Các
Giáo huấn Tinh túy về
Giai
đoạn Thành tựu trong Bardo
Soi
sáng Bóng tối của Tri giác mê lầm,
được
gọi là :
Một
Kho tàng các Giáo huấn Siêu việt
về
Tri giác của Trí huệ Nguyên thủy
Con
quỳ lạy và quy y tất cả những bậc dẫn dắt tâm linh vô
song, là những bậc sở hữu lòng đại bi vô-niệm, mãi mãi!
Trong
sự bất khả phân của tánh Không và giác tánh thoát khỏi
sự che chướng, là ấn hiện thân sự chói lọi sâu thẳm
của năm trạng thái của viên mãn tự nhiên. Từ những trạng
thái này, hàng triệu sự xuất hiện huyễn hóa muôn màu vạn
trạng biểu lộ như một sự tán thán hỉ lạc. Với sự kính
ngưỡng, con cúi đầu trước pháp giới của sự phô diễn
Không-Giác của các bổn tôn hòa bình và phẫn nộ cùng quyến
thuộc của các ngài.
Bởi
tập quán sai lầm trong việc coi các ý niệm và những sự
xuất hiện là thật có, những vũ sư nam và nữ của ấn không-thực
thể biến đổi liên tục như những bong bóng nước xuất
hiện.
Nhằm
chứng ngộ tánh nhất như của sự phô diễn này, sự diễn
tả những giáo huấn siêu việt này được trình bày.
Tulku
Hung-Kar Dorje
GIẢI
THOÁT NHỜ SỰ NGHE
TRONG
BARDO
CHƯƠNG
1
DẪN
NHẬP
Nhiều
người đã tập họp ở đây tối nay và tôi rất vui sướng
được gặp mỗi người trong các bạn. Tôi cảm kích trước
mối quan tâm của các bạn vào đời sống tâm linh, trước
đức tin của các bạn, và trước sự nối kết của các bạn
với giáo lý đạo Phật. Thật tốt đẹp trong việc các bạn
chú tâm tới định luật nghiệp báo, nhân quả, và trong việc
các bạn quan tâm tới những đời tương lai của mình. Điều
quan trọng là hành xử một cách trách nhiệm trong đời này.
Tất cả chúng ta đều cần ăn uống, cần mặc những y phục
tiện dụng, và ở một mức độ nhất định, cần vui hưởng
cuộc đời chính mình. Nhưng tối quan trọng là chúng ta cần
chuẩn bị cho những đời tương lai bởi lẽ cuộc đời này
thì vô thường. Ở tuổi bốn mươi, năm mươi sáu mươi hay
bảy mươi, chúng ta phải từ bỏ cuộc sống tạm thời này.
Tất cả chúng ta đều phải chết và vào lúc đó chúng ta
không thể đem theo mình bất kỳ thứ gì. Rõ ràng là chúng
ta không thể mang theo thân xác mình. Điều chúng ta đem theo
khi từ giã cuộc đời này là tâm thức của chúng ta.
Cái
chết là một sự biến đổi của tri giác tương tự như việc
đi vào trạng thái mộng mỗi đêm. Khi tâm thức rời bỏ thể
xác, nó tiếp tục có những kinh nghiệm tâm linh mới. Vào
lúc chết, thể xác ngừng hiện hữu và tan trở lại vào các
yếu tố (các đại). Ngữ của người đã chết cũng tan biến.
Tuy nhiên, tâm là một hình thức trống không thì không chết.
Từ vô thủy cho tới giây phút hiện tại, tâm ta, tâm thức
ta đã từng đi vào nhiều trạng thái khác nhau của sự tái
sinh trong sáu cõi luân hồi. Tuy thế, nó không bao giờ tồn
tại mãi mãi trong bất kỳ cái nào trong những trạng thái
đó.
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni bằng trí huệ và lòng bi mẫn vĩ đại
của ngài, đã đến thế giới này và đã trình bày tám mươi
bốn ngàn pháp môn. Những giáo lý này khám phá con đường
đến giải thoát. Cốt tủy của những giáo lý này là tự
chế không làm hại mọi chúng sinh, khơi dậy Bồ đề tâm,
là tâm tỉnh thức, vì sự lợi lạc của tất cả chúng sinh,
và tận lực để tự đưa mình và đưa những người khác
thoát khỏi đau khổ khiến cho sự an bình và tĩnh lặng được
thành tựu.
Một
khi đi vào con đường này, các bạn cần xem xét động lực
của các bạn. Các bạn cần kềm chế trước những hành động
không lành mạnh và bất thiện, và xoay chuyển tâm hướng
về những tư tưởng và hành động lành mạnh và đức hạnh.
Những tư tưởng và hành động không lành mạnh và bất thiện
bị thúc đẩy bởi tham, sân và si, được gọi là ba độc.
Ba độc này phải bị loại bỏ. Các giáo lý của con đường
Bồ tát đặt tầm quan trọng trong việc tích tập đức hạnh,
là điều hoàn toàn tùy thuộc vào động lực của các bạn.
Các bạn phát khởi động lực đúng đắn bằng cách suy tưởng
rằng từ vô thủy cho tới giây phút này, tất cả chúng sinh,
vào lúc này hay lúc khác đã từng là những cha mẹ tốt lành
và thân yêu của các bạn. Các bạn nên suy xét rằng mỗi
một và mọi chúng sinh đã có lúc ban tặng cho các bạn cuộc
đời, nuôi dưỡng các bạn và đối xử các bạn với một
sự tốt lành to lớn. Vì tất cả chúng sinh đã đối xử
với các bạn bằng một sự tốt lành vĩ đại như thế trong
quá khứ, đến lượt các bạn, các bạn phải trải bày lòng
tốt lành đó đối với họ.
Mọi
người đều ước muốn hạnh phúc. Nhưng vì không hiểu làm
thế nào tích tập các nguyên nhân để đưa đến hạnh phúc,
mỗi người tiếp tục tích tập các nguyên nhân sản sinh ra
đau khổ. Việc không nhận định được cách thức loại bỏ
các nguyên nhân tiêu cực này sẽ chỉ đem lại thêm nỗi đau
khổ. Những gì người ta ước muốn và những gì người ta
nhận được thì trái nghịch lẫn nhau. Đó là một tình huống
hoàn toàn vô ích. Việc thấy được nỗi nhọc nhằn đó phải
làm cho lòng bi mẫn lớn lao tuôn trào trong các bạn, phát sinh
một sự xác tín mãnh liệt riêng tư là thành tựu con đường
này để giải thoát tất cả chúng sinh khỏi nỗi đau khổ,
và cuối cùng đưa dắt họ tới một trạng thái giải thoát.
Đây là sự cam kết mà tất cả chúng ta cần thực hiện.
Đây chính là động lực của chúng ta.
Các
giáo lý của Đức Phật phân chia làm hai loại : sutra (kinh)
và tantra. Sự giảng giải này về ý hướng hay động lực
đức hạnh thì thuộc về loại giáo lý kinh điển và cũng
là nền tảng cho tantra. Theo con đường mật chú, Vajrayana (Kim
Cương thừa), người ta không chỉ nuôi dưỡng ý hướng đức
hạnh mà đồng thời, người ta cần phát triển cách nhìn
linh thánh. Các con đường sutra và tantra là những con đường
tâm linh với cùng ý hướng : loại trừ các che chướng và
tích tập hai loại công đức được gọi là công đức thông
thường và công đức trí huệ. Cả hai con đường đưa người
ta thoát khỏi đau khổ đi tới giải thoát. Con đường tantra
có nhiều phương pháp hơn con đường sutra và các phương pháp
này đưa dẫn người ta nhanh chóng đi tới trạng thái giải
thoát. Con đường tantra bao gồm ít gian khổ hơn, thiết thực
và trực tiếp hơn con đường sutra. Tuy nhiên, con đường tantra
đưa ra yêu cầu to lớn nơi hành giả, vì thế điều cần
thiết đối với hành giả là có tri giác nhạy bén và sự
tinh tấn vĩ đại để việc sử dụng những phương pháp này
nhanh chóng đưa tới giải thoát.
Hành
giả Kim Cương thừa phải phát khởi một thái độ bi mẫn
trong khi duy trì một cách nhìn linh thánh về môi trường chung
quanh của mình. Theo con đường Kim Cương thừa một hành giả
với cái nhìn linh thánh sẽ không kinh nghiệm căn phòng này
là một căn phòng bình thường được làm bằng những vật
liệu thông thường. Trái lại, một hành giả như thế sẽ
kinh nghiệm nó là một cõi giới thanh tịnh. Anh ta nhận thức
vị thầy không là một con người bình thường mà đúng hơn,
là một bậc giác ngộ, hiện thân của ba thân. Những người
hiện diện và đang lắng nghe giáo lý được nhìn như các
vị trời, thiên nữ hay các Bồ tát. Các giáo lý được nhận
thức như sự chuyển Pháp luân vĩ đại.
Khi
một người đang nhận lãnh các giáo lý, điều quan trọng
là giải thoát khỏi ba khiếm khuyết của một bình chứa (pháp
khí), sáu sự ô nhiễm và năm cách sai lầm trong sự hiểu
biết hay nhớ tưởng.
Về
ba khiếm khuyết của một bình chứa, khiếm khuyết thứ nhất
là giống như một cái bình lật úp. Không thứ gì có thể
đi vào một bình chứa như thế. Khiếm khuyết thứ hai thì
giống như một bình chứa có đáy bị rò rỉ. Không thứ gì
có thể được cầm giữ. Khiếm khuyết thứ ba giống như
một bình chứa bị dơ bẩn bởi chất độc. Trong trường
hợp này, bất kỳ giáo lý nào được đặt trong một bình
chứa như thế, bản thân chúng bị dơ bẩn khi bị trộn lẫn
với những tà kiến. Khi thọ nhận những giáo lý tâm linh,
mỗi một trong những khiếm khuyết này phải được loại
bỏ.
Sáu
ô nhiễm là sự kiêu ngạo hay tự phụ, thiếu đức tin, thiếu
quan tâm hay nỗ lực, phóng tâm hướng ngoại, sự thu rút vào
trong hoặc sự căng thẳng, và lắng nghe với sự hối tiếc
hay thất vọng. Tất cả những điều này phải được loại
bỏ.
Năm
cách thức sai lầm trong việc hiểu biết hay nhớ tưởng là
hiểu biết ngôn từ nhưng quên ý nghĩa; sự hiểu biết ý
nghĩa nhưng quên ngôn từ; sự hiểu biết cả hai nhưng không
thấu suốt; hiểu biết chúng lộn xộn; và hiểu biết chúng
sai lạc. Những cách thức này cũng phải loại bỏ vào lúc
ta nhận lãnh các giáo lý.
Khi
nhận lãnh các giáo lý, ta cần cố gắng ngồi một cách khiêm
tốn, lắng nghe với một tâm thức mở rộng. Bốn nhận thức
cần được củng cố. Đó là nghĩ tưởng chính các bạn như
người bị bệnh; nghĩ tưởng Pháp như thuốc men; nghĩ tưởng
bậc thiện tri thức như một bác sĩ thiện xảo; và nghĩ tưởng
sự thực hành như cách thức để bình phục.
Hơn
nữa, khi lắng nghe giáo lý các bạn cần nỗ lực phát khởi
sáu ba la mật, đó là sự bố thí, giới luật, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định và trí huệ, sự thấu suốt siêu việt.
Theo
truyền thống, ngay trước khi giáo lý được ban cho, một nhạc
khí triệu tập các người học Pháp lại. Khi nghe âm thanh,
họ lập tức nhận ra nó như một biểu thị của Pháp. Các
khí cụ được dùng là những cồng chiêng, gậy gỗ, vỏ ốc,
chuông, và ngay cả những hòn đá. Khi âm thanh đầu tiên được
nghe thấy, nếu sự hoan hỉ phát sinh trong tâm thức ta, thì
chỉ duy điều này đã có thể giải tan được những tích
tập tiêu cực của nghiệp trong nhiều đời.
Tối
nay, tôi đã quyết định bắt đầu các giáo lý về sáu bardo,
sáu trạng thái trung gian. Sự thấu hiểu các bardo này thì
đặc biệt quan trọng vào giây phút quyết định của đời
các bạn, là lúc các bạn chết. Chỉ có một cách thức để
chuẩn bị cho giây phút các bạn chết và đó là bằng thực
hành tâm linh. Không có cách nào khác. Các giáo lý về sáu
bardo là các khám phá terma được đem tới thế giới này bởi
Terton Karma Lingpa, một trong những bậc thầy vĩ đại nhất
của Tây Tạng. Karma Lingpa sanh khoảng năm trăm năm trước
ở Kongpo, Tây Tạng. Ngài là một bậc chứng ngộ vĩ đại
không thể nghĩ bàn. Các khám phá về sáu bardo này đến trực
tiếp từ Đức Phật Vajrasattva, đến Đức Vajrapani (Kim Cương
Thủ), rồi tới Guru Rinpoche, và cuối cùng tới Karma Lingpa.
Theo
truyền thống, giáo lý này được phân làm ba phần. Giai đoạn
khởi đầu được gọi là thiện hạnh vào lúc bắt đầu.
Các giáo lý chính là thiện hạnh ở khoảng giữa. Các giáo
huấn cuối cùng là thiện hạnh vào lúc kết thúc. Chúng ta
đã đi được những bước chuẩn bị cho thiện hạnh vào
lúc bắt đầu, và những bước đó đang duy trì động lực
thanh tịnh, sự tẩy trừ tà kiến, tri giác về vị thầy tâm
linh và bản thân ta trong cái nhìn linh thánh trong khi thọ nhận
các giáo lý. Thiện hạnh vào lúc bắt đầu liên quan tới
việc chế ngự tâm thức ta khiến ta được thư thản và cởi
mở trước các giáo lý. Bản thân các giáo lý là thiện hạnh
vào lúc giữa và cho phép ta đi tới một kết luận dứt khoát
mà trong trường hợp này sẽ có nghĩa là hoàn toàn thấu hiểu
sáu bardo. Cuối cùng, thiện hạnh vào lúc kết thúc bao gồm
các thực hành giúp phân biệt rõ ràng giữa luân hồi sinh
tử và niết bàn, bằng cách ấy, nó chuẩn bị cho chúng ta
đối với sự chuyển tiếp từ đời này sang đời sau.
Việc
tiếp cận cái chết của ta thì giống như bắt gặp khuôn
mặt chính mình trong một tấm gương. Chúng ta là ai, đó là
cái được phản chiếu ở đấy vào lúc đó. Những gì chúng
ta sẽ mang theo ta là công đức chúng ta đã tích tập và điều
này sẽ tùy thuộc ở các giáo lý ta đã từng thọ nhận và
thực hành trong suốt đời ta. Sự quý báu của việc nhận
lãnh các giáo lý như thế không bao giờ có thể bị đánh
giá thấp. Chúng tuyệt đối cần thiết trong việc chuẩn bị
sự chuyển tiếp từ đời này sang đời sau. Nếu các bạn
đã nhận lãnh các sự truyền Pháp đúng đắn và đã thực
hành chúng trong đời các bạn, thì các bạn sẽ được chuẩn
bị để đi vào bardo, trạng thái trung gian. Các bạn sẽ không
tái sinh trong các cõi thấp mà sẽ có thể hướng tâm thức
các bạn tới các trạng thái tái sinh cao hơn như các cõi người
và trời. Nếu các bạn tái sinh cao hơn, các bạn vẫn còn
bị mắc kẹt trong vòng sinh tử và vì thế thật lý tưởng
là các bạn cần nỗ lực để đạt được sự giải thoát
hoàn toàn. Các giáo lý về sáu bardo mô tả chính xác điều
gì xảy ra trong mỗi giai đoạn mà chúng ta trải qua và làm
thế nào để chuẩn bị cho các sự chuyển tiếp này.
Các
giáo lý về sáu bardo là những cách đối trị hữu hiệu cho
những ai bị ám ảnh bởi sự sân hận tham muốn và si mê
ghê gớm, là ba độc. Đối với những người bị ba độc
thiêu đốt đó, những giáo lý này là những đối trị hữu
hiệu. Chúng cũng là những đối trị mạnh mẽ cho những ai
khinh xuất đối với các cam kết và hứa nguyện mà họ đã
thực hiện, cho những người có tính tự-quy và chỉ quan tâm
tới những hoàn cảnh của riêng họ, chỉ nghĩ tới hạnh
phúc cá nhân trong khi làm hại những người khác. Những giáo
lý này là các đối trị hữu hiệu đối với các chướng
ngại trên con đường tâm linh.
Các
giáo lý về sáu bardo đã được truyền xuống qua một dòng
truyền thừa không đứt đoạn của sự truyền dạy tâm linh
cho tới ngay giây phút này và đã chịu đựng thử nghiệm
của thời gian. Những giáo lý này cung cấp các phương pháp
chuẩn bị cho những đời sau của các bạn, cũng như cho giai
đoạn chuyển tiếp giữa đời này và đời sau. Chúng là các
giáo huấn trực chỉ tinh túy.
Một
cách lý tưởng, các giáo lý về sáu bardo cần được ban cho
trong một khung cảnh nơi vị thầy và các đệ tử gặp gỡ
mỗi sáng vào lúc tám giờ, tạm ngưng khoảng giữa trưa tới
hai giờ, rồi lại tiếp tục lúc hai giờ và kéo dài tới
khoảng sáu giờ, liên tục theo cách này mỗi ngày trong khoảng
một trăm ngày. Đó là cách tôi dạy giáo lý này ở Tây Tạng
vì đề tài rộng lớn và đòi hỏi sự soạn thảo thật công
phu. Trong quá khứ, dân Tây Tạng đã đeo túi đựng nhiều
đồ dự trữ cột chặt vào ngực và vượt qua những quãng
đường thật xa để nghe Pháp. Họ có thể du hành nhiều tuần
hay nhiều tháng để tìm một vị đạo sư có phẩm chất mà
từ ngài họ có thể nhận lãnh các giáo lý thuộc loại này.
Giáo Pháp rất khó được thọ nhận. Chúng cực kỳ quý giá
và thật hi hữu mới gặp được một vị thầy nắm giữ
những dòng truyền thừa này và đang ước muốn truyền dạy
giáo lý.
Các
bạn thật may mắn được tiếp đón nhiều đại lama. Các
ngài đã đến đây bởi các ngài muốn giảng dạy Pháp và
giúp đỡ các bạn. Các ngài đã đi thẳng vào cửa chính của
các bạn. Đó là một tình huống duy nhất. Ở Tây Tạng thì
không bao giờ như thế. Có đến mười ngàn người có thể
tham dự các buổi giảng Pháp ở Tây Tạng. Ở Mỹ, rất ít
người đến nghe Pháp. Điều này dường như rất lạ lùng
vì ai nấy đều phải chết và tuy vậy rất ít người quan
tâm tới việc chuẩn bị cho thời điểm thực sự là giây
phút quan trọng nhất trong đời họ. Ở đây có vẻ không
có một mối quan tâm mạnh mẽ với Pháp. Người ta quan tâm
chút ít và có thể muốn học hỏi nhưng Pháp không thực sự
đi vào trái tim họ. Mặc dù Pháp là cái gì chân chính và
quý giá như vàng, nhưng nó đã không được nhận biết như
thế. Các bạn có may mắn to lớn được nghe Giáo Pháp, tuy
nhiên tâm thức các bạn không hoàn toàn thấu hiểu tầm quan
trọng của nó. Trong đời các bạn, không có gì quý báu hay
quan trọng hơn việc học Pháp, thực hành Pháp và nhận thức
rõ rằng vị thầy có khả năng ban cho các bạn món quà to
lớn nhất mà các bạn sẽ thọ nhận mãi mãi. Các bạn nên
hiểu rằng Pháp là một chất cam lồ quý giá và khi có được
một cơ hội để nghe Pháp, các bạn nên thấu hiểu rằng
một cơ hội như thế thì hiếm hoi thế nào. Tôi để ý rằng
những người phương Tây hạn chế thời gian thực hành và
học Pháp chỉ trong ít giờ mỗi tuần. Như thế, thời gian
còn lại để làm cái gì? Cũng vẫn chuyện cũ như vậy. Mọi
người nói chung bị lôi cuốn trong sự vô minh luẩn quẩn
và việc thâu hoạch vật chất.
Chỉ
riêng các giáo lý bardo đã chiếm gần năm trăm trang và vì
thế tôi không có thời gian để dạy rộng rãi như tôi mong
muốn, nhưng tôi muốn tất cả các bạn hiểu rằng thật quan
trọng phải tránh tái sinh trong các cõi thấp. Điều tối quan
trọng mà các bạn có thể làm trong đời này là thực hành
Pháp để các bạn có thể đạt được giải thoát khi các
bạn giã từ cuộc đời này. Đó là con đường mà tôi muốn
chỉ cho các bạn.
Bây
giờ, chúng ta vẫn còn vấn đề thuộc đức hạnh lúc ban
đầu hay các sự chuẩn bị tiên quyết. Các chuẩn bị này
cần phải xem xét lại trước bất kỳ thực hành nào bởi
chúng giúp điều phục tâm thức chúng ta. Bốn suy niệm, hay
các sự chuẩn bị tiên quyết, thì chung nhất đối với tất
cả các thừa của Phật Pháp. Chúng chung nhất đối với kinh,
luận, luật, con đường Bồ tát, các phái Mật thừa gồm
kriya, upa và yoga, và các nội phái gồm maha, anu và ati nói
theo thứ tự. Nói chung, tất cả các thực hành bắt đầu
với bốn suy niệm xoay chuyển tâm ta hướng về Pháp. Suy niệm
thứ nhất là về sự tái sinh làm người quý báu thì khó
đạt được, một sự tái sinh với tám sự tự do và mười
đặc ân cho phép ta thực hành Pháp và đạt được giải thoát
trong một đời. Suy niệm thứ hai là về sự vô thường của
cuộc đời. Suy niệm thứ ba là về chân lý không thể sai
lạc của luật nhân quả, ám chỉ chung về nghiệp. Suy niệm
thứ tư là về nỗi khổ của sinh tử.
Ta
không thể thực hiện một thực hành Phật giáo mà không có
các sự chuẩn bị tiên quyết bởi lẽ con đường Phật giáo
có nền tảng là một tâm thức từ bỏ sinh tử. Không có
sự từ bỏ thì không thể tiến bộ trên con đường. Một
hành giả phải thấu hiểu rõ ràng rằng bản chất của sinh
tử là đau khổ và nó không là gì khác hơn sự đau khổ này.
Ta
phải hiểu rõ tại sao sự tái sinh làm người này thật quý
báu và khó đạt được. Suy niệm thứ hai là về sự vô thường.
Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào và đến không lời
cảnh báo. Từ lúc thụ thai, sự có thể xảy ra của cái chết
đã xuất hiện. Sự sinh ra trong sinh tử chỉ dẫn tới cái
chết. Đây là một sự thật, chứ không phải một cố gắng
để được bệnh hoạn. Một trẻ sơ sinh có thể chết trong
thai hay lúc sinh ra. Một đứa trẻ hay thanh niên trẻ trung cũng
có thể chết. Chúng ta thường nghĩ mình sẽ sống tới bảy
mươi hay tám mươi, nhưng không có gì bảo đảm cho điều
đó. Không ai biết được đời mình sẽ kéo dài bao lâu. Giây
phút cái chết của chúng ta và những tình huống chung quanh
điều đó thì không chắc chắn. Tuy nhiên, hầu hết chúng
ta có thể sẽ chết sau tuổi năm mươi. Sự suy niệm về lẽ
vô thường của cuộc đời thì ích lợi trong việc có được
một nhận thức sâu sắc về sự phải chết của các bạn,
thay vì tin tưởng một cách thơ ngây rằng các bạn sống mãi.
Suy
niệm thứ ba là về định luật nghiệp báo. Đây là một
định luật đơn giản được Đức Phật giảng dạy. Một
nguyên nhân đạo đức sinh ra một kết quả đạo đức : sự
tái sinh như một vị trời hay người. Một nguyên nhân vô
đạo đức sinh ra một kết quả vô đạo đức : đó là sự
tái sinh trong ba cõi thấp. Nếu ta tích tập đức hạnh thì
không thể không được hạnh phúc như một kết quả. Nghiệp
thì bất biến. Các hạt giống các bạn đã gieo sẽ kết thành
quả. Điều này không thay đổi. Bản tánh của lửa là nóng.
Bản tánh của nước là ướt và lạnh. Phẩm tính của một
yếu tố (đại) không biến đổi. Sự tích tập đức hạnh
sẽ không bao giờ sinh ra đau khổ vì bản tánh của đức hạnh
là đem lại hạnh phúc. Sự tích tập ác hạnh sẽ không bao
giờ đem lại hạnh phúc vì bản chất của ác hạnh là đau
khổ. Các hành động tiêu cực sinh ra đau khổ. Các hành động
tích cực sinh ra hỉ lạc. Đây là một định luật căn bản.
Học giả vĩ đại Shantideva đã nói : “Bởi mắc phạm các
hành động xấu ác, mặc dù tôi có thể ước muốn hạnh
phúc, bất kỳ tôi đến nơi đâu tôi sẽ hoàn toàn bị đánh
bại bởi những vũ khí của đau khổ gây nên bởi cuộc đời
xấu xa của tôi.”
Suy
niệm thứ tư là về nỗi đau khổ của vòng sinh tử. Khi nghĩ
tưởng về vòng sinh tử các bạn cần thấu hiểu rằng nó
trải rộng toàn bộ từ những đỉnh cao của đời sống xuống
tới các địa ngục thấp nhất và bao gồm mọi sự trong đó.
Con người ở trong dục giới và cần những thứ nào đó để
sống còn. Chúng ta cần thực phẩm và y phục. Chúng ta không
thể chịu đựng sự bị lạnh lẽo hay đói khát. Chúng ta
cần trải nghiệm hạnh phúc vì chúng ta không thể chịu đựng
đau khổ. Chúng ta là những tạo vật của dục giới. Trong
cõi giới của chúng ta và trong toàn bộ vòng sinh tử, bản
chất nền tảng là sự đau khổ. Vào lúc chấm dứt, kết
quả sau cùng của sự hiện hữu này sẽ là chịu đau khổ.
Có ba loại đau khổ : nỗi đau khổ vì sự biến đổi, đau
khổ vì đau khổ và nỗi đau khổ đa hợp.
Có
hai suy niệm được thêm vào. Suy niệm thứ năm suy tưởng
về các lợi lạc của sự giải thoát. Sự giải thoát trên
con đường của Phật giáo có thể xảy ra nhờ sự thực hành
các phương pháp có liên hệ với bất kỳ cái nào trong chín
thừa. Tất cả các Thanh Văn, Phật Độc Giác và Bồ Tát sẽ
thành tựu sự giải thoát vào thời điểm thích hợp. Mọi
con đường được Đức Phật giảng dạy cuối cùng đều
dẫn tới trạng thái giải thoát. Trạng thái giải thoát, Phật
tánh, thì thoát khỏi đau khổ. Nó là một trạng thái an bình
và hạnh phúc.
Để
đạt được giải thoát các bạn cần có một bậc thầy hay
người dẫn dắt tâm linh. Đây là suy niệm thứ sáu. Không
có một vị thầy tâm linh, các bạn không thể biết được
con đường và cũng không thể chuẩn bị cho đời sau. Các
bạn sẽ không thể hiểu được bất kỳ điều gì về Pháp,
ngay cả một chữ. Các bạn được hướng dẫn vào con đường
đưa tới giải thoát nhờ ân huệ của vị thầy tâm linh của
các bạn. Nhờ việc lắng nghe các giáo lý, suy niệm và thiền
định về chúng, các bạn có thể đi lên các cấp bậc của
sự phát triển và đạt tới giải thoát, sau cùng có khả
năng để dẫn dắt tất cả chúng sinh tới cùng một trạng
thái rốt ráo đó. Có được một vị thầy tâm linh có phẩm
tính thì giống như có một phi công cực kỳ thiện xảo để
lái máy bay hay một bác sĩ khám phá ra một cách kỳ diệu
cách chữa trị mọi bệnh tật. Một bậc thầy tâm linh chân
thật biết đích xác điều gì cần dạy để các bạn sẽ
thấu hiểu cách thức tích tập đức hạnh dẫn tới giải
thoát và xa lìa đau khổ. Một bậc thầy tâm linh chân thật
có khả năng đưa đệ tử đến một hạnh phúc tạm thời
trong đời này và đến một hạnh phúc vĩnh cửu tuyệt đối
khi họ từ giã cuộc đời. Khi các bạn tìm được vàng các
bạn cho rằng mình đã tìm được cái gì quý báu. Việc tìm
ra được một bậc thầy tâm linh là vật quý báu nhất mà
các bạn sẽ luôn luôn bắt gặp. Các bạn cần nương tựa
vào các vị dẫn dắt tâm linh chân thực và sử dụng tốt
đẹp cơ hội để học hỏi với các ngài. Kết quả sẽ là
hạnh phúc đích thực.
Các
thực hành chuẩn bị thiết yếu thì cần thiết để điều
phục tâm thức chúng ta. Trong vô số cuộc đời, tâm thức
các bạn đã không thực sự xoay chuyển về Pháp và bởi điều
này mà các bạn tìm thấy chính mình trong tình huống hiện
tại của các bạn, không hiểu rõ phải làm cách nào để
tự giải thoát mình khỏi nỗi đau khổ. Các bạn đã thực
sự không thành tựu điều các bạn muốn trong con đường
này. Tâm thức các bạn thì giống như một cánh đồng đầy
đá sỏi và mặc dù các bạn thích gieo trồng một vụ mùa
và gặt hái một kỳ thu hoạch thích đáng, đem lại các phẩm
tính giác ngộ của các bạn, nhưng mặt đất đã không được
vun trồng một cách đúng đắn. Có quá nhiều sỏi đá và
những vật chướng ngại cần được loại bỏ. Đây là những
gì các thực hành chuẩn bị tiên quyết làm việc với. Chúng
điều phục tâm thức các bạn để các bạn có thể quay về
con đường tâm linh một lần và mãi mãi, nó lần lượt chuẩn
bị cho các bạn đối với các thực hành và giáo lý thực
sự. Vào lúc đó, cánh đồng đã sẵn sàng. Khi cánh đồng
đã được chuẩn bị đúng đắn thì các hạt giống được
gieo trồng sẽ gặt hái một mùa thu hoạch. Khi cánh đồng
tâm thức của ta đã được thuần hóa, khi động lực của
ta trong sạch, khi các ác hạnh to lớn đã bị tẩy trừ, thì
chúng ta sẵn sàng để nhận lãnh giáo lý.
CHƯƠNG
2
CÁC
SỰ CHUẨN BỊ THIẾT YẾU
Ba
bardo thứ nhất mà chúng ta sẽ thảo luận là ba bardo mà chúng
ta có thể làm việc với trong đời này. Cái đầu tiên được
gọi là Bardo Đời Này, nó tương tự như một con chim sẻ
đi vào tổ của nó. Thứ hai là Bardo Thiền định tương tự
với một đứa trẻ lạc loài lần đầu tiên được gặp
cha hay mẹ nó. Thứ ba là Bardo Trạng thái Mộng tương tự
như việc thắp một ngọn nến hay đèn bơ trong một căn phòng
tối. Nếu các bạn có thể chứng ngộ trạng thái tỉnh giác
nội tại trong mỗi một của những bardo này trong đời các
bạn, thì các bạn sẽ được chuẩn bị cho các trạng thái
trung gian theo sau. Điều quan trọng là ghi nhớ trong tâm rằng
thật khó gặp được Pháp ở đây và cho dù các bạn có thể
tiếp xúc với nó, các bạn có thể không sẵn sàng đối với
việc đó. Điều này giống như một em bé chưa từng nghe nói
các vấn đề cao siêu cần phải được giáo dục từ từ.
Một
trong các kỹ thuật mà tôi sẽ đưa ra trong các buổi thảo
luận tiếp theo là phowa, sự chuyển di tâm thức vào lúc chết.
Đây là một thực hành quan trọng cho những ai không có cơ
hội thực hành nhiều trong đời họ. Pháp phowa chuẩn bị
cho các bạn đối với lúc chết. Có nói rằng chỉ nhờ nghe
danh hiệu Đức Phật A Di Đà, suối nguồn của dòng truyền
thừa phowa, mà lợi lạc to lớn được thọ nhận. Ngay cả
một người với ác nghiệp to lớn cũng có thể đạt được
giải thoát nhờ phowa. Đây là một kỹ thuật mà tôi muốn
dạy các bạn. Nếu các bạn thành công trong thực hành phowa
của các bạn, nó sẽ giảm bớt sự có thể phải tái sinh
trong các cõi thấp.
Ở
Tây Tạng, là nơi hầu hết dân chúng là các hành giả Phật
giáo, khi có người chết, các vị sư và lama được mời đến
để cử hành các buổi lễ nhân danh người qua đời trong
bốn mươi chín ngày. Thời kỳ chuyển tiếp giữa cái chết
và đời sau thường được tin là kéo dài trong khoảng thời
gian đó. Các buổi lễ được cử hành trong thời gian đó
và nhiều sự cúng dường được thực hiện nhân danh người
chết. Mười ngàn ngọn đèn bơ có thể được dâng cúng hoặc
một ngàn lá cờ cầu nguyện và v.v... Nhiều thực hành được
tiến hành vào lúc chết để giúp cho việc dẫn dắt người
chết qua giai đoạn chuyển tiếp. Nếu người chết đã nhận
các giáo lý bardo là sự giải thoát nhờ sự nghe trong đời
họ, thì các đạo sư sẽ tụng đọc các giáo lý đó trong
thời kỳ chuyển tiếp bốn mươi chín ngày. Việc này trợ
giúp để giải thoát những người chết vì các tập quán
của đời trước của họ đã chín mùi trong tâm thức họ.
Cực kỳ quan trọng phải chuẩn bị cho lúc chết trong khi các
bạn còn sống và có thể làm điều đó. Nếu các bạn quen
thuộc với phowa và thành tựu nó trong đời này thì vào lúc
chết, nó có thể được sử dụng để thành tựu sự giải
thoát.
Khi
các bạn đi ngủ vào ban đêm, các bạn có thể có nhiều giấc
mơ đôi khi có thể khiếp hãi và có lúc thì vui sướng. Vào
lúc chết, sẽ không như thế. Nếu các bạn không chuẩn bị
thì nó sẽ là một kinh nghiệm chẳng vui thú chút nào. Nếu
các bạn đã tích tập ác hạnh trong các đời quá khứ cũng
như trong đời này, thì chắc chắn các bạn sắp có khó khăn
to lớn và sắp kinh nghiệm nỗi đau khổ ghê gớm. Nếu các
bạn không từng nhận lãnh các Giáo Pháp và không thực hành
chúng, thì đơn giản là các bạn sẽ không biết phải làm
gì. Sau khi nhận các giáo huấn về phowa, các bạn cần phải
thực hành. Điều này bao gồm các sự trì tụng và thiền
định. Các bài trì tụng này có thể được thực hiện bằng
Anh ngữ. Các bạn phải chuẩn bị tâm các bạn vì sẽ không
vui thú đâu. Tôi mong ước nó sẽ vui vẻ. Bản thân tôi không
muốn sợ Thần Chết nhưng tôi thực hành bởi vì có một
đời sau, và vào lúc chết tâm không bốc hơi như nước hoàn
toàn biến mất một cách đột ngột. Tâm không như một ngọn
lửa có thể bị dập tắt. Tâm hay ý thức là một tiếp nối
tương tục. Nếu ta không được chuẩn bị cho cái chết của
mình thì tâm ta sẽ tiếp diễn trong bardo, ở đó nó sẽ bắt
gặp những kinh nghiệm khó khăn và không vui thú. Nếu các
bạn đã thực hành Pháp, các bạn sẽ trải qua trạng thái
chuyển tiếp này trong một cách thế tương đối an bình, tái
sinh trong một cõi giới cao. Nếu các bạn thực sự thành tựu
Pháp các bạn sẽ được giải thoát, chứng ngộ trạng thái
Dewachen, Cõi Cực Lạc. Điều đó thật khó. Các bạn sẽ phải
chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc ấy. Nếu các bạn không từng
thực hành Pháp, các bạn sẽ trải qua nỗi đau khổ ghê gớm
và có thể tái sinh trong các cõi thấp. Để né tránh điều
đó, các bạn cần thọ nhận các giáo lý, thực hành và tự
chuẩn bị. Nếu các bạn đã được chuẩn bị thì không thể
tái sinh trong các cõi thấp. Các bạn sẽ không rơi trở lại
vào cõi sinh tử một cách dễ dàng. Đây là điều cho ta thấy
sự thực hành thì hữu hiệu ra sao. Nó giống như đi trên
một máy bay phóng thẳng tới đích mà không quay trở lại,
một cú bay trực tiếp. Các bạn sẽ không bao giờ trở lại
ba cõi thấp nữa.
Suối
nguồn của dòng truyền thừa phowa là Đức Phật Pháp Thân
A Di Đà, đấng xuất hiện trong hiển lộ Báo Thân là Đức
Avalokiteshvara (Quán Thế Âm), và đấng đến thế giới này
trong hiển lộ Hóa Thân là Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh).
Đức Padmasambhava truyền các giáo lý này cho một trong hai mươi
lăm đệ tử của ngài là dịch giả Lu’i Gyaltsen, là vị
sau đó hóa thân là Karma Lingpa. Karma Lingpa truyền chúng cho
con trai ngài, và chúng lần lượt được truyền cho cháu ngài.
Những giáo lý về các bổn tôn hòa bình và phẫn nộ được
phân chia thành giai đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu.
Giai đoạn phát triển bao gồm nhiều sadhana trong khi giai đoạn
thành tựu chủ yếu chú tâm tới sáu bardo.
Như
tôi đã đề cập đêm trước, ngài Karma Lingpa sinh ở Khongpo,
Tây Tạng, khoảng năm trăm năm trước. Ngài đã khám phá terma
này trước mặt nhiều nhân chứng. Đây là một terma đất
và liên quan tới các bổn tôn hòa bình và phẫn nộ bắt nguồn
từ Đức Phật nguyên thủy Samantabhadra (Phổ Hiền) và năm
bộ Phật. Chính trong các giáo lý bardo này, Đức Vajrasattva
là bậc thầy và bổn tôn chính nhưng điều đó cần được
hiểu là ngài tượng trưng cho tinh túy của tất cả các bổn
tôn hòa bình và phẫn nộ, năm bộ Phật và Đức Phổ Hiền.
Đức Vajra-sattva là một hiển lộ Báo Thân. Ngài màu trắng
và được tô điểm với mười ba đồ trang sức và y phục
của một bổn tôn Báo Thân. Ngài là hiện thân của sự hỉ
lạc hay viên mãn. Ngài cầm một cái chày kim cương trong bàn
tay phải ở ngang trái tim và một cái chuông trong bàn tay trái
ở ngang hông. Có nói rằng chỉ bằng cách nghe danh hiệu Đức
Vajrasattva cũng đem lại những ân phước lớn lao, ngay cả
những người bị thúc đẩy bởi sân hận có những khuynh
hướng tái sinh trong cõi địa ngục cũng sẽ được giải
thoát khỏi các thiên hướng về nghiệp của họ. Nếu họ
có đức tin, họ sẽ được giải thoát trong cõi thuần tịnh
của Đức Phật Vajrasattva, Cõi Hỉ Lạc Hiển lộ.
Tôi
đã được thỉnh cầu dạy bardo trong sáu ngày. Thông thường,
nếu như các giáo lý này được truyền dạy trong hình thức
cô đọng nhất của chúng, sẽ phải mất bốn mươi chín ngày
tương ứng với giai đoạn bốn mươi chín ngày sau khi chết,
trong thời gian này tâm thức ta thường du hành trong trạng
thái trung ấm. Trạng thái đó là gì? Đó là trạng thái sau
khi chết khi tâm thức tách khỏi xác và lang thang, tìm kiếm
một thân xác, có vô số kinh nghiệm tương tự một người
lang thang kinh nghiệm trong trạng thái mộng mỗi đêm. Lang thang
là một từ tuyệt vời cho loại kinh nghiệm này vì nó là
một cảm thức khá vô định, đi đó đi đây, không thực
sự có bất kỳ mục đích nào. Tâm thức bị thúc đẩy bởi
các gió nghiệp và đối với hầu hết chúng sinh điều đó
đem lại đau khổ.
Ở
Tây Tạng, khi người nào đó đang hấp hối, một lama được
mời đến bên giường người ấy để cử hành pháp phowa.
Sẽ lợi ích khi mời một lama có mối liên hệ thân thiết
với người hấp hối, được người ấy tin cậy. Đôi khi
hai vị lama được mời đến. Và trong những trường hợp
mà một gia đình có thể làm được điều đó, nhiều lama
và các nhà sư được thỉnh đến để cử hành các buổi
lễ vào lúc chết và suốt thời gian bốn mươi chín ngày sau
đó. Các buổi lễ rất quan trọng được cử hành liên quan
tới giai đoạn chuyển tiếp này, tất cả chúng được lấy
ra từ sự khám phá terma về sự giải thoát nhờ sự nghe này.
Các lama có trách nhiệm đối với việc xử lý tử thi. Ở
Tây Tạng không có tục lệ hỏa thiêu tử thi. Thay vào đó,
nó được đem đến một nơi riêng biệt, sự thực hành Chošd
được tiến hành, và các con chim kên kên được mời đến
dự tiệc trên các thi hài. Đây là một quang cảnh ngoạn mục
để nhìn ngắm. Tất cả các nghi lễ được cử hành nhân
danh người chết là các khía cạnh bên ngoài của sự giải
thoát nhờ sự nghe.
Khía
cạnh bên trong của sự giải thoát nhờ sự nghe là việc thực
hành thực sự mà người chết đã thành tựu trong đời họ.
Hơn nữa, điều cực kỳ quan trọng là phải thực hành các
giáo lý này bởi vì không có việc tu tập này, các bạn không
có ý niệm về nơi các bạn đang đến khi bạn chết. Các
bạn rất có thể đi vào các cõi thấp nhưng các bạn không
có khả năng để biết điều này. Một ít người sẽ đi
đến Cõi Cực Lạc mà không có sự chuẩn bị nào. Một số
sẽ đi thẳng xuống các cõi địa ngục. Vì không có sự bảo
đảm nên dường như hoàn toàn hợp lý khi chuẩn bị cho giây
phút đó trong khi các bạn còn có cơ hội.
Mỗi
đêm chúng ta đi ngủ và trước khi chúng ta thức dậy vào
buổi sáng, các giấc mơ xảy ra, nó là một kinh nghiệm tạm
thời. Đây là một sự tương đồng hảo hạng đối với
kinh nghiệm bardo khi chúng ta giã từ đời này, cho tới lúc
tâm thức thành công trong việc gặp được thân kế tiếp
của nó và chúng ta có một tái sinh mới, đó là trạng thái
trung ấm trong đó tâm thức phải lang thang vơ vẩn. Kinh nghiệm
này có thể rất khủng khiếp. Trừ phi chúng ta chuẩn bị
cho trạng thái trung ấm này, còn không sẽ là nỗi đau khổ
to lớn. Các bạn sẽ không bao giờ tìm thấy bất kỳ điều
gì quan trọng để chuẩn bị cho sự chuyển tiếp ấy trong
đời này hơn là Pháp. Khi tôi nhìn xung quanh và thấy tất
cả các bạn nỗ lực chờ đợi để nhận các giáo lý về
sáu bardo, điều ấy thực sự đáng kinh ngạc. Tất cả các
bạn hết sức may mắn có được cơ hội nhận lãnh các giáo
lý này và thật cởi mở khi nghe và thực hành chúng. Tôi cảm
thấy thực sự chắc chắn là không ai trong các bạn sẽ phải
tái sinh trong các cõi thấp. Điều ấy khiến tôi rất sung
sướng nhưng tôi muốn khuyến khích các bạn cần có lòng
sùng mộ mãnh liệt, giữ samaya trong sạch, và ghi nhớ rằng
mặc dù có những việc nào đó mà các bạn phải thực hiện
trong đời này chẳng hạn như tạo nên một đời sống tươm
tất và sống một cách thoải mái, điều quan trọng nhất
vẫn là chuẩn bị cho lúc chết.
Cho
dù có thể các bạn không tin tưởng tôi và sẽ không thực
sự tin tôi cho tới khi giây phút ấy đến với các bạn, có
đó một bardo và có một Thần Chết, Shinje Chokyi Gyalpo, ông
ta đến viếng các bạn vào lúc các bạn chết. Thần Chết
sẽ ở đó để giúp các bạn đánh giá các tích tập về
nghiệp của các bạn và vào lúc đó các bạn sẽ hiểu rõ
ràng các bạn là ai và tình trạng nguy nan của các bạn ra
sao. Khi nói điều này tôi có cảm tưởng là các bạn có thể
không hoàn toàn tin tưởng tôi. Hãy tin tôi, có một Thần Chết
sẽ đến thăm các bạn, nghiệp của các bạn sẽ được cân
đo, có một bardo, và có các cõi thấp. Những điều này thì
thật như kinh nghiệm về việc đang có mặt ở đây tối hôm
nay. Nó cực kỳ khủng khiếp và ghê sợ, và cho tới khi giây
phút ấy đến, các bạn vẫn sẽ không tin nó. Nhưng khi lúc
ấy tới, các bạn sẽ cảm thấy hối tiếc ghê gớm vì cho
dù các bạn không ưa thích Pháp trong đời mình, các bạn phải
cần đến nó vào lúc các bạn chết. Vì thế, tại sao bây
giờ không ưa thích nó và thực hành nó một khi các bạn có
cơ hội để làm điều đó. Vào giờ chết của các bạn,
các bạn sẽ bị tràn ngập bởi sự ân hận và những giọt
nước mắt sẽ tuôn ra trong đôi mắt các bạn. Thậm chí các
bạn có thể ngất đi vì sợ hãi và hối tiếc. Hẳn là khôn
ngoan khi làm điều nào đó về Pháp ngay bây giờ và hãy tin
tôi là không có điều gì tốt đẹp hơn mà các bạn có thể
làm cho chính các bạn.
Bây
giờ chúng ta bắt đầu với các giáo huấn chuẩn bị cho sáu
bardo. Có hai phần : điều phục tâm và tịnh hóa dòng tâm
thức của ta. Các bạn cần hiểu rằng bản tánh của sinh
tử là đau khổ. Nếu các bạn không hoàn toàn thấu hiểu
nỗi khổ của sinh tử, thì tâm các bạn sẽ không từ bỏ
sự tham luyến với sinh tử và sẽ tiếp tục tái sinh trong
vòng sinh tử. Sẽ có một khuynh hướng muốn quay đầu lại.
Phương pháp để phong tỏa lối vào sinh tử là hiểu rõ bản
chất của nó, các cạm bẫy và đau khổ của nó, và đối
mặt trực tiếp với thực tại đó.
Một
phương pháp để làm việc với điều này là thực hành ở
một nơi hoàn toàn khó chịu. Trong bản văn có nói, ta nên
đi tới một nơi không có các tiện nghi. Có lẽ các bạn có
thể đi tới một túp lều cũ đổ nát chẳng hấp dẫn tí
nào, không có chút tiện nghi hay bất kỳ vẻ lôi cuốn nào.
Một nơi bị bỏ mặc không chăm sóc và cỏ mọc tràn lan.
Ở một nơi như thế các bạn sẽ cảm thấy hoàn toàn cô
độc một cách tự nhiên. Loại nơi chốn này thật lý tưởng
để cử hành thời khóa đầu tiên của thực hành này được
thực hiện như một cuộc nhập thất. Cách khác có thể làm
là thực hành trong một nghĩa địa là nơi có những thứ thường
xuyên nhắc nhở về cái chết và sự vô thường, hay một
nơi có các tử thi nằm lộ thiên mặc dù điều đó có thể
hơi khó thực hiện ở xứ này. Nếu các bạn có thể nhìn
thấy các tử thi thối rữa hay các thú vật hoang dã, đe dọa,
đó sẽ là một kinh nghiệm khủng khiếp. Thịt da rữa nát
của một xác chết và các quang cảnh khiếp hãi khác sẽ dùng
như một điều nhắc nhở về lẽ vô thường và cái chết
cũng như về các lợi lạc của Pháp. Theo cách này, ta sẽ
phát triển một ước muốn mãnh liệt thực hành Pháp. Các
bạn nên đi một mình tới một nơi như thế và hãy thực
hành. Yogi vĩ đại Milarepa là một kiểu mẫu cổ điển của
những người đã từ bỏ và thực hành ở những nơi chốn
khủng khiếp.
Các
bạn có thể hỏi : “Nỗi đau khổ mà chúng ta có ý định
biết tới là gì?” Các bạn nên biết rằng bản chất của
sinh tử là nỗi đau khổ toàn khắp ở đó chúng sinh kinh nghiệm
sự đau đớn và hỗn loạn vĩ đại. Khi các bạn suy xét về
sự nguy khốn của chúng sinh là những người muốn được
hạnh phúc nhưng tuy thế phải tiếp tục chịu đau khổ trong
sáu cõi, các bạn sẽ không cảm thấy điều gì ngoài lòng
bi mẫn đối với họ. Nỗi khổ của chúng sinh này thì tương
tự nỗi khổ mà các bạn sẽ kinh nghiệm một khi bị giam
cầm trong một hầm lửa hay bị mắc kẹt vô hy vọng trong
một cái chuồng với những con rắn độc. Có nhiều sự giống
nhau trong bản văn gốc về những hoàn cảnh đau khổ khủng
khiếp trong đó chúng sinh nhận ra thân phận chính mình bao
lâu mà họ còn ở trong các cõi sinh tử. Đây là một nơi
chốn của sự đau đớn và khốn khổ không thể chịu đựng
nổi.
Các
bạn cần suy tưởng về những cõi sinh tử khác nhau và nỗi
khổ được kinh nghiệm trong những cõi đó. Và đặc biệt
là các bạn nên tập trung vào nỗi khổ của ba cõi thấp là
nơi không bao giờ có một giây phút hạnh phúc. Chỉ là đau
khổ thôi. Thật ra, không bao giờ có chút hạnh phúc vĩnh cửu
nào trong sinh tử. Hạnh phúc được kinh nghiệm ở đây thì
nhất thời và ngắn ngủi. Chính trong đại dương đau khổ
này mà tất cả chúng sinh trong sáu cõi tồn tại vào lúc này.
Khi các bạn suy nghĩ về điều này, các bạn cần hiểu rằng
nó hoàn toàn không thể chịu đựng nổi và hiểu rằng có
điều gì đó phải được thực hiện.
Một
khi các bạn đã củng cố sự xác tín này, các bạn bắt đầu
sự thực hành thực sự bằng cách quán tưởng vị thầy gốc
của các bạn trong không gian bên trên các bạn như một hiển
lộ huyễn hóa với một sự biểu lộ hơi phẫn nộ, đeo sáu
loại trang sức bằng xương, tay phải ngài cầm một cái móc
bằng ánh sáng. Từ cái móc bằng ánh sáng này một tia sáng
cầu vồng như-một sợi thừng đi vào tim các bạn. Vào lúc
đó, cùng với đạo sư, các bạn được kéo lên Dewachen, Cõi
Cực Lạc. Sau đó, các bạn lập tức xuất hiện như vị đạo
sư với một cái móc bằng ánh sáng trong bàn tay phải của
bạn và từ đó phát ra các tia sáng như-cầu vồng, tóm lấy
trái tim của tất cả chúng sinh và làm cho họ hợp nhất với
các bạn và đạo sư gốc ở Dewachen. Sau khi thiền định theo
cách này một thời gian, sự thực hành thời khóa đầu tiên
này hoàn tất.
Thời
khóa thứ hai bao gồm sự suy niệm về bốn tư tưởng xoay
chuyển tâm. Đó là sự tái sinh làm người quý báu, sự vô
thường, nghiệp và các lỗi lầm của sinh tử. Như thế trước
tiên, các bạn suy niệm sự tái sinh làm người quý báu này,
nó khó mà có được như thế nào và các sự tự do cùng các
đặc ân được liên kết với một sự sinh ra như thế ra
sao. Khi các bạn nghĩ tưởng về sự sinh ra làm người quý
báu này các bạn nên hiểu rằng đó là cái gì các bạn đã
có được trong đời này và không có gì đảm bảo là các
bạn sẽ lại gặp được những hoàn cảnh đó. Có ba khía
cạnh để suy niệm về sự sinh ra làm người quý báu này.
Nó được suy niệm qua những nguyên nhân, các ví dụ và các
sự tính đếm. Những nguyên nhân chính để có được một
sự sinh ra làm người quý báu là từ bỏ các sự tích tập
ác hạnh, giữ giới hạnh trong sạch và bằng các sự cầu
nguyện thiết tha.
Ta
thường được nghe nói là việc được sự sinh ra làm người
quý báu thì còn khó khăn hơn những may mắn của một con rùa
bơi dưới đại dương và chỉ trồi lên một lần duy nhất
trong một trăm năm, chui đầu vào một cái vòng vàng bị dập
dình trên sóng và bị gió xô dạt. Việc này cực kỳ hi hữu
và một sự sinh ra làm người quý báu thì còn khó có được
hơn nữa. Ví dụ khác là việc có được sự sinh làm người
thì hi hữu như thể ta ném các hạt đậu khô vào một bức
tường và có một hạt được đứng thẳng lên. Điều ấy
khó có thể xảy ra. Ví dụ khác là sự sinh ra đó thì khó
có được như việc hạt mù tạt được ném vào một cây
kim và chui vào lỗ kim. Việc này lại càng khó có thể được
hơn. Có nói rằng việc có được một sự sinh ra làm người
còn khó khăn và hi hữu hơn các ví dụ này.
Và
sau đó chúng ta có sự tính đếm số chúng sinh. Đức Phật
dạy rằng số chúng sinh trong các cõi địa ngục thì ngang
bằng số hạt nguyên tử trong thiên hà này; chúng sinh trong
cõi ngạ quỷ thì bằng số cát trên các bờ sông Hằng; chúng
sinh trong cõi súc sinh thì bằng số lá cỏ trong thế giới;
chúng sinh trong cõi trời ganh tị thì bằng số bông tuyết
trong một trận bão tuyết. Khi các bạn nghĩ tưởng về số
chúng sinh trong nhân loại là những người đã có được một
sự sinh ra làm người quý báu có đủ tám sự tự do và mười
đặc ân, thì quả thực số đó rất ít. Vì vậy các bạn
phải nhận thức sâu sắc sự kiện là các bạn đã có được
sự sinh ra làm người quý báu này, nó thì khó đạt được,
và các bạn phải hiểu rằng nó thì vô thường. Thân xác
này đã sinh ra và nó sẽ tan rã. Nó là cái mà các bạn phải
từ bỏ. Mọi sự tụ hội phải tan rã. Mọi sự được lập
nên phải sụp đổ. Sự sinh ra này với tám sự tự do và
mười đặc ân là một cơ hội mà các bạn có thể không
gặp lại được một lần nữa. Nó vô thường mà giây phút
chết thì sắp xảy ra và sẽ đến không báo trước. Có được
sự xác tín về điều này, hãy quán tưởng vị thầy gốc
của các bạn trong không gian trước mặt các bạn. Ngài nói
với các bạn : “Chao ôi! Sự tái sinh làm người quý báu
này mà các con đã có được chỉ chắc chắn vào giây phút
này. Nó vô thường và chóng vánh, khi nó mất đi, các con sẽ
tái sinh trong các cõi thấp. Nếu các con không sử dụng cơ
hội này để thành tựu Pháp thì không có gì chắc chắn là
các con sẽ lại có được một cơ hội như thế. Nếu các
con hỏi rằng cơ hội này có hi hữu không, hãy nhìn vào con
số chúng sinh trong các cõi khác không có được một tái sinh
như thế.” Đây là cột chống nhờ nó mà Phật quả được
thành tựu.
Điều
duy nhất có ý nghĩa để làm đối với các bạn là sử dụng
đời các bạn để thực hành và thành tựu Pháp khiến các
bạn có thể đạt được sự an bình và hạnh phúc vĩnh cửu.
Lý tưởng nhất là các bạn nên thành tựu Pháp trong đời
này và đạt được giải thoát. Còn nếu không, các bạn cần
có sự xác tín rằng các bạn có thể được giải thoát khi
các bạn từ giã đời này đi qua đời sau. Sự suy niệm này
thì không khó như thế. Chỉ cần nhìn xung quanh, tự mình quan
sát vô số chúng sinh trong cõi người và xét xem có bao nhiêu
chúng sinh trong các cõi khác. Điều này cần gây hứng khởi
cho các bạn để thực hành Pháp. Các bạn đã có may mắn
tốt lành gặp được các bậc thầy và những vị hướng
dẫn tâm linh bi mẫn có thể giúp đỡ các bạn trên con đường.
Các bạn cần duy trì sự xác tín này cho tới khi tâm các bạn
từ bỏ sự tham luyến sinh tử một cách thành công. Các giáo
lý bardo nói vắn tắt về sáu sự chuẩn bị là các suy niệm
cần đi trước các giáo lý thực sự và như tôi đã nói,
chúng là các phương pháp để điều phục tâm. Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni đã dạy ngài Xá Lợi Phất và các đệ tử
thân cận khác về sự tái sinh làm người này thì thật hi
hữu và quý báu thế nào và đã dẫn ra những tính đếm về
số chúng sinh từ cõi địa ngục cho tới những trạng thái
hiện hữu cao nhất. Các bạn phải thiền định về những
vấn đề này cho tới khi tâm xoay chuyển từ sinh tử hướng
về Pháp.
Những
thực hành chuẩn bị tiên quyết điều phục tâm này là các
khám phá của Karma Lingpa. Chúng được ghi chép bởi Guru Mila
Ozer và đã được niêm phong với dấu ấn của một sự khám
phá kho tàng : “Sarva Mangalam! Cầu mong tất cả đều tốt
lành!”
Trước
khi đi tiếp đến các giáo lý thực sự và các thực hành
của sáu bardo, các bạn cần hiểu rõ tầm quan trọng của
việc điều phục tâm. Các sự chuẩn bị gồm có các suy niệm
thông thường bên ngoài đã được thảo luận và một khóa
duy nhất về ngondro (quy y, Bồ đề tâm, Vajrasattva, sự tịnh
hóa và guru yoga bao gồm sự nhận bốn quán đảnh). Sau khi
nhận bốn quán đảnh, ta an trụ trong một trạng thái quân
bình thiền định về bản tánh tỉnh giác nội tại của tâm,
sau đó ta cầu nguyện với vị guru để sẽ không bao giờ
xa lìa ngài. Vào lúc đó, theo truyền thống ta sẽ tụng những
câu kệ chính về sáu bardo, chúng là các trì tụng ngắn dẫn
vào từng bardo, tập trung trên sự thành tựu đặc biệt của
từng bardo. Cả ngài Jamyang Khyentse Wangpo và ngài Karma Lingpa
đều đã nhấn mạnh tới sự quan trọng của việc đặt các
thực hành chuẩn bị và thời khóa ngondro duy nhất trước
các thiền định được tìm thấy trong các giáo lý về sáu
bardo.
CHƯƠNG
3
BARDO
ĐỜI NÀY VÀ BARDO THIỀN ĐỊNH
Bardo
đầu tiên được gọi là Bardo Đời Này. Bardo này bắt đầu
khi hạt giống của cha và trứng của mẹ hợp nhất và qua
sự hợp nhất đó tâm thức được đi vào. Đây là lúc thụ
thai và chính trong giây phút đó mà đời sống bắt đầu.
Tâm thức phát triển trong tử cung khoảng chín tháng mười
ngày cho tới lúc sinh ra. Chúng ta ở trong Bardo Đời Này từ
lúc sinh ra cho tới bardo kế tiếp của tiến trình chết.
Khi
ở trong Bardo Đời Này, hai bardo khác xuất hiện. Chúng là
Bardo Thiền định và Bardo Trạng thái Mộng. Bardo Trạng thái
Mộng bắt đầu khi chúng ta rơi vào giấc ngủ và ta ở trong
bardo này cho tới khi thức dậy. Bardo Thiền định tương ứng
với thời kỳ trong đó chúng ta đang thực hành Mahamudra (Đại
Ấn), Madyamika (Trung Quán) hay Dzogchen (Đại Viên Mãn). Trong
khi thiền định, các bạn đang cố gắng hòa tâm bạn với
tâm đạo sư và kinh nghiệm đó được nối kết với Bardo
Thiền định. Thông thường, ta ngồi xuống để thực hành,
dùng một khoảng thời gian nhất định để làm việc đó,
hồi hướng công đức, và sau đó đứng lên và bắt tay vào
các hoạt động khác của ta.
Sự
thực hành theo lối này là một sự hiểu biết bên ngoài về
Bardo Thiền định. Sự hiểu biết bên trong của bardo đặc
biệt này siêu vượt mọi biên giới hay giới hạn của sự
việc đó. Nó liên quan tới kinh nghiệm về các vọng tưởng
và mối liên hệ đối với chúng của ta. Trong thực hành thiền
định, ta có thể nhận ra khoảnh khắc giữa các niệm tưởng.
Từ lúc niệm tưởng sau cùng chấm dứt, ngay trước khi bắt
đầu của niệm kế tiếp, có một khoảng hở trong đó ta
có thể kinh nghiệm bản tánh tỉnh giác nội tại của ta.
Kinh nghiệm đó là ý nghĩa bên trong của sự ở trong Bardo
Thiền định.
Điều
quan trọng là phải chú ý tới khoảng hở giữa các niệm
tưởng đó bởi vì trong khi các bạn an trụ trong kinh nghiệm
tỉnh giác nội tại bẩm sinh này, thoát khỏi các tư tưởng
hay ý niệm, thì các bạn ở trong Bardo Thiền định. Kinh nghiệm
này thoát khỏi sự mê lầm và được kể đến như Bardo Thiền
định tuyệt đối hay tối hậu. Nó là không gian hay khoảng
hở giữa các tư tưởng hay các ý niệm. Trong ba bardo mà chúng
ta sẽ thảo luận tối nay, cái quan trọng nhất là Bardo Thiền
định. Nếu các bạn có thể thực hành thành công thiền định
trong đời này, thì các bạn đang chuẩn bị cho chính mình
sự giải thoát trong bất kỳ trạng thái bardo nào khác. Như
thể là các bạn đã phải mãi mãi sống trong bóng tối và
bất ngờ ánh sáng xuất hiện. Nếu các bạn tu tập tâm thức
các bạn qua sự thiền định và có thể an trụ trong sự tỉnh
giác nội tại, thì bản tánh tịnh quang của tâm bạn sẽ
tỏa chiếu một cách tự do và càng lúc càng mạnh mẽ hơn
khi các bạn thực hành. Nó là bản tánh căn bản của các
bạn. Ban đầu, khi các bạn làm việc với sự thiền định
này, có thể ở trong một cách thức hơi thông thường hay
hơi thấp, rồi cuối cùng sẽ đến gần một mức độ trung
bình, và sau rốt mức độ sẽ trở nên rất lớn lao. Theo
cách này, Bardo Thiền định được thành tựu.
Một
lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng các thực hành thiền
định này – và có nhiều thực hành liên quan tới sự chứng
nghiệm Bardo Thiền định – phải được đi trước bởi các
thực hành chuẩn bị tiên quyết. Ngay cả các bạn đang tu
tập một thực hành Dzogchen rất sâu xa như Yeshe Lama, các bạn
luôn luôn phải bắt đầu với các sự chuẩn bị tiên quyết.
Nếu cái bình bất tịnh và đồ chứa tồi tệ thì chất liệu
được đổ vào đó trong sạch như thế nào sẽ chẳng ăn
nhằm gì. Cách thức khác của việc sử dụng nó là : thực
hành chuẩn bị giống như tim đèn và các bạn không thể có
một ngọn đèn bơ mà không có tim đèn. Cùng cách đó, các
bạn không thể có một thực hành thiền định thực sự mà
không có sự bắt đầu là các chuẩn bị tiên quyết. Guru
Yoga là thực hành chuẩn bị tiên quyết thực sự đem xuống
những sự ban phước. Rất quan trọng phải nhận bốn quán
đảnh và bắt đầu sự thực hành của các bạn trong một
trạng thái được ban phước bởi tâm đạo sư. Trong trường
hợp đặc biệt này, sau khi đã nhận các ban phước của đạo
sư, các bạn sẽ bắt đầu các thực hành được nối kết
với sáu bardo.
Bardo
Đời Này được nối kết với sự tự-giải thoát của nền
tảng toàn khắp, nó cắt đứt những sợ hãi bên ngoài và
bên trong giống như một con chim sẻ đi vào tổ của nó một
cách không sợ hãi. Bardo Trạng thái Mộng được nối kết
với sự tự-giải thoát khỏi vô minh giống như một ngọn
nến được đốt lên trong bóng tối. Bardo Thiền định được
nối kết với sự tự-giải thoát của giác tánh nội tại
giống như một đứa con lạc loài tìm thấy mẹ nó. Bardo Vào
lúc Chết được nối kết với “sự tự-giải thoát qua chuyển
di tâm thức”, làm tỏ sáng điều tối tăm giống như di chúc
sau cùng của một nhà vua. Bardo Pháp tánh có liên quan tới
sự tự-giải thoát ngay trên cái thấy, và giống như một
đứa con nằm trong lòng mẹ – đó là – có sự xác tín vào
chính những tri giác của mình. Và, Bardo Trở thành được
nối kết với “sự tự-giải thoát của hiện hữu hiện
tượng” và giống như một đường hầm dẫn tới mục đích.
Theo truyền thống, sáu bardo này được dạy theo thứ tự đó.
Tất
cả chúng sinh trong sáu cõi được bao gồm trong Bardo Đời
Này nó trải rộng tới ba mươi ba cõi trời. Pháp đã được
truyền bá trong ba cõi này, và ngay cả các vị trời vĩ đại
như Brahma, Indra, Vishnu v.v... đã là những đệ tử của Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni và đã có mặt khi bánh xe Pháp được
quay. Tuy nhiên, nói chung Pháp không nở rộ trong những cõi
đó. Cũng thế, trong cảnh giới của loài rồng, tất cả tám
vị lãnh đạo rồng vĩ đại đã có cơ hội diện kiến Đức
Phật, giữ samaya và đem giáo pháp tới cõi của họ, và tuy
thế, nói chung các giáo lý không hưng thịnh ở đó. Trong thế
giới này của chúng ta có khoảng năm tỉ người và rất ít
người trong số đó là Phật tử mặc dù Pháp đã được
truyền bá ở đây.
Tất
cả chúng sinh được sinh trong Bardo Đời Này phải được
sinh ra bằng một trong bốn loại tái sinh (từ một bào thai,
một trứng, từ hơi ấm và sự ẩm ướt hay sinh ra lập tức).
Căn bản phổ quát đối với một sự tái sinh như thế là
sự vô minh. Chính trạng thái vô minh đó phải được tự-giải
thoát. Bản chất là sự vô minh, sự biểu lộ của nó là
các khuynh hướng quen thuộc và vì thế ta cần trau dồi hai
loại prajna (sự thấu suốt tính vô ngã của cá nhân và của
các hiện tượng). Nhờ đó ta bắt gặp cái thấy Dzogchen,
tẩy sạch căn bản vô minh và sự biểu lộ của nó. Căn bản
là sự vô minh và sự biểu lộ của sự vô minh đó là các
khuynh hướng quen thuộc. Bởi những thứ đó, ta hoàn toàn
mê lầm trên con đường bardo dẫn đến bốn loại tái sinh.
Bằng sự hiểu biết các giáo lý kinh điển và tantra, sự
tự-giải thoát khỏi vô minh hoàn toàn có thể được – và
thực ra không có sự hiểu biết này thì đó sẽ là điều
bất khả đối với chúng sinh – với căn bản vô minh như
một tập quán, ta biết cách làm thế nào đóng kín khuynh hướng
quen thuộc tái sinh qua bốn lối vào. Khi ta cắt đứt các ý
niệm cảm xúc, thì một cách tự động, ta đến được bản
tánh nội tại của mình và vì vậy không có hoài nghi nào
nữa. Ta chặt đứt hoài nghi và các lề thói quen thuộc tận
hang ổ của chúng và sau đó không còn hoài nghi điều gì nữa,
vì thế cần thiết phải phát triển ba cấp độ của prajna
: sự nghe (văn), suy niệm (tư), và thiền định (tu).
Sự
tương tự được đưa ra ở đây đối với Bardo Đời Này
là
hình ảnh một con chim rời tổ để bay đến những miền khí
hậu ấm áp vào mùa đông, nhưng khi mùa xuân đến, nó sẽ
trở về tổ cũ của nó, thoát khỏi nỗi hoài nghi hay sợ
hãi. Hơn nữa, con chim có sự tin tưởng hoàn toàn nơi cái
tổ nó đã xây cất và xếp đặt một cách khéo léo khiến
nó để những chú chim con ở lại một mình mà không chút
e ngại, và vì thế khi trở về cùng lương thực, nó bay thẳng
về tổ với niềm vui và sự tin tưởng. Không có gì để
hoài nghi. Cũng thế, một khi ba cấp độ của prajna đã được
phát triển, dây buộc của mọi hoài nghi hoàn toàn bị cắt
đứt.
Như
các bài kệ gốc chỉ dạy, chớ phí phạm đời người quý
báu này, ta phải sử dụng bình chứa (pháp khí) này để thể
nhập trạng thái của ba thân (kaya). Bằng cách tiến lên một
cách kiên định trên con đường và phát triển ba cấp độ
của prajna, các hình tướng xuất hiện được nhận ra như
sự phô diễn của tâm. Bản tánh của tâm được nhận ra
là tánh Không và bản tánh của tánh Không được nhận ra
là Pháp Thân. Các hình tướng xuất hiện trở thành con đường.
Con đường trở thành Pháp Thân và ba thân được hiện hành.
Sự
tái sinh làm người đặc biệt này chỉ có được một lần
này. Ví dụ như sau khi tái sinh một trăm lần làm một con
chim, vẫn không có gì chắc chắn là sẽ có được sự tái
sinh làm người. Thậm chí sau khi tái sinh một triệu lần làm
một chúng sinh trong địa ngục hay một ngạ quỷ, vẫn khó
có thể có được một sự tái sinh làm người. Vì thế, các
bạn thấy đấy, điều này cực kỳ hi hữu và quý báu.
Việc
đạt được sự tự-giải thoát thì giống như đi tới một
hòn đảo bằng vàng nơi đó mọi thứ đều cùng một chất
thể quý báu, và không có gì là tầm thường, vì mọi sự
đều là bản tánh trống không vĩ đại của Pháp giới và
ta giải phóng khỏi thiền định, quán tưởng hay bất kỳ
cố gắng nào để thành tựu bất cứ điều gì. Sẽ không
có thêm kinh nghiệm bardo nào nữa bởi ta sẽ giác ngộ như
một vị Phật.
CHƯƠNG
4
BARDO
TRẠNG THÁI MỘNG
Tối
nay, chúng ta sẽ thảo luận về Bardo Trạng thái Mộng, sự
tự-giải thoát khỏi sự mê lầm, nó tương tự như việc
thắp sáng một ngọn nến hay đèn bơ trong bóng tối. Bởi
vô minh, sự không thể nhận ra được Phật tánh của mình
mà chúng sinh đã tái sinh trong vòng sinh tử từ vô lượng
kiếp.
Pháp đã không đi vào dòng tâm thức của họ. Tuy nhiên, trong
đời này, ngay chính lúc này, các bạn đang gặp được con
đường sâu xa của Dzog-chen và nhận lãnh các giáo huấn trực
chỉ cốt tủy. Điều này tương tự như việc thắp sáng một
căn phòng tối. Bất thình lình các bạn có các phương pháp
để thành tựu sự giải thoát trong một đời. Điều này
đặt các bạn trên con đường công đức.
Có
ba khía cạnh của sự tu tập trong bardo này. Trước tiên là
sự tu tập trong việc nhận ra trạng thái mộng. Nó liên quan
tới khả năng để nắm giữ một giấc mộng, ở đó trong
giấc mộng, và không mất sự tỉnh táo của ta. Thứ hai là,
sau khi đã nắm chắc giấc mộng, ta nhận biết nó. Thứ ba
là tẩy trừ sự mê lầm, chuyển hóa ảo tưởng. Như thế,
trước tiên ta nhìn thấy nó, rồi thâm nhập bản tánh của
nó, việc ấy được gọi theo nghĩa đen là “sự hiểu rõ
diện mạo”, và cuối cùng thì ta chuyển hóa sự mê lầm
hay ảo tưởng.
Để
chứng ngộ bản tánh huyễn hóa của các sắc tướng hiển
hiện của thực tại lúc thức, các bạn phải có thể phân
biệt thân huyễn hóa bất tịnh với thân huyễn hóa thanh tịnh.
Điều này tương tự sự thực hành của giai đoạn phát triển
trong đó nhờ năng lực của sự quán tưởng ta đang chuyển
hóa sắc tướng bất tịnh thành giác tánh của hiện thân
trí huệ nguyên thủy huyễn hóa. Trong thực hành Dzogchen, hiện
thân này được nói đến như thân của bổn tôn của giác
tánh trống không.
Sự
thực hành chuyển hóa thân huyễn hóa bất tịnh đòi hỏi
phải đi tới một nơi cô tịch thoát khỏi những xao lãng.
Các bạn bắt đầu bằng việc khơi dậy Bồ đề tâm để
củng cố động lực của các bạn. Việc này được thực
hiện bằng cách suy xét rằng tất cả chúng sanh vào lúc này
hay lúc khác đã từng là cha mẹ các bạn và để đưa mỗi
một và tất cả những chúng sinh đó đến trạng thái Toàn
giác, các bạn phải thực hành với động lực này. Trong thực
hành này các bạn làm việc với các sắc tướng huyễn hóa
bất tịnh của thực tại lúc thức để nhận ra rằng chúng
không có bất kỳ sự hiện hữu bẩm sinh nào. Các bạn phải
có sự xác tín rằng nhờ sự thực hành của các bạn, các
bạn thực sự có thể làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Một
khi các bạn đã củng cố sự xác tín đó, khi đó các bạn
khẩn cầu sự hiện diện của đạo sư. Chỉ nhờ các ban
phước của ngài mà các bạn có khả năng để chứng ngộ
bản tánh huyễn hóa của các hiện tượng hiển hiện. Với
lòng sùng mộ chân thành, hãy dâng những lời cầu nguyện
lên bậc đạo sư xin ngài ban phước cho dòng tâm thức của
các bạn, để các bạn có thể thành tựu thực hành này vì
sự lợi lạc của tất cả chúng sinh.
Bước
kế tiếp là suy niệm về bản tánh vô thường và huyễn hóa
của mọi sự hình tướng xuất hiện. Tất cả các pháp trong
sinh tử thì giống như ánh trăng trong nước. Chúng có vẻ
hiện hữu nhưng thực ra chúng chỉ là các phô diễn nhất
thời của tánh Không trong vô số sắc màu và hình tướng.
Tất cả chúng sinh, tất cả các hiện tượng bao gồm hoa lá,
nhà cửa, các khuôn mặt người, sáu tri giác giác quan v.v...
xuất hiện thường trực và có thật nhưng thực ra chúng chỉ
đơn thuần là một phô diễn của tri giác mê lầm và không
có bất kỳ sự hiện hữu bẩm sinh nào. Bằng cách suy tưởng
theo lối này, các bạn thường xuyên nhắc nhở mình rằng
bất cứ cái gì hội tụ sẽ phải chia ly. Tất cả những
hiện tượng hợp lại phải tan rã : chúng vô thường, không
thật và trống không. Với sự nhận thức đó, các bạn bắt
đầu thấu hiểu sâu sắc bản tánh huyễn hóa của mọi sự
xuất hiện. Sau đó các bạn phải áp dụng sự tỉnh giác
về bản tánh huyễn mộng của mọi sự xuất hiện này vào
bản thân các bạn.
Khi
đã suy niệm theo cách này, sau đó các bạn bắt đầu sự
thực hành chính. Trước tiên các bạn nên tự trang điểm
cho mình với các vật trang sức, chúng giúp cho các bạn càng
vui thích và dễ chịu thì càng tốt. Rồi hãy đặt một chiếc
gương trước mặt các bạn. Tấm gương nên rộng khoảng hai
feet 0,60m và được đặt khiến các bạn có thể thấy
rõ sự phản chiếu của các bạn trong đó. Rồi nhìn kỹ vào
sự phản chiếu và quan sát phản ứng của các bạn đối
với nó. Hãy lưu ý điều các bạn đang cảm nhận. Các bạn
có dễ chịu không? Các bạn có cảm thấy sung sướng vì các
bạn nghĩ rằng trông mình thật đẹp đẽ, phong độ hay quyến
rũ? Phản ứng của các bạn là gì? Các bạn nên thực sự
khen ngợi mình để các bạn có một phản ứng tích cực.
Hãy tiếp tục tự khen ngợi, hãy nói bất kỳ điều gì sẽ
khiến các bạn cảm thấy tốt đẹp. Dựa trên phản ứng
này, các bạn đang kinh nghiệm niềm vui hay hạnh phúc trong
bản thân mình mà các bạn phải nhìn một cách rõ ràng như
một ảo tưởng huyễn hóa. Nó là một sự phản chiếu. Nó
không thật. Các bạn cần tỉnh giác rằng các bạn đang tập
trung vào một sự phản chiếu trong tấm gương và nó là sự
phản chiếu đem lại cho các bạn cảm xúc vui thích này. Hãy
thiền định theo cách này trong một thời gian dài. Hãy thực
hiện lập đi lập lại tiến trình này. Rồi xoay từ sự khen
ngợi sang trách mắng. Bắt đầu trách mắng chính mình, hạ
mình xuống thấp, tự làm mất uy tín để tạo ra một phản
ứng tiêu cực. Các bạn bắt đầu cảm thấy không vui và
buồn phiền về sự xuất hiện của các bạn, nó không còn
dễ chịu như các bạn đã nghĩ nữa. Hình tướng xuất hiện
của các bạn có thiếu sót. Khi các bạn quan sát phản ứng
của mình trong gương, hãy tiếp tục tự trách mắng, chú ý
tới phản ứng mà các bạn đang có và cố gắng nhận ra rằng
phản ứng của các bạn được đặt trên một phản chiếu
huyễn hóa. Đây là thời khóa đầu tiên của sự thực hành.
Các bạn cần cố gắng làm vững chắc sự thực hành để
các bạn có thể hoán đổi sự khen ngợi và trách mắng ngang
nhau. Hãy kinh nghiệm luân phiên sự vui thích và khó chịu cho
tới khi các bạn có được một ít nhận thức sâu sắc rằng
điều mà các bạn đang phản ứng lại thì không gì khác hơn
là một phản chiếu.
Khi
thực hành các kỹ thuật của giai đoạn phát sinh, các bạn
quán tưởng mình như một thân huyễn hóa. Khi thực hành các
kỹ thuật của giai đoạn thành tựu như tsa-lung, các bạn
hợp nhất các sinh lực huyễn hóa với các tinh chất. Khi thực
hành các phương pháp Dzogchen, các bạn làm việc với giác
tánh nội tại trống không. Ngay cả khi các bạn đang thực
hành các kỹ thuật mantra trên ba cấp độ ngoài, trong và bí
mật, các bạn đang luôn luôn cố gắng có được một nhận
thức sâu sắc về bản tánh huyễn hóa của mọi hình tướng
xuất hiện. Điều này rất quan trọng khi tu tập trong Bardo
Đời Này. Sự tham luyến thân xác sẽ gây nên đau khổ lớn
lao trong bardo sau cái chết bởi tâm thức tách khỏi thân xác
và lang thang trong trạng thái trung ấm. Nếu như trong khi các
bạn đang ở trong thân xác này, các bạn có một tham luyến
mạnh mẽ với thân tướng của mình như cái gì thực có,
thì kiểu thức quen thuộc đó sẽ có ở đó khi các bạn ở
trong trạng thái trung ấm sau khi chết. Khi tâm thức tách khỏi
thân xác, kết quả sẽ là nỗi đau khổ ghê gớm. Thực hành
này tập luyện tâm thức để chuẩn bị cho sự chuyển tiếp
khó khăn đó.
Tôi
muốn trở lại các chuẩn bị tiên quyết một lát. Quan trọng
nhất là các thực hành tịnh hóa Vajrasattva và guru yoga. Những
thực hành này được các suy niệm đi trước để xoay chuyển
tâm thức ta cùng sự quy y và Bồ đề tâm. Khi các bạn thực
hành Vajrasattva như một sự chuẩn bị tiên quyết cho bất
kỳ kỹ thuật bardo nào, các bạn luôn luôn nghĩ tưởng mình
trong thân tướng bình thường. Các bạn quán tưởng sự hiện
diện của Đức Vajrasattva trên đỉnh đầu mình. Bản tánh
của ngài là bản tánh của vị thầy gốc của các bạn và
ngài xuất hiện như Vajrasattva có màu trắng. Đức Vajrasattva
ở trong sự hợp nhất với vị phối ngẫu và trong tim ngài
là chủng tự HUNG được vây quanh bởi các chữ mantra. Khi
các bạn bắt đầu tụng đọc mantra, từ chữ HUNG và các
chữ mantra, chất amrita (cam lồ bất tử) chảy nhanh xuống
qua thân các ngài đi vào đỉnh đầu các bạn, tịnh hóa tất
cả các tích tập thuộc nghiệp tiêu cực, các ô nhiễm, bệnh
tật và tất cả các thế lực và hoàn cảnh chướng ngại.
Sự tịnh hóa này xảy ra đối với các bạn cũng như tất
cả chúng sinh. Mỗi khi các bạn thực hiện một thời khóa,
hãy tụng đọc thần chú trăm âm ít nhất bảy, hai mươi mốt
hay một trăm lẻ tám lần. Sau đó, khi đã thực hiện sự
tịnh hóa trong khả năng tốt nhất của các bạn, vẫn quán
tưởng Đức Vajrasattva trong sự hợp nhất với vị phối ngẫu
trên đỉnh đầu các bạn, rồi quán tưởng một chữ OM màu
trắng ở trong trán ngài, một chữ AH màu đỏ trong trung tâm
cổ họng ngài và một chữ HUNG xanh dương trong trung tâm tim
của ngài. Hãy quán tưởng rằng từ chữ OM trắng trong trán
ngài, những tia sáng trắng phát ra và đi vào trán các bạn.
Những tia sáng trắng này thấm đẫm thân thể các bạn và
mọi nghiệp tiêu cực mà các bạn đã tích tập thuộc về
vật lý (thân) được tịnh hóa và các bạn nhận lãnh các
sự ban phước về thân giác ngộ, chứng ngộ thân kim cương
của Đức Vajrasattva. Từ chữ AH đỏ trong trung tâm cổ họng
của Đức Vajrasattva, hãy quán tưởng rằng các tia sáng đỏ
phát ra và tan vào cổ họng các bạn, tịnh hóa mọi nghiệp
tiêu cực mà các bạn đã tích tập qua ngữ của các bạn
và ban cho các bạn ân phước về ngữ giác ngộ. Từ chữ
HUNG xanh dương trong trái tim Đức Vajrasattva, các tia sáng xanh
dương chiếu rọi vào tim các bạn, tịnh hóa mọi nghiệp tiêu
cực mà các bạn đã tích tập qua hoạt động thuộc tâm và
ban cho các bạn sự quán đảnh tâm trí huệ nguyên thủy.
Theo
cách này, các bạn nhận các quán đảnh. Từ chữ OM các bạn
nhận quán đảnh cái bình thuộc về thân; từ chữ AH các
bạn nhận quán đảnh bí mật; và từ chữ HUNG các bạn nhận
quán đảnh trí huệ. Sau đó, các tia sáng vàng và xanh lá cây
phát chiếu đồng thời từ ba trung tâm của Đức Vajrasattva
cũng như từ rốn và các trung tâm bí mật của ngài, tịnh
hóa mọi sự ô nhiễm và bất tịnh còn sót lại, ban cho các
bạn những sự ban phước của thân, ngữ, tâm giác ngộ, các
phẩm tính cao quý, hoạt động giác ngộ và mọi sự thành
tựu không trừ điều gì của Đức Vajrasattva. Sự thực hành
này tịnh hóa các sự tiêu cực thô và tế của các bạn.
Cuối cùng, Đức Vajrasattva và vị phối ngẫu tan ra thành ánh
sáng và hòa tan vào các bạn, trở nên không hai như sữa được
đổ vào nước. Đây là một phương pháp rất hữu hiệu,
một kỹ thuật guru yoga. Đối với bất kỳ thực hành Dzogchen
nhập thất nào, thực hành guru yoga là một điều kiện tất
yếu. Đó là bởi các bạn nhận bốn quán đảnh, tịnh hóa
mọi ô nhiễm của ba cửa và trở thành một bình chứa chín
chắn. Khi đó các bạn có thể thể nhập giác tánh bất-nhị
của tâm đạo sư và bản tính của bổn tâm các bạn. Ngay
cả khi đang làm một thực hành yidam (bổn tôn) chẳng hạn
như Vajra-kilaya, lý tưởng nhất là các bạn nên bắt đầu
với một thời khóa ngondro nó bao gồm cả guru yoga. Hãy phát
sinh động lực trong sạch, phát triển đức tin, khẩn cầu,
nhận lãnh bốn quán đảnh và cuối cùng, tâm các bạn và
tâm đạo sư được chứng ngộ như không-hai. Các bạn nên
an trụ trong trạng thái giác tánh không-hai đó trong lúc thiền
định chính thức và sau thiền định. Nhờ thực hành điều
này, các bạn có được một cảm nhận sâu sắc về đạo
sư, vì không có ngài các bạn sẽ chẳng biết được ngay
cả danh hiệu của Đức Phật, các bạn sẽ không biết phải
tụng OM MANI PADME HUNG thế nào. Đạo sư là Đức Vajradhara
vinh quang bằng xương bằng thịt và đem đến cho chúng ta các
ban phước về thân, ngữ và tâm của Đức Vajra-dhara. Ngài
chỉ cho chúng ta con đường đến giải thoát. Đạo sư là
một kho tàng Pháp trong thân con người mà lòng tốt của ngài
thì không thể nghĩ bàn. Tất cả các bạn cần thực hiện
sự thực hành guru yoga thêm nữa.
Như
thế bây giờ chúng ta sẽ trở lại thảo luận của ta về
Bardo Giấc Mộng và làm thế nào ta có thể chuyển hóa sắc
tướng bất tịnh huyễn hóa. Sắc tướng bất tịnh huyễn
hóa là tập hợp của các uẩn, một tập hợp có thể hư
hoại của ác hạnh gồm có thịt, xương và máu. Nó là một
sản phẩm nhất thời của các tích tập thuộc nghiệp tiêu
cực. Mọi người đều có tập hợp các uẩn tiêu cực này
mà họ gọi là thân thể của họ. Các thú vật, côn trùng
và tất cả chúng sinh trong sáu cõi cũng đều như vậy. Họ
kinh nghiệm một sắc tướng bất tịnh huyễn hóa mà không
có bất kỳ nhận thức nào rằng thực ra nó thì huyễn hóa.
Bản chất thì bất tịnh vì nó là kết quả của các hành
vi tiêu cực được tích tập mà chúng đã hiển lộ. Và mặc
dù các bạn không thể nhìn thấy các cõi khác, các bạn có
thể thấy một cách rõ ràng các cảnh giới của người và
thú. Các bạn có thể thấy rằng tập họp các uẩn này là
kết quả của tâm thức. Nhờ các kiểu thức quen thuộc của
mình, tâm thức đã phát triển kinh nghiệm nhất thời huyễn
hóa này, nó có thể hư hoại, có thể bị hủy diệt và trong
một ý nghĩa, nó tự-hủy diệt.
Các
bạn cũng biết rằng thân xác đang đến gần cái chết một
cách nhanh chóng. Thời gian cái chết của chúng ta thì bất
định nhưng sắp xảy ra. Vào lúc chết, tâm thức lìa khỏi
thân thể và đó là cái chết. Thân xác thì không gì khác
hơn là một đống tập hợp các tích tập bất tịnh
mà cuối cùng bị bỏ lại đằng sau cho sự thối rữa và
mục nát. Khi đó tâm thức đi vào bardo và trở thành một
hiện thể không thân tướng. Ngay cả những hiện thể (chúng
sinh) ở trong một trạng thái không thân tướng cũng có một
vài giác quan của một thân thể nhưng nó là một thân tâm
thức. Những hiện thể như thế kinh nghiệm chính mình như
thật có mặc dù họ không sở hữu một thân vật lý gồm
máu và thịt. Tuy thế, họ có cùng kinh nghiệm về các hiện
tượng. Sự nhận biết về sự hiện diện của họ gây nên
sự sợ hãi trong những người khác bởi bản thân họ luôn
luôn sợ hãi và đầy những tri giác tiêu cực. Họ là những
chúng sinh không thể được thỏa mãn. Bất luận họ ăn thức
gì, họ không bao giờ thực sự thỏa mãn. Đây là những chúng
sinh mà các bạn mời thỉnh trong thực hành Chošd.
Chúng
sinh hữu tình – gồm cả các chúng sinh không sắc tướng
– thì rộng lớn vô vàn không thể nghĩ bàn. Khi chúng ta nói
về tất cả chúng sinh hữu tình thì điều này bao gồm cả
chúng sinh bardo và vô số chúng sinh của các cõi vô sắc. Khi
ta nói về không gian, nó thì vô hạn, ta không thể xác định
được nơi nào nó chấm dứt bất luận các bạn nhắm hướng
nào – trên, dưới, mỗi phía hay ở trung tâm. Nếu các bạn
phải đi xe hơi hay máy bay, du hành trong bất kỳ phương nào,
các bạn sẽ không bao giờ đi tới giới hạn của không gian.
Trong khi trải qua tiến trình của sinh và tử, ta không thể
tìm ra một biên giới của không gian. Cũng như không gian vô
hạn, số lượng chúng sinh trong sáu cõi sinh tử thì cũng thế.
Không thể tìm thấy một giới hạn đối với số lượng
của họ. Cũng như không gian thì vô hạn, số lượng chúng
sinh thì vô hạn, và sự tích tập không ngừng nghỉ của nghiệp
tiêu cực cũng vô hạn. Vì thế, ba trạng thái của đau khổ
thì không ngừng nghỉ và vô hạn. Trong Phakpa Sangpa Chod Pa’i
Monglam Gyi Gyalpo, Lời Cầu Nguyện cho Hành Xử Tuyệt Hảo có
nói : “giống như chính không gian thì vô hạn, các tích tập
về nghiệp và nỗi khổ mà chúng sinh kinh nghiệm thì vô hạn.
Vì vậy, sự cầu nguyện của tôi để làm lợi lạc chúng
sinh cũng vô hạn”. Để làm lợi lạc chúng sinh, ước muốn
của ta nên không có giới hạn. Không gian vô hạn, chúng sinh
vô hạn, nỗi khổ vô hạn và vì thế sự cầu nguyện của
ta để làm lợi lạc chúng sinh phải vô hạn.
Vì
tất cả chúng sinh đều kinh nghiệm một sắc tướng bất
tịnh huyễn hóa, cho nên chỉ có những sự ban phước từ
ý hướng giác ngộ thuần tịnh (Bồ đề tâm) của chư Phật
mới có thể làm lợi lạc cho chúng ta. Không có gì khác có
thể giải thoát ta khỏi nỗi khổ của sắc tướng bất tịnh
huyễn hóa này. Trong khi ở trong sắc tướng này chúng ta tiếp
tục tin tưởng rằng chúng ta có một hiện hữu thực sự,
bẩm sinh. Chúng ta tin rằng mình hiện hữu vĩnh cửu trong khi
thực ra chúng ta vô thường. Chúng ta tin rằng các hiện tượng
hiển nhiên là thật có trong khi chúng không có thật. Duy chỉ
có tâm của một vị Phật thoát khỏi những trói buộc của
những tin tưởng sai lầm, trước tiên ổn định chúng sinh
trong hỉ lạc tạm thời, giải thoát chúng ta khỏi nỗi đau
khổ một cách tương đối để sau cùng chúng ta có thể thành
tựu sự toàn giác vô song. Chính là nhờ tâm giác ngộ của
Đức Phật, tâm ngài có bốn sức mạnh vĩ đại, bốn trạng
thái vô úy, ba mươi bảy chiếc cánh của sự giác ngộ và
vô số các thuộc tính giác ngộ về thân, ngữ, tâm, các phẩm
tính và hành động cao quý, chúng là một bánh xe của những
sự ban phước và lòng bi mẫn không thể vơi cạn, mà tất
cả chúng sinh có thể có được lợi lạc chân thật.
Sau
khi lắng nghe giáo lý này, tất cả các bạn phải thấy rõ
rằng từ cõi trời cao nhất cho tới con sâu nhỏ bé nhất
bò trên mặt đất, tất cả chúng sinh vô hạn như không gian
trong vòng sinh tử đều đang kinh nghiệm một sắc tướng bất
tịnh huyễn hóa là sản phẩm của các tích tập thuộc về
nghiệp tiêu cực. Họ cảm nhận lạnh, nóng, đói, khát và
thường xuyên bị phiền não, như thể họ đang bị đâm liên
tục bởi một chiếc kim, từ lúc họ được sinh ra cho tới
khi chết và trong suốt chu kỳ không ngừng dứt của sinh và
tử. Gốc rễ của toàn bộ tình cảnh nguy nan này là sự bám
chấp vào một cái ngã, nó là sắc tướng bất tịnh huyễn
hóa. Ta phải nhận ra được bản tánh của tánh Không và bắt
đầu tịnh hóa các tri giác về cái hiện thân này trong thực
tại khi thức. Các bạn cần liên tục nhắc nhở mình về
bản tính trống không của tất cả hiện tượng. Điều này
khiến ta có thể đem sự tỉnh giác như thế vào trạng thái
mộng.
Vào
buổi tối, thay vì cho phép tâm rơi vào một trạng thái tỉnh
giác trống không trầm trệ và từ đó, bị thúc đẩy bởi
các lề thói quen thuộc, rơi vào các hiện tượng trong mộng
cũng được tri giác là thật có, các bạn cần tự nhắc nhở
mình rằng toàn bộ kinh nghiệm của trạng thái mộng cũng
là một ảo tưởng huyễn hóa. Nếu các bạn không thể phát
triển một sự hiểu biết rằng kinh nghiệm về thực tại
lúc thức và trạng thái mộng là huyễn hóa, thì các bạn
sẽ tiếp tục bị lừa dối bởi sự tri giác về tất cả
các cảnh giới hiện hữu. Chính tâm thức đã lừa gạt ta
khiến ta tin rằng kinh nghiệm đó là thật trong khi đúng ra
nó là một kinh nghiệm bất tịnh huyễn hóa. Các bạn phải
thường xuyên nhắc nhở tâm thức rằng điều này không thật.
Nó như một giấc mộng. Hãy liên tục nhắc nhở mình rằng
mọi hình tướng xuất hiện thì hoàn toàn như một giấc mộng.
Các giấc mộng thì không thực mặc dù trong khi các bạn đang
mơ các bạn có thể tin rằng các kinh nghiệm của các bạn
là thực, nghĩ rằng chúng thì tốt, xấu, hay chung chung, nhưng
ngay khi các bạn thức dậy, các bạn nhận ra rằng thật ra
chúng không đáng giá ngay cả một sợi tóc bởi vì các bạn
có thể nhận ra rằng đó là một giấc mộng. Đây là cách
mà các bạn cần cảm nhận đối với toàn bộ kinh nghiệm
về thế giới này từ lúc các bạn sinh ra cho tới khi các
bạn chết. Từ lúc các bạn sinh ra, và trải qua mọi tình
huống khác nhau trong đời các bạn, các hoạt động và các
chu kỳ sự kiện không ngừng cho tới khi các bạn đến tuổi
sáu mươi, bảy mươi hay tám mươi, nếu các bạn may mắn,
mọi sự đều đã xảy ra như một giấc mộng. Ngay cả những
kinh nghiệm của hôm qua là một ảo tưởng ngày hôm nay.
Khi
cái chết đến, tâm thức tách khỏi thân xác. Giây phút mà
tâm thức lìa khỏi thân, điều gì xảy ra? Hãy suy nghĩ về
điều này. Không thứ gì trong cuộc đời này là thật nữa.
Hãy nghĩ về giấc mộng đêm qua. Nó không còn thật nữa vào
hôm nay. Nó đã xảy ra ngày hôm qua và không thật vào ngày
hôm nay. Hãy nghĩ về mọi công việc các bạn đã làm hôm
nay với nỗ lực ghê gớm mà các bạn đã cho là thật có.
Tất cả các hoạt động và tình huống mà các bạn từng
dính dáng tới dường như cực kỳ quan trọng vào lúc đó,
thì giống như giấc mộng đêm qua. Hãy suy nghĩ về điều
đó. Hãy suy nghĩ về những gì xảy ra ở bên ngoài. Hãy quên
thân thể đi. Hãy nghĩ về bên ngoài : Các hoạt động của
ngày hôm qua, giáo lý hôm qua, tình huống mà các bạn ở trong
đó ngày hôm qua. Chúng không thật vào ngày hôm nay. Chúng không
thật nữa bởi nó là một ảo tưởng. Nó là một kinh nghiệm
vô thường đã xảy ra hôm qua và hôm nay không còn hiện hữu.
Kinh nghiệm mà các bạn đang có ngay lúc này sẽ nhanh chóng
qua đi và sẽ không thể sống lại được. Ngay cả các Giáo
Pháp cũng thế. Tình huống của việc cùng tụ hội để nghe
Pháp thì giống như giấc mộng đêm qua. Khi sử dụng những
ví dụ này các bạn có thể thấy rõ ràng rằng sinh tử là
một ảo tưởng bất tịnh.
Một
khi các bạn thể thấy được ảo tưởng bất tịnh đó là
như thế, thì các bạn đang thực hành Bardo Đời Này và Bardo
Trạng thái Mộng. Điều này sẽ cho phép các bạn thể nhập
Bardo Thiền Định, sự chứng ngộ rằng bản tánh toàn khắp
của sinh tử và Niết bàn là bản tánh căn bản của tịnh
quang. Các bạn phải chứng ngộ rằng tất cả các pháp là
bản tánh căn bản của tịnh quang trống không. Khi các bạn
có thể thấu suốt giác tánh tịnh quang trống không thì các
bạn có thể chuyển hóa các hình tướng xuất hiện tương
đối của sinh tử thành giác tánh tuyệt đối của Pháp giới.
Những giáo lý này là các phương pháp để thực hiện điều
đó.
Kỹ
thuật để thành tựu sự tỉnh giác về sắc tướng thanh
tịnh huyễn hóa như sau : Bắt đầu sự thực hành này, hãy
ngồi trong tư thế thiền định với một hình ảnh của Đức
Vajrasattva trước mặt các bạn trên một cái kệ nhỏ. Rồi
đặt hay cầm một trái quả cầu pha lê trước mặt Vajrasattva
và nhìn vào hình ảnh quả cầu pha lê. Bởi vì một quang phổ
ánh sáng cầu vồng xuất hiện từ quả cầu pha lê, bằng
cách đặt nó trước hình ảnh Vajrasattva các bạn sẽ thấy
nhiều hình ảnh của bổn tôn, bản chất của những hình
ảnh đó là ánh sáng cầu vồng. Vì những hình ảnh khác nhau
của Vajrasattva xuất hiện từ quả cầu pha lê, sẽ hiển nhiên
rằng sự xuất hiện thì huyễn hóa và không có bất kỳ hiện
hữu sẵn có chân thật nào. Hãy tiếp tục thiền định về
bản tánh huyễn hóa này trong một thời gian ngắn. Rồi tưởng
tượng rằng những hình ảnh huyễn hóa của Vajrasattva tan
vào các bạn và thân các bạn trở thành hình ảnh huyễn hóa
của Vajrasattva. Thiền định theo cách này trong một thời gian,
tưởng tượng rằng toàn bộ vũ trụ bên ngoài của các bạn
và những gì ở trong nó, tất cả chúng sinh hữu tình, tan
ra thành ánh sáng và hòa tan vào các bạn như thân tướng huyễn
hóa của Vajrasattva. Như thế ba cõi sinh tử trở thành trò
nô đùa của sự biểu lộ huyễn hóa của Vajrasattva. Phương
pháp này thì quan trọng trong việc các bạn tự chuẩn bị
cho Bardo Pháp tánh khi sự phô diễn của các bổn tôn hòa bình
và phẫn nộ xuất hiện. Rồi các bạn sẽ có sự xác tín
rằng sự xuất hiện của các bổn tôn là sắc tướng thanh
tịnh huyễn hóa và sẽ được giải thoát nhờ nhận ra được
bản tánh đích thực của các sự xuất hiện này trong bardo.
Nếu bản thân các bạn quen thuộc với sắc tướng thanh tịnh
huyễn hóa của Vajrasattva mãi theo cách này và quán tưởng
thân thể của riêng các bạn như sự biểu lộ thanh tịnh
huyễn hóa của Vajrasattva, và mọi sự của hiện hữu hiện
tượng thì không là gì khác hơn biểu lộ đó, các bạn sẽ
có thể đạt được giải thoát trong Bardo Pháp tánh.
Khi
đang thức các bạn bị tràn ngập bởi ba độc và các lề
thói quen thuộc. Do điều này, các bạn đang liên tục tích
tập
nghiệp tiêu cực và các che chướng qua hoạt động của tâm
thức. Ban đêm, các bạn tiếp tục bị tràn ngập bởi ba độc
này, chúng trở thành một trạng thái vô minh. Tâm thức các
bạn trở nên bị lừa dối bởi sự vô minh, và suốt trong
toàn bộ giấc ngủ và giấc mộng, các bạn ở trong trạng
thái vô minh tích tập ác-hạnh này. Trong trạng thái mộng
điều quan trọng là chuyển hóa sự mê lầm thành giác tánh
tịnh quang.
Học
giả Shantideva vĩ đại nổi tiếng về việc ngủ suốt ngày
và đêm và tuy thế ngài không ngủ trong một trạng thái bình
thường của sự mê lầm. Ngài đã kinh nghiệm sự giải tan
của trạng thái ngủ vào ánh sáng chói ngời (quang minh). Trong
trạng thái ánh sáng chói ngời đó ngài đã có thể chuyển
hóa các giấc mộng thành những kinh nghiệm chẳng hạn như
gặp được Đức Văn Thù trong Phật cảnh, nhận lãnh các
giáo lý và hòa lẫn tâm ngài với Đức Văn Thù trong thời
gian lâu dài. Mọi người nói chung đều đã cho rằng Ngài
chỉ biết ngủ. Thật ra, ngài Shantideva là một trong sáu báu
vật vĩ đại của Ấn Độ và một trong những bậc thầy
vĩ đại của mọi thời đại. Ngài đã thực hành yoga giấc
mộng suốt cả ngày và đêm. Các phẩm tính cao quý của Học
giả Shantideva và Đại Thành Tựu giả Karma Lingpa thì ngang
bằng nhau. Ngài Shantideva tự phô diễn như một tỳ kheo trong
khi ngài Karma Lingpa thì tự phô diễn như một ngakpa, nhưng
bản tánh của các ngài thì đồng nhất theo cách mặt trời
thì luôn luôn không thay đổi.
Mặt
trời có vẻ khác nhau từ ngày này sang ngày kế tiếp, do những
sự hình thành khác nhau của mây mà xảy ra như vậy, nhưng
mặt trời không bao giờ thực sự thay đổi. Bởi tất cả
những lý lẽ mà chúng ta đã thảo luận, bardo giấc mộng
thì cực kỳ quan trọng cần phải thể nhập. Quá nhiều thời
gian được dùng để ngủ trong sự mê muội hôn trầm, nó
chỉ tích tập thêm ác hạnh. Hãy chỉ suy nghĩ về tất cả
các ác hạnh mà các bạn đang tích tập trong khi các bạn ngủ
trong trạng thái vô minh hiện tại này. Có thể các bạn cho
rằng điều các bạn đang làm trong khi ngủ là tốt đẹp hay
ích lợi nhưng không phải như vậy. Thật ra, giấc ngủ làm
ngắn lại cuộc đời các bạn và là một sự trải rộng
của các hiện tượng lầm lạc, đưa các bạn tới gần cái
chết của mình hơn và gây ra bệnh tật. Chỉ trong các cõi
trời, giấc ngủ mới không cần thiết. Mặc dù đôi lúc các
vị trời ngủ trong mỗi tháng, nhưng đó không phải là sự
đều đặn bắt buộc. Một trong những lý do của sự trường
thọ của các vị trời là họ không ngủ, và một trong những
lý do của thọ mạng ngắn ngủi của chúng ta là chúng ta ngủ
quá nhiều. Nhiều bệnh tật của con người đến từ thực
phẩm, và cùng cách đó, thọ mạng ngắn ngủi của chúng ta
đến từ việc ngủ quá nhiều.
Các
bạn cần hiểu rõ rằng, là các hành giả, nếu các bạn sắp
ngủ, điều cực kỳ quan trọng là thực hành yoga giấc mộng
và chuyển hóa thời gian này thành một kinh nghiệm của sự
tỉnh giác giác ngộ. Rồi thì các bạn có thể được như
Đức Padmasambhava và tất cả những bậc đã đạt thân cầu
vồng. Việc đạt được thân cầu vồng là một thành tựu
về siêu việt giấc ngủ để không có ngăn cách nào trong
kinh nghiệm của ngày và đêm. Các bậc đạo sư thành tựu
vĩ đại đã đạt tới một trạng thái ở đó các ngài đã
thực hành liên tục suốt ngày và đêm. Dù các ngài đã hay
đang ở trong sự thiền định (quân bình) hoặc hậu thiền
định, trạng thái đó trở thành một sự tương tục của
sự tỉnh giác giác ngộ được gọi là chu kỳ vĩ đại không
ngừng nghỉ của giác tánh nội tại và sự phô diễn của
nó. Giấc ngủ bình thường không phải là một bộ phận của
kinh nghiệm đó. Vì thế, hãy nói cho tôi biết có tốt hay
không khi tẩy trừ những sự mê muội của các bạn?
CHƯƠNG
5
BARDO
TRẠNG THÁI MỘNG
Bây
giờ ta sẽ tiếp tục với các giáo lý về Bardo Trạng thái
Mộng và sự thực hành giấc mộng minh bạch. Các giấc mộng
là kết quả của những lề thói được đem đến từ thực
tại khi thức. Nó giống như một con ngựa được dẫn dắt
bởi một dây cương. Bởi các lề thói của thực tại khi
thức của các bạn được đem vào trạng thái mộng nên điều
quan trọng là nhận ra chúng. Các bạn phải luôn luôn nhắc
nhở tâm thức rằng mọi hiện tượng thì như một giấc mộng.
Tất cả các pháp đều huyễn hóa. Bằng cách thực hành điều
tôi đã giảng về sự nhận thức tánh Không vốn như vậy
của các hiện tượng hiển nhiên và sự chuyển hóa thân bất
tịnh huyễn hóa, các bạn có sự chuẩn bị hay sẽ tự chuẩn
bị để tiến hành cùng loại thực hành này khi ở trong trạng
thái mộng thực sự.
Khi
các bạn chuẩn bị đi ngủ, các bạn cần khơi dậy Bồ đề
tâm. Việc này được làm bằng cách suy nghĩ rằng tất cả
chúng sinh đã từng là cha mẹ của các bạn trong quá khứ
và sự thiết tha trong việc thực hành của các bạn phải
là có được năng lực để giải thoát tất cả chúng sinh
và củng cố họ trong trạng thái toàn giác. Sau đó, hãy thực
hiện một sự khẩn cầu khiến các bạn có thể thể nhập
sự thiền định về sự tỉnh giác huyễn hóa trong trạng
thái mộng. Hãy nằm nghiêng về bên phải trong “tư thế sư
tử ngủ” với bàn tay phải ở dưới đầu các bạn, hai
đầu gối hơi co, và cánh tay trái để dọc theo thân các bạn.
Hãy cố gắng an trụ thật thư lỏng trong một trạng thái
tỉnh giác thuần tịnh. Rồi hãy quán tưởng vị đạo sư
gốc của các bạn ở trên đầu mình, hoặc trên cái gối
của các bạn, và duy trì sự tỉnh giác về sự hiện diện
của các bậc đạo sư. Hơn nữa, hãy quán tưởng bản thân
các bạn là một hiện thân trí huệ như Đức Văn Thù, Quán
Thế Âm hay Đức Phật Di Lặc. Nếu các bạn gặp khó khăn
trong việc tự quán tưởng mình là một bổn tôn thì hãy cố
gắng phát triển sự tự hào của một bậc giác ngộ, một
vị Phật hay Bồ tát. Điều này sẽ đem xuống các sự ban
phước thêm nữa. Khi đã tự củng cố mình như một vị Phật,
hãy khẩn cầu để