực sự nghĩ
rằng các bạn có thể thực hiện? Xin hãy nhận ra cơ hội
mà các bạn đang có, sự quý báu của các giáo lý này và
xin hãy thực hành. Đừng chỉ là một kẻ khùng điên và tiêu
phí cơ hội này. Các giáo huấn trực chỉ không bao giờ được
xa lìa. Đức Phật A Di Đà không ở quá xa. Đức Phật nguyên
thủy Phổ Hiền không ở quá xa. Nếu các bạn biết phải
thiền định thế nào các bạn sẽ khám phá sự bất nhị
và các bạn sẽ khám phá ra rằng không có sự phân cách giữa
các bạn và chư Phật.
Bản
tánh của tâm thì trống không, thoát khỏi mọi giới hạn.
Nó không màu sắc, hình dạng hay các yếu tố phân biệt đối
với bất kỳ loại nào và tuy thế nó lang thang trong sinh tử,
kinh nghiệm nỗi khổ và tích tập nghiệp. Thực ra, tâm có
năng lực để đạt được tự do và kinh nghiệm được đại
lạc và hạnh phúc chân thật. Tất cả chín thừa của Phật
Pháp hiện hữu là để cho bản tánh của tâm có thể được
thấu suốt phù hợp theo các nhu cầu và khả năng của hành
giả. Mỗi phái tìm kiếm để khám phá trạng thái vô ngã
và định danh sự khám phá đó một cách thích hợp. Một vài
phái gọi nó là bản tánh của tâm. Các Thanh Văn gọi nó là
sự không có cá tính đối với một con người. Phái Yogachara,
“Duy Thức” gọi nó là tâm không có bản ngã (vô ngã). Phái
Trung Quán gọi nó là trung đạo. Các phái khác gọi nó là
trí huệ siêu việt, tinh túy của các đấng Thiện Thệ, mahamudra
(Đại Ấn), một bindu tinh túy, nền tảng rộng khắp, giác
tánh bình thường hay tamal gyi shepa. Khi ta bắt gặp nó, bất
chấp sự định danh của nó, không chút hồi niệm các sự
kiện trong quá khứ, không cần đến sự tiên liệu các sự
kiện trong tương lai, trong giây phút hiện đây, để mặc như
nó là, tâm bình thường hay giác tánh (sự tỉnh giác) này
không phải là cái gì trống rỗng hay hư vô mà đúng hơn nó
hoàn toàn rõ ràng. Nó không là cái gì đặc biệt, phi thường
vì sự biểu hiện của giác tánh thì vô hạn. Nó không tản
mác bởi nó là nhất-vị. Tinh túy là Pháp Thân. Bản tánh
là Báo Thân. Phẩm tính là Hóa Thân và sự không thể phân
chia của ba điều đó là svabhavakaya (Thân Tự Tánh). Sự truyền
dạy này được trao cho Lhacham Pema Sel trong đời Đức Padmasambhava.
Bà đã giữ gìn nó và về sau đã hóa thân là Longchenpa là
bậc đã ban các giáo lý Dzogchen kỳ diệu nhất. Đây là các
giáo huấn tinh túy đến trực tiếp từ Đức Padmasambhava và
chúng chỉ dạy cách thức đạt được giải thoát. Điều
này được thành tựu nhờ thấu suốt cái thấy về giác tánh
nội tại. Sau khi nhận được các truyền dạy và giáo huấn
về bản tánh này, điều quan trọng là đưa chúng vào đời
sống của các bạn bằng cách thực hành chúng. Một khi các
bạn đã được dạy cách thiền định, quả là một phí phạm
lớn lao nếu các bạn không thực hành.
Các
giáo lý này là tâm yếu của Đại Thành tựu giả vĩ đại
Karma Lingpa. Bởi chúng ta không biết được chúng ta sẽ còn
sống vào ngày mai không nên bây giờ là lúc để chuẩn bị
cho cái chết và cách tốt nhất để làm điều đó là thể
nhập cái thấy Dzogchen. Cái thấy đó sẽ siêu vượt các giai
đoạn tan rã vào lúc chết : tia sáng trắng, tia sáng đỏ,
và sự thoáng ngất tối sầm, được theo sau bởi sự ló rạng
của tịnh quang. Nếu chúng ta quen thuộc với giác tánh tịnh
quang thì khi đó ta sẽ đạt được giải thoát trong ánh sáng
căn bản. Nếu không, Bardo Pháp Tánh sẽ xuất hiện và chúng
ta sẽ có các cơ hội khác để nhận ra các cõi Phật thuần
tịnh như sự phô diễn của các bổn tôn xuất hiện trước
tiên trong sự biểu lộ an bình và sau đó trong biểu lộ phẫn
nộ. Nếu các cõi Phật không được nhận ra và nếu sự giải
thoát không xảy ra thì Bardo Trở thành sẽ rõ ràng và ta sẽ
bị lôi vào các trạng thái tái sinh trong sinh tử trong tương
lai. Cho tới khi tri giác mê lầm được giải thoát, các bạn
sẽ tiếp tục khoác lấy các hình tướng và trải nghiệm
thân xác các bạn đang bị thiêu đốt trong địa ngục hay
bất kỳ kinh nghiệm nào của hiện thân vật lý, và cứ lặp
đi lặp lại mãi. Nó sẽ không ngừng dứt cho tới khi sự
mê lầm trong tâm bị cạn kiệt. Sự mê lầm trong tâm bị
cạn kiệt nhờ thiền định. Nếu các bạn không thực hành,
thì các bạn hy vọng điều gì? Làm thế nào tôi có thể giúp
đỡ các bạn? Điều khiến tôi có phần e ngại là đã quá
rộng rãi với những khám phá quý báu này, nhưng điều đó
là xứng đáng nếu các bạn đưa những giáo lý này vào tâm
khảm và thực hành chúng. Hãy thận trọng suy nghĩ điều này.
Nếu các bạn không thiền định, thế thì không tốt. Nó làm
suy đồi mọi sự. Mọi sự trở nên hư hỏng. Xin đừng lãng
phí cơ hội này. Hãy nỗ lực thực hành.
CHƯƠNG
7
BARDO
PHÁP TÁNH
Tối
nay chúng ta sẽ thảo luận về Bardo Pháp tánh, sự tự-giải
thoát nhờ cái thấy, nó tương tự như một đứa trẻ đang
nghỉ ngơi trong lòng mẹ. Các giáo lý về Bardo Pháp tánh đặc
biệt liên quan tới sự phô diễn của giác tánh nội tại
của ta. Bản văn gốc nói : “Giờ đây, khi Bardo Pháp tánh
hé mở đối với tôi, tôi sẽ từ bỏ tất cả các niệm
tưởng sợ hãi và kinh khiếp. Tôi sẽ nhận ra bất kỳ điều
gì xuất hiện như phóng chiếu của riêng tôi và nhận biết
nó là một thị kiến của Bardo. Giờ đây tôi đã đi tới
thời điểm quan trọng này tôi sẽ không sợ hãi những bậc
an bình và phẫn nộ là những phóng chiếu của chính tôi.”
Thực
ra, trước khi thảo luận về Bardo Pháp tánh, tôi muốn bàn
thêm về sự chuyển di tâm thức, sự thực hành việc đưa
tâm thức đi lên và ra ngoài kinh mạch trung ương. Trong truyền
thống Longsal Nyingpo, ta quán tưởng chính mình là Đức Avalokiteshvara,
trong trung tâm của ta là kinh mạch trung ương thẳng như một
thân tre. Ta quán tưởng sinh khí và tâm mình là một trái cầu,
kích thước bằng một trái trứng đầu tiên mà con gà mái
đẻ ra, ở trong kinh mạch trung ương, ở khoảng trái tim. Ta
quán tưởng Đức A Di Đà ở trên đỉnh đầu và tưởng tượng
rằng tâm thức mình là một bindu ánh sáng. Bindu này thì nổi
và rung động, được phóng lên và ra ngoài kinh mạch trung
ương giống như một ngôi sao băng, hợp nhất với tâm Đức
A Di Đà và trở nên không thể ly cách với Đức A Di Đà.
Có
nhiều truyền thống về phowa. Kỹ thuật khác sẽ quán tưởng
bản thân mình là Vajravarahi, duy trì sự tỉnh giác về ba kinh
mạch, là kinh mạch trung ương và các kinh mạch trái và phải.
Đức Phật Vajradhara sẽ được quán tưởng ngay trên đỉnh
đầu ta và tâm thức được phóng lên qua kinh mạch trung ương
đi vào tim Đức Vajradhara.
Trong
truyền thống Nyingthig, ta quán tưởng chính mình là Vajrayogini,
kinh mạch trung ương thẳng đứng như cành tre và tâm thức
được bắn vọt lên và ra ngoài với âm thanh PHAT.
Trong
một terma mà tôi đã khám phá, ta quán tưởng mình là dakini
Yeshe Tsogyal. Guru Dewachenpo, tức Padmasambhava trong biểu lộ của
đại lạc, được quán tưởng trên đỉnh đầu ta và được
vây quanh bởi một đoàn tùy tùng gồm các đạo sư dòng truyền
thừa. Sau khi dâng một bài cầu nguyện khẩn cầu đặc biệt,
tâm thức, một bindu của năng lực ánh sáng, được phóng
lên qua kinh mạch trung ương, ra ngoài đỉnh đầu ta ở đó
nó hợp nhất với tâm của Guru Đại Lạc.
Theo
truyền thống về sáu Bardo, ta quán tưởng thân mình như một
thân ánh sáng gồm có năm màu cầu vồng, với kinh mạch trung
ương và hai kinh mạch phụ ở hai bên. Ta quán tưởng tâm mình
là một bindu ánh sáng ở trong kinh mạch trung ương. Khi ta tụng
âm PHAT, tâm thức được phóng lên và ra ngoài đi vào tim Đức
A Di Đà, ở đó nó tan ra. Đây là sự thực hành phowa với
ba nhận thức.
Nếu
các bạn có thể thành tựu kỹ thuật phowa tối cao, nhận
ra giác tánh nội tại trống không vào lúc chết, niêm phong
giây phút đó với cái thấy của Đại Viên Mãn, thì các bạn
sẽ được giải thoát trong Pháp Thân. Nếu các bạn đã từng
là một hành giả mahayoga thuộc giai đoạn phát triển thì
vào lúc chết các bạn sẽ quán tưởng chính mình là vị bổn
tôn mà các bạn đã liên hệ với chẳng hạn Vajrakilaya, Yamantaka
v.v... và duy trì sự tỉnh giác về chủng tự trong trung tâm
tim của các bạn với các chữ thần chú xoay tròn. Các bạn
sẽ kinh nghiệm giây phút chết theo cách đó và đạt được
giải thoát như một Báo Thân Phật.
Nhiều
người trong các bạn cần nương cậy vào phowa với ba nhận
thức vào lúc chết. Ba nhận thức này là nhận thức kinh mạch
trung ương như con đường, tâm thức hành giả như kẻ du hành
trên con đường và Dewachen, cõi Cực Lạc, như đích đến.
Trọng tâm của thực hành này là đưa tâm thức ta đi lên
và ra ngoài kinh mạch trung ương khiến nó hợp nhất với tâm
Đức A Di Đà. Nếu các bạn không thể quán tưởng điều
đó một cách rõ ràng, các bạn cần tưởng tượng rằng tâm
các bạn không ly cách với tâm Đức A Di Đà. Phowa với ba
nhận thức thì cực kỳ mạnh mẽ và đem lại các sự ban
phước to lớn.
Bây
giờ, các thực hành liên kết với Bardo Đời Này và Bardo
Thiền định chuẩn bị cho ta kinh nghiệm về sự xuất hiện
của Pháp tánh là phô diễn của sự thuần tịnh nguyên thủy.
Trạng thái thuần tịnh nguyên thủy được thể nhập qua con
đường trekchod – “sự cắt đứt để đi vào sự thuần
tịnh nguyên thủy”. Một khi các bạn chứng ngộ cái thấy
nhờ trekchod, thì các bạn có thể thể nhập rigpa như con đường
tošgal – “sự vượt qua với sự hiện diện tự nhiên”.
Theo cách này, các bạn có thể đạt được giải thoát trong
đời bạn vào lúc chết, hay khi tịnh quang mẹ ló rạng và
được nhận ra. Các bạn cũng có thể đạt được giải thoát
khi sự phô diễn của các bổn tôn hòa bình và phẫn nộ xuất
hiện và được nhận ra như sự phô diễn của giác tánh của
chính các bạn. Một nền tảng vững chắc của sự thực hành
trong đời này cho phép các bạn tự quen thuộc với các kỹ
thuật này. Không có nó, sự giải thoát sẽ không xảy ra.
Nhưng chỉ đơn thuần quen thuộc với thực hành tošgal sẽ
bảo đảm sự nhận ra bản tánh của sự phô diễn của các
bổn tôn hòa bình và phẫn nộ và các bạn sẽ không còn tái
sinh trong vòng sinh tử nữa. Đây là một thực hành sâu xa
gieo trồng các hạt giống giải thoát rất sâu xa trong tâm
thức các bạn.
Giáo
lý về Bardo Pháp tánh có bốn phần. Phần thứ nhất là để
cho ba cửa (thân, ngữ, tâm) nghỉ ngơi trong sự hòa hợp của
chính chúng, để mặc chúng an dịu như một giòng sông trong
sự hòa điệu của riêng chúng. Phần thứ hai, sử dụng các
giáo huấn tinh yếu của đạo sư, là nghỉ ngơi trong bản
tánh của các sự vật, cách thức chúng thật sự an trú. Thứ
ba là nghỉ ngơi tự nhiên; để thành tựu điều này, có bốn
loại sự dán chặt thiền định, trong đó người ta thiền
định một cách tự nhiên về sự cắt đứt đến cái thuần
tịnh nguyên thủy. Phần thứ tư là thâm nhập vào bản tánh
của tâm bằng cách vượt qua với sự hiện diện tự nhiên
– sự hiện diện tự nhiên của ying, thigle và rigpa. Như thế,
ta đạt được thân cầu vồng Pháp Thân.
Các
vấn đề then chốt của ba cửa thân, ngữ và tâm thì thiết
yếu trong việc giữ gìn sự thực hành của ta hoàn toàn thanh
tịnh. Đối với thân, ta có ba tư thế căn bản trong tošgal,
nó tương ứng với ba thân. Thứ nhất là tư thế hóa thân,
nó giống như tư thế của một hiền nhân. Thứ hai là tư
thế báo thân, nó giống như tư thế của một con voi đang
ngủ. Thứ ba là tư thế pháp thân, nó giống như tư thế của
một con sư tử tuyết ngồi thẳng đứng trên cặp đùi của
nó.
Trong
thực hành Troma, tư thế báo thân là tư thế bảy điểm của
Đức Phật Tỳ Lô Giá Na. Ba tư thế của thân thì khác biệt
theo các truyền thống khác nhau. Tư thế pháp thân sư tử tuyết
thật tuyệt hảo. Có nhiều trích dẫn về tầm quan trọng
của các sự ban phước chỉ có được từ các tư thế. Các
trích dẫn này có thể được tìm thấy trong các bản văn
như Dra Thal Gyur, mười bảy Tantra và Mutig Trengwa, hay Chuỗi
Ngọc. Sự giảng dạy về các tư thế mà tôi đưa ra ở đây
phù hợp với terma của ngài Karma Lingpa. Theo truyền thống,
các giáo lý tošgal được ban cho bảy đệ tử mỗi lần và
sự thực hành được thực hiện một cách lý tưởng khi bầu
trời trong trẻo và lặng gió. Thực hành này phải được
thực hiện ở một nơi cô tịch.
Trong
tư thế pháp thân sư tử tuyết, các bạn đặt hai bàn chân
cạnh nhau. Nắm bàn tay lại thành kim cương quyền, các bạn
đặt chúng ở phía trước chân mình, vươn thân trên lên để
nó thật thẳng. Đầu các bạn hơi cúi xuống. Khi thân thẳng
thắn, các kinh mạch thẳng và tâm thức trong sáng, điềm tĩnh
và thoát khỏi các vật chướng ngại trong các kinh mạch năng
lực. Sau đó, bằng nhãn quan, cái nhìn của các bạn được
giữ trong cách thế sẽ được mô tả về sau. Ngay bây giờ
chúng ta sẽ tập trung vào các tư thế.
Tư
thế thứ hai là tư thế báo thân của một con voi đang ngủ.
Trong tư thế này, các bạn cúi mình xuống trên đầu gối,
hai khuỷu tay trên mặt đất và cằm nằm trong lòng hai bàn
tay. Đầu các bạn hơi nâng lên.
Tư
thế thứ ba là tư thế hóa thân của một hiền giả. Trong
tư thế này, các bạn ngồi với đôi bàn chân trên mặt đất
và đầu gối hướng lên. Các khuỷu tay chạm vào đầu gối,
chân các bạn cạnh nhau, và hai tay được xếp chéo lại, tay
phải trên tay trái với các ngón tay chạm vai. Xương sống
cần thật thẳng.
Đây
là ba tư thế của thực hành tošgal giúp cho bản tánh trí
huệ nguyên thủy bẩm sinh được nhận thức một cách trực
tiếp. Nhờ các tư thế này mà bản tánh trí huệ bẩm sinh
của ta hiển lộ tự nhiên. Vấn đề then chốt của thân là
giữ lấy một trong những tư thế. Hãy để nó tự nhiên.
Vấn
đề then chốt của ngữ có ba điểm : thứ nhất là giảm
thiểu sự trò chuyện, thứ hai là giữ chánh niệm trong ngôn
ngữ của ta và thứ ba là hoàn toàn loại trừ ngôn ngữ theo
cách tiệm tiến. Vấn đề căn bản ở đây là ngôn ngữ không
bao giờ chấm dứt, vì thế hãy cắt đứt lời nói không cần
thiết. Trong khi thiền định đừng nói năng bất cứ điều
gì.
Vấn
đề then chốt của tâm là thể nhập giác tánh thuần tịnh,
duy trì sự trong sáng không phóng tâm và với mức độ tập
trung nào đó. Đừng đi vào những ý niệm. Chỉ mặc cho tâm
ngơi nghỉ.
Vấn
đề then chốt để giữ gìn sự tỉnh giác của ba cửa là
an trụ trong tri giác trực tiếp. Ở đây ta đang đi vào sự
tự-tỉnh giác về bản tánh của nó như ba thân. Sự phô diễn
bẩm sinh của giác tánh là cái thấy về thigle (bindu), các
phần tử xuất hiện một cách khách quan trong không gian trước
mặt.
Sau
đó chúng ta có vấn đề then chốt để thực hành. Lối vào
ban đầu đối với sự thực hành là nhờ nhãn quan và cách
nhìn thích hợp. Ta nên cố gắng giữ con mắt thật yên. Trước
tiên, có cách nhìn của pháp thân là nhìn lên không gian với
một tiêu điểm thật yên tĩnh. Việc duy trì cái nhìn pháp
thân này tự động cắt đứt tri giác mê lầm. Thứ hai là
cách nhìn báo thân, là nhìn thẳng vào không gian trước mặt.
Cách nhìn này đem lại tri giác thuần tịnh về trí huệ nguyên
thủy. Thứ ba là cách nhìn hóa thân, là nhìn hướng xuống
cho ta khả năng kiểm soát sinh khí và tâm vi tế của ta. Đây
là ba cách nhìn trong khi thực hành tošgal.
Có
hai đối tượng bên ngoài mà ta tập trung vào bằng cái nhìn
: phạm vi bên ngoài và phạm vi bên trong. Phạm vi bên ngoài
là không gian không vướng bận bởi bất kỳ chướng ngại
nào như những đám mây hay các vật thể được tạo dựng.
Phạm vi bên trong là ánh sáng chói. Một lần nữa, phạm vi
bên ngoài là không gian tự do đối với mọi dấu vết hay
sai sót nào và phạm vi bên trong là ánh sáng thuần tịnh chính
là giác tánh bẩm sinh của ta. Hai phạm vi này được hợp
nhất nhờ sự thực hành. Ta dùng các đối tượng bên ngoài
như mặt trời, mặt trăng hay một ngọn nến khi thực hành.
Cuối
cùng, ta phải kiểm soát sinh khí. Phải biết cách nín khí
(hơi), cách thở ra, và cách kiểm soát hơi thở bình thường
trong ba giai đoạn này. Giáo lý này phù hợp với Bardo Pháp
tánh bởi vì nếu thành tựu, khi sự phô diễn của các bổn
tôn hòa bình và phẫn nộ xuất hiện, ta sẽ không sợ hãi.
Bây
giờ, tôi muốn quay trở lại việc thảo luận về các dấu
hiệu của cái chết. Các dấu hiệu của cái chết rất cần
được nhận ra khi cái chết đang nhanh chóng đến gần. Là
chúng sinh trong sáu cõi, chúng ta không thể tránh khỏi việc
gặp gỡ cái chết. Cái chết xảy đến bởi một trong hai
lý do : sự cạn kiệt của nghiệp hay sự tấn công của các
điều kiện, các tình huống hay các trở lực bất ngờ. Khi
cái chết xảy đến do sự cạn kiệt của nghiệp và sinh lực,
nếu là một tình huống may mắn thì ta có thể chết từ từ
trên giường có bạn hữu và những thành viên trong gia đình
vây quanh. Tình huống này không ít thì nhiều có thể thoải
mái hơn, và các giai đoạn của cái chết sẽ trở nên rõ
ràng trong một trật tự tiệm tiến liên tiếp. Một cái chết
bất ngờ thì không nhất thiết là do sự cạn kiệt của nghiệp.
Đúng hơn, nó phải thực hiện với sự tấn công của một
trở lực lấy đi mạng sống của ta, như một tai nạn xe hơi
hay một xáo trộn về các đại trong việc bị sét đánh. Khi
ấy không có các giai đoạn tan rã nhưng thật đột ngột,
ta có kinh nghiệm về trạng thái không ý thức là giai đoạn
sau cùng của ba giai đoạn tan rã : sự xuất hiện của màu
trắng, sự xuất hiện của màu đỏ và sự thoáng ngất tối
sầm đột ngột vào lúc chết. Trong trường hợp cái chết
thình lình, ba giai đoạn đó xảy ra nhưng chúng sẽ không được
nhận ra. Kinh nghiệm sẽ rất thô lậu và nặng nề, và ta
sẽ lập tức rơi vào trạng thái thoáng ngất, không hiểu
biết chút gì về điều xảy ra và sau đó tỉnh lại trong
trạng thái trung ấm. Cách thức chết này thật khó khăn bởi
nỗi đau khổ và vô minh to lớn mà nó đem lại. Khi các giai
đoạn tan rã không rõ ràng thì còn khủng khiếp và sợ hãi
hơn nữa trong bardo. Tốt hơn là ta có cơ hội để chết chậm
rãi, trải qua một thời gian ở nơi mà ta có sự tỉnh giác
nào đó về các giai đoạn tan rã. Nếu các bạn gặp cái chết
bất thần thì cho dù các bạn là một hành giả Pháp, các
bạn sẽ không có thì giờ để chuẩn bị bằng cách cử hành
các bài khẩn nguyện và các thực hành khác mà có thể các
bạn đã tu tập suốt đời mình. Các bạn sẽ không được
tự do để tự quán tưởng mình là một bổn tôn bởi các
bạn sẽ bị tóm lấy vào giây phút chết đó. Đây là lý
do khác của việc tại sao điều quan trọng là các hành giả
Dzogchen phải duy trì sự tỉnh giác về giác tánh nội tại
và an trụ trong cái thấy (kiến) ở mọi lúc.
Nếu
bản thân các bạn quen thuộc với pháp phowa trong đời các
bạn, quen thuộc việc quán tưởng tâm các bạn như một quả
cầu ánh sáng trí huệ được phóng thẳng lên kinh mạch trung
ương như một ngôi sao băng và thoát ra đỉnh đầu các bạn
đi vào cõi thuần tịnh hay trái tim của Đức Phật, nếu các
bạn đã từng phát triển một thói quen mạnh mẽ là đưa
tâm thức mình đi lên và ra ngoài, và lập đi lập lại điều
này, thì có thể ngay cả trong trường hợp một cái chết
bất ngờ, đây sẽ là nơi mà tâm thức có thể xuất ra khỏi
thân thể. Một hành giả Dzogchen cần luôn luôn duy trì sự
tỉnh giác vào mọi lúc. Đây là một vấn đề hết sức quan
trọng. Nếu các bạn may mắn, các bạn sẽ không chết bất
ngờ trong đời này và sẽ có cơ hội để chết trên giường
các bạn, với thuốc thang hảo hạng, có các bác sĩ, y tá
và những người thân yêu ở xung quanh. Các bạn sẽ có tự
do để thực hiện sự thực hành của mình. Và trong cách này,
các bạn sẽ có cơ hội để quán tưởng các giai đoạn của
sự tan rã. Ở mặt khác, tôi nói cho các bạn rõ là ngay cả
việc tưởng tượng các giai đoạn này cũng là điều cực
kỳ khó khăn. Vào lúc chết, nếu các bạn không có sự tỉnh
giác hay căn bản của sự thực hành, thì trong trường hợp
một cái chết bất ngờ, các bạn sẽ chỉ rơi vào một trạng
thái mất ý thức còn nặng nề hơn bất kỳ giấc ngủ sâu
nào mà các bạn từng kinh nghiệm. Khó mà đảo ngược lại
được,
cho dù các bạn đang chết từ từ. Nếu các bạn không tỉnh
giác về sự tan rã, các bạn sẽ bị đánh bại bởi sự hôn
trầm nặng nề của tiến trình hấp hối. Sẽ là một sự
tràn ngập khủng khiếp khi ba giai đoạn xảy ra. Các bạn sẽ
không được tự do để kiểm soát nó trừ khi các bạn có
thói quen về Pháp rất mạnh mẽ. Cực kỳ khó khăn để làm
điều gì đó trong lúc này. Nó không giống như bất kỳ giây
phút nào khác. Tâm thức bị tràn ngập. Dù ta chết bởi sự
cạn kiệt của nghiệp hay bởi một điều kiện (duyên) bất
ngờ, thì trong ý nghĩa nào đó chúng cũng giống nhau ít nhiều.
Các bạn phải tu tập và chuẩn bị bất cứ điều gì.
Sự
cạn kiệt của nghiệp cũng có thể xảy ra vào bất cứ lúc
nào. Các bạn có thể chết khi các bạn còn trẻ hay khi già
đi. Có thể vào bất cứ lúc nào. Khi thần chết đến thăm
các bạn, chào hỏi, và đưa các bạn sang trạng thái tái sinh
kế tiếp, các bạn sẽ kinh nghiệm kết quả của những nguyên
nhân mà các bạn đã tích tập trong đời này. Thời gian mà
các bạn dâng hiến cho sự thực hành Pháp sẽ là kho công
đức các bạn mang theo mình. Công đức này sẽ kéo dài bao
lâu mà năng lực của nó tồn tại, nó được đặt nền trên
sức mạnh của sự tích tập của nó. Đó là những gì sẽ
thúc đẩy các bạn đi vào trạng thái tái sinh kế tiếp của
các bạn, dù là tái sinh như một vị trời, người hay bất
kỳ loại thân tướng nào có thể. Rõ ràng là các bạn phải
nhận thức rằng karma (nghiệp) là thật có. Được đặt nền
trên định luật nhân quả, kết quả của sự thực hành Pháp
là đức hạnh và hạnh phúc.
Có
nhiều người trong căn phòng này tối nay, và mọi người trông
rất khác biệt nhau. Ai nấy đều có vẻ khác nhau. Mọi người
có những thái độ khác nhau, hiểu biết các giáo lý bằng
những cách khác nhau, có một đời sống gia đình khác nhau,
mức độ giàu có khác nhau và v.v... Căn nguyên của mọi sự
này là nghiệp. Thọ mạng mà các bạn sẽ trải qua, dù dài
hay ngắn, thì hoàn toàn do bởi nghiệp của các bạn, và chỉ
có nghiệp của các bạn là sẽ quyết định các bạn sống
thọ bao lâu và các bạn sẽ có bao nhiêu thời gian để chuẩn
bị cho giây phút quan trọng đó.
Ở
Tây Tạng, hầu hết mọi người chết vì ăn uống không thích
hợp. Tôi không biết trong quốc gia này đa số các bạn chết
ra sao, nhưng đó là nguyên nhân cái chết của phần lớn người
Tây Tạng. Dù bất kỳ tình huống nào, điều đầu tiên sẽ
xảy ra cho người hấp hối là họ sẽ không nghe rõ ràng các
lời nói chuyện. Mọi âm thanh sẽ trở nên mơ hồ, và khi
thời gian qua đi người hấp hối sẽ không hiểu được điều
gì diễn ra quanh họ. Đây là sự bắt đầu của tiến trình
chết. Sau đó thịt tan vào địa đại. Các chất lỏng tan
vào thủy đại. Rồi hơi ấm trong thân tan vào hỏa đại.
Khi tâm thức tan vào không gian (không đại), đó chính là giây
phút các kinh nghiệm về “con đường trắng”, “con đường
đỏ”, và “con đường đen” xảy ra.
Như
thế, đi ngược lại tiến trình, thịt, xương và mỡ của
chúng ta, tất cả những thứ ấy bắt nguồn từ địa đại
tan trở lại vào địa đại. Khi các chất lỏng tan trở lại
vào nước, chúng chảy ra ngoài thân thể mà không kiểm soát
được. Hơi ấm của thân thể tan vào hỏa đại. Hơi thở
tan vào gió và gió-ở khắp lưu hành khắp trong thân thể ta
tan vào gió của chất tinh túy của đời sống. Vào lúc này
hơi thở bên ngoài chấm dứt. Điều này xảy ra trước sự
ngưng dứt của hơi thở bên trong, vào lúc đó 84.000 loại
mê lầm chấm dứt. Sau đó các loại gió (khí) khác tan rã.
Có năm loại gió (khí) chính. Gió-ở khắp tan thành gió của
đời sống. Sau đó là sự tan rã của gió tràn lên, gió dồn
xuống, và các gió hơi ấm và hấp thu, tất cả chúng đều
tan rã. Khi những gió này tan rã ta không bất có bất kỳ kinh
nghiệm cảm xúc nào nữa. Tiến trình tan rã này xảy ra cho
tất cả chúng sinh trong vòng sinh tử nhưng khi họ không nhận
ra tiến trình và không có sự tỉnh giác, họ lại tiếp tục
tái sinh và cứ lập đi lập lại như thế. Trong sự tái sinh
đó, họ tích tập thêm nghiệp tiêu cực và nhận ra tái sinh
khác. Chúng sinh bị mắc bẫy trong vòng tái sinh bất tận này
được đặt nền tảng trên nghiệp tiêu cực. Cực kỳ quan
trọng là phải có sự tỉnh giác nào đó về tiến trình này
để các bạn có thể duy trì tỉnh thức trong nó và đạt
được giải thoát nhờ sự tỉnh giác đó.
Hạt
giống (chủng tử) mà ta nhận từ người cha lúc thụ thai,
nó từ đỉnh đầu đi xuống kinh mạch trung ương. Lúc đó
ba mươi ba ý niệm được đặt nền trên sự sân hận bị
ngưng lại và có kinh nghiệm về tia sáng trắng, nơi đó mọi
sự trở nên trắng như một vầng trăng tròn xuất hiện trong
không gian. Khi điều này xảy ra ta sẽ không tỉnh lại từ
tiến trình hấp hối. Vào giai đoạn này, không thể thay đổi
gì được nữa. Rồi hạt giống đỏ được nhận từ người
mẹ lúc thụ thai đi lên kinh mạch trung ương tới tim. Điều
này được kinh nghiệm như một tia sáng đỏ, giống như một
mặt trời sáng chói, và vào lúc đó bốn mươi ý niệm được
đặt nền trên sự tham muốn bị ngưng lại. Khi hai hạt giống
này được hợp nhất ở trung tâm tim, ta kinh nghiệm sự thoáng
ngất tối đen của giây phút chết. Khi hạt giống trắng rơi
từ đỉnh đầu xuống trái tim thì cũng có một kinh nghiệm
về hỉ lạc đang tràn ngập và không giống bất kỳ hiện
tượng nào xảy ra trong các trạng thái tỉnh giác khác. Ta
hoàn toàn bị kiệt quệ bởi kinh nghiệm hỉ lạc này. Khi
hạt giống đỏ đi lên trái tim, lúc tia sáng đỏ xảy ra,
ta có kinh nghiệm về sự trong sáng tương ứng với sự tham
muốn. Khi hai hạt giống hợp nhất trong tim, sự thoáng ngất
đen tối xảy ra, có một kinh nghiệm mãnh liệt về bóng tối
dày đặc. Vào lúc đó, các ý niệm được liên kết với
sự mê lầm bị ngưng lại và vào lúc đó ta chết.
Kinh
nghiệm hỉ lạc xảy ra tương tự như sự hỉ lạc được
kinh nghiệm trong hoạt động tính dục. Khi tâm thức được
thụ thai trong tử cung của bà mẹ, trong hành vi tính dục của
cha mẹ, do khuynh hướng nghiệp nó đi vào miệng người cha,
đi xuống và qua cơ quan của cha, đi vào cơ quan của mẹ, tan
hòa trong hạt giống của mẹ và sự thụ thai xảy ra. Tâm
thức kinh nghiệm hỉ lạc vào lúc thụ thai. Đây cũng là loại
hỉ lạc được kinh nghiệm bởi người hấp hối khi hạt
giống trắng rơi xuống tim. Nó được gọi là kinh nghiệm
ban đầu-đồng xuất hiện về hỉ lạc, nó chỉ lập lại
chính nó vào lúc chết. Đối với một hành giả mật thừa
đã quen thuộc với các thực hành tương ứng với quán đảnh
thứ ba, sự thực hành anu yoga quét sạch các khuynh hướng
vi tế hấp dẫn tới kinh nghiệm hỉ lạc này. Một hành giả
Dzogchen có phẩm chất thực hành với một phối ngẫu có thể
tạo nên kinh nghiệm hỉ lạc này để thấu suốt bản tánh
của nó và tịnh hóa các khuynh hướng trong một chiều hướng
bình thường. Điều này được thành tựu qua sự thực hành
được gọi là thực hành Không-Lạc của bốn niềm vui. Sự
thực hành này thiết lập các tình huống nhờ đó ta có thể
tẩy bỏ các thói quen của hỉ lạc bình thường. Đây là
năng lực của sự thiền định thuộc giai đoạn thành tựu.
Khoảng
thời gian khi tâm thức kinh nghiệm sự thoáng ngất thường
kéo dài khoảng ba ngày, mặc dù trong trường hợp của một
hành giả nó có thể kéo dài bảy ngày hay hơn nữa. Một khi
trạng thái này chấm dứt, người hấp hối kinh nghiệm sự
ló rạng của ánh sáng căn bản xuất hiện như con đường
đi tới giải thoát. Nếu họ đã là một hành giả Dzogchen
và đã thiền định về giác tánh nội tại trống không, thì
thậm chí chỉ ba phút của sự thiền định đó cũng được
nhân đôi lên vào lúc này trong Bardo. Nó cho ta một cơ hội
tốt hơn để đạt được giải thoát khi tịnh quang mẹ xuất
hiện và được nhận ra. Việc nhận ra tịnh quang thì thật
huy hoàng bởi vì toàn bộ nền tảng của trái đất, tất
cả các hiện tượng, chuyển hóa thành ánh sáng xanh dương
tinh tế chói lọi và ta nhận thức được mình là thành phần
của sự phô diễn vĩ đại này của ánh sáng xanh dương, là
cái gì hoàn toàn thanh tịnh, nguyên sơ và tinh khiết. Nó là
một màu xanh dương đầy khí lực tỏa khắp mọi phương diện
của các hiện tượng. Nhận ra kinh nghiệm này nhờ sự thiền
định của ta về giác tánh nội tại trống không có nghĩa
là ta sẽ nhận ra được tịnh quang mẹ và đi lên mười cấp
bậc cùng năm con đường đạt tới giải thoát trong Báo Thân,
sự đánh thức Pháp Thân. Việc quen thuộc với và bắt gặp
tịnh quang mẹ này khi nó ló rạng là điều quan trọng duy
nhất mà các bạn có thể học hay thực sự thực hành trong
đời. Điều quan trọng là mỗi người trong các bạn cần
thấu suốt và trở nên quen thuộc với các giai đoạn tan rã
và hiểu rõ rằng cái tiếp theo sau đó là sự ló rạng của
ánh sáng căn bản. Nếu điều này được nhận ra, đó là
cơ hội của các bạn để đạt được giác ngộ. Nếu các
bạn biết cách thành tựu nơi an nghỉ bất biến này, thì
đây là cái gì tách lìa vô minh với sự giải thoát. Đây
là ranh giới mà các bạn vượt qua từ sinh tử tới niết
bàn. Đây là sự chứng ngộ sự thuần tịnh nguyên thủy.
Tôi không thể nhấn mạnh tầm quan trọng của điều này.
Mọi việc tu tập của các bạn, mọi sự các bạn làm trên
con đường tâm linh đều nằm trong sự chuẩn bị cho giây
phút đó. Nó là một giây phút tự nhiên. Các bạn phải biết
cách gặp gỡ nó để đạt được giải thoát. Sau giây phút
đó, các hiện thân và các phân tử của ánh sáng xuất hiện
và nhờ năng lực của thực hành trekchod và tošgal của các
bạn, các bạn có một cơ hội để đạt được giải thoát.
Bằng năng lực của thực hành trekchod và tošgal, các bạn
có thể đạt được giải thoát vào giây phút ánh sáng căn
bản ló rạng nhờ sự nhận ra giác tánh nội tại trống không.
Không
gì tốt đẹp hơn điều này. Cái gì có thể tốt hơn? Giả
sử các bạn học với một trăm đạo sư, các bạn chẳng
bao giờ có thể gặp được giáo lý nào cao hơn giáo lý này.
Không gì cao hơn Dzogchen. Tại sao lại còn lo thực hành giáo
lý gì khác? Nếu các bạn cho rằng có thứ gì tốt đẹp hơn
nó thì hay hơn cả là các bạn có thể nhảy xuống biển.
Trước
khi chết, các bạn cần thấu suốt rằng bản tánh của mọi
hình tướng là sự phô diễn của rigpa, giác tánh nội tại
trống không. Các bạn cần duy trì cái thấy Dzogchen để các
bạn không lạc mất chỗ của mình, để các bạn không bỏ
lỡ cơ hội thành tựu nơi an trú bất biến này. Các bạn
nên biết rằng ngoài nền tảng giác tánh nội tại và sự
phô diễn của nó, mọi sự đều là vô minh. Tịnh quang nền
tảng, ánh sáng căn bản, là sự xuất hiện xanh dương tỏa
khắp của không gian, thì không có các giới hạn và biên cương
dù thế nào đi nữa. Ngay cả thân thể bạn cũng không là
gì khác hơn không gian. Nó giống như sự chiếu sáng của mặt
trời và mặt trăng nhưng không có vật gì trong đó. Nó là
kinh nghiệm về giác tánh bẩm sinh trống không mà bản thân
các bạn phải tự làm quen thuộc nhờ sự thực hành. Nó là
kinh nghiệm về Pháp Thân. Tất cả các yogin, yogini, tulku, lama
Dzogchen vĩ đại, tất cả những hành giả xuất sắc đó đều
trải qua đời mình trong sự thiền định, hộ trì giác tánh
nội tại của con đường. Hãy biết rằng khi ánh sáng căn
bản, tịnh quang mẹ, tự phô diễn, nó huy hoàng một cách
tuyệt đối, và khi các ngài nhận ra nó, các ngài hoàn toàn
giải thoát trong cõi thanh tịnh của Pháp Thân. Các bạn có
hiểu điều đó không? Tôi tự hỏi rằng các bạn có hiểu
điều đó không và các bạn có nghĩ rằng các bạn muốn thiền
định, có nghĩ rằng các bạn có khả năng để tự chuẩn
bị bằng cách thiền định về giác tánh nội tại trong đời
này để các bạn sẽ nhận ra được ánh sáng mẹ khi nó xuất
hiện vào lúc chết. Đó có phải là điều mà các bạn có
thể?
Một
bậc đã được giải thoát trong ánh sáng căn bản vào lúc
chết sẽ biểu lộ các dấu hiệu vật lý của sự thành tựu
đó. Thân các ngài sẽ được đánh dấu với những chữ OM
AH và HUNG. Các cầu vồng sẽ xuất hiện vào lúc chết và
trong tro hỏa thiêu của các ngài sẽ hiện ra những xá lợi.
Các bạn có tin điều đó không? Một trong những bậc thầy
của tôi, ngài Akong Khenpo, đã sống đến chín mươi tuổi.
Ngài là một yogi Dzogchen vĩ đại, là một khenpo ở Tu viện
Tarthang và là một đệ tử tâm truyền của Dodrup Tenpei Nyima.
Ngài là một đại thành tựu giả vĩ đại và bị giết chết
khi quê hương ngài bị chiếm đóng. Khi Ngài mất, ngài có
chữ HUNG ở trung tâm tim của ngài, trông nó như thể được
vẽ bởi một bàn tay con người. Chữ này được vẽ bằng
máu và được chạm nổi trên thi hài của ngài. Có một ngakpa
khác có chữ dakini trên thi hài : các chữ BAM HA RI NI SA và
các chữ khác. Các bạn có đức tin nơi các hành giả Dzogchen
vĩ đại như các vị này và nơi các thành tựu của họ không?
Ánh
sáng chói ngời này xảy ra trong bardo vào lúc chết và bản
thân các bạn có thể quen thuộc với nó trong đời các bạn
mỗi đêm khi các bạn đi ngủ. Các bạn có thể thực hành
sự nhận ra các giấc mộng của mình hơn là rơi vào một
trạng thái hôn trầm của giấc ngủ và giấc mộng bình thường.
Nếu các bạn có thể thực sự có một giấc mộng minh bạch,
các bạn nên tăng trưởng khả năng của mình để làm điều
đó, khiến cho cái thấy Dzogchen và sự thực hành thiền định
của các bạn là những gì các bạn thực hiện vào ban ngày,
sẽ được đem vào trạng thái mộng. Khi ấy thay vì các giấc
mộng các bạn sẽ có thể duy trì giác tánh trống không suốt
ngày và đêm. Các bạn có nghĩ rằng mình có thể làm được
điều đó? Nếu các bạn có thể, nó có nghĩa là các bạn
sẽ nhận ra ánh sáng mẹ vào lúc chết. Nếu các bạn nghĩ
rằng mình có thể làm được điều đó, thì ngay bây giờ
các bạn có thể chuẩn bị cho sự giải thoát trong bardo bằng
cách thành tựu giác tánh rigpa trong trạng thái mộng. Vào lúc
chết, các hiện tượng của bardo này mà tôi đã giảng cho
các bạn thì giống như các hiện tượng của trạng thái mộng.
Tôi muốn tất cả các bạn hiểu điều này thật rõ ràng.
Chúng là những kinh nghiệm rất giống nhau. Nếu các bạn có
thể nhận ra và kiểm soát nó trong trạng thái mộng, thì các
bạn sẽ nhận ra nó vào lúc chết. Tôi muốn biết các bạn
có thể thực hiện điều này hay không. Ở đây khi trước
có ai đã từng nhận ra một giấc mơ không? (Một vài người
trả lời “có”) Thật không? (Tiếng cười). Khi các bạn
nghĩ về các hiện tượng hay những sự xuất hiện vào ban
ngày và các sự xuất hiện vào ban đêm, các sự xuất hiện
trong trạng thái mộng, các bạn bất lực trong việc kinh nghiệm
chúng. Cũõng thế, khi các bạn chết và ở trong bardo, các
bạn bất lực trong việc kinh nghiệm các hiện tượng. Các
bạn có nghĩ là có một sự liên quan không?
CHƯƠNG
8
BARDO
PHÁP TÁNH
Tối
nay chúng ta sẽ tiếp tục với Bardo Pháp tánh. Tôi đã giảng
chút ít về ánh sáng căn bản hay ánh sáng mẹ. Đứa con, hay
ánh sáng con đường hợp nhất với mẹ, ánh sáng nền tảng,
và trong lúc đó sáu pháp cao cả của Dzogchen được hoàn thành.
Ta thành tựu thân cái bình mãi mãi trẻ trung trong trạng thái
thuần tịnh nguyên thủy tinh khôi.
Nếu
ánh sáng đó không được nhận ra thì trong không gian màu xanh
dương sáng chói này, Đức Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) xuất
hiện từ cõi Hiển lộ Sâu rộng ở trung tâm. Ngài có màu
trắng và vây quanh ngài là một hội chúng các bổn tôn nam
và nữ sáng chói như một triệu mặt trời cùng chiếu rọi
đồng thời lên mặt ta. Hội chúng chói lọi đến nỗi các
bạn khó có thể nhìn thấy. Hãy thử tưởng tượng xem nó
có thể tràn ngập rộng khắp thế nào. Từ trái tim của Đức
Phật Vairocana trong sự hợp nhất với vị phối ngẫu của
ngài, Nữ Hoàng Không gian Kim cương, phát ra một tia sáng màu
xanh dương, trí huệ nguyên thủy của Pháp giới. Tia sáng này
hướng trực tiếp đến các bạn, móc vào hay nối kết với
trái tim các bạn. Cùng lúc đó một tia ánh sáng trắng rất
nhạt cũng đi vào trái tim các bạn. Đó là con đường đi
tới cõi trời (thiên giới). Bằng cách chỉ tập trung vào
ánh sáng xanh dương chói ngời, trí huệ nguyên thủy của Pháp
giới, các bạn sẽ nối kết với trái tim của Đức Phật
Vairocana và đạt được giải thoát, trở thành một Báo thân
Phật trong cõi Phật Trung tâm được gọi là Hiển lộ Sâu
rộng. Nếu các bạn không nhận ra sự hiển lộ này, nó tan
biến và kinh nghiệm kế tiếp xuất hiện.
Từ
phương đông, một ánh sáng trắng sáng chói tràn ngập, Đức
Phật Vajrasattva (Kim Cang Tát Đỏa) xuất hiện, được vây
quanh bởi hội chúng của ngài gồm các bổn tôn nam và nữ.
Một lần nữa ánh sáng trắng chói ngời này như một triệu
mặt trời chiếu sáng trực tiếp trên mặt các bạn. Đức
Phật Vajrasattva ở trung tâm của sự phô diễn ánh sáng chói
lọi này, trong sự hợp nhất với vị phối ngẫu của ngài
là Đức Phật-Locana, Phật Nhãn. Từ trái tim Phật Vajrasattva
phát ra một tia sáng trắng chói sáng như-gương tan hòa vào
trái tim các bạn. Đồng thời, một ánh sáng có màu xám như
màu khói là con đường đi tới cõi địa ngục cũng đi vào
trái tim các bạn. Bằng cách tập trung vào ánh sáng chói sáng
như-gương, các bạn sẽ lập tức đạt tới giải thoát như
một Báo thân Phật trong cõi thuần tịnh Hỉ Lạc Hiển lộ.
Nếu các bạn không nhận ra Đức Phật Vajrasattva và ánh sáng
của trí huệ như-gương đang vẫy tay ra hiệu cho các bạn
đi tới giải thoát trong cõi thuần tịnh phương đông thì
nhanh như một ngôi sao băng vụt qua, sự xuất hiện biến mất.
Vào
ngày thứ ba, từ phương nam, ánh sáng màu vàng tràn ngập mọi
hướng trong không gian. Ở trung tâm của sự phô diễn màu
vàng là Đức Phật Ratnasam-bhava (Bảo Sanh) trong sự hợp nhất
với vị phối ngẫu Mamaki của ngài. Từ trái tim ngài phát
ra ánh sáng vàng của trí huệ nguyên thủy thuộc tánh bình
đẳng, ánh sáng vô-phân biệt, nối kết trực tiếp với trái
tim các bạn. Cùng với nó là một ánh sáng xanh dương nhạt,
là con đường đi tới cõi người, cũng nối kết với trái
tim các bạn. Nếu các bạn có đức tin mạnh mẽ nơi Đức
Phật Ratnasam-bhava và tập trung ở ánh sáng vàng chói lọi,
các bạn sẽ đi vào trái tim ngài và đạt được giải thoát
như một Báo Thân Phật trong cõi thuần tịnh Ân phước Vinh
quang.
Vào
ngày thứ tư, Đức Phật Amitabha (A Di Đà) xuất hiện từ
phương tây. Có một sự phô diễn rộng lớn của ánh sáng
đỏ tràn ngập không gian từ mọi phía. Ở trung tâm của ánh
sáng này là Đức Phật A Di Đà trong sự hợp nhất với vị
phối ngẫu Pandaravasini – Bậc Mặc Áo Trắng – của ngài
cùng xuất hiện với hội chúng các bổn tôn của Liên Hoa
bộ và vây quanh bởi sáu hội chúng nữa chói sáng rực rỡ
giống như một triệu mặt trời. Từ trái tim Đức Phật A
Di Đà, một giòng ánh sáng đỏ của trí huệ nguyên thủy
của giác tánh phân biệt, nối kết với trái tim các bạn
và đi cùng với nó là một ánh sáng vàng rất mờ, là con
đường đi tới cõi ngạ quỷ, cũng nối kết với trái tim
các bạn. Vào lúc này, đừng chú tâm tới màu vàng mờ đục
của cõi ngạ quỷ. Hãy chỉ tập trung vào sự hiển lộ ánh
sáng đỏ chói lọi của tâm Đức Phật A Di Đà, trí huệ
của giác tánh phân biệt, đi vào trái tim Đức A Di Đà và
đạt sự giải thoát như một Báo Thân Phật trong cõi Cực
Lạc. Nếu các bạn không nhận ra Đức Phật A Di Đà thì nhanh
như một vì sao băng vụt qua, sự hiển lộ biến mất.
Vào
ngày thứ năm, Đức Phật Amoghasiddhi (Bất Không Thành Tựu)
có màu xanh lá cây, xuất hiện và được hội chúng của ngài
gồm các bổn tôn nam và nữ thuộc Nghiệp bộ vây quanh. Sự
phô diễn chói lọi của ánh sáng sẽ tràn ngập không gian
như một triệu mặt trời sáng chói. Từ trái tim Đức Phật
Amoghasiddhi, hợp nhất với vị phối ngẫu Samaya-Tara của ngài,
phát ra một giòng ánh sáng xanh lá cây chói lọi, ánh sáng
của trí huệ nguyên thủy của hành động thành tựu viên
mãn. Nó nối kết với trái tim các bạn và đi cùng với nó
sẽ là một ánh sáng đỏ dịu là con đường đi tới cõi
trời ganh tị cũng nối kết với trái tim các bạn. Bằng cách
tập trung vào ánh sáng xanh lá cây chói sáng này, các bạn
sẽ hợp nhất với Đức Phật Amoghasiddhi và đạt được
giải thoát như một Báo Thân Phật trong cõi thuần tịnh của
Hoạt Động Thành Tựu Viên Mãn.
Đây
là các cõi thuần tịnh của năm vị Phật Thiền và hội chúng
của các ngài. Các cõi này chỉ được nhận ra bởi các hành
giả mật chú. Ngay cả những người đã từng thực hành con
đường Bồ tát và đã giữ giới luật tu sĩ sẽ thấy là
khó có thể đạt tới giải thoát vào lúc này. Chỉ những
người đã thực hành mahayoga của giai đoạn phát triển, anuyoga
của giai đoạn thành tựu và atiyoga bất nhị là sẽ không
gặp khó khăn vào lúc này. Duy chỉ một hành giả mật chú
đã thể hiện tri giác thanh tịnh về sự hiện hữu hiện
tượng là sẽ nhận ra các xuất hiện này và đạt được
giải thoát.
Khi
nói đến các thời kỳ này như chánh định hay sự nhập định,
kinh nghiệm về thời gian thì gấp đôi thời gian của cõi
người. Nếu các bạn ở trong sự nhập định một giờ đồng
hồ trong đời các bạn thì sự nhập định trong bardo sẽ
tương đương khoảng hai giờ. Nếu các bạn đã an trú một
giờ trong giác tánh nội tại trống không mà không phóng tâm
trong đời các bạn, thì nó sẽ kéo dài hai giờ trong bardo.
Vào
ngày đầu tiên, có sự xuất hiện của Đức Phật Vairocana.
Ngày thứ hai, Đức Phật Vajrasattva xuất hiện. Ngày thứ ba,
Đức Phật Ratnasambhava xuất hiện. Vào ngày thứ tư, Đức
Phật Amitabha xuất hiện. Vào ngày thứ năm, Đức Phật Amoghasiddhi
xuất hiện.
Vào
ngày thứ sáu, tất cả năm Đức Phật Như Lai và sáu các
Đức Phật của sáu cõi sinh tử đồng thời xuất hiện. Nếu
ta nhận ra Đức Phật này ta sẽ được giải thoát trong năm
cõi Phật, một cách tương ứng.
Vào
ngày thứ bảy, có sự xuất hiện của các vị vidyad-hara.
Nếu ta nhận ra các vidyadhara, ta sẽ đạt được giải thoát
trong cõi Phật trung tâm Hiển lộ Sâu rộng. Điều này kết
thúc sự xuất hiện của bốn mươi hai bổn tôn hòa bình của
Báo Thân hiện ra trong tim các bạn và xuất hiện trước các
bạn. Các ngài là sắc tướng thuần tịnh của những phóng
chiếu của chính các bạn vì thế hãy nhận ra các ngài như
thế. Tất cả những thị kiến này xuất hiện từ trung tâm
tim của các bạn.
Sau
khi sự xuất hiện của các bổn tôn hòa bình đã xảy ra,
năm mươi tám bổn tôn phẫn nộ sẽ xuất hiện. Các ngài
là những biến hóa của các bổn tôn hòa bình. Các ngài xuất
hiện như sau : Đức Phật Heruka, Vajra Heruka, Ratna Heruka, Padma
Heruka và Karma Heruka.
Vào
ngày thứ tám, Đức Phật Heruka sẽ hiện ra từ trong óc các
bạn. Ngài có màu đen-đỏ với ba đầu, sáu tay và bốn chân,
ngài la hét HA và HUNG và những âm thanh phẫn nộ khác. Ngài
đeo tám vật trang sức của mộ địa, đứng trong một đống
lửa trí huệ nguyên thủy chói lọi sáng như một triệu mặt
trời. Ngài có năng lực di chuyển trái đất. Âm thanh của
các tiếng rít nhức óc và các tiếng thét khiếp đảm vang
dội từ mọi phía. Đây là một hiển lộ kinh hoàng và khủng
khiếp và trừ phi đã từng là một hành giả của các thực
hành bổn tôn phẫn nộ, các bạn sẽ quay mặt đi với sự
xuất hiện đó nhanh chóng như các bạn có thể tưởng tượng.
Nhưng nếu các bạn đã thực hành Vajrakilaya hay Yamantaka hoặc
bất kỳ các bổn tôn nào khác, thì các bạn sẽ nhận ra sự
xuất hiện này như con đường của sự thực hành và hợp
nhất với hiển lộ phẫn nộ đó, phù hợp với các đặc
tính rõ ràng của ngài. Những người từng thực hành bổn
tôn như Chara-samvara, Guyasamaja, Kalachakra, Hevajra, Vajrasattva v.v...
– nếu họ chỉ đơn thuần tập trung mạnh mẽ nơi bổn tôn
của họ khi ngài xuất hiện vào lúc đó, họ sẽ đi thẳng
đến cõi thuần tịnh thuộc Báo Thân và đạt được giải
thoát.
Vào
ngày thứ chín, sự hiển lộ uống máu của Kim Cương bộ,
Đức Vajra Heruka sẽ hiện ra từ góc phía đông của não bộ
các bạn. Ngài có màu xanh dương đậm với ba đầu sáu tay.
Vào
ngày thứ mười, sự hiển lộ uống máu của Bảo Sanh bộ.
Đức Ratna Heruka sẽ xuất hiện trước các bạn từ góc phía
nam não bộ của bạn. Thân ngài màu vàng đậm.
Vào
ngày thứ mười một, Đức Padma Heruka sẽ xuất hiện từ
góc phía tây não bộ của các bạn. Ngài màu đỏ đậm với
ba đầu, sáu tay và bốn chân.
Vào
ngày thứ mười hai, Đức Karma Heruka sẽ hiện ra từ góc phía
bắc não bộ của các bạn và xuất hiện trước các bạn.
Thân ngài có màu xanh lá cây đậm với ba đầu, sáu chân và
bốn tay.
Đây
là cách hiển lộ phẫn nộ của năm vị Phật và các phối
ngẫu của các ngài sẽ xuất hiện theo thứ tự liên tiếp
và nếu không được nhận ra các ngài sẽ nhanh chóng tan biến
như đã xuất hiện. Sau tám sự xuất hiện này, tám gaury,
tám pisaci, tramen và tám dakini đầu sư tử xuất hiện. Đây
là tất cả bổn tôn phẫn nộ xuất hiện với một đầu
và hai tay, hai mươi tám wangchukma cũng sẽ xuất hiện. Bốn
yogini canh cửa sẽ xuất hiện. Vị gác cửa phía đông, màu
trắng, có một đầu-chim cu cu và cầm một cái móc sắt. Vị
canh cửa ở phương nam, màu vàng, có một đầu dê và cầm
một dây thòng lọng. Vị canh cửa phương bắc, màu xanh lá
cây đậm, có một đầu rắn và cầm một cái chuông. Vị
canh cửa phương tây, màu đỏ, có một đầu sư tử và cầm
một dây xích sắt. Họ xuất hiện theo thứ tự liên tiếp.
Tất
cả các bạn là các hành giả Kim Cương thừa may mắn, cần
phải nhận ra cái này là Bardo Pháp tánh khi nó xuất hiện
và nhận ra nó là một phô diễn của giác tánh giác ngộ của
chính các bạn. Điều này cũng xuất hiện cho tất cả chúng
sinh trong sáu cõi, thậm chí với cả một con kiến bé tí,
nhưng vấn đề là họ có thể nhận ra nó hay không. Nếu không,
thì sẽ phải tiếp tục lang thang trong sanh tử luân hồi. Bốn
mươi hai bổn tôn hòa bình này an trú trong tim các bạn, được
bao hàm trong thân cái bình ở trung tâm tim. Các ngài là một
phô diễn hay bản tánh tỉnh giác nội tại của chính các
bạn, an trụ ở đó như thân của Phật tánh các bạn, thân
này là một hiện thân mãi mãi trẻ trung không biết tới những
giới hạn của sinh, lão, bệnh, tử.
Khi
các bạn thực hành tošgal, liên kết với các hạt ánh sáng
và giác tánh nội tại, các bạn đang chuẩn bị để nhận
ra các sự xuất hiện trên con đường trong đời này. Khi các
sự xuất hiện này phát sinh trong bardo, chúng phát sinh bởi
vì khi các bạn rời bỏ thân thể mình, cái bình mãi mãi trẻ
trung trong tim các bạn mở tung ra, thân thể các bạn thôi hoạt
động và thức các bạn được tự do. Các hình ảnh xuất
hiện trong mọi nơi chốn trong không gian như sự phô diễn
của tâm các bạn không chút giới hạn. Vì thế hãy nhận
ra chúng và hòa lẫn với chúng.
Các
bổn tôn phẫn nộ trú trong trung tâm trống rỗng trong não
bộ của các bạn. Vào lúc các bạn chết, các ngài sẽ xuất
hiện như sự phô diễn đã từng ở đó trong đời các bạn.
Hãy nhận ra các ngài và hãy giải thoát. Tất cả chúng sanh
vô hạn như không gian, đều sở hữu các ngài bởi tất cả
họ đều có Phật tánh, ánh sáng chói đồng-xuất hiện toàn
khắp và không biết tới giới hạn nào.
Bây
giờ các con trai và con gái may mắn, các bạn đã có được
sự giới thiệu này, hãy nhận ra bản tánh của các bạn và
hãy đạt tới giải thoát. Hãy để các dấu hiệu xuất hiện,
chúng sẽ giải thoát các bạn khỏi những mê lầm của sanh
tử. Hãy thâm nhập Phật tánh là cái không biết gì về các
biên giới. Tôi đã ban tặng các bạn những giáo lý về Bardo
Pháp tánh, vì thế đừng quên chúng.
Bây
giờ, các bạn nói với tôi rằng các bạn có thể nhận ra
được những giấc mơ của các bạn. Một số trong các bạn
đã có thể thành tựu điều này. Tôi không thể, nhưng các
bạn có thể, thật tốt đẹp cho các bạn. Hãy tiếp tục
với sự thiền định quân bình của các bạn.
CHƯƠNG
9
SỰ
XEM XÉT LẠI VỀ SÁU BARDO
Tôi
muốn xem lại một cách vắn tắt sáu bardo. Bardo Đời Này
là kinh nghiệm ta có từ khi sinh ra cho tới lúc chết. Đây
là điều thật có đối với tất cả chúng sinh trong sáu cõi.
Chúng sinh trong các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người,
trời ganh tị và trời trường thọ, từ khi họ được thọ
thai cho tới lúc chết thì ở trong Bardo Đời Này. Các bạn
có hiểu điều đó không? Bardo mà ngay bây giờ chúng ta đang
ở trong đó là Bardo Đời Này, và trong thời kỳ này chúng
ta kinh nghiệm hai Bardo khác. Đó là Bardo Trạng thái Mộng và
Bardo Thiền định. Chỉ có chúng sinh trong cõi người và có
thể có một ít các vị trời và rồng là có kinh nghiệm về
Bardo Thiền định. Trong chúng sinh ở cõi người, rất ít ai
thực sự có kinh nghiệm Bardo Thiền định. Bardo Trạng thái
Mộng cũng được kinh nghiệm bởi con người. Chúng sinh trong
địa ngục và các ngạ quỷ không ngủ và vì vậy không có
kinh nghiệm về Bardo Trạng thái Mộng. Một số súc sinh ngủ
và một số thì không, vì thế kinh nghiệm về Bardo Trạng
thái Mộng không là một việc xảy ra thường lệ đối với
họ. Chúng sinh trong các cõi địa ngục, từ lúc sinh ra cho
tới khi nghiệp của họ cạn kiệt, có thể dài bằng một
triệu năm của loài người, không ngủ đến một nháy mắt
và không biết điều gì hơn là sự đau khổ ghê gớm. Họ
không bao giờ kinh nghiệm sự thỏa mãn hay vui thích của việc
dùng thực phẩm và thực ra, họ không kinh nghiệm được sự
thoải mái bất kỳ lúc nào. Trong toàn bộ thời gian ở trong
các cõi địa ngục, họ chỉ kinh nghiệm nỗi khổ mãnh liệt.
Cũng thế, các ngạ quỷ không bao giờ ngủ và chỉ kinh nghiệm
đau khổ trong cõi ấy. Họ cảm thấy đói và khát mà không
bao giờ được thỏa mãn. Nếu một con người sống năm mươi
năm thì khoảng hai mươi năm trong những năm đó được dùng
để theo đuổi các sinh hoạt hàng ngày. Nếu một người sống
đến một trăm năm mươi năm thì năm mươi năm trong số đó
được dùng để ngủ. Con người gần như tiêu mất nửa thời
gian của họ để ngủ. Các bạn có hiểu điều đó không?
Chính
trong đại kiếp đầu tiên của thời gian, con người có thọ
mạng dài lâu. Thực ra, đó là một thời gian kỳ diệu. Hoa
màu hiển hiện tự nhiên vì thế không cần phải trồng trọt
hay thu hoạch mùa màng. Thực phẩm thật dồi dào. Quần áo
mọc lên tự nhiên từ các lá cây. Áo lụa thêu kim tuyến
phẩm chất hảo hạng nhất hiện ra một cách tự nhiên. Trong
bầu trời không có mặt trời hay mặt trăng. Vào lúc đó,
thân thể con người chói lọi ánh sáng. Một thân người hoàn
toàn soi sáng được một căn phòng tối. Một trăm người
có thể chiếu sáng toàn bộ một quốc gia. Mặt đất tràn
đầy vàng và ngọc quý, các viên ngọc như ý và nhiều vật
kỳ diệu. Kiếp đầu tiên này được gọi là Kiếp Dzogden.
Không có kẻ thù, kẻ cướp, kẻ sát nhân hay kẻ trộm. Mọi
sự
đều toàn hảo. Như thế sau rất nhiều năm, dần dần mặt
trời và mặt trăng xuất hiện trên bầu trời và có các mùa.
Hoa màu phải trồng trọt, đôi khi chúng dồi dào và những
lúc khác thì khan hiếm. Sự đau yếu, bệnh tật, kẻ thù và
các hoàn cảnh bất lợi xuất hiện. Thọ mạng con người
suy giảm và giờ đây vào thời gian hiện tại, được gọi
là thời đại suy thoái, thọ mạng con người vào khoảng năm
mươi năm. Nếu các bạn lấy ra một trăm người, có thể
ba mươi người trong số đó sống bảy mươi tuổi hay già
hơn và số còn lại thì tới năm mươi hoặc ít hơn. Đây
là một thời đại suy thoái và cái chết xảy đến nhanh chóng.
Như
chúng ta đã thảo luận trước đây, có hai nguyên nhân của
cái chết, sự cạn kiệt của nghiệp và sự tấn công bất
ngờ của các chướng ngại. Bất kỳ trường hợp nào xảy
ra – một sự cố bất ngờ trong đó các bạn bị áp đảo
bởi bệnh tật, một biến động của các yếu tố (các đại),
hay chiến tranh – các bạn đang đến gần cái chết và các
bạn cần chuẩn bị sẵn sàng. Đây là điều tôi đã cố
gắng giới thiệu cho các bạn, và tôi muốn tất cả các bạn
nhận ra rằng cái chết đang nhanh chóng đến gần và giờ
đây các bạn cần nhớ lại Pháp, trước khi chết, và tự
chuẩn bị. Nếu không thì mọi sự chúng ta đã làm trong ít
ngày qua này sẽ thực sự rất vô nghĩa.
Điều
trọng yếu là tỉnh thức về các giai đoạn tan rã, được
gọi là sự xuất hiện, tăng trưởng và đạt đến. Đây
là tia sáng trắng, tia sáng đỏ và kinh nghiệm cận tử ở
đó tâm thức thoáng ngất đi. Sau đó là sự ló rạng của
ánh sáng, một trạng thái được ám chỉ là ánh sáng căn
bản của sự hoàn toàn đạt đến. Nếu các bạn có thể
nhận ra kinh nghiệm tịnh quang mẹ thì các bạn sẽ gặp gỡ
Pháp Thân và đạt được giải thoát từ chốn sinh tử. Nếu
các bạn tiếp tục đi vào Bardo Pháp tánh, các bạn sẽ kinh
nghiệm sự phô diễn toàn khắp của các bổn tôn hòa bình
và phẫn nộ xuất hiện. Điều quan trọng là nhận ra rằng
mọi sự đều là một biểu lộ của bản tánh các bạn. Nếu
các bạn có các thangka và các bức tượng, hoặc cơ hội để
ở gần chúng, thì điều này sẽ có ích lợi vì các bạn
có thể tự quen thuộc với các hình ảnh của các bổn tôn
hòa bình và phẫn nộ. Các bạn nên tôn kính các hình ảnh
này. Nếu các bạn có thể nhận ra năm vị Phật và hội chúng
của các ngài trong Bardo Pháp tánh, điều này sẽ đem lại
lợi lạïc lớn lao cho các bạn bởi các bạn sẽ có cơ hội
đạt được giải thoát. Các bổn tôn này là những người
dẫn đường của các bạn để đi đến giải thoát và các
bạn nên nghĩ tưởng như các ngài đến để hộ tống các
bạn đi đến trạng thái giải thoát. Hãy có đức tin và lòng
sùng mộ ở các ngài.
Khi
tôi đi vào một giảng giải về Bardo Trở thành, sự kết
thúc của Bardo chuyển di, tôi muốn các bạn lắng nghe cẩn
thận. Khi Bardo Đời Này, Bardo Trạng thái Mộng, Bardo Thiền
định và Bardo Vào Lúc Chết đã qua đi, ta đi vào Bardo Pháp
tánh và sau đó vào Bardo Trở thành. Bardo Trở thành xảy đến
ngay trước trạng thái tái sinh kế tiếp của ta và là một
bardo ở đó ta thực sự đang lang thang trong một trạng thái
vô minh trong thời kỳ trung gian. Các câu kệ gốc viết : “Giờ
đây khi Bardo Trở thành trở nên rõ ràng với tôi, tôi sẽ
tập trung tâm thức một cách nhất tâm và nỗ lực để kéo
dài các kết quả của nghiệp tốt, đóng lại lối vào tử
cung và nghĩ tưởng về cách kháng cự. Đây là lúc mà sự
nhẫn nại và tư tưởng thanh tịnh được cần đến. Hãy
từ bỏ sự ganh tị và hãy thiền định về đạo sư cùng
vị phối ngẫu của ngài.”
Bardo
Trở thành xuất hiện khoảng bảy ngày sau khi chết. Chắc
chắn là nó sẽ xảy ra ít nhất ba ngày sau cái chết và lý
do của những độ dài biến đổi của thời gian là bởi các
hành giả kinh nghiệm Bardo Pháp tánh chậm hơn nữa khi họ
gặp gỡ sự phô diễn của các bổn tôn hòa bình và phẫn
nộ xuất hiện. Trong hầu hết các trường hợp, Bardo Trở
thành sẽ xảy ra khoảng bảy ngày sau cái chết. Đối với
một người bình thường không từng thực hành trong đời
này, Bardo Pháp tánh được kinh nghiệm như sự xuất hiện
của hàng trăm và hàng ngàn mặt trời chiếu sáng đồng thời
từ mọi hướng với các tia sáng có màu sắc khác nhau, cực
kỳ chói lọi. Các màu sắc cầu vồng xuất hiện và từ trong
sự phô diễn chói lọi của ánh sáng này hội chúng rộng
lớn không thể nghĩ bàn gồm các bổn tôn hòa bình và phẫn
nộ xuất hiện. Các hiện tượng này có thể tiếp tục vài
ngày và sẽ bất thần chấm dứt giống như mặt trời lặn,
và sau đó ta sẽ kinh nghiệm bóng tối. Sẽ là một bóng tối
bất ngờ, và tâm thức bardo có thể kinh nghiệm nó như sự
sụp đổ của một trái núi hay tòa nhà lớn.
Rồi
tâm thức bardo sẽ kinh nghiệm chính mình như một thân tâm
thức. Nó sẽ nhìn thấy một căn nhà với nhiều lối vào
khác nhau. Nếu nó có chiều hướng đi về các lối vào tầng
hầm, các con đường sẽ dẫn đến các cõi địa ngục và
ngạ quỷ. Nếu nó đi vào các lối vào bên tay phải, chúng
dẫn tới các cõi trời ganh tị và trường thọ. Nếu nó bị
hấp dẫn đi vào các lối bên trái, chúng dẫn tới cõi người.
Vì
mọi người phải chết, tôi sẽ dạy cho các bạn thật rõ
ràng và chính xác điều các bạn phải làm vào lúc chết.
Hãy nghe kỹ điều này. Sau khi cái chết xảy ra, tâm thức
vẫn ở trong thân xác, tử thi, ít nhất hai hay ba ngày. Sau
thời gian ba ngày, tâm thức tự kinh nghiệm mình ra khỏi cái
xác như một đứa bé trần truồng tám tuổi. Nó nhìn cái
xác của mình và tình huống nó vừa lìa bỏ. Ngay cả trước
đây ta bị mù, câm hay điếc trong đời, vào lúc này tất
cả các khả năng sẽ được kinh nghiệm là hoàn hảo. Ta có
thể nhìn thấy các thành viên trong gia đình và bằng hữu
của mình nhưng họ không thể nhìn thấy người đã chết.
Họ không thể nhìn thấy tâm thức bardo này. Vào lúc này trong
bardo, xuất hiện bên tay phải của thân tâm thức là một
người đàn ông màu trắng với một cái túi đựng đá và
sỏi trắng ở trên lưng. Các viên sỏi này biểu thị đức
hạnh mà ta đã tích tập từ xa xưa cho tới lúc này. Bên trái
sẽ là một ma quỷ đồng-xuất hiện, màu đen, với một túi
sỏi trên lưng biểu thị các ác hạnh mà ta từng tích tập.
Hai người này, trắng và đen, mang trọng lượng của các hành
vi thuộc về nghiệp của ta đối với tất cả vô số chúng
sinh ở trong cả sáu cõi. Hai người này, cầm một cái bảng
đá ghi các tích tập đức hạnh và ác hạnh của ta, xuất
hiện với mọi chúng sinh vào giai đoạn này trong tiến trình
chết và sẽ thực sự đi cùng thân tâm thức trong bardo như
các người hộ vệ hay bảo hộ. Nếu ta sắp tái sinh trong
địa ngục thì Shinje, Tử Thần, sẽ đến và hộ vệ ta đi
tới cõi đó. Hai cai ngục đến từ cõi địa ngục, một với
cái đầu khỉ không đuôi và một với đầu trâu nước, họ
nắm cổ ta và dẫn ta đi xuống bảy tầng dưới mặt đất,
ở dưới các tầng nước đến đô thị to lớn của cõi địa
ngục. Thần Chết xuất hiện tay cầm một tấm gương phản
chiếu mọi nơi tái sinh trong tương lai của ta. Điều này sẽ
biểu thị rõ ràng dù ta sắp tái sinh là một vị trời, người
hoặc bất kỳ loài nào.
Như
thế, sau một thời gian, chúng sinh với một thân tâm thức
trong bardo sẽ trở về thăm gia đình họ, nơi họ đã sống,
để xem có phải họ đã thực sự chết hay không. Khi chúng
sinh bardo đó khám phá ra rằng quả thực mình đã chết, họ
sẽ yêu cầu các thành viên trong gia đình họ vui lòng thực
hành Pháp nhân danh họ. Nhưng họ không thể được nghe và
họ sẽ chỉ kinh nghiệm nỗi đau khổ ghê gớm. Không ai muốn
có các kinh nghiệm này. Ngay cả các lama và hành giả Pháp
cũng không mong đợi điều này. Nhưng tôi có thể chỉ cho
các bạn rằng chắc chắn điều này đang đến. Nếu nó không
đúng thì các giáo lý mà tôi đã từng chia sẻ với tất cả
các mọi người trong suốt đời tôi chỉ là điều nói láo.
Sau
đó thân tâm thức trong bardo bắt đầu tìm kiếm một thân
thể. Nó trở nên bị ám ảnh với nhu cầu cần có một thân
thể : một thân người, thân súc sinh, thân trời. Nó đang
tìm kiếm một thân xác vì không thể chịu đựng nổi việc
tiếp tục như tâm thức bardo này. Cũng giống như ở trong
trạng thái mộng. Nó muốn thoát khỏi nỗi khổ ghê gớm đó.
Kinh nghiệm thì tương tự như lúc các bạn kêu khóc không
thể ngưng được và cảm thấy thống khổ dữ dội. Tâm thức
liên tục cảm nhận theo lối này khi nó điên cuồng tìm kiếm
cho ra nơi tái sinh của nó, mà có thể là bất kỳ nơi nào
trong sáu cõi tùy thuộc vào các tích tập nghiệp của nó.
Sau bốn mươi chín ngày, vào lúc nào đó, tâm thức bardo sẽ
đi vào một trong sáu cõi. Nếu ta đã từng thực hành Pháp
trong đời mình, nhận lãnh các giáo lý về những lợi lạc
của đức hạnh và các lỗi lầm của ác hạnh nhưng không
thực sự tin tưởng các giáo lý đó và không thực hành chúng
(hoặc chống đối chúng), thì nhất định ta sẽ tái sinh vào
một trong tám cõi địa ngục v