177.
Đầu đà khổ hạnh có ích lợi gì?
Đêm
ấy trở về, đức vua Mi-lan-đà không chợp mắt; có những
ý nghĩa, những tư tưởng cứ lầm rầm trong đầu: "Kinh đô
chánh pháp vĩ đại quá, huy hoàng quá. Chợ bán hoa, chợ bán
vật thơm... chợ bán quả... cũng phong phú dường bao? Các
vị pháp chủ, quân sư, quan tòa, luật sư đoàn... chẳng khác
gì một vương quốc thịnh trị... Ai đến quốc độ ấy cũng
tìm cho mình cái hay, cái lạ, cái đẹp... Ồ! mà tội gì lại
đi mua hàng đắt quá? Kiếm cái rẻ nhất mà mua, mang về...
một thời gian sau là giá trị ngang nhau cả thảy... Ví như
có món hàng tam quy, ngũ giới, bố thí... là của người cư
sĩ. Mà theo đại đức Na tiên bảo, là cư sĩ cũng có thể
đắc quả A-la-hán. Vậy thì cần gì phải bước vào câu lạc
bộ của bậc xuất gia? Và cần gì lại mua món hàng mười
ba pháp đầu đà khổ hạnh; đã khốn khổ, đã hành thân
hoại thể mà kết quả cũng ngang nhau?!"
Từ
khi câu hỏi ấy khởi lên, đức vua Mi-lan-đà cứ xốn xang,
bứt rứt trong lòng, cứ nóng nảy mong chờ cho trời mau sáng.
Thật giống như bò khát nước đến tận cùng, hối hả bước
xuống dòng khe. Hoặc như người đói cơm bươn bả đi tìm
một củ khoai đỡ dạ. Thảng hoặc, ví như người đi bộ
đường xa nắng gắt, mong chờ một chiếc xe ngựa để quá
giang. Nếu không như thế thì giống như bệnh nhân nằm liệt
giường, chờ thầy thuốc đến cứu. Không như thế thì như
kẻ đói cơm rách áo mơ ước có vài xu. Hay như kẻ kia qua
sông đang ngóng đợi đò cập bến. Hoặc ví như gã tình si
mong gặp người mình yêu. Hoặc như gã thổi kèn cầu cho người
nghe tán thưởng. Nếu không như thế thì như người sợ ma
dọc đường mong chóng trở về nhà v.v... Vì tất cả cớ
ấy, lý do ấy, mà khi trời chưa rạng sáng, đức vua Mi-lan-đà
đã hối hả bảo quân hầu thắng kiệu đến ngay chỗ đại
đức Na tiên. Các tập tục xã giao nghiêng mình chào hỏi,
đức vua cũng chỉ làm cho có lệ. Tuy nhiên, cái đầu óc thông
tuệ, suy nghĩ nhanh nhạy của đức vua trước khi cất tiếng
hỏi, đã khởi lên một tư duy mười điểm còn nhanh hơn luồng
sao xẹt:
Thứ
nhất, khi ta hỏi, ngài đáp xong, tất ta sẽ cắt đứt được
mối nghi ngờ.
Thứ
hai, tâm ta sẽ trong sạch, vắng lặng trở lại.
Thứ
ba, ta sẽ không còn loay hoay với những câu hỏi vô nghĩa lý
nữa.
Thứ
tư, từ sái quấy, tâm ta sẽ chuyển qua cái đúng, cái chánh.
Thứ
năm, ta sẽ được bơi trong giòng pháp và đắc tuệ nhãn.
Thứ
sáu, đại đức này sẽ coi ta cũng là kẻ xứng đáng được
học Pháp.
Thứ
bảy, ta sẽ trú trong thiện pháp chẳng có gì ngăn ngại được.
Thứ
tám, ta sẽ dễ dàng đi vào pháp xuất thế gian.
Thứ
chín, ta sẽ không còn sợ hãi trong tam giới.
Thứ
mười, ta sẽ được sáp nhập hội chúng thính pháp mau lẹ,
linh mẫn.
Nghĩ
thế xong, đức vua Mi-lan-đà hỏi:
- Thưa
đại đức! Có một câu hỏi mà trước đây bần tăng đã
hỏi, nhưng hôm nay cũng cùng câu hỏi ấy nhưng mục đích
hơi lệch sang hướng khác một chút. Mong đại vương hãy nhẫn
nại!
- Tâu,
vâng, bần tăng sẽ nhẫn nại - tuy nhiên, nếu có câu hỏi
cũ mà đại vương chưa thông suốt, bần tăng cũng có thể
nói lại một cách vui vẻ, thoải mái, không sao cả!
- Thế
thì tốt. Bần tăng hỏi đây, một người tại gia thọ dụng
ngũ dục, nằm ngủ với vợ, chen chúc với con cái, trang phục
gấm vóc lụa là, trang điểm tràng hoa, xức vật thơm, thỏa
thích ngọc vàng, chăn gấm, nệm nhung, uống ăn mỹ vị, cao
sang... nhưng nếu họ thực hành chơn chánh bát chánh đạo,
họ có đắc được đạo quả chăng?
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Đắm
say ngũ dục mà thực hành chánh pháp, mong đắc đạo thì làm
sao được, đại vương? Đừng nói là nhiều người đắc
đạo - mà chỉ một phần trăm, một phần hai trăm, một phần
ngàn, thậm chí một phần mười triệu trong số ấy cũng không
có đâu, đại vương!
- Ý
đại đức nói là cư sĩ có vợ con gia đình, tài sản giàu
sang... nếu thực hành chơn chánh cũng không đắc đạo quả
sao?
- Ai
nói với đại vương như thế?
- Chẳng
lẽ...?
- Ồ!
Bần tăng nói thế này: người cư sĩ tại gia sống đời ngũ
dục, thọ hưởng ngũ dục mà không đắm say ngũ dục... biết
tuần tự thứ lớp tu tập từ thấp đến cao, từ ngoài vào
trong... thì sẽ đắc đạo quả; không những chỉ có một
trăm, hai trăm... mà là hằng ngàn, hằng ức, hằng triệu -
tâu đại vương!
- Xin
đại đức nói cho rõ hơn về tuần tự, thứ lớp ấy?
- Tâu,
vâng. Đắm say ngũ dục mà tu tập không phải là nhân để
đạt đạo. Có đời sống ngũ dục mà không đắm say ngũ
dục, cọng với sự tuần tự tu tập theo chánh pháp mới là
nhân để đạt đạo! Đại vương đã rõ điều này chưa?
- Thưa,
rõ!
- Còn
tu tập thứ lớp - nghĩa là tuần tự theo thứ lớp mà Đức
Phật thường dạy cho người tại gia, ấy là: đức tin, trì
giới, nghe pháp, bố thí, thiền định, thiền tuệ... Cọng
tất cả điều ấy gọi là nhân; có thực tập nhân ấy, thành
tựu nhân ấy thì quả mới thành. Ví như nước mưa rơi xuống
tràn hồ, tràn sông, tràn khe, tràn suối, tràn ruộng, tràn
mương... tất cả nước tràn ấy, cuối cùng sẽ trôi về
biển cả. Cũng vậy, khi các cái gọi là đức tin, trì giới,
nghe pháp, bố thí, thiền đình, thiền tuệ... viên mãn rồi...
tất nhiên sẽ tuôn chảy về biển giác ngộ... Ví như có
người nông phu, ruộng đã cày bừa rồi, vô nước rồi, phân
bón rồi, gieo hạt rồi, mạ lên rồi, nhổ cỏ rồi, săn sóc
rồi... thì chỉ còn đợi ngày lúa chín, gặt hái, phơi khô
cất vào bồ mà thôi! Chính tuần tự thứ lớp, qua các công
đoạn tu tập - là nhân tố đưa người ấy đến thành công.
Ví
như một người đếm số, ban đầu đếm chậm, sau đếm nhanh,
rồi sẽ trở thành bậc thầy đếm số. Ví như một người
học toán, ban đầu tập cọng trừ nhân chia, lần hồi tính
ra được lúa gạo trồng trong một đòn gánh, mười đòn gánh,
trăm đòn gánh...
Cũng
như thế, tu tập lần lần, đức tin sẽ tăng trưởng, trì
giới sẽ tốt hơn, nghe pháp chăm chuyên hơn, bố thí nhẹ
nhàng hơn, thiền định kiên cố hơn, thiền tuệ sáng suốt
hơn. Gom tất cả chúng lại, làm sao mà không đạt đạo được
hở đại vương?!
- Trẫm
hiểu rồi. Mà đạt đạo có nhiều thật không đại đức?
- Vô
lượng số!
- Thật
ư?
- Tâu,
cận sự nam nữ thành Sàvatthi đắc A-na-hàm đạo, A-na-hàm
quả, bần tăng nhớ không lầm là ba ức, năm vạn và bảy
ngàn; tâu đại vương!
- Kinh
khủng!
- Khi
Đức Thế Tôn hóa phép lạ, khi thuyết về kinh giáo giới
La hầu la, khi thuyết về kinh đại hạnh phúc... chư thiên
đắc quả không đếm xiết được, tâu đại vương!
- Khiếp!
- Khi
Đức Tôn sư thuyết pháp ở xứ Nàlykàya, thuyết nơi bảo
tháp Pàsànakacetiya, thuyết pháp nhân người xâu tràng hoa cúng
dường... thì cả thảy chư thiên và người tại gia cư sĩ
thoát khổ hoặc đắc pháp cao siêu, thắng nghĩa pháp... cũng
đến con số... bất khả tư nghì - tâu đại vương!
- Trẫm
hiểu rồi!
- Đừng
nghĩ chư thiên ấy là bậc xuất gia! Họ tại gia cả đấy,
họ sống trong vinh hoa và ngồi trên ngũ dục cả đấy, tâu
đại vương!
- Vâng!
- Đừng
nghĩ người tại gia ấy không có ngũ dục. Rất nhiều người
trong bọn họ búi tóc bằng ngọc tía, đeo cổ tay cổ chân
bằng bạc, bằng vàng, vợ con thê thiếp có đủ, xa hoa lộng
lẫy có đủ, y phục vua trời có đủ. Chỉ có điều họ
sử dụng, họ thọ hưởng ngũ dục không như ruồi kiến chết
trong hũ mật, không như đồng tiền của gã trọc phú cho vay
nặng lãi, không như kẻ đói cơm vét nạo cả mảng cháy,
tâu đại vương!
Nghe
đến ngang đây, đức vua Mi-lan-đà mới tủm tỉm cười rồi
bắt đầu phản công:
- Thưa
đại đức! Ở nhà có vợ nâng khăn sửa túi, có con cái hầu
cơm hầu nước, có nệm ấm chăn êm lúc đông giá, có lầu
cao hóng mát lúc hanh hè, có bạc tiền rủng rỉnh cho kẻ ăn
người ở, có võng kiệu, xe pháo lui tới đỡ mỏi chân, có
thức ăn ngon vừa dạ, vừa khẩu, có bạc vàng trang điểm
lấp loáng cao sang, có hoa thơm hương nồng phảng phất bên
gối...! Có cái là đừng đắm quá mà thôi. Có cái là đừng
tà mạng, trược hạnh mà thôi. Có cái là đừng gian trá độc
ác thì thôi. Có cái là đừng vọng ngôn loạn ngữ mà thôi.
Có cái là đừng rượu chè be bét mà thôi. Có cái là đừng
trộm cắp, gian xảo thì thôi. Có cái là đừng cắt cổ cho
mượn một lấy mười v.v... Thế là có thể tu hành mà thành
Thánh quả. Còn hơn các vị tu hành cực khổ, nhất là các
vị tu mười ba pháp đầu đà khổ hạnh, thật là tội nghiệp.
Khỏi kể ra đây mười ba pháp đầu đà, nhưng đại khái
là cuộc sống của họ còn tệ hơn một kẻ nghèo nàn nhất
trên trần thế, chẳng có một nhu cầu tối thiểu. Sao các
vị ấy mang nghiệp chi mà nặng thế, đại đức?
- Đại
vương cứ nói tiếp đi!
- Vâng,
bệnh rất nhẹ, chữa sơ sơ cũng lành, cần gì bôn ba đi tìm
thầy thuốc trứ danh? Giết con muỗi thì hơi đâu mà sắm
sửa cung tên? Chặt củ khoai thì hơi đâu tìm kiếm bảo đao?
Làm chuồng cho heo ở thì cần gì đi kiếm loại danh mộc?
Qua mương nước vài ba sải mà đòi sắm chiếc hải dương
thuyền? Múc nước trong hủ mà đòi sắm cái gàu tát ruộng?
Vật thực, y phục, nhà cửa của mình vứt đi mà lại đi
xin ăn từng muỗng, lượm vải tử thi mà mặc, ngồi dưới
cội cây mà nghỉ?
Thưa
đại đức! Đấy là việc làm lạ đời khó hiểu của những
ông sa môn thọ mười ba pháp đầu đà! Họ dại, họ ngu,
họ si, hay làm như thế để chứng tỏ mình tu hành ghê gớm,
khiếp đảm?
- Quả
thật là bản án của một vị quan tòa. Luận cứ đưa ra của
đại vương thật là đanh thép, hùng hồn. Tuy nhiên, nếu đại
vương nhận ra công năng diệu dụng của mười ba pháp đầu
đà thì có lẽ đại vương không nói thế nữa.
Tại
gia tu hành chơn chính cũng đạt đạo, đạt đạo rất nhiều
là khác. Nhưng một vị sa môn, một tỳ khưu thọ mười ba
pháp đầu đà là đã gần kề bên Niết bàn, lại còn lợi
ích cho chúng sanh không kể xiết nữa, tâu đại vương! Chính
sự lợi ích cho chúng sanh, nêu gương cho chúng sanh - thì một
trăm cư sĩ đạt đạo, ngàn cư sĩ đạt đạo - cũng không
bằng một tỳ khưu hành mười ba pháp đầu đà đắc đạo
đâu, tâu đại vương!
- Xin
đại đức cứ tiếp tục.
- Bây
giờ đại vương thử lắng nghe hai mươi tám đức tính cao
thượng, siêu việt của mười ba pháp đầu đà khổ hạnh:
Thứ
nhất là, nuôi mạng trong sạch.
Hai
là, an lạc quả, hạnh phúc quả.
Ba
là sống đời vô tội.
Thứ
tư, giảm nỗi khổ cho người khác.
Thứ
năm, không sợ hãi.
Thứ
sáu, không tổn hại ai.
Bảy
là, lộ trình tiến hóa.
Tám
là, xa lìa điệu bộ hợm hĩnh, khoe khoang.
Thứ
chín, xa lìa say mê.
Thứ
mười, hộ trì, giữ gìn mình.
Mười
một, mọi người thương tưởng.
Mười
hai, giáo hóa mình.
Mười
ba, buông dao, buông trượng.
Mười
bốn, rèn luyện sự thu thúc.
Mười
lăm, thực hành (mục đích) đúng đắn, thuận lợi.
Mười
sáu, làm cho mình vắng lặng.
Mười
bảy, làm cho mình thoát khỏi phiền não.
Mười
tám, dứt sự luyến ái.
Mười
chín, giảm trừ sân hận.
Hai
mươi, tháo gỡ si mê.
Hai
mươi mốt, tiêu diệt ngã chấp.
Hai
mươi hai, cắt đứt tư duy xấu xa.
Hai
mươi ba, vượt hoài nghi.
Hai
mươi bốn, trừ lười biếng.
Hai
mươi lăm, tương tư không có chỗ nương.
Hai
mươi sáu, hành nhẫn nại.
Hai
mươi bảy, đức tính độ lượng vô giới hạn.
Hai
mươi tám, diệt tận khổ đau.
Nếu
không có hai mươi tám đức tính như thế thì có thể là mười
tám đức tính sau đây:
Một
là, hạnh kiểm thuần khiết.
Hai
là, thực hành hoàn thiện hạnh kiểm.
Ba
là, giữ gìn, bảo vệ thân khẩu.
Bốn
là, tâm trong sạch.
Năm,
bám chặt được sự tinh tấn.
Sáu,
dứt trừ lo sợ.
Bảy,
dứt trừ ngã kiến.
Tám,
dứt trừ kết oán.
Chín,
trú vững trong tâm từ.
Mười,
nhận lãnh vật thực sao cũng được
Mười
một, có tâm thương tưởng, bình đẳng và tôn trọng tất
cả mọi người.
Mười
hai, biết tiết độ trong vật thực.
Mười
ba, hằng thức tỉnh.
Mười
bốn, không lưu luyến chỗ ở.
Mười
lăm, trú chỗ nào cũng an lạc.
Mười
sáu, người ghét điều ác.
Mười
bảy, mến thích nơi thanh vắng.
Mười
tám, không dễ duôi, buông xuôi.
Đại
vương! Ngài đừng tưởng ai cũng có thể thực hành mười
ba pháp đầu đà được. Họ phải có những đức tính sau
đây:
Thứ
nhất, có đức tin.
Thứ
hai, có tàm, quý.
Thứ
ba, người mạnh khỏe (không bệnh hoạn, tàn tật).
Thứ
tư, thuần thục trong việc tìm kiếm chân lợi ích.
Thứ
năm, là người có nhiệt tình, chín chắn.
Thứ
sáu, có trí tuệ.
Thứ
bảy, ham thích học hỏi, có kiến thức.
Thứ
tám, thọ trì kiên định.
Thứ
chín, ít tìm lỗi người khác.
Thứ
mười, trú tâm từ.
Người
có đủ mười đức tính ấy mới xứng đáng thọ mười ba
pháp đầu đà khổ hạnh.
Người
tại gia là kẻ thỏa thích và dính mắc trong ngũ dục thì
khó mà thực hành chánh pháp để đắc đạo quả. Tuy nhiên,
có những cư sĩ tại gia vẫn sống đời ngũ dục mà họ tu
tập cũng đắc quả, là do nhờ nhiều kiếp về trước họ
có tu hạnh đầu đà rồi. Chính nhờ có tu hạnh đầu đà
rồi nên trong tâm họ đã thành tựu ít nhiều những phẩm
chất cao đẹp - nên kiếp này, họ không cần phải thọ đầu
đà nữa; chỉ nhờ nghe pháp, thực hành pháp họ có thể đắc
đạo quả được. Họ chỉ tiếp tục làm lại công việc
trước đây, thành tựu các công đoạn đang còn dang dỡ đấy
thôi, tâu đại vương!
- Vâng,
trẫm đang nghe.
- Ví
như một người bắn cung thiện xảo, trổ tài trước đức
vua; và được đức vua ban thưởng trọng hậu như voi ngựa,
tôi trai, tớ gái, thê thiếp... cùng rất nhiều của cải,
tài sản v.v... Người bắn cung kia có phải là một sớm một
chiều mà có được tài nghệ như thế đâu? Hẳn phải trải
qua nhiều thời gian, nhiều năm công phu khổ luyện, phải không
đại vương? Ví dụ ấy như thế nào thì người cư sĩ kia
cũng y như thế! Người cư sĩ ấy bây giờ được phần thưởng
cao quý là đạo quả Thánh nhân, là do nhờ y cũng đã từng
công phu khổ hạnh mười ba pháp đầu đà dài lâu từ nhiều
kiếp trước. Vậy đại vương đừng đặt những câu hỏi
mà chưa tra vấn rõ nguồn căn, chưa hiểu rõ về nhân về
quả như thế!
- Thưa
vâng!
- Một
vị thầy thuốc nổi tiếng, được mọi người kính trọng,
yêu mến; cái tài ấy tỏa ra cái đức ấy, không phải bỗng
dưng mà ông ta có được. Chẳng rõ là đã bao năm bao tháng
trước đây, ông ta đã tìm học thầy này, thầy kia; tự mình
tìm tòi, tra vấn, học hỏi, nghiên cứu... phải vậy không
đại vương?
- Thưa,
vâng!
- Buổi
sớm, đại vương ra vườn, thanh thản dạo chơi, thấy trái
ngọt đầu cành bèn hái ăn. Mọi người trầm trồ nói đức
vua có phước, có trái ăn ngay vừa lòng mát dạ! Cái phước
ấy không phải tự nó có, trái cây ngon ngọt kia chẳng phải
nó bỗng dưng sanh ra! Hẳn là nhiều năm trước đây đại
vương đã khởi ý trồng loại cây này, bèn giao cho người
làm vườn, tìm giống, ươm hạt, chăm sóc, phân bón, tưới
nước v.v... Nhờ khổ lao ấy, trái ngọt mới thành, phải
không đại vương?
- Thưa,
vâng!
- Trên
đời này bất kỳ một thành tựu to lớn nào cũng đều phải
được trả giá đánh đổi đầu óc, công phu và thời gian.
Chẳng có đầu óc, công phu và thời gian, lẽ nào người cư
sĩ tại gia kia lại đạt đạo quả cao siêu phải không đại
vương?
- Thưa
vâng!
- Theo
bần tăng hiểu, người cư sĩ ấy trước đây đã thọ mười
ba pháp đầu đà, đã đắc được quả vị Tu đà huờn; khi
từ giã cõi đời, tử tâm cuối cùng hướng về thiện đạo
nên được sanh làm người giàu sang. Phước báu ấy người
kia vẫn thọ hưởng, nhưng tâm bậc thánh đã vào dòng rồi,
thì đôi khi chỉ nghe một câu kệ là có thể diệt tận lậu
hoặc; đâu cần gì tu tập cho nhiều, công phu cho lắm hở
đại vương!
- Ồ!
Thế thì trẫm đã vỡ mọi lẽ rồi!
- Nói
về công năng, diệu dụng của mười ba pháp đầu đà thì
không sao kể xiết được, tâu đại vương! Ngài có muốn
nghe thêm chăng?
- Vâng,
trẫm rất muốn. Trẫm muốn trang bị cho mình những kiến
thức ấy, khả dĩ rửa sạch bụi bặm cho mình và cho người
khác.
- Thiện
tai! Vậy thì trẫm sẽ nói đây.
Mười
ba pháp đầu đà này, trước hết, được ví như đất, vì
đất là nơi nương tựa của mọi loài. Pháp đầu đà là
nơi nương tựa, sanh trưởng của mọi thiện pháp.
Nó
được ví như nước, bởi nước rửa sạch bụi bặm, dơ
dáy - pháp đầu đà rửa sạch trần cấu, ác uế.
Nó
được ví như lửa đốt cháy mọi vật - pháp đầu đà thiêu
hủy phiền não.
Ví
như gió, thổi quạt đi tất cả mọi khí, mọi mùi; Pháp đầu
đà cũng thế, nó thổi quạt đi tất cả khí vị trần gian,
dù thanh hay trược, dù thơm hay thối!
Nó
được ví như thuốc để chữa bệnh - pháp đầu đà đối
trị tất cả tâm bệnh của tất cả con người.
Ví
như nước trường sanh - pháp đầu đà cho mọi người nếm
thưởng nước cam lồ bất tử.
Nó
được ví như ruộng, sinh lúa gạo - pháp đầu đà là ruộng
phước cho chư thiên và loài người.
Nó
được ví như ngọc như ý, thành tựu ước nguyện - pháp
đầu đà cũng thành tựu ba cõi người, trời và Niết bàn
như ý nguyện.
Nó
được ví như thuyền to vượt qua biển lớn - thì pháp đầu
đà cũng là chiếc thuyền kiên cố để vượt qua đại dương
sinh tử ái hà.
Ví
như có một nơi chốn an vui, thoát khỏi mọi sợ hãi - pháp
đầu đà cũng là chỗ nương tựa, thoát khỏi mọi sợ hãi
về sanh, già, bệnh, chết.
Ví
như người mẹ hằng nuôi dưỡng và bảo vệ con thoát khỏi
mọi điều rủi ro, tai hại - pháp đầu đà cũng hằng nuôi
dưỡng và bảo vệ chúng sanh y như thế.
Pháp
đầu đà cũng có thể được ví như người cha, là nguyên
nhân sanh con - pháp đầu đà cũng là người cha, nguyên nhân
để sanh sa môn quả.
Nó
được ví như người bạn tốt hằng giúp đỡ ta thành công
trên đường đời - pháp đầu đà là người bạn lành giúp
đỡ ta trên đường tiến hóa.
Ví
như hoa sen không dính nước - pháp đầu đà cũng không dính
nước ái dục và si mê.
Ví
như những vật thơm có thể tẩy uế - pháp đầu đà cũng
tẩy sạch những uế trược.
Nó
được ví như Tu di sơn không bị lay động bởi bão, gió -
pháp đầu đà cũng không hề lay động bởi tám ngọn gió
thế gian.
Ví
như hư không rộng rãi thênh thang không cùng tột - pháp đầu
đà cũng mênh mông không mé bờ. Hư không không có kẻ thù
và ai đến quấy rối thì pháp đầu đà cũng y như thế.
Ví
như con sông lớn chở bao nhiêu rác rều đất cát về biển
cả - pháp đầu đà cũng cuốn trôi tất thảy xấu ác, bợn
nhơ, trần uế...
Ví
như người dẫn đường cho kẻ bộ hành khỏi lầm đường,
lạc nẻo - pháp đầu đà cũng dẫn đường cho hành giả khỏi
rơi và các mê lộ, tà kiến.
Ví
như người lái buôn chở hàng hóa đến nơi thị tứ - pháp
đầu đà cũng chuyên chở chúng sanh đến cõi niềm an vui.
Ví
như mặt trăng có ánh sáng mát dịu - pháp đầu đà cũng mát
mẻ thanh lương và tẩm dịu lòng người.
Ví
như mặt trời, hằng xuyên thủng mây mù, pháp đầu đà cũng
xuyên phá hôn ám, vô minh.
Ngoài
ra, pháp đầu đà còn:
Làm
thành tựu tư cách;
Là
nơi thương yêu của mọi người;
Nơi
không có tội lỗi;
Nơi
viên mãn đức lành;
Nơi
của những trạng thái tâm cao thượng;
Dứt
trừ ưu sầu, nóng nảy, rối rắm;
Chận
đường tái sanh v.v...
Như
nước tưới thấm mầm cây;
Như
lửa để nấu nướng đồ ăn;
Như
là hầm tài sản của mọi người;
Như
được thân cận bạn lành, người dũng cảm;
Như
người hầu hạ mong được quan tước;
Như
nơi dạy học trò học nghệ;
Như
cái kiếng để soi mặt;
Như
y phục để mặc;
Như
rương hòm cất đồ đạc;
Như
đèn đốt ban đêm;
Như
vương lệnh ban hành ngăn phạm luật;
Nơi
thành tựu sa môn quả;
Nơi
thành tựu lục thông;
Đạt
kết quả mau lẹ;
Ngăn
ngừa giới phạm.
Tâu
đại vương, lợi ích, diệu dụng, đức tính, công năng của
mười ba pháp đầu đà cao thượng và phong phú như thế, nên
những hạng người sau đây không thể thực hành được:
Một
là, người có tâm ganh tỵ.
Hai
là, người giả dối.
Ba
là, người tham muốn thấp hèn.
Bốn
là, người chỉ nghĩ đến miệng và bụng.
Năm
là, người ham lợi lộc.
Sáu
là, người cầu danh.
Bảy
là, người ham vinh dự.
Bảy
hạng người ấy không thể thọ đầu đà mười ba pháp, nếu
có thì cũng làm cho sự thọ trì ấy bị hư hỏng; họ sẽ
bị mọi người khinh bỉ, chê bai, giễu cợt, ruồng bỏ, lánh
xa v.v... Trong hiện tại thì như thế, còn vị lai thì sẽ phải
chịu nhiều quả báo đau khổ, bị lửa địa ngục thiêu đốt,
lửa cháy phần trên và phần dưới. Hết địa ngục họ sanh
làm ngạ quỷ có thân hình to lớn, có sắc thân xấu xí, hôi
hám; thân chỉ là cái lỗ trống rỗng, tai thòng xuống, chịu
đói khát triền miên, chịu khổ vô cùng tận; bị lửa phụt
từ trong thân ra đằng miệng, có da bọc xương, bị dòi đục
khóet v.v...
Nói
tóm là người thiếu phước, thiếu căn duyên, có nghiệp nặng,
có kiếp sống thấp hèn, hạ liệt không thể thọ mười ba
pháp đầu đà được; như kẻ lên làm vua mà thiếu đức,
thiếu phước sẽ tự rước khổ vào mình. Chỉ có những
vị tỳ khưu tri túc, tinh tấn, siêng năng, không bộ điệu,
có đức tin... có chí nguyện xa lìa sinh tử - mới thọ trì
được.
Quả
thật, pháp đầu đà như thuốc dành cho người bệnh, như
hoa thơm, như ngọc như ý, như ngai vàng và bảo cái của đức
vua... Người thực hành mười ba pháp đầu đà trước sau
cũng sẽ đắc thắng trí thần thông hoặc Niết bàn an lạc,
tâu đại vương!
Nghe
đến đây, đức vua Mi-lan-đà nói:
- Trẫm
cảm thấy choáng ngợp trước lợi ích quá to lớn, kỳ vĩ
và nhiều đến vô lượng như thế.
- Dĩ
nhiên rồi! Vì đấy là sự mến yêu, là sở thích, là lộ
trình của chư Phật, và cũng là cõi về của chư vị Thánh
nhân. Ai cũng phải đi qua lộ trình ấy, đã từng thực hành
pháp ấy nên mọi công phu, công hạnh dễ dàng được trổ
quả. Họ dễ dàng nhập định, dễ dàng an trú lạc mãn, hỷ
mãn, dễ dàng chứng đắc các pháp cao siêu.
Ví
như một thửa ruộng đã cày bừa sẵn, phân nước đầy đủ,
bây giờ chỉ vãi lúa là hạt nảy mầm thành đám ruộng xanh
tốt. Các vị đã thực hành đầu đà kiếp trước rồi, kiếp
này cũng dễ viên toàn công hạnh như thế.
Ví
như vị thái tử lên ngôi vua, nhờ vương vị ấy do vua cha
đã dày công hãn mã gầy dựng nên, lại còn do phước phần
mà vị thái tử ấy đã tạo trong kiếp trước. Các vị trưởng
tử của Đức Phật được thừa hưởng pháp bảo của Đức
Tôn Sư, nhưng cũng chính là do nhờ các ngài đã công phu khổ
hạnh đầu đà nhiều kiếp. Cho hay, đầu đà mười ba pháp
kia là nguyên nhân cần thiết, tất yếu cho mọi thành tựu
quả vị tâu đại vương!
- Thưa
vâng!
- Đức
Phật cũng thường tán dương những vị tỳ khưu tinh tấn
thọ đầu đà. Đức pháp chủ Xá-lợi-phất là bậc tối
thượng Thinh văn cũng thọ trì mười ba pháp đầu đà, nên
đã thành tựu vô lượng trí tuệ, vô lượng đức tính quý
báu - mà ngoài Đức Thế Tôn ra, không ai sánh bằng, tâu đại
vương!
- Vâng,
quả là lợi ích tối thượng - đức vua Mi-lan-đà nói - Trẫm
xin rút lại lời nói ban đầu, đại đức nhé!