NHỮNG CÂU
HỎI VỀ VÍ DỤ
- Thưa
đại đức! một vị tỳ khưu muốn chứng đắc A-la-hán, cần
phải thành tựu mấy điều kiện?
- Nhiều
lắm, tâu đại vương. Muốn tỏ ngộ Niết bàn, vị tỳ khưu
ấy phải cần bắt chước:
Những
tập tính của con lừa,
Những
tập tính của con gà,
Những
tập tính của con sóc,
Tập
tính của cọp cái,
Tập
tính của cọp đực,
Tập
tính của con rùa,
Như
cây kèn,
Như
cây súng,
Như
con quạ,
Như
con khỉ v.v...
* *
*
178.
Về con lừa
- Ý
nói tập tính như con lừa, là thế nào hả đại đức?
- Tâu,
nghĩa là vị tỳ khưu phải tập theo, phải sống theo một
điểm, một điều, một chi đặc biệt của con lừa. Con lừa
không bao giờ kén chọn chỗ nằm. Nó có thể nằm nơi đống
rác, nơi ngã tư đường, nơi pháp trường, nơi cửa nhà hoặc
nơi đống trấu, hay bất kỳ đâu cũng được cả. Nhưng lừa
thường không nằm lâu quá, nằm nhiều quá, nó đứng dậy
rồi đi sang chỗ khác. Vị tỳ khưu sống đời tri túc, không
dính mắc chỗ ở, đừng quan trọng hóa cái thân, không ở
lâu một nơi, ngủ nghỉ chút ít cũng y như thế. Nằm trên
lớp cỏ, nằm trên cây trải ra, trên giường ghế hoặc trên
đống lá... Nghĩa là ở đâu cũng được, ở đâu cũng vô
ngại. Điều quan trọng là đừng ngủ nghỉ quá lâu, quá nhiều,
thường thức tỉnh để đi kinh hành, thiền tọa hoặc dời
sang trú xứ khác.
Đức
Phật có dạy rằng: "Nay các thầy! Các thầy hãy coi thân này
như khúc cây, như khúc củi, để ở đâu cũng đặng, đặt
ở đâu cũng được, nằm ở đâu cũng xong; nhưng các thầy
phải cố gắng tu tập chỉ tịnh, quán minh. Ấy mới thật
là chỗ nằm, chỗ nghỉ của các thầy đấy".
Đức
Pháp chủ Xá-lợi-phất cũng dạy, là các vị tỳ khưu ở
đâu cũng phải tọa thiền, phải biết xa lìa niềm vui hời
hợt, phù phiếm; phải biết quên cái thân đi vì hạnh phúc
tối thượng là Niết bàn.
Tâu
đại vương! Một điểm, một điều, một chi của con lừa
là như thế ấy!
- Thưa,
vâng.
* *
*
179.
Về con gà
- Thế
như con gà là sao ạ?
- Con
gà có những năm điểm, năm điều, năm chi đặc biệt, tâu
đại vương.
- Xin
cho nghe
- Vâng,
đại vương hãy nghe đây:
Suốt
đêm gà luôn luôn tỉnh thức, chỉ một tiếng động nhẹ
là nó biết ngay. Trời còn mờ mờ sáng, gà không bước ra
khỏi chuồng. Một vị tỳ khưu cũng cần phải tỉnh thức
như thế. Trời còn sớm không nên ôm bát khất thực ra khỏi
chùa, phải lo các công việc quét liêu thất, vườn, chùa,
bảo tháp v.v... Rồi còn làm vệ sinh, múc nước đầy chỗ
này chỗ kia, tìm đảnh lễ thầy tổ hoặc các vị tỳ khưu
cao hạ...
Điểm
thứ hai của gà là trời sáng rõ đường mới xuống chuồng
đi kiếm ăn, nó lang thang từ chỗ này sang chỗ khác. Một
vị tỳ khưu cũng nên như thế, sau công việc ở chùa xong
mới đi trì bình khất thực; cũng lang thang từ nhà này sang
nhà nọ, từ con đường này sang con đường khác. Gà tuy kiếm
miếng ăn nhưng luôn luôn đề phòng kẻ thù tấn công như
chồn, cáo, diều hâu v.v.. Vị tỳ khưu cũng y như vậy, dầu
khất thực xin ăn nhưng cũng phải cảnh giác đề phòng tâm
hươu ý vượn, phải thu thúc thân khẩu ý v.v...
Điểm
thứ ba, khi ăn vật thực, gà rất chăm chú, rất cảnh giác.
Nó lấy chân khều vật thực, bươi vật thực ra rồi mới
ăn; ngon cũng ăn, dở cũng ăn, nhưng chỗ này một chút, chỗ
kia một chút. Vị tỳ khưu cũng như thế nào có khác gì? Khi
ăn cũng phải chánh niệm, tỉnh giác. Ngon cũng ăn mà dở cũng
ăn. Vật thực kiếm được chỗ này một ít, chỗ kia một
ít. Khi ăn cũng phải "khều" phải "bươi" vật thực ra mà
quán tưởng: "vật thực này có gì đâu, nó là đất, nước,
lửa, gió đấy thôi; thích thú mà làm gì, thỏa mãn mà làm
gì! Ta ăn là để duy trì sức khỏe và sự sống mà tu hành;
chẳng nên ăn để trang điểm cái thân, dưỡng cái thân cho
mập mạp; chẳng nên ăn để mà chơi, để nô đùa, lêu lỗng...
Ăn để giảm trừ thọ khổ do đói gây nên, để khỏi ảnh
hưởng đến việc tu tập..." Đức Phật còn dạy các vị
tỳ khưu, ăn chỉ là chuyện bất đắc dĩ: "Này các thầy!
Các thầy còn phải quán tưởng sự ăn, như là ăn thịt con
mình trên lộ trình qua sa mạc, chẳng sung sướng, khoái khẩu
gì đâu. Rơi nước mắt xót thương cho chúng sanh là khác.
Miếng ăn cũng tương tự như tra dầu và mở vào trục xe,
giúp cho chiếc xe có trớn mà lên đường. Cũng vậy, các thầy
chỉ nên coi sự ăn là tra dầu và mở cho chiếc xe trên lộ
trình vượt qua sinh tử mà thôi!"
Điểm
thứ tư, ban đêm gà mắt mờ nhưng ban ngày mắt gà rất sáng,
rất tỏ tường cả cây kim, sợi chỉ. Chạng vạng tối, khi
gà lên chuồng là mắt mờ hẳn, dường như đui hẳn. Các
vị tỳ khưu cũng nên mượn con mắt sáng của gà trong ban
ngày, mượn con mắt đui của gà ban đêm. Khi trì bình khất
thực trong xóm làng, vào thành phố... tâm các thầy rất tỉnh
thức, mắt các thầy rất sáng nhưng cũng phải làm như đui,
không thấy, không biết gì hết. Khi giao tiếp với ngũ trần:
sắc tướng, âm thanh, khí, vị v.v... các vị tỳ khưu giả
đui, giả điếc, giả câm v.v...
Thật
đúng như Đức Đại Ca-chiên-diên (Màhà Kaccàyana) đã dạy:
"Hành giả tu tập, có con mắt sáng cũng làm như mờ, có lỗ
tai tốt cũng làm như điếc, có miệng lưỡi thiện thuyết
cũng làm như câm; có sức mạnh, dũng cảm cũng nên làm như
kẻ yếu đuối ; có sự việc gì xẩy ra thì thân tâm đều
nằm ngủ yên lặng, như mẹ ru con ngủ vậy."
Điểm
cuối cùng. Dù ai lấy cây, lấy gậy xua đuổi gà đừng cho
ngủ trong cái chuồng của nó, nó vẫn không đi, không bao giờ
muốn bỏ cái chuồng cũ. Bám chặt, dính chặt vào chuồng
cũ là một tập quán tính khác của gà. Một vị tỳ khưu
khi làm bất cứ một công việc gì cũng phải bám chặt, kết
dính, chú tâm vào công việc ấy. Khi đang mang y, bát hoặc
sửa sang tu viện, tự viện, học Pàli, học chú giải... cũng
phải nhất tâm bám chặt vào đấy, dù cho các ý niệm nổi
trôi, dù cho những sự quyến rủ bên ngoài muốn xua đuổi
rời khỏi công việc, cũng không đi!
Đúng
như Đức Phật đã dạy: "Nầy các thầy! Bất cứ cái gì
là "lộ hành", là chỗ ở, là cảnh giới của thầy tỳ khưu;
"lộ hành" ấy, chỗ ở ấy, cảnh giới ấy, tức tứ niệm
xứ - dù ai đuổi, ai xua, ai quăng cục đất, cục đá; các
thầy cũng cương quyết không bỏ đi, kiên định bám vào chỗ
trú xứ của mình."
Đức
pháp chủ thượng thủ cũng có dạy: "Con gà hằng biết rõ
vật đáng ăn và vật không đáng ăn; dù hoàn cảnh nào cũng
không bỏ cái chuồng cũ của mình. Phàm những người con của
đức Xuất thế-sư cũng phải làm được như thế. Phải tuân
thủ theo lời giáo huấn của Đức Thế Tôn để biết việc
này đáng làm, việc kia không đáng làm. Phải khởi tâm, phải
chú ý, phải bám chặt chỗ trú xứ cũ của mình, ấy là Tứ
niệm xứ vậy."
Đức
vua Mi-lan-đà tán thán:
- Thật
tuyệt vời thay là con gà này cùng với năm đức tính của
nó. Tập tính mà biến thành phẩm chất cao quý thì chỉ có
ở nơi những bậc thầy thông tuệ mà thôi!
* *
*
180.
Về con sóc
- Con
sóc thì chỉ có một điểm, một điều, một chi cần phải
học hỏi thôi, tâu đại vương!
- Phải
cái đuôi của nó không?
- Hay
lắm! Đại vương thật tinh mắt. Cái đuôi của sóc thật
đặc biệt. Khi thấy kẻ thù, kẻ nghịch, kẻ lạ đến...
sóc thường phồng cái đuôi của mình lên để hăm dọa hoặc
chống cự lại! Cũng tương tự thế, các vị tỳ khưu khi
gặp ngoại trần hung dữ, cường liệt, rất mạnh - cũng phồng
cái đuôi Tứ niệm xứ của mình cho to lên để chiến đấu
chống chọi lại.
Đúng
như lời dạy của đại đức Cullapanthaka. "Khi nào phiền não
là kẻ thù xâm lăng, loại trừ, họa hại các sa môn quả,
đến gần, chư tỳ khưu phải dùng Tứ niệm xứ mà đương
cự lại."
* *
*
181.
Về con cọp cái
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Bây
giờ đến lượt con cọp cái nhé, đại vương?
- Cọp
cái này cũng chỉ có một điểm cần phải nghiên cứu thôi,
phải không đại đức?
- Vâng!
Con cọp cái thường chỉ mang thai một lần, không mang thai
lần thứ hai! Vị tỳ khưu hành sa môn quả cũng tương tự
thế, nghĩa là không còn muốn vào một thai bào nào nữa, không
còn muốn tái sinh vào cõi luân hồi thống khổ một lần khác
nữa; phải chấm dứt tái sanh, cấu sanh. Đúng như Phật ngôn
mà Đức Đạo sư đã thuyết: "Bò chúa Usabha đã vùng đứt
dây thừng buộc cổ để trốn thoát, không bao giờ nó qua
lại chỗ ấy nữa. Cũng vậy, các ngươi đã cố gắng đoạn
lìa dây buộc phiền não rồi thì đừng nên trở lại cõi
luân hồi tái sanh thống khổ làm gì!"
* *
*
182.
Về con cọp đực
-Tâu
đại vương! Con cọp đực thì có hai tập tính!
- Vâng,
xin đại đức giảng cho nghe!
- Thứ
nhất, cọp đực thường tìm chỗ nương trú nơi động thẳm,
hang sâu, chỗ núi rừng, suối khe thanh vắng! Cũng vậy, bậc
hành giả sống đời khổ hạnh, khước từ, cũng phải biết
tìm chỗ vắng lặng, xa chỗ loài người, như núi rừng, tha
ma mộ địa, sơn động, cốc đạo... để tu tập, bổ túc
công hạnh cho mình. Đúng như các vị kết tập kinh điển
có dạy rằng: "Loài cọp đực thường ở chỗ kín đáo, kiếm
vật thực sinh sống ở chỗ vắng lặng; cũng vậy, chư Phật
tử phải biết xa phố chợ ồn ào, xa chỗ thị phi huyên náo,
tìm chỗ thanh tịnh để siêng tu thiền định và minh sát tuệ".
Thứ
hai, loài cọp đực có một tính kỳ lạ, là khi chụp mồi,
nếu con thú ngã xuống bên trái hay bị sứt tai trái - thì
nó bỏ đi, không thèm xơi! Cũng tương tự thế, các vị sa
môn yêu mến chánh pháp, mong được đạo quả vô thượng
- không bao giờ thọ dụng tứ sự được phát sanh trái lẽ,
không chính đáng, phát sanh do tà mạng và tà hạnh! Nếu cái
gì có được do trái pháp, trái đạo - các vị sa môn cũng
bỏ đi, không thèm thọ dụng! Đúng như đấng đệ nhất trưởng
tử của Đức Thế Tôn đã thuyết: "Tôi biết tôi dùng loại
cơm sữa kia là tôi sẽ lành bệnh, nhưng tôi không thể dùng,
tại sao? Vì cơm sữa ấy được phát sanh do khẩu cử động
có tội, tức thuộc tà mạng! Tôi thà chịu chấp nhận đứt
ruột hoặc lòi ruột ra ngoài, chấp nhận hy sinh thân mạng
- chứ không thể làm cho hư hỏng chánh mạng để các bậc
trí giả chê trách!"
Đại
đức Upasena cũng nói tương tự thế: "Tôi thà bể ruột mà
chết, chứ không thể kiếm ăn thấp thỏi, trái lẽ, tà mạng
làm cho chánh mạng bị hủy hoại!"
* *
*
183.
Về con rùa nước
- Thưa
đại đức! Về con rùa nước thì có bao nhiều điều cần
phải học hỏi?
- Học
hỏi rùa thì có năm điều, tâu đại vương.
Thứ
nhất: Thế giới của rùa ở trong nước, là nơi mát mẻ.
Bậc hành giả cũng thế, nên ở trong cõi từ bi trú, là cõi
mát mẻ an lành; và nên rải tâm từ ấy đến cho tất cả
chúng sanh, không được thù hại ai, không gây oan trái, oán
độc với ai.
Thứ
hai: Rùa ở trong nước, chìm trong nước, thỉnh thoảng ló
đầu lên khỏi mặt nước; nếu thấy có gì nguy hiểm thì
rùa cảnh giác, lặn xuống ngay. Vị tỳ khưu tu tập cũng hằng
như thế, khi thấy phiền não đến thì phải tức khắc lặn
vào trong thiền cảnh của mình.
Thứ
ba: Khi rùa lên khỏi mặt nước, nếu thấy không có người
hoặc thú thì rùa nằm phơi mình trên bãi một cách an toàn.
Tương tự thế, vị tỳ khưu tu tập chánh niệm chỗ yên tịnh,
thanh vắng; khi cảm thấy an toàn không sợ ngoại trần quấy
nhiễu, có thể đem tâm ra khỏi các oai nghi, nghỉ ngơi chút
ít nhưng mà cũng phải thường trực tỉnh giác.
Thứ
tư: Rùa thường đào lỗ trong bùn, trong đất, hoặc trong các
kẹt đá để ở; là vì chỗ ấy không có ai quấy nhiễu,
xâm hại. Bậc sa môn hành Tứ niệm xứ cũng y như thế, phải
trốn khỏi lợi lộc, tiếng khen của thế gian... vào ẩn trong
hang sâu, động vắng thì khỏi sợ nguy hiểm. Đúng như đại
đức Upasena đã thuyết: "Bậc xuất gia phạm hạnh phải biết
xa lìa nơi ồn ào, huyên náo... tìm chỗ ẩn cư miền cô quạnh
như hoang thú giữa rừng sâu."
Điều
thứ năm: Phàm khi thấy người, thú hoặc cái gì có vẻ nguy
hiểm, rùa thường thu gọn đầu và bốn chân vào trong chiếc
vỏ bọc của mình, nằm yên lặng như thế để tự bảo vệ
sự an toàn. Hành giả tu tập chỉ tịnh và quán minh cũng nên
bắt chước như rùa. Lúc nào thấy lục trần (sắc, thanh,
hương, vị, xúc pháp) - có vẻ nguy hại, liền thu rút lục
căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) vào trong đề mục thiền
định hoặc thiền quán để bảo vệ cho sa môn hạnh của
mình. Đúng như lời Đức Phật dạy: "Tỳ khưu là bậc tiến
tu thoát khổ, nếu có khởi tâm thì đừng nên để cho dục
tư duy, sân tư duy, hại tư duy xâm chiếm; đừng nên để rơi
vào cái bẩy tà kiến, khinh bỉ hoặc châm biếm kẻ khác.
Không như vậy thì hoàn toàn thu rút lục căn, như con rùa nằm
trốn cái đầu và bốn chân trong chiếc mu của nó."
Đại
vương đã hoàn toàn lãnh hội năm điều ấy về con rùa rồi
chứ?
- Vâng
ạ!
* *
*
184.
Về cái kèn
Đức
vua Mi-lan-đà hỏi:
- Một
chi của cây kèn là thế nào hở đại đức?
- Tâu,
cái kèn sở dĩ được phát ra thành tiếng, thành âm thanh trầm
bỗng là tùy thuộc vào hơi gió của người thổi. Nói cách
khác, cái kèn không thể tách rời hơi gió thổi, hơi gió thổi
không thể tách rời cái kèn. Phàm sa môn tu hành giải thoát
cũng y như thế, hạnh sa môn phải được dính chặt, không
được buông lơi pháp hành. Nói cách khác, vị tỳ khưu là
pháp hành, pháp hành là vị tỳ khưu. Cái kèn không thể rời
hơi gió, rời hơi gió thì cái kèn không có âm thanh. Sa môn
hạnh mà rời pháp hành thì không thể gọi là sa môn. Đúng
như đại đức Ràhula đã thuyết: "Là tỳ khưu trong hàng ngũ
sa môn, phải lấy pháp hành làm y chỉ, cả ngày lẫn đêm
đừng rời khỏi pháp hành, phải tinh tấn để tăng trưởng
và hoàn thiện pháp hành của mình."
* *
*
185.
Về cây súng
- Cái
kèn thì trẫm hiểu rồi, nhưng còn một chi của cây súng là
sao?
- Tâu,
cây súng tùy thuộc nòng súng, nòng súng phải thông suốt từ
đầu này đến đầu kia, cây súng mới sử dụng được. Cũng
vậy, vị tỳ khưu trong giáo hội của Đức Tôn sư phải biết
thích ứng, tôn trọng phẩm vị, thứ tự hạ lạp từ dưới
lên trên, từ thấp lên cao y như thế. Nòng súng thông suốt,
không bị vướng mắc, trở ngại, đạn mới được ra khỏi
nòng. Thứ tự hạ lạp thông thuận từ dưới lên trên, không
có lộn xộn, vướng mắc, mới đem đến hữu ích cho chính
mình và đại dụng cho cuộc đời. Đúng như Đức Thế Tôn
đã thuyết trong kinh Vidhurapunnaka Jàtaka: "Các sa môn Thích tử
thuộc giống giòng trí thức, phạm hạnh... thật không nên
có hành động sai trái, tà vạy; phải biết tôn trọng, cung
kính thứ tự hạ lạp, phải biết thông thuận, ngay thẳng
như nòng súng của cây súng vậy."
* *
*
186.
Về con quạ
- Tâu
đại vương! Về con quạ thì chúng ta có hai điều cần phải
lấy đó để làm gương!
- Vâng,
xin đại đức cho nghe.
- Con
quạ có hai tập tính sau đây:
Thứ
nhất là khi đậu một chỗ nào, con quạ thường đưa mắt
lấm lét, đảo qua đảo lại đầy vẻ nghi ngờ, sợ sệt
tất cả mọi thứ xung quanh. Nó luôn luôn đề phòng, giữ
mình trước bất kỳ hoàn cảnh nào. Một vị tỳ khưu cũng
cần phải làm như thế, phải luôn luôn phòng hộ giữ mình,
hằng có chánh niệm, thu thúc lục căn trong mọi oai nghi, trước
các đối tượng ngoại trần luôn đầy những bất trắc có
thể tác hại đến phẩm hạnh sa môn.
Thứ
hai, khi quạ được một món ăn gì, dù là tử thi, dù là vật
thực dư thừa, dù là bắp đậu... quạ thường kêu gọi đồng
loại đến để cùng ăn. Một vì tỳ khưu sống trong giáo
hội bình đẳng, đầy tình nghĩa đệ huynh của Đức Tôn
Sư cũng phải nên bắt chước như quạ. Khi được thọ dụng
tứ sự, lợi lộc, nhất là vật thực, dù là một bình bát
hay nửa bình bát - cũng nên chia sớt vật thực ấy đến các
vị đồng phạm hạnh thiếu thốn hơn mình. Đúng như đức
pháp chủ Xá-lợi-phất đã từng thuyết: "Nếu có nam nữ
thí chủ nào có lòng tin mà dâng cúng vật thực đến Xá-lợi-phất
tôi; vì tôi là người sống hạnh khước từ, xả ly để
tiêu hủy phiền não - nên tôi sẽ chia sớt phần vật thực
ấy đến cho tất cả bằng hữu phạm hạnh đều nhau cả.
Và tôi sẽ là người thọ dụng sau cùng."
* *
*
187.
Về con khỉ
- Bây
giờ chúng ta học về con khỉ, tâu đại vương!
- Con
khỉ thì tốt đẹp gì mà học! Suốt ngày cứ chạy nhảy
leo trèo từ cây này sang cây khác, từ cành này sang cành khác
- giống như tâm ý lăng xăng của chúng sanh vậy, có hay hướm
gì!
Đại
đức Na-tiên gật đầu:
- Vâng,
điều ấy thì chúng ta không học. Ta sẽ học ở hai điểm
khác.
Một,
là nó hằng lựa tìm những cội cây rất to, có rất nhiều
cành nhánh vững chắc và xanh tốt, sum suê để làm chỗ ở.
Các vị tỳ khưu cũng hằng nên như thế, phải lựa tìm những
bậc phạm hạnh có đạo cao đức cả - như là gốc đại
thụ vậy - để nhờ nương, làm chỗ ở cho mình. Bậc phạm
hạnh có cành nhánh vững chắc và tàng lá sum suê xanh tốt,
ấy là đầy đủ: giới đức, có tàm quý, nhiều pháp lành,
đa văn, là người giữ gìn pháp, nâng đỡ pháp; có ngôn ngữ
từ ái, tự mình tinh tấn và dìu dắt mọi người tinh tấn
đi theo con đường phạm hạnh.
Hai,
khỉ thường tìm về chỗ ngụ của mình vào lúc hoàng hôn
rồi nghỉ qua đêm ở đấy. Các vị tỳ khưu trong hàng ngũ
sa môn cũng phải nên làm như thế. Nghĩa là một ngày, lúc
hoàng hôn xuống cũng phải biết trở về trú xứ vắng lặng
của mình như rừng, nghĩa địa v.v... để nghỉ qua đêm. Khỉ
không bao giờ rời bỏ cây ấy lúc ban đêm - thì vị tỳ khưu
cũng không bao giờ rời bỏ pháp tu Tứ niệm xứ của mình.
Suốt đêm, dù đi, đứng, ngồi, nằm cũng hằng phải chánh
niệm, tỉnh giác. Đúng như đại trưởng tử của Đức Thế
Tôn đã thuyết: "Vị tỳ khưu nên hoan hỷ, mến thích khu rừng
và cội cây của mình. Lúc tọa thiền, lúc đi kinh hành hoặc
ngủ nghỉ đều không được rời bỏ pháp hành."
Đức
vua Mi-lan-đà tán thán:
- Những
ví dụ ấy rất hay, rất dễ nhớ, thế đại đức có còn
những ví dụ như thế nữa chăng?
- Tâu,
những ví dụ ấy chẳng phải của bần tăng, mà do Đức Thế
Tôn hoặc các vị Thánh A-la-hán nói ra, bàng bạc trong kinh
điển. Còn bần tăng chỉ là người nói lại.
- Vậy
thì cho trẫm được nghe tiếp.
- Vâng,
ngoài những ví dụ trên, phạm hạnh của sa môn còn phải
được ví như:
Giây
bầu leo;
Hoa
sen;
Hạt
giống;
Cây
sàla xanh tốt;
Thuyền
bè;
Ghe
mắc đá ngầm;
Cột
buồm;
Người
cầm lái thuyền;
Người
làm công;
Biển
lớn.
* *
*
188.
Về dây bầu leo
- Xin
đại đức giải về dây bầu leo?
- Vâng,
giây bầu leo có một điểm rất đặc biệt, là ban đầu nó
bò trên đất, trên cỏ, cái vòi của nó lần tìm những cành
nè, những cành cây khô để leo lên. Sau khi bò lên cao hoặc
trên chót đọt của cây; thì cành, nhánh lá của nó mới tỏa
ra, xanh tốt rồi đơm hoa kết trái. Phàm người tu phạm hạnh
cũng như thế, ban đầu, tu tập những pháp nhỏ, pháp thấp...
rồi lần hồi, biết vươn lên cao, đến chót đỉnh để tỏa
cành nhánh xanh tốt, đơm hoa rồi kết A-la-hán quả. Đúng
như tôn giả Xá-lợi-phất có dạy: "Dây bầu leo thường dùng
cái vòi bắt dính những cành nhánh khô rồi bò lên cao, xanh
tươi tốt đẹp; vị tỳ khưu mong được quả A-la-hán cũng
phải biết vin vào những pháp tu tập ban đầu, nắm bắt từng
thành quả từ thấp lên cao để tiến triển đến quả vị
của bậc Vô học."
* *
*
189.
Về hoa sen
- Về
hoa sen thì - đại đức Na-tiên nói - có ba đức tính: từ
trong bùn sinh trưởng, lớn lên mà không hôi mùi bùn; lên khỏi
nước mới nở hoa, và khi gió thổi thì lay động nhẹ!
Đức
vua Mi-lan-đà hỏi:
- Vậy
gì là bùn, thưa đại đức?
- Bùn
hàm chỉ tất cả những gì thuộc về thế gian. Ví dụ như
gia đình, chủng tộc, dòng họ, giai cấp, danh vọng, lợi lộc,
tứ sự cúng dường hoặc tất cả những gì, tất cả những
pháp dễ phát sanh đắm lụy, cấu uế như sắc đẹp, âm thanh
quyến rũ, hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái v.v...
- Có
nghĩa là từ thế giới ấy lớn lên, từ thế gian trần lụy
ấy mà sống đạo, nhưng không nên để cho cấu uế vẩn đục,
lấm nhơ phạm hạnh...
- Vâng,
đúng như thế! Đôi khi có những vị tỳ khưu xuất thân trong
giai cấp, dòng họ... nào đó, sau khi xuất gia phạm hạnh rồi
cũng không bước ra khỏi được giai cấp và dòng họ của
mình, vẫn mang bản ngã giai cấp, dòng họ ấy. Và bị quyến
niệm, hệ lụy bởi giai cấp, dòng họ của mình, tâu đại
vương!
- Vâng,
trẫm hiểu rồi, còn đức tính thứ hai?
- Sau
khi nở hoa trên mặt nước, không bao giờ hoa sen rơi trở vào
nước, chìm lại trong nước. Cũng y như thế, vị tỳ khưu
đã sống đời phạm hạnh không nên rơi trở vào cuộc đời,
bị những ưu sầu, sợ hãi từ cuộc đời làm chìm đắm,
chi phối nữa.
- Vâng,
trẫm hiểu rồi.
- Điều
thứ ba, khi có gió thổi, những hoa sen lay động nhẹ. Có nghĩa
là bậc hành giả, khi bị các phiền não thế gian, tám ngọn
gió thế gian lay động phải biết ngay, tỉnh thức ngay. Nói
cách khác, phải biết sợ hãi chút ít đối với các pháp
trần làm cho lay động tâm, đúng như Đức Chánh đẳng giác
đã thuyết: "Các thầy tỳ khưu nên thọ trì điều học, dù
có giới phạm, tội lỗi chút ít cũng phải biết sợ hãi
nhiều."
Đấy
là tất cả ba đức tính của hoa sen, tâu đại vương!
* *
*
190.
Về hạt giống
- Về
hạt giống thì có hai điều cần phải học hỏi, tâu đại
vương!
- Trẫm
đang nghe đây.
- Vâng.
Thứ nhất, hạt giống thường nhỏ, ít mà thâu hái kết quả
bao giờ cũng lớn, nhiều. Tương tự vậy, một vị tỳ khưu
khi thọ trì những điều học, đừng coi thường những nhân
phạm tội, dù rất nhỏ, ít; vì kết quả của nó sẽ rất
lớn, có thể tác hại phạm hạnh trọn đời của vị sa môn.
Và cũng chính nhờ ngăn giữ những điều học nhỏ và ít
ấy - mà kết quả sẽ thành tựu viên mãn sa môn hạnh rất
cao thượng, rất cao quý sau này.
Thứ
hai, hạt giống ấy nếu được gieo xuống một thửa ruộng
được chuẩn bị tốt về nhiều mặt, như: cày bừa kỹ,
nước và phân đầy đủ; thì hạt giống ấy sẽ sanh trưởng
rất mau lẹ, xanh tốt, đơm hoa kết quả viên mãn. Tương tự
thế, thửa ruộng chính là tâm của vị tỳ khưu, phải được
chuẩn bị tốt về nhiều mặt: có đức tin trong sạch, vắng
lặng, ở nơi chỗ yên tĩnh thì hạt giống Tứ niệm xứ sẽ
dễ dàng phát triển xanh tốt, đơm hoa kết quả Thánh đạo.
Đúng như đại đức Anuruddha (A-nậu-đà-la) đã thuyết: "Gieo
hạt giống xuống đám ruộng tốt, phân nước đầy đủ,
kết quả thu hái sẽ làm vừa ý người chủ ruộng. Cũng như
vậy, gieo hạt giống Tứ niệm xứ vào tâm của một hành
giả có trạng thái tâm tốt: trong sạch, thanh tịnh, ở nơi
vắng lặng - thì đạo quả Thánh nhân sẽ phát triển rất
mau lẹ, sẽ đơm hoa kết quả như ý nguyện!
* *
*
191.
Cây Sàla xanh tốt
- Một
chi của cây sàla xanh tốt là thế nào hở đại đức?
- Tâu,
vì ngài Ràhula có thuyết với đại ý rằng: "Sở dĩ có cây
Sàla phát triển sung mãn, xanh tốt, thân cây chọc thủng lên
trời cao một trăm hắt tay, xòe táng rộng vững chãi, cành
nhánh to mạnh, lá xanh tốt tươi - là vì rễ nó đâm sâu trong
lòng đất, rễ vươn dài trong đất đến một trăm hắt tay!
Bậc hành giả tu tập cũng vậy, muốn đạt được thành quả
cao siêu thì cũng phải đâm sâu vào lòng đất, vươn dài trong
lòng đất. Đất ấy chính là ở nơi chỗ thanh vắng, có đức
tin, nội tâm trong sạch và an tĩnh vậy."
- Thưa,
trẫm đã hiểu.
* *
*
192.
Về chiếc thuyền
Đại
đức Na-tiên nói:
- Về
chiếc thuyền thì có ba điều, tâu đại vương.
- Vâng,
cho trẫm nghe.
- Điều
thứ nhất, một chiếc thuyền được gọi là tốt, có thể
vượt được biển khơi - thì chiếc thuyền ấy phải được
đóng bằng loại gỗ tốt, chắc bền, sắt thép tốt, nhựa
tốt... nói chung là mọi vật liệu phụ tùng đều phải hoàn
bị. Có được chiếc thuyền như thế mới đưa được người,
vật đến nơi an toàn. Một vị tỳ khưu cũng y như thế, chuẩn
bị tốt cho mình về hạnh kiểm, giới đức, pháp học, pháp
hành, trí tuệ... mới có khả năng tự cứu độ mình, đưa
chúng sanh, người, trời vượt thoát khỏi đại dương sinh
tử.
- Điều
thứ hai, chiếc thuyền ra khơi dĩ nhiên là phải sẵn sàng
chịu đựng mọi phong ba bão táp, phải đương đầu các bãi
đá ngầm, dòng nước xoáy v.v... Tương tự thế, vị tỳ khưu
cũng phải sẵn sàng chịu đựng mọi sóng gió phiền não,
những cạm bẫy, những hệ lụy phát sanh từ lợi lộc, danh
vọng, lời khen, sự cung kính, lễ bái, tứ sự cúng dường
v.v...
Điều
thứ ba, ra khơi, chắc hẳn thuyền phải đi qua những vực
nước sâu đầy những cá sấu, thuồng luồng, cá mập hung
dữ như thế nào cũng không nên sợ hãi, không thể sợ hãi.
Cũng vậy, vị tỳ khưu nắm chắc Tứ diệu đế, thấy rõ
Tứ diệu đế - đồng thời phải thấy rõ, biết rõ ba luân,
mười hai chuyển [*], đồng thời phải huân tập ba la mật
khả dĩ vượt qua tất cả các hành (sankhàra) mà không sợ
hãi, không thể sợ hãi.
Đấy
là tất cả ba chi về chiếc thuyền, tâu đại vương!
- Cảm
ơn đại đức.
[*]
Có thể gọi là ba sắc thái và mười hai phương thức:
Tuệ
tri: Khổ: Đấy là khổ, phải được thấy, đã thấy.
Tuệ
diệt: Tập: Đây là nguyên nhân khổ, phải được tận diệt,
đã tận diệt.
Tuệ
chứng: Diệt: Đây là diệt khổ, phải được chứng ngộ,
đã chứng ngộ.
Tuệ
hành: Đạo: Đây là Đạo diệt khổ, phải được thực hành,
đã thực hành tốt.
* *
*
193.
Về ghe thuyền dính đá ngầm
- Xin
đại đức cho nghe về trường hợp ghe thuyền dính đá ngầm?
- Thế
nếu thuyền dính đá ngầm thì tình trạng nó ra sao hở đại
vương?
- Thưa,
ghe, thuyền mà dính đá ngầm rồi thì không tới, không lui
được.
- Tâu,
vâng. Khi tâm của một hành giả đã diệt thảy tất cả mọi
tà tư duy, đã làm cho yên lặng luyến ái, sân hận, đã phá
vỡ si mê rồi - thì tâm ấy sẽ trạm nhiên, bất động, thanh
tịnh; sẽ ở yên một chỗ, chẳng còn xao động, chẳng còn
lăng xăng đi chỗ này, chỗ nọ, chỗ kia, chỗ khác nữa!
- Vâng,
vâng! còn điểm nào nữa không hở đại đức?
- Tâu,
còn điểm hai nữa. Là khi thuyền dính đá ngầm rồi, hẳn
là thuyền phải chìm xuống. Cũng thế, một hành giả khi tâm
đã trạm nhiên, thanh tịnh, bất động rồi, sẽ từ từ chìm
lắng vào trong pháp. Khi tâm đã chìm lắng trong pháp, vững
chắc trong pháp, thì không gì có thể lay động được nữa.
Đúng như ngài Xá-lợi-phất đã thuyết: "Thuyền khi chìm trong
biển thì không có gì lay động được. Một vị tỳ khưu
tâm đã chìm vào trong pháp rồi, những lợi lộc, danh vọng,
khen tặng... chẳng thể làm cho giao động được."
* *
*
194.
Về cột buồm
- Còn
về cây trụ buồm, thưa đại đức? Nó liên hệ gì với sa
môn hạnh?
- Tâu,
cây trụ buồm sở dĩ nâng được lá buồm to nặng, là do
bản thân nó kiên cố, vững chắc; đồng thời có sự liên
kết đồng bộ bởi dây neo chắc bền, các trụ phụ, dây
ròng rọc để kéo v.v... Tương tự thế, một vị tỳ khưu
sở dĩ nâng đỡ được pháp hành cao thượng, thành tựu sa
môn hạnh thiêng liêng, là do tâm và tuệ của vị tỳ khưu
ấy vững chắc, đồng thời nhờ sự hỗ trợ thường trực
của chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm, tỉnh giác khi đi
tới, đi lui, lúc ngồi nằm, đắp y vai trái, tăng già lê,
lúc ôm bát khất thực, lúc uống nước, ăn cơm, lúc đại
tiện, tiểu tiện, khi đang nói, lúc im lặng v.v... Đúng như
Đức Thiện Thệ đã thuyết: "Này các thầy tỳ khưu! Các
thầy phải thường trực chánh niệm, tỉnh giác; hãy bổ túc
sa môn hạnh bằng chánh niệm, tỉnh giác. Chánh niệm, tỉnh
giác chính là giáo huấn tinh tủy của giáo pháp Như Lai."
* *
*
195.
Về người cầm lái thuyền
- Thưa
đại đức! về người cầm lái thuyền thì có ba chi, mong
đại đức cho nghe luôn thể.
- Vâng,
thứ nhất, người cầm lái thuyền phải cẩn trọng, cẩn
thận, tỉnh thức, chú ý đúng, hướng tâm đúng để dẫn
con thuyền đến nơi an toàn. Tương tự thế, vị tỳ khưu
phải cẩn trọng, thận trọng, tỉnh thức, hướng tâm đúng,
chú ý đúng để dẫn mình đến nơi hạnh phúc tối thượng
là Niết-bàn.
Đức
Thế Tôn có dạy rằng: "Các thầy chớ nên dễ duôi, giải
đãi mà hãy tinh cần, nỗ lực, tỉnh thức, kiên trì để
giải thoát tâm ra khỏi mọi phiền não; như con tượng vương
dù bốn chân bị dính chặt trong bùn, vẫn cố nỗ lực, kiên
trì để thoát ra."
Điều
thứ hai, người cầm lái thường biết rành rẽ nơi nào có
đá ngầm, nơi nào có nước xoáy, nơi nào có dòng nghịch
lưu...; để biết cách tránh né, chuyển phương, chuyển hướng
v.v.. Vị tỳ khưu nào có khác gì? Phải biết rành rẽ chỗ
này nguy hiểm, nơi kia không nguy hiểm, điều này tốt, điều
kia xấu, cái này tội, cái kia không phải tội, người này
nên thân cận, kẻ kia không nên gần gũi, pháp này cao thượng,
pháp kia là hạ liệt vv... để tránh né đúng, viễn ly đúng,
hướng tâm đúng, v.v...
Điều
thứ ba, người cầm lái hằng điều chỉnh kim vận tốc, kim
phương hướng; tự tay mình điều chỉnh các loại kim đồng
hồ chứ không dám tùy tiện giao phó cho ai. Các vị sa môn
cũng y như thế, phải tự động điều chỉnh tâm mình, ý
mình, phải tự thu thúc, điều chỉnh lục căn, cẩn thận
cả từng suy tư, niệm tưởng để khỏi rơi vào tà tư duy,
ác tưởng, tạp tưởng - chứ không thể nhờ cậy ai, phó
thác cho ai. Đức Phật cũng có dạy trong kinh Samyutta rằng:
"Này các thầy tỳ khưu! Các thầy đừng tư duy đến các điều
ác, bất thiện pháp, vì ác, bất thiện là có tội báo. Những
ác tư duy, những bất thiện tư duy ấy là gì? Đó là dục
tư duy, sân tư duy và hại tư duy!"
Đấy
là ba chi về người cầm lái thuyền, tâu đại vương.
- Rất
rõ, cảm ơn đại đức!
* *
*
196.
Về người làm công
- Về
người làm công thì phải biết chăm lo công việc của mình.
Người làm công muốn nhận được tiền công xứng đáng,
muốn nhận được sự khen thưởng thì phải siêng năng, cần
mẫn, chăm lo từng công việc, từ nhỏ đến lớn, từ dễ
đến khó, từ ngoài vào trong v.v... Một vị tỳ khưu muốn
được qủa vị xứng đáng, muốn được phần thưởng tôn
vinh cao quý là Niết-bàn, phải biết chăm lo bổn phận của
sa môn. Các công việc thường xuyên như quán thân là bất
tịnh, quán thân chỉ là đất, nước, lửa, gió; hoặc thực
hành chỉ tịnh, quán minh v.v... mỗi mỗi, vị tỳ khưu phải
làm cho tốt, làm cho thiện xảo... để thoát khỏi sanh, già,
bệnh, chết, thóat khỏi sầu, bi, ưu, não v.v... Đúng như tôn
giả Xá-lợi-phất đã thuyết: "Các thầy phải thường xuyên
quán tưởng thân để thấy rõ sự thật về thân. Khi thấy
rõ sự thật về thân rồi thì các thầy sẽ diệt tận mọi
nỗi khổ đau trên trần thế."
- Trẫm
đã hiểu, thưa đại đức!
* *
*
197.
Về biển cả
- Tâu
đại vương! Biển cả có năm đặc tính, năm điều cần phải
ghi nhớ, chắc đại vương đã hiểu rõ, không cần phải giải
bày, phải chăng?
- À,
có thể trẫm đã hiểu rồi. Năm điều của biển cả là:
Đẩy
những xác chết bất tịnh lên bơ;
Biển
chứa trong lòng nó những loại ngọc quý báu;
Nơi
cư trú của nhiều loại động vật, thực vật;
Luôn
luôn đầy nước;
Không
bao giờ tràn bờ.
Có
phải thế không, đại đức?
- Phải
rồi, nhưng đại vương liên hệ, tương quan năm điều ấy
với phẩm hạnh sa môn như thế nào?
- Thưa,
vâng. Năm điều trên tương quan với năm điểm của sa môn
như sau:
Thứ
nhất, tâm của một tỳ khưu luôn đẩy những tham lam, sân
hận, si mê, ngã chấp, bạc nghĩa, quên ơn, bỏn xẻn, ganh
tỵ, điệu bộ, khoe khoang, kiêu ngạo, nói dối, trược hạnh...
ra bên ngoài. Tâm ấy luôn luôn bảo vệ sự thanh khiết cho
mình.
Thứ
hai, tâm của vị sa môn hằng cất giữ những pháp quý báu
như thiền định, quán minh, thần thông, đạo quả v.v..
Thứ
ba, tâm của vị sa môn là nơi cư trú của những thiện pháp
như: tri túc, thiểu dục, tàm quý, nhẫn nại, tinh tấn, đức
tin, từ, bi, hỷ, xả v.v...
Thứ
tư, tâm của vị sa môn luôn đầy đủ học giới, dù bị
đe dọa sanh mạng cũng không để cho học giới của mình bị
khiếm khuyết.
Thứ
năm, tâm của vị sa môn không bao giờ tự mãn rằng kiến
thức, hiểu biết của mình đã đầy, đã đủ, nên vẫn chăm
chuyên nghe chú giải, học Pàli, kinh, bổn sanh, vi diệu tạng
v.v...
Năm
điều ấy của sa môn khả dĩ so sánh với năm tính chất của
biển, phải vậy không, đại đức?
- Tâu,
vâng, chính xác lắm.
Đức
vua Mi lan đà lại hỏi tiếp:
- Đại
đức còn nhiều ví dụ về sa môn hạnh lắm phải không?
- Vâng,
còn, rất nhiều.
- Đại
đức có thể liệt kê tiêu đề cho nghe được chăng?
- Được.
Vậy đại vương hãy nghe. Sa môn hạnh còn có thể được
ví với những điều sau đây:
Năm
điều của quả đất;
Năm
điều của nước;
Năm
điều của lửa;
Bốn
điều của gió;
Năm
điều của núi;
Năm
điều của hư không;
Năm
điều của mặt trăng;
Sáu
điều của mặt trời;
Ba
điều của trời Đế thích;
Bốn
điều của vua Chuyển luân;
Một
điều của con mối;
Hai
điều của mèo;
Một
điều của chuột;
Một
điều của bò cạp;
Một
điều của chồn;
Hai
điều của chó rừng;
Ba
điều của bò;
Hai
điều của heo;
Năm
điều của voi;
Bảy
điều của sư tử;
Ba
điều của vịt nước;
Hai
điều của chim Venàhikà;
Một
điều của chim sẻ;
Hai
điều của chim cu;
Một
điều của con rít;
Hai
điều của con dơi;
Một
điều của con đĩa;
Ba
điều của con rắn;
Một
điều của con trăn;
Một
điều của nhện giăng lưới;
Một
điều của trẻ ngậm vú mẹ;
Một
điều của rùa vàng;
Năm
điều của rừng già;
Ba
điều của cây đại thọ;
Năm
điều của mưa;
Ba
điều của ngọc ma ni;
Bốn
điều của người săn thú;
Hai
điều của người câu cá;
Hai
điều của người thợ bào;
Một
điều của người thợ gốm;
Hai
điều của con quạ;
Ba
điều của cái dù;
Ba
điều của ruộng;
Hai
điều của thuốc trị rắn độc ;
Ba
điều của vật thực;
Bốn
điều của người bắn cung v.v...
Nghe
đến ngang đây, đức vua Mi lan đà nói:
- Vậy
là quá nhiều rồi, thưa đại đức. Có thể trong số ví dụ
ấy, trẫm đã được nghe vài lần rồi; nhưng mà vì lợi
ích cho phần đông, đại đức bi mẫn nói lại, lặp lại
cũng không sao. Trẫm sẵn lòng rửa tay để lắng nghe.
- Tâu,
vâng!
* *
*
198.
Về quả đất
- Về
quả đất thì có năm điều, tâu đại vương!
Nó
tương tự với năm đức tính của sa môn hạnh như sau:
Thứ
nhất, dù ai quăng bỏ lên đất những vật bất tịnh như
đàm, dãi, nước mũi, đại tiểu tiện... quả đất cũng không
hề khởi tâm thương hoặc ghét, vừa lòng hoặc không vừa
lòng.
Một
vị sa môn nên học hạnh quả đất. Dù ai khen, chê, dù được
lợi lộc hay mất lơi lộc, dù được danh hay mất danh, dù
bị ai nguyền rủa, phỉ báng, không vì vậy mà vị sa môn
dậy tâm bất bình, thương ghét v.v...
Thứ
hai, quả đất không hề trang sức, trang điểm cho mình; nhưng
quả đất có đầy đủ ngọc ngà châu báu, đầy đủ tất
cả vật thoa, vật thơm.
Một
vị sa môn không nghĩ rằng mình có một cái ngã để trang
điểm, một cái ngã để trang sức; nhưng quả thật vị sa
môn luôn trang sức, trang điểm cho mình những hương liệu
quý báu được toát ra từ giới đức, phẩm hạnh của mình.
Thứ
ba, quả đất hằng nâng đỡ, che chở cho quốc độ, xóm làng,
châu quận, người vật, núi sông, cây cỏ, vạn loài...
Cũng
vậy, vị sa môn phạm hạnh là người hằng siêng năng làm
nơi nâng đỡ, che chở cho chúng sanh, giáo huấn chúng sanh,
nhắc nhở chúng sanh tinh tấn tu tập thiện pháp.
Thứ
tư, quả đất đầy đặc cả một khối, không chắp vá, không
vỡ vạc, không rời từng mảnh. Tương tự như vậy, học
giới của vị sa môn phải được đúc thành một khối thuần
nhất, không thể bị khuyết phạm, bể lủng, chắp vá hoặc
đứt rời ra từng điều được.
Thứ
năm, quả đất luôn luôn bình đẳng, không thiên vị, không
hiềm hại ai mà cũng chẳng luyến ái chúng sanh nào. Cũng vậy,
tâm vị sa môn cũng phải bình đẳng, không thiên vị; chẳng
thương bên này ghét bên kia, thích chỗ này, bất bình chỗ
kia v.v...
Cận
sự nữ Culasubhaddà có nói: "Trước đây, tôi có vọng động
giết hại chúng sanh bằng đùi gậy hay bằng giáo mác; tôi
đeo tràng hoa, tôi thoa vật thơm và cảm thấy thỏa thích.Bây
giờ học Phật, tâm tôi không còn bất bình, sân hận, không
còn ngã chấp, luyến ái. Tâm của tôi giống như quả đất
vậy, đúng là tâm của một bậc sa môn!"
* *
*
199.
Về nước
Đại
đức na-tiên nói:
- Nước
có năm điều cần phải được học hỏi, đại vương còn
nhớ chứ?
- Vâng,
còn nhớ, nhưng xin đại đức cứ giảng cho.
- Cũng
được, tâu đại vương.
Thứ
nhất, bản chất của nước vốn trong trẻo do nhiễm bẩn
mà trở nên đục vẩn. Vị sa môn sống giữa thế gian cũng
cần phải giữ tâm trong trẻo, đừng vì lời nói hay đẹp
mà vừa lòng, đừng vì lời nói xấu ác mà mếch lòng.
Thứ
hai, tính nước thường mát mẻ, dịu hòa; bậc sa môn phải
biết giữ tâm nhu hòa, từ ái, mát mẻ đối với tất cả
chúng sanh.
Thứ
ba, nước có công năng tẩy sạch, giặt rửa những dơ bẩn;
vị sa môn cũng hằng tẩy rửa những bất tịnh, xấu xa trong
lòng mình y như thế.
Thứ
tư, nước là nhu cầu thiết yếu duy trì sanh mạng của tất
cả chúng sanh; vi sa môn cũng phải là nơi cho chư thiên và
loài người nương nhờ để duy trì phước mạng và tuệ mạng
của họ.
Thứ
năm, nước hằng đem đến lợi ích, an vui cho người, vật,
chim muông, cây cỏ - từ việc ăn uống, giặt rửa, trồng
hoa qủa, rau trái v.v... cho đến sông ngòi, suối khe, khí hậu
v.v... Vị sa môn cũng phải biết dùng lời từ ái, tâm bi,
tâm hỉ, thuyết pháp, sống đời tri túc, nhẹ nhàng, an tịnh...
để ban rãi sự sống trong lành, cao đẹp cho tất cả chúng
sanh. Đúng như đức Bồ tát có lần nói với trời Đế Thích:
"Ngài là vị trời có nhiều quyền năng và quyền lực, nếu
ngài muốn thành tựu cho tôi một ước nguyện, thì tôi sẽ
không mong ước nguyện ấy thành tựu cho mình, tốt đẹp cho
mình. Tôi sẽ ước nguyện rằng, cầu cho tất cả chúng sanh
biết thương yêu nhau, đừng ai quấy phá, bức hại ai; đừng
có chúng sanh này làm cho đau đớn chúng sanh khác, dù là tí
chút."
Đấy
là tất cả 5 điều về nước, tâu đại vương!
* *
*
200.
Về lửa
-Về
lửa cũng có năm điều, tâu đại vương.
Thứ
nhất, lửa có tính năng là đốt cháy, thiêu hủy mọi vật
không phân biệt sạch, dơ, khô hoặc tươi. Vị sa môn cũng
cần phải dùng tuệ diệt, tuệ thiêu hủy để đốt cháy
tất cả phiền não bên trong và bên ngoài; cả chuyện vừa
lòng lẫn cảnh nghịch ý.
Thứ
hai, lửa không có lòng dạ thương xót cỏ rác, gỗ mục hay
hoa đẹp, cây xanh. Nó đốt hết. Cũng vậy, vị sa môn cũng
không nên có lòng dạ thương tưởng đến các loại phiền
não, dù phiền não ấy thô thiển hay tế vi, có sắc xấu hay
sắc đẹp. Phải đốt hết, không một loại trừ nào cả.
Thứ
ba, lửa có tính năng đối đãi với lạnh, đối trị với
lạnh, ngăn sự lạnh. Cũng vậy, vị sa môn cũng phải khởi
lên sức lửa của tinh tấn để ngăn ngừa, đối trị với
phiền não.
Thứ
tư, lửa tỏa nhiệt, tỏa hơi nóng. Người ta có thể dùng
lửa để nấu ăn, để đốt vật dơ uế, để sưởi ấm,
đem đến lợi ích cho nhiều người. Cũng vậy, vị sa môn
cũng phải biết lấy lửa nhiệt tình, lửa ấm áp... ấy để
đem đến lợi ích cho chư thiên và loài người.
Thứ
năm, lửa hằng chiếu sáng, soi rọi được những chỗ tối
tăm. Cũng vậy, vị tỳ khưu phải biết dùng trí tuệ, tuệ
minh để chiếu rọi mọi ngõ ngách thâm u của vô minh, ái
dục và tà kiến. Tương tự như lời Đức Phật dạy cho Ràhula
như sau: "Này Ràhula! Con hãy thường xuyên tham thiền về lửa,
quán tưởng về lửa, đến một lúc, tâm con sẽ giống như
lửa; khi ấy, các bất thiện pháp sẽ không còn đè nén, bức
hại tâm con được."
* *
*
201.
Về gió
- Về
gió cũng có bốn điều cần phải học hỏi, đại đức hãy
giảng tiếp cho nghe?
- Tâu,
vâng.
Thứ
nhất, gió mạnh làm cho cây gãy, lá rụng, đôi khi bật luôn
cả gốc rễ; vị sa môn cũng phải tu tập, tạo sức gió mạnh
- do định lực và tuệ lực - để cành nhánh, lá, gốc rễ
của những pháp hành (Sankhàra), của phiền não bị rơi rụng,
bậc gốc đi cũng y như thế!
Thứ
hai, gió thường ngao du, đi khắp giữa hư không, cũng vậy,
vị sa môn cũng phải để tâm tiến tu, phải đi khắp vào
các cõi xuất thế gian.
Thứ
ba, gió thổi mang mùi hương hoa rừng thơm ngát đi nơi này
nơi kia; vị ẩn sĩ sa môn cũng phải mang hương hoa trong lành
của giới, của giải thoát tỏa đi khắp các cõi người và
trời y như thế.
Thứ
tư, gió không có trụ xứ, không lưu luyến chỗ ở, thanh thoát
đi nơi này đến nơi kia, không ai tìm ra dấu vết. Cũng vậy,
vị tỳ khưu không nên có chỗ ở, không lưu luyến trụ xứ,
không quyến niệm ai, không ràng buộc bởi ai, thanh thản đi
nơi này đến nơi kia không hề dính mắc. Đúng như lời Đức
Tôn sư đã thuyết: "Không có chỗ ở thì sẽ không có chuyện
lưu luyến chỗ ở. Khi không có lưu luyến chỗ ở thì trần
cấu, phiền não sẽ không có. Đấy là cảnh giới của bậc
Mâu ni."
* *
*
202.
Về núi
- Về
núi cũng có năm điều, tâu đại vương!
Thứ
nhất, núi thường ở một chỗ, không chuyển động, không
lay động,không dời đổi dù gió to hay bão dữ. Vị sa môn
cũng phải biết học núi. Phải biết trụ tâm vững chắc,
kiên định, không lay chuyển, không chấn động, không dời
đổi giữa cõi thiện ác, phải trái, khổ vui, được danh,
mất danh, được lợi, mất lợi; giữa tham và sân, giữa đúng
và sai v.v... Đúng như Đức Đại Bi đã thuyết: "Núi đầy
đặc không trống bộng ở giữa, không hề di động hay chuyển
động. Bậc trí tuệ cũng nên như thế, phải đầy đặc giới
định tuệ, không trống rỗng ở giữa; khả dĩ an nhiên, tự
tại... trước lời khen, tiếng chê của cuộc đời."
Thứ
hai, núi là một khối thuần nhất, độc lập; không thể dời
núi đi đâu, không thể dồn núi vào chung một quần cư, không
thể chất đống núi lại. Tương tự thế, vị sa môn không
thể thay đổi, di dời chí nguyện và phẩm hạnh, không thể
quần cư hỗn tạp chung với bất cư ai, dù là giới xuất
gia hay là cư sĩ, người đời!
Thứ
ba, trên đỉnh núi không cây gì mọc được, cũng vậy, vị
sa môn phải giữ tâm mình như đỉnh núi, không thể cho bất
kỳ hạt giống phiền não nào nẩy mầm, tăng trưởng được.
Thứ
tư, đỉnh núi là chỗ cao nhất của ngọn núi, bởi vậy,
hành giả cũng phải nên tu tập, tiến hóa đến đỉnh cao
của trí tuệ. Đúng như Đức Đạo Sư đã thuyết: "Bậc trí
thức ở đời phải biết khắc phục sự dễ duôi, giải đãi,
buông thả, khi ấy mới có thể lên được trí tuệ đỉnh
cao. Ở đấy, sẽ không còn si mê, ưu sầu; nhìn xuống thế
gian thì chúng sanh đang si mê, ưu sầu ... khổ đau không thể
tả.
Thứ
năm, một ngọn núi cao thì không bao giờ tự làm mình trở
thành bình địa, cũng vậy, vị sa môn sống hạnh khước từ,
xuất ly thế gian, không bao giờ để cho tâm mình đồng hóa
với thế gian, biến thành như thế gian. Tương tự thế, nàng
cận sự nữ Subbaddà có nói rằng: "Phàm tình chúng sanh ở
trong đời, nếu được lợi thì kiêu mạn, cuồng vọng; nếu
mất lợi thì ưu sầu, thở than. Là sa môn, chúng ta không như
thế, không bao giờ vì lợi lộc, khen tặng mà để tâm trôi
nổi theo thế gian thường tình."
Tất
cả đấy là năm chi về núi, tâu đại vương!
* *
*
203.
Về hư không
Đại
đức Na-tiên nói:
- Về
hư không thì chắc đại vương còn nhớ chứ?
- Vâng,
còn nhớ. Nó có năm điều là:
Thứ
nhất, không ai nắm bắt được.
Thứ
hai, là nơi dạo chơi của chư thiên hoặc người có thần
thông.
Thứ
ba, không có chỗ ở.
Thứ
tư, không cùng tột.
Thứ
năm, trống rỗng, không ngăn lại.
Đại
đức na-tiên đáp:
- Đúng
vậy. Một vị tỳ khưu với sa môn hạnh của mình cũng không
để tâm cho phiền não nắm bắt; phải dạo chơi ở chốn
không bị ràng buộc bởi vô thường, khổ não, vô ngã; lìa
tất cả mọi cảnh giới, không trú vào một cõi nào, tài
tình danh lợi không vướng mắc; phải có tâm vô lượng, giới
vô lượng, tuệ vô lượng, không có mé bờ.Thứ năm là tâm
phải rỗng không, hoàn toàn không ngăn ngại trước mọi phe
nhóm, thân quyến, lợi lộc v.v...
Tất
cả năm điều ấy, đúng như Đức Đạo sư đã dạy Ràhula:
"Này Ràhula! Con nên thực hành, tiến tu, làm thế nào cho tâm
trở nên rỗng không, như hư không vậy."
* *
*
204.
Về mặt trăng
- Về
mặt trăng, xin đại đức giảng giải cho, nó có mấy điều
cùng sự liên hệ với sa môn hạnh?
- Tâu,
vâng. Mặt trăng cũng có năm điều:
Thứ
nhất, những đêm đầu tháng, trăng thượng huyền tỏa ánh
sáng rất yếu; nhưng rồi nó sẽ sáng dần lên cho đến khi
trăng tròn. Phàm sự tu tập cũng y như thế. Pháp học, pháp
hành đều y như thế. Giới định tuệ cũng y như thế. Nghĩa
là từ từ mà trau giồi học giới, từ từ mà an trú tâm
định, từ từ trí tuệ sẽ sáng tỏ viên mãn.
Thứ
hai, mặt trăng là một vật rất lớn, phàm hành giả tu tập
sa môn hạnh phải nuôi dưỡng đề mục, tinh tiến trong đề
mục để thành tựu quả lớn lao cho mình.
Thứ
ba, mặt trăng mọc vào ban đêm, di chuyển trong đêm và sáng
dần lên trong đêm; cũng vậy, vị tỳ khưu phải ở nơi thanh
vắng, thực hành nơi thanh vắng, từ từ trí tuệ sẽ sáng
dần lên nơi thanh vắng.
Thứ
tư, mặt trăng tự sáng cho chính mình, tự thắp lên ánh sáng
cho chính mình, tự dựng ngọn cờ cho chính mình; vị tỳ kheo
cũng nên như thế, tự trong sạch giới cho chính mình, tự
tỏa hương giới cho chính mình, tự dựng ngọn cờ giới cho
chính mình.
Thứ
năm, dù chẳng ai cầu thì mặt trăng vẫn cứ soi sáng cho thế
gian; vị tỳ khưu cũng vậy, chẳng ai cầu vẫn mang ánh sáng
trí tuệ ban rãi cho thế gian. Đúng như Phật ngôn trong Samyutta
Nikàya: "Này các thầy tỳ khưu! Các thầy nên đi đến mọi
nơi, mọi gia đình, mang ánh sáng mặt trăng mà đi; phải thu
thúc, gìn giữ phẩm hạnh của mình, đừng buông thả, đừng
khoe khoang hay kiêu ngạo."
Đấy
là năm đức tính của mặt trăng ở nơi một vị sa môn, tâu
đại vương!
* *
*
205.
Về mặt trời
-Về
mặt trời thì có sáu chi,như sau:
Thứ
nhất, mặt trời có tính dụng làm cho khô, thiêu đốt mọi
vật; vị tỳ khưu cũng phải làm cho khô ráo nước ái dục,
phải thiêu cháy tất cả mọi phiền não.
Thứ
hai, mặt trời trừ diệt những chỗ tối tăm; vị tỳ khưu
cũng phải trừ diệt những tham lam đen tối, những sân hận
đen tối, những si mê đen tối, những tà kiến đen tối, trược
hạnh đen tối.
Thứ
ba, mặt trời hằng có kỷ luật của mình, hằng xoay vần
quanh chính mình; vị tỳ khưu cũng phải như thế, phải sống
theo giới luật của mình, phải xoay quanh phận sự của mình,
đừng nên để cho giới luật mình hư hỏng, phận sự của
mình trái lệch.
Thứ
tư, mặt trời có tính năng tỏa nhiệt, nung nóng trái đất,
mọi loài, mọi vật; vị tỳ khưu khi tu tập phải nung nóng
nhiệt tình làm cho chư thiên và nhân loại cũng phải nóng
lên do hạnh kiểm, giới đức, thiền định, lục căn thanh
tịnh, thất giác chi, tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ thần
túc và giải thoát của mình.
Thứ
sáu, mặt trời trong hành trình của nó, nó sợ nhất là mặt
trăng che ám; vị tỳ khưu cũng phải thế, phải hằng kinh
cảm, thương xót chúng sanh lặn hụp trong bốn đường ác,
đầy dẫy chấp thủ, tà kiến, phiền não, đi sai lầm đường
nên phải chịu những thống khổ.
Thứ
sáu, mặt trời hằng soi chiếu, tỏ rõ mọi vật, vị tỳ
khưu cũng phải soi chiếu, tỏ rõ tâm mình, pháp thực hành
của mình v.v...
Tôn
giả Vangìsa có thuyết rằng: "Khi mặt trời mọc lên, soi rõ
thấy sắc của tất cả vật hữu sắc, xấu tốt, sạch dơ
nó đều thấy cả. Vị tỳ khưu cũng phải vén mở vô minh
và ái dụcđể nhìn thấy pháp, tỏ rõ pháp, đồng thời cũng
phải giúp chúng sanh thấy rõ như mình đã thấy."
* *
*
206.
Về trời Đế thích
-Tâu
đại vương! Trời Đế Thích có ba điều là, thứ nhất, hằng
mãn nguyện trong phước báu an lạc của mình.Thứ hai, ngài
là vị vua lớn của chư thiên, khi gặp chánh pháp rồi thì
hằng tán dương chánh pháp, làm cho phước báu an lạc kia được
tăng trưởng hơn nữa. Thứ ba là trời Đế Thích không bao
giờ chán nản trong địa vị của mình, trong sự an lạc của
mình.
Tương
tự thế, trước hết, vị tỳ khưu cũng phải thỏa thích,
an lạc trong cõi vắng lặng của mình. Thứ hai là hằng tán
dương pháp, xem pháp là cao quý to lớn; luôn luôn hoan hỷ,
tươi vui, giải trừ lười biếng, giải đải để cho an lạc,
vắng lặng kia cũng được phát triển thêm nữa. Thứ ba là
không bao giờ chán nản trong cõi thanh vắng, cõi an lạc mà
mình đang thọ hưởng.
* *
*
207.
Về Chuyển luân Thánh vương
- Về
Chuyển luân Thánh vương thì có bốn điều, tâu đại vương!
- Vâng,
trẫm xin nghe.
- Thứ
nhất là, đức Chuyển luân cai trị quốc độ, sở dĩ muôn
dân thuần phục là do bốn pháp tế độ (tứ nhiếp pháp:
Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự); vị tỳ khưu cũng
hằng nên như thế, dùng bốn pháp tế độ để sống chan
hòa với tứ chúng, môn đệ.
Thứ
hai, trộm cướp không bao giờ phát sanh trong quốc độ của
vua Chuyển luân; vị tỳ khưu cũng phải làm cho "quốc độ
lòng mình" yên vui, thanh bình; đừng để cho các loại đạo
tặc là các tà tư duy (dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy)
phát sanh nhũng loạn, tác hại.
Thứ
ba, Đức Chuyển luân mỗi ngày thường nghĩ đến thiện ác,
nghĩ đến phước tội; và thường giáo huấn, nhắc nhở muôn
dân trong quốc độ của mình, rộng cho đến biên cương, hải
đảo, sống đời hiền lương, trong sạch. Vị tỳ khưu cũng
mỗi ngày phải giáo dục, nhắc nhở thân nghiệp, khẩu nghiệp,
ý nghiệp cho tốt đẹp thêm, hoàn thiện thêm. Đúng như lời
của Đức Tôn sư thuyết trong Anguttara: "Bậc xuất gia phải
luôn luôn nghĩ rằng, ngày và đêm trôi qua, ngày và đêm cứ
trôi qua như thế, ta phải làm gì với phẩm hạnh sa môn?"
Thứ
tư, đức Chuyển luân tuy sống trong quốc độ thái bình, an
lạc, nhưng ngài luôn đề phòng cả bên trong lẫn bên ngoài
không để cho bất cứ một hiện tượng xấu, ác nào phát
sanh có thể làm nguy hại cho quốc gia. Cũng vậy, vị tỳ khưu
phải thường trực chánh niệm và tỉnh giác để canh giữ
giặc trong cũng như giặc ngoài, đừng để cho phiền não có
cơ hội khởi động, tác hại quấy phá mình. Đúng như Đức
Thế Tôn đã thuyết: "Này các tỳ khưu! Các vị Thinh văn,
A-la-hán thường có chánh niệm và tỉnh giác, thường trực
ngăn niệm ác, giữ niệm lành; thường dứt pháp có tội và
tiến tu pháp không tội, luôn để cho tâm mình thuần khiết,
trong sạch."