III.
SAU CUỘC VẤN ĐÁP
Khi
dứt các câu hỏi và đáp giữa đức vua Mi-lan-đà và đại
đức Na-tiên, ngay lúc ấy, phát sanh hiện tượng phi thường
là quả địa cầu dày bốn mươi do tuần rung động, rung chuyển
dữ dội, sấm chớp ở lưng trời xẹt chiếu khắp các hướng.
Trên hư không, chư thiên rải hoa cúng dường. Trời đại phạm
thiên phát tâm hoan hỷ, không hết lời ca ngợi, tán dương.
Sóng giữa biển khơi dâng lên cao, ì ầm không ngớt.
Đức
vua Mi-lan-đà, bá quan, cung phi mỹ nữ, quân lính theo hầu đồng
quỳ xuống chắp tay đảnh lễ rất thành kính.
Thật
là một sự kiện trọng đại đối với đức vua, vì qua cuộc
vấn đáp, ngài đã lãnh hội được biết bao nhiêu điều
cương yếu của giáo pháp, đã làm cho yên lặng tất cả mối
hoài nghi. Đức vua vô cùng hoan hỷ, đức tin thanh khiết đối
với Tam Bảo được củng cố, tăng trưởng, ngài rất ngưỡng
mộ oai đức của bậc xuất gia phạm hạnh.
Hiện
giờ, bao nhiêu ngã chấp của đức vua đều tiêu tan. Bản
chất ngạo mạn, cứng đầu, khoe khoang, coi trời đất không
ra gì của ngài cũng đã chấm dứt.
Như
rồng chúa có rất nhiều thần lực, khi đã nhổ răng và bẻ
vuốt đi rồi thì không còn chất độc để tác hại ai được
nữa, đức vua chắp tay cung kính:
- Kính
bạch đại đức Na-tiên! Tất cả những câu hỏi của trẫm
đưa ra, có một số câu rất khó, thuộc trình độ của Phật,
thế mà ngài đã giải đáp rất minh bạch, rành rẽ, khúc
chiết. Trong giáo hội của Đức Tôn Sư, từ xưa đến nay,
ngoại trừ đức Pháp chủ Xá-lợi-phất ra, có lẽ không ai
giải đáp nỗi. Ngài đúng là bậc có trí tuệ vô song vậy.
Trong
thời gian vừa qua, khi đặt những câu hỏi, khi đưa ra vấn
đề hoặc những khi hỏi ngược lại; dù vô tình hay cố ý,
nếu có chỗ nào trẫm thất lễ, khiếm khuyết, xin ngài rộng
lòng bi mẫn hỷ xả; và trẫm cũng xin cung kính được sám
hối.
Kính
bạch đại đức! Xin ngài hãy chứng minh và nhận biết cho
trẫm là người quy y Tam Bảo, kể từ ngày nay trở đi, xin
ngài là nơi nương nhờ cho đến trọn đời.
Đại
đức Na-tiên im lặng nhận lời, trao truyền quy giới cho đức
vua Mi-lan-đà; ngài nói ít lời sách tấn, khuyến hóa, dạy
nhà vua hãy sống thuần thành là một người con Phật, kính
tín Tam Bảo và chăm lo hạnh phúc đến cho bá tánh.
Thời
gian sau, đức vua Mi-lan-đà cho kiến tạo một ngôi chùa lấy
tên là Mi-lan-đà dâng cúng đến đại đức Na-tiên. Kể từ
đó, Chư Tăng mười phương vân tập về chùa này rất đông.
Và đức vua là người hết lòng phục vụ, hộ độ đến
Tăng-già rất đầy đủ.
Càng
ngày dường như giáo pháp cao thượng càng thấm sâu vào đời
sống, đức vua cảm thấy không còn thích thú đến vương
vị, phú quý hay quyền lực nữa. Ngài bèn truyền ngôi cho
hoàng tử để có thể có đủ thì giờ chiêm nghiệm giáo
pháp nhiệm mầu. Ngài thấy thật rõ rằng, thế gian quả là
thấp thỏi, hạ liệt, người ta hằng tìm cho mình những thú
vui ngũ dục tầm thường. Quả thật, thế gian này bị chi
phối bởi ba định luật vô thường, khổ và vô ngã; chẳng
có gì tồn tại chắc bền, chẳng có gì là thực, đáng gọi
là nên đam mê, thích thú. Ở đâu cũng thấy khổ, thấy mê
lầm, thấy tội, thấy dục, thấy lửa cháy... Ngài để tâm
tư quán xét mười một tầng của cõi dục giới, gồm bốn
ác đạo, người và sáu tầng trời dục giới. Rồi ngài lại
quán xét, tư duy mười sáu tầng trời phạm thiên hữu sắc,
luôn cả bốn tầng trời vô sắc; ngài cảm thấy rất rõ
ở trong tâm rằng, chẳng có nơi nào xứng đáng để cho kẻ
trí nương trú. Nơi này là dục thô thiển, phiền não thô
thiển. Nơi kia là dục vi tế, phiền não vi tế. Ở đâu cũng
vô thường, khổ não, vô ngã. Ở đâu cũng quanh quẩn lui tới
trong luân hồi sinh tử.
Cái
đô thành pháp bảo, cái vương quốc của giống dòng thượng
đẳng, tức là nơi hạnh phúc chân thật, mới xứng đáng
cho kẻ trí kiếm tìm. Thực hiện con đường ấy đòi hỏi
sự gian nan, kiên trì; và nhất là phải từ bỏ thế gian,
phải khoác phẩm mạo sa môn theo chân đại đức Na-tiên!
Nghĩ
là làm. Thế rồi, một đêm kia, không cho ai hay biết, đức
vua Mi-lan-đà lặng lẽ rời bỏ hoàng cung, đổi hoàng bào
lấy chiếc áo khoác của người khất sĩ, tìm đường xuất
gia, sau đó sống đời không nhà cửa của một sa môn chân
chính.
Vốn
đã trang bị cho mình một pháp học uyên thâm, vị sa môn này
không mấy khó khăn khi chuyển qua pháp hành. Nhờ sự tinh cần,
kiên trì tiến tu chỉ tịnh, quán minh; không bao lâu sau, ngài
đắc giải thóat bảo cái trắng làm cho tỏ ngộ Niết-bàn,
thành bậc A-la-hán vô sanh.
Nói
tóm lại, nhờ trí tuệ, đức vua Mi-lan-đa không ngớt tầm
cầu học hỏi, tra vấn, thao thức mà duyên may gặp được
đại đức Na-tiên. Nhờ gặp đại đức Na-tiên, một bậc
đại trí tuệ, mà trí tuệ của đức vua Mi-lan-đà đã được
phát huy, tăng trưởng. Và sau rốt, cũng nhờ trí tuệ ấy
mà đức vua Mi-lan-đà đã thành tựu được phần thưởng
tôn vinh, cao quý nhất của kiếp người - giải thóat khỏi
phiền não sinh tử - khó tìm, khó kiếm, nan hành, nan đắc.
Vì
lãnh hội được giá trị cao cả, ưu thắng của trí tuệ
ấy, các bậc A-xà-lê đã trước tác một kệ ngôn, tán dương
đức tính ưu việt của trí tuệ như sau:
"Thế
gian hằng tán dương, ca ngợi trí tuệ. Nhờ trí tuệ mới
thấu triệt được chánh pháp và trú vững trong chánh pháp.
Trí tuệ chấm dứt tất thảy mọi hoài nghi để nếm thưởng
được hương vị của pháp.Chánh niệm có mặt ở đâu thì
trí tuệ phát sanh ở đấy. Chánh niệm trú ở pháp nào thì
trí tuệ cũng trú ở pháp ấy. Người có trí tuệ xứng đáng
thọ nhận sự cung kính, cúng dường. Người có trí tuệ là
người phi thường, quý báu - trên thế gian không ai quý báu
hơn. Cúng dường trí tuệ, cung kính trí tuệ giống như cúng
dường và cung kính bảo tháp thờ các vị A-la-hán vậy."
Bộ
kinh Mi-lan-đà sở vấn, tức là bộ kinh ghi lại những câu
hỏi của đức vua Mi-lan-đà và những câu đáp của đại
đức Na-tiên được chấm dứt ngang đây.
-HẾT-
Kính
cáo
Thượng
tọa Chánh Niệm - trụ trì chùa Phật Bảo, số 57 đường
Lạc Long Quân, phường 10, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí
Minh - tìm trong di cảo của cố Hòa thượng Giới Nghiêm, thấy
Ngài đang làm lại trọn bộ kinh Mi-tiên Vấn đáp. Nghĩ đến
giá trị của bộ kinh và cũng muốn đáp đền ân đức của
Thầy Tổ, Thượng tọa Chánh Niệm đã không quản công lao
và thời gian, quyết tâm hoàn thành di chí của Ân sư.
Là
đệ tử của Ngài, tôi thật sự cảm kích trước việc làm
của Thượng tọa Chánh Niệm; nên không nệ tài hèn sức kém,
không ngại Phật sự đa đoan bộn bề, đã góp sức cùng Thượng
tọa hầu để hòan thành tác phẩm này.
Sau
hai năm làm việc, quyển kinh có nội dung như hiện nay, tương
đối dễ đọc, dễ hiểu đối với đại chúng, nhưng chúng
tôi thấy mình đã vấp phải những lỗi lầm sau đây:
-
Đã không còn theo sát nguyên văn bản dịch của Thầy Tổ.
-
Đã đi xa bổn kinh Pàli văn và cả bản tiếng Anh.
Vì
vậy, tất cả những lệch lạc, khiếm khuyết ở đâu đó
trong quyển kinh này, trách nhiệm thuộc về phần chúng tôi.
Chỉ có một điều được an ủi, mà chúng tôi biết, là nội
dung quyển kinh không sai lạc với giáo pháp uyên nguyên.
Chúng
Đệ tử chân thành sám hối với Ân sư. Kính cáo lỗi cùng
các bậc thức giả, trí giả và mong chư vị niệm tình hỷ
xả.
Trân
trọng,
Trụ
trì chùa Phật Bảo, Tp HCM
Tỳ
kheo Chánh Niệm Sammasati
(Nguyễn
Đình Pháp) Phong Trúc Am, Huế
Mùa
Phật Đản 2544
Tỳ
kheo Giới Đức Silaguno
Thi Điếu
Ân Sư Cố
Hòa Thượng Giới Nghiêm
Thế danh Nguyễn
Đình Trấn
(1921 - 1984)
Viên
tịch lúc 10g10 ngày 13 tháng 7 năm Giáp Tý
(9-8-1984
- P.L. 2528)
Tác
bạch Giác linh Ân sư!
Hỡi
ôi!
Khứ
lai giả mộng!
Sinh
tử thị thường!
Đau
đớn vậy mà xót xa đành vậy!
Khôn
cầm lệ, giọt phàm tình rưng chảy!
Nghĩa
Sư đồ đại hải ba xuân,
Giòng
nước xao, bóng núi vẫn còn,
Hài
mây dẫu, non cao ngời bóng trượng!
Ôi!
Đói
chút cơm thừa, y vụn,
Từ
Linh sơn nghĩa trọng,
Truyền
lưu áo bát mấy nghìn sau!
Ôi!
Khát
dòng sữa ngọt thanh lương,
Từ
kim khẩu Pháp vương,
Diệu
hóa ba thời vô lượng nghĩa!
Với
chí nguyện chơn truyền Tây Thổ,
Ngài
du phương liệt quốc tầm nguyên!
Tứ
cố vô thân,
Cõi
Pháp, con thuyền!
Lìa
thân thế, lìa gia hương,
Hoài
bão trái tim trang nguyệt rạng!
Đơn
thân độc bộ,
Trần
chân vạn lý!
Nào
hư vinh, nào huyễn mị,
Ngước
cao vầng trán đuốc tinh vân!
Thế
mà hỡi ôi!
Lạc
quốc cao đăng,
Báo
thân xả đoạn!
Dẫu
chốc thoáng, ba đời ân nặng,
Chưa
trăm năm, một cỗi tùng già!
Chốn
Thiền môn,
Tăng
lữ nguyệt sương pha,
Cõi
trần thế, môn đồ hoa cỏ dại!
Đã
từng khuyết chỗ ngồi cao đức!
Chừ
đành sao đáy nước trầm châu?
Tín
nữ, thiện nam lặng lẽ kinh cầu,
Bửu
quyến, môn sinh
bùi
ngùi tưởng niệm!
Nhớ
Giác linh xưa,
Yêu
quê hương như ruột thịt,
Xót
sinh chúng tợ xương da!
Tổ
quốc Bắc, Nam, bốn biển một nhà,
Phật
giáo dị, đồng,
hai
phương nhất thống!
Vì
bi tâm mà dõng mãnh,
Bởi
tuệ lực nên kiên cường!
Chí
xuất phàm nào phải óc tư lương,
Hạnh
đại sĩ làm sao người suy xét?
Bởi
thế cho nên,
Thân
hành, ngôn giáo,
Quyền
biến, cơ tùy!
Đạo
và Đời đâu nở mối phân ly?
Bỉ
và thử phải vẹn tình giai kết!
Tiểu
sử đã nên trang kiệt hiệt,
Thanh
danh vốn thành đức Chân Nhân!
Ngửa
mặt lên, nguyệt tỏ giang san,
Ngoảnh
đầu lại, trí soi tình lý!
Miền
giác ngạn, đâu hay hưng phế,
Cõi
mê đồ, càng rõ thịnh suy!
Ôi!
Giác linh ôi!
Sinh
phần là đâu? nhục thể là đâu?
Tứ
đại giai không; thể phách, tinh anh,
Sống,
thác: bạch vân nhất phiến!
Quán
quê vậy đó! thế thân vậy đó!
Ba
đời hư huyễn; nhân thần, linh tánh,
Ngộ,
mê: diệu tuệ sát na!
Sinh
tử hề! phi vân!
Khứ
lai hề! lưu thủy!
Áo
nhập thế, trăng vàng tịnh thổ,
Chân
ly trần, hoa trắng thanh sơn!
Hôm
nay,
Cử
niệm bi ai;
Đồng
văn khấp điếu!
Hồn
sông núi trọn tình kính mộ,
Lòng
trăng sao một dạ cảm thương!
Môn
đồ, đại chúng sầu vương,
Tăng
Ni, Tôn đức trầm hương chí thành!
Nhìn
di tượng, long lanh đáy mắt,
Trông
kim quan, ruột thắt đòi cơn!
Sinh
như hà, tử như thị,
Hồn
phách phiêu diêu chứng giám!
Ân
thùy tri, công thùy tri,
Thiên
địa mang mang lạc khoản!
Đê
đầu khấp điếu
Đại
chúng môn đồ!
Thành
kính dâng lên
Giác
linh Cố Hòa thượng
Ân
Sư Giới Nghiêm.
Ngưỡng
nguyện Giác linh Ngài
cao
đăng Phật quốc.
Đệ
tử,
Bhikkhu
Silaguno
(Tỳ
kheo Giới Đức)