176.
Có ai thấy Phật không?
Qua
biết bao nhiêu là câu hỏi, bao nhiêu ngày đã trôi qua, bao
nhiêu câu trả lời của bậc trí tuệ; đức vua Mi-lan-đà
lần hồi khám phá ra một kho tàng pháp bảo, mà bề xa bề
rộng của nó là không có mé bờ, bề sâu bề ẩn của nó
cũng khó lặn cho tận đáy. Ngoài ra, còn có những cái rất
cụ thể và giản dị như có thể nhìn bằng mắt, sờ bằng
tay, đôi khi tưởng là dễ dàng như mặc áo, ăn cơm! Mỗi
mỗi chi tiết đều mạch lạc, sáng sủa. Mỗi mỗi ví dụ
đều trùng khít với nghĩa ngữ!
"Ôi!
Cảm ơn, thâm tạ vị đại đức tuổi trẻ, thông tuệ. Ta
đã thấy được một phần nào, trong muôn một, lộ trình
tìm đến chân phúc. Lộ trình ấy chính là tuệ phá vỡ vô
minh, diệt tận ái dục. Con đường ấy phải bước qua những
lạch luồng vi tế, cạm bẫy của ngã chấp và tri kiến. Sự
tối thượng của Niết bàn cần phải được khám phá. Vị
cam lồ bất tử của Niết bàn cần phải được nếm thưởng
để khỏi uổng phí một đời! Tuy nhiên, tất cả những câu
hỏi đưa ra, không phải chỉ vì ta và bởi ta, mà còn cho đại
chúng và cho cả những thế hệ mai sau. Vâng, ta phải hỏi,
hằng trăm câu hỏi. Dù câu hỏi đó sơ căn, dù câu hỏi đó
dường như phạm thượng, dù câu hỏi đó như đặt bẫy,
dù câu hỏi đó tưởng như nhạt nhẽo, vô duyên, dù câu hỏi
đó ngớ ngẩn, dù câu hỏi đó là khó chịu, dù câu hỏi
đó là rối ren, phức tạp, dù câu hỏi đó tốn công, mất
thì giờ, dù câu hỏi ấy kẻ trí không nên đặt ra! Mặc,
ta cứ hỏi, nhờ vậy, giáo pháp sẽ được phong phú thêm
lên, giáo pháp sẽ được khơi dòng và tuôn chảy vào tất
cả ngõ ngách, tế bào của đời sống, trên mọi nẻo tối
tăm mà ma vương đang ngự trị!"
Đức
vua Mi-lan-đà sau khi suy nghĩ như thế rồi, hân hoan phát sanh;
với sắc mặt tươi vui phơi phới, đặt thêm câu hỏi khác:
- Thưa
đại đức! Ngài giải đáp rất hay hằng trăm câu hỏi về
giáo pháp của Đức Tôn Sư; nhưng chẳng hay, ngài đã từng
thấy đức Phật chưa?
- Dạ
thưa chưa, tâu đại vương!
- Thế
thầy tổ của đại đức có thấy chăng?
- Cũng
không thấy.
- Những
vị thầy ba đời, bốn đời, là thầy của thầy tổ đại
đức, chắc có thấy chứ?
- Tâu,
cũng không luôn!
- Vậy
là rõ, như thế không có Đức Phật rồi!
Đại
đức Na tiên im lặng giây lát, rồi hỏi:
- Nghe
nói đại vương gốc người Hy lạp?
- Đúng
vậy.
- Vị
thủy tổ khai sáng dòng họ đại vương ở Hy lạp tính đến
nay chừng bao nhiêu đời rồi!
- Thưa,
đâu cả hằng trăm đời!
- Đại
vương đã từng thấy mặt vị thủy tổ của ngài chưa?
- Chưa
thấy.
- Thân
phụ của đại vương có thấy không?
- Cũng
không thấy.
- Thế
các vị tằng tổ, cao tằng... năm đời, bảy đời của đại
vương có thấy chăng?
- Cũng
không nốt!
- Vậy
rõ là vị thủy tổ của đại vương không có rồi!
Đại
vương Mi-lan-đà cười ha hả:
- Thủy
tổ của trẫm có, bằng chứng là còn dòng họ của trẫm
và có trẫm đây!
- Cũng
như thế, tuy bần tăng không thấy Đức Phật, nhưng Đức
Phật có, bằng cớ là còn giáo hội Tăng già, còn giáo pháp
và có bần tăng đây!
Đức
vua Mi-lan-đà tự nghĩ: "Đáp thế là hết chỗ để mà hỏi
rồi, nhưng ta nên giả bộ ngớ ngẩn", bèn hỏi tiếp:
- Đại
đức có còn ví dụ nào nữa chăng?
- Có
chứ! Ở nơi quốc độ mà đại vương đang ngự trị đây,
trước đây đã từng có đức vua nào khai sáng hở đại vương?
- Theo
lịch sử thì có chứ!
- Nhưng
đại vương có thấy chăng?
- Không
thấy.
- Thế
các vị lão thần, các vị quân sư đã già cả họ có thấy
chăng?
- Cũng
không thấy!
- Thôi,
nói chi xa, vị vua trước đây cai trị quốc độ này, đại
vương có thấy chăng?
- Không
thấy.
- Các
vị đại thần, quân sư của đại vương có thấy chăng?
- Cũng
không thấy.
- Thế
là rõ. Thế là trước đây chẳng hề có một vị vua nào
cả!
Đức
vua Mi-lan-đà nói:
- Thưa
đại đức, các vị vua ấy đều có cả. Trước đây năm
đời các vị đều băng hà, nhưng vị cuối cùng thì nơi cung
điện cũ còn để lại nhiều đồ ngự dụng; ví như cái
mão, cái quạt, cái lọng, một bảo kiếm và một long sàng
có đính trân châu đắt giá. Chính bằng cớ ấy chứng minh
là đức vua ấy có mặt dầu trẫm không thấy!
Đại
đức Na tiên tự nghĩ: "Ý đức vua muốn ta chứng minh rằng
có Đức Phật bằng nhiều ví dụ khác nhau - cũng vì muốn
tăng trưởng đức tin cho phần đông." Bèn nói:
- Tâu
đại vương! Bần tăng không thấy Đức Thế Tôn, thầy tổ
ba, bốn đời của bần tăng cũng không thấy Đức Thế Tôn
- nhưng quả là Đức Phật có, bằng cớ là những "Phật dụng"
của Đức Phật hiện còn, tâu đại vương!
Những
"Phật dụng" ấy được chư thinh văn A-la-hán kế tục gìn
giữ từ đời này sang đời kia, đó là:
Tứ
niệm xứ,
Tứ
chánh cần,
Tứ
thần túc,
Ngũ
căn,
Ngũ
lực,
Thất
giác chi,
Bát
chánh đạo.
Chính
những "Phật dụng" ấy - là kho tàng pháp bảo mà các thế
hệ tăng lữ đang bảo lưu, tu tập, cho đến hôm nay. Nó cụ
thể thiết thực cho đến nỗi là nó hiện đang có mặt ở
đây, giữa bần tăng và đại vương, trong chính những câu
hỏi và đáp này!
Vậy
thì đã rõ, Đức Phật có thật rồi, phải không đại vương?
- Đồng
ý là vậy, nhưng trẫm vẫn muốn nghe thêm ví dụ.
Đại
đức Na tiên thầm nghĩ: "Có lẽ đức vua này muốn ta đưa
ra ví dụ để từ đó, mọi người có thể đi vào từng chi
tiết trong kho tàng pháp bảo của Đức Thế Tôn đây." Bèn
hoan hỷ nói:
- Cũng
được thôi! Trước khi trả lời, đại vương có thể cho
biết ai đã xây dựng, kiến tạo kinh thành này? Phải là bậc
thầy kiến trúc tài ba mới có thể đưa ra một quy mô hoàn
chỉnh vào loại bậc nhất đương thời ở châu Diêm phù đề
như thế!
- Vâng.
Đúng là vậy. Trước tiên phải xem xét thắng địa, chỗ
núi non giao nhau như long như hổ, chỗ hợp lưu của các dòng
sông, chỗ tựa vững vàng chắc bền cùng điểm nhìn thông
thoáng có những bức tường núi chắn che v..v...Ngoài ra, ở
đấy phải có đất đai phì nhiêu, cây trái thạnh mậu, hoa
cỏ tốt tươi, muôn chim muôn thú sinh trưởng đông vui v.v..
Sau
khi phần đất kinh đô đã định rồi, trẫm cho vời một
bậc thầy kiến trúc lên họa đồ, phác thảo đâu là khu
vực của hoàng cung, có nơi hội trào, chỗ trẫm ngự, chỗ
hoàng hậu, phi tần, cung nga thể nữ ở. Rồi nơi nào là vườn
thượng uyển, các công viên bao quanh, có hồ bán nguyệt, hồ
lớn, hồ nhỏ thả hoa sen, hoa súng v..v... Rồi nào là hội
trường lớn, chỗ đại trường họp quân, chỗ giải trí
vui chơi, các kho tàng gạo, vải vóc, khí giới v.v... Rồi nơi
nào là các con đường lớn, đường nhỏ, những ngã ba, những
ngã tư v.v... Rồi nơi nào là bệnh xá, chỗ ở của bá quan
cùng gia đình đương triều. Chỗ nào là nhà học, nhà giảng
công cộng. Những bến nước, nhà xí, nhà tắm. Rồi còn những
kho đúc đồng, đúc vàng, đúc bạc... thật là không kể xiết
đâu, đại đức!
- Tâu,
vâng. Vậy cũng tạm đủ rồi. Hiện tại, kinh đô của đại
vương là kinh đô hùng cường nhất thiên hạ. Có lẽ chưa
có ở đâu có tường thành bao quanh vững chắc như thế. Có
hào sâu và có những chiến đài, chiến lũy vững chắc như
thế. Quốc độ của đại vương, ruộng đồng tốt tươi,
gạo cơm dư dả. Đại vương cai trị quốc độ mình bằng
một chính sách vừa cứng vừa mềm, tình lý phân minh, hợp
lẽ. Muôn dân được sống trong cảnh hòa bình, an lạc.
Đức
vua Mi-lan-đà nói:
- Đại
đức quá khen!
- Đấy
là sự thật! Còn nữa, hiện tại, quốc độ của đại vương
ít có điều họa hại, rủi ro; sự phạm pháp của bá tánh
thật không đáng kể. Tất cả chủng tộc, giai cấp đều
sống trong không khí hòa thuận, yên bình. Dòng quý tộc, bà-la-môn,
thương gia, thợ thuyền, nông dân... đều chẳng có chỗ hiềm
khích, kích bác nhau, đấu đá nhau. Chẳng có nơi nào mà thủ
lĩnh voi, thủ lĩnh ngựa, thủ lĩnh xe, thủ lĩnh bộ binh, thủ
lĩnh cung tên... dưới trướng của đại vương đều tài ba
lỗi lạc như thế. Những hoàng tử con vua, con bá quan, con
thường dân... đều có nơi chốn để học hành rồi sau đó
trổ tài phụng sự quốc gia. Rồi tướng lãnh, binh sĩ đều
là những người tình nguyện, đầu quân giết giặc hoặc
bảo vệ lãnh thổ nơi này nơi khác. Tất cả đều uy vũ,
có khí thế, được huấn luyện một cách kỹ càng. Tất cả
những gia đình ở trong kinh thành, ví như con những người
giàu có, con những người đô vật, con những người giúp
việc...đều có cơ hội thăng quan tiến chức, phát triển
khả năng của mình.
Rồi
còn biết bao nhiêu là nghề thợ tài hoa, làm phong phú, giàu
có và thêm sắc màu sinh hoạt đa dạng cho quốc độ. Nào
là thợ mạ, thợ tẩy xóa, thợ vẽ đủ loại, thợ làm mạt
hương chiên đàn, thợ vàng, thợ thiếc, thợ đồng đỏ,
đồng vàng, thợ ngọc, thợ mài hột, thợ quay tơ, thợ nồi,
thợ dệt, thợ nắn, thợ trang trí, thợ bảo kiếm, thợ trường
kiếm, thợ làm xà mâu, thương giáo, thợ mộc, thợ đoản
kiếm, thợ trang sức, thợ làm đất làm cát, thợ chàm, thợ
nhựa, thợ nướng thịt, thợ làm vật thực... Ôi! Thật là
đủ loại, đủ thứ không thiếu gì!
Ngoài
ra, sinh hoạt phố phường, chợ búa thật đông vui, tấp nập,
quán xá san sát. Rồi còn nào là chợ hoa, chợ bán vật thơm,
chợ bán trái cây, chợ bán thuốc trừ độc rắn, chợ bán
thuốc chữa bệnh, chợ bán nước trường sanh, chợ bán ngọc,
chợ bán đồ đạc, vật dụng tổng hợp v..v...
Một
quốc độ như thế, một đời sống nhân dân hạnh phúc, ấm
no như thế... trước tiên là thuộc công đức của đại vương,
thứ nữa là phải kể đến vị kiến trúc bậc thầy nọ,
phải thế không đại vương?
- Có
thể gọi là như vậy!
- Thế
là đại vương đã để lại một kinh đô, một toà kiến
trúc hoàn chỉnh cho nhân dân và cho hậu thế, phải vậy không
đại vương!
- Đúng
vậy!
- Đức
Thế Tôn cũng đã để lại một kinh đô hoàn chỉnh, một
tòa kiến trúc quy mô như thế, đại vương có muốn nghe chăng?
- Rất
muốn nghe, thưa đại đức!
- Đức
Thế Tôn đã tạo nên một quốc độ chánh pháp, một vương
triều thịnh trị, một kinh đô hoa lệ, một tòa lâu đài
nguy nga đồ sộ... cũng tương tự như đại vương vậy, tâu
đại vương!
- Vâng!
Xin đại đức hãy kể cho nghe?
- Tâu,
vâng! Trước tiên, kinh đô ấy:
Có
giới là thành trì,
Có
sự hổ thẹn tội lỗi là pháo đài hộ thành,
Có
chánh niệm là quân canh giữ của,
Có
chánh trí là đại môn,
Có
tinh tấn là chiến lũy,
Có
đức tin là chóp vàng của toà bảo điện,
Có
trí tuệ là bảo điện,
Có
tạng kinh là các đường cho bộ hành qua lại,
Có
vi diệu pháp là ngã ba, ngã tư đường v.v...,
Có
tạng luật là công đường xét xử nghiêm minh,
Có
tứ niệm xứ là con đường lớn rộng rãi v.v...
Bần
tăng kể sơ như vậy, đại vương có hình dung ra được kinh
đô chánh pháp của Đức Thế Tôn đã để lại chăng?
- Thưa,
hình dung được, nhưng không có gì đặc biệt lắm. Ngài hãy
kể cho nghe ở kinh thành ấy có bán hàng hóa gì lạ không?
Có thứ gì mà mọi người thích mua, thích dùng chăng?
- À,
vâng! Ở đấy có rải rác các khu chợ trên những con đường,
nào chợ bán hoa, chợ bán vật thơm, chợ bán trái cây, chợ
bán thuộc độc trừ rắn, chợ bán thuốc chữa bệnh, chợ
bán nước trường sanh, chợ bán ngọc, chợ bán hàng hóa tổng
hợp... y như là kinh thành này của đại vương không khác!
- Thế
thì hay lắm! Hoa của kinh đô trẫm thì có rất nhiều loại,
nhiều sắc màu, thơm và quý hiếm. Còn chẳng hay, hàng bán
hoa của Đức Thế Tôn chưng bán những hoa gì?
Đại
đức Na-tiên chợt mỉm cười:
- Hoa
của kinh đô đại vương có lắm sắc màu, ai cũng thấy ngay
là đẹp; hương của nó tỏa ra ai cũng cảm nhận ngay là thơm.
Nhưng sắc màu ấy chóng tàn, hương ấy chóng phai, thật chẳng
xứng cho các bậc trí giả vào đấy để mua, tâu đại vương!
- Còn
hoa của Đức Thế Tôn ra sao mà đại đức dám chê bai hàng
hoa của trẫm như thế?
- Vâng,
hoa của Đức Thế Tôn nom rất xấu xí, chẳng có sắc mà
cũng chẳng có hương; có vài loại lại bất tịnh, đáng nhờm
gớm là khác, tâu đại vương!
- Thế
mà gọi là hoa à?
- Vâng,
chính thật là hoa, là vi diệu hoa, tối thắng hoa. Ai mua hoa
ấy về, ngày đêm nhìn ngắm, chiêm nghiệm... một thời gian
sau, tính chất, tố chất vi diệu của nó sẽ len thấm vào
tâm hồn, nó sẽ nở, sẽ phô sắc tỏa hương ở bên trong,
giúp ta tận hưởng niềm an lạc, vui tươi, hoan hỷ... không
kể xiết được, tâu đại vương!
- Đại
đức đừng quảng cáo món hàng nữa, cứ bày bán ra thử xem?
- Tâu,
vâng! Hoa ấy được Đức Thế Tôn gọi là "tưởng". Có những
món hàng tưởng sau đây:
Tưởng
vô thường,
Tưởng
khổ não,
Tưởng
vô ngã,
Tưởng
tử thần,
Tưởng
bất tịnh,
Tưởng
tội lỗi,
Tưởng
dứt bỏ,
Tưởng
diệt luyến ái,
Tưởng
tịch diệt,
Tưởng
không thỏa thích trong thế gian,
Tưởng
vô thường trong tất cả các hành,
Tưởng
tử thi chỉ còn xương,
Tưởng
tử thi có dòi nhung nhúc,
Tưởng
tử thi có nhiều màu sắc,
Tưởng
tử thi đứt ra nhiều phần,
Tưởng
tử thi máu mủ chảy ra,
Tưởng
tử thi sình lên,
Tưởng
tử thi có thú cắn xé,
Tưởng
tử thi rời rạc mỗi nơi mỗi cái,
Tưởng
tử thi bị bằm chặt từng miếng nhỏ,
Tưởng
tử thi bê bết máu v.v...
Mới
nghe đến ngang đây, đức vua Mi-lan-đà nói:
- Quả
thật là hoa ấy kỳ lạ lắm, nhưng kinh khiếp quá, đại đức!
- Thế
thì thôi, bần tăng sẽ bày thêm hoa khác.
- Vâng.
- Những
hoa này mát mắt hơn, đấy là:
Từ
tưởng,
Bi
tưởng,
Hỷ
tưởng,
Xả
tưởng v..v...
Tâu,
đại vương! Gồm tất cả tưởng ấy Đức Thế Tôn gọi
là chợ bán hoa. Các bậc trí giả lựa chọn hoa nào mình thích,
đem về nhìn ngắm, chiêm nghiệm, trầm tư, quán tưởng...
lần hồi sẽ giải thoát khỏi luyến ái, sân hận, si mê,
ngã chấp, tà kiến, sẽ dứt hết hoài nghi và phiền não,
để tiến vào quốc độ Niết bàn tối thượng lạc, quý
báu hơn tất cả mọi quốc độ. Khi chấm dứt được tất
cả khổ rồi, người ấy sẽ không còn sanh, già, bệnh, chết...
hằng tươi vui trong cõi trường xuân... Vậy không là tối
thắng hoa, diệu thắng hoa là gì, hở đại vương?
- Đúng
vậy. Quả thật là trẫm vừa vinh hạnh, may mắn chiêm quan
chợ bán hoa nơi vương quốc của chánh pháp. Thật là lợi
lạc vô cùng. Rồi trẫm cũng phải lựa chọn cho mình những
đóa hoa nào mà mình thích nhất, mang về để chiêm nghiệm
thử xem. Tất cả thính chúng ở đây cũng thế, mỗi người
nên mua một đóa, hai, ba đóa càng tốt, có lẽ Đức Thế
Tôn cũng tặng thôi chẳng bán đắt giá đâu!
A còn
chợ khác nữa! Trẫm muốn vào xem chợ bán vật thơm, đại
đức!
- Ồ
bần tăng sẽ giới thiệu sản phẩm, hương liệu vật thơm
cho đại vương xem:
Đây
là hương thơm của giới,
Đây
là hương thơm của định,
Đây
là hương thơm của tuệ,
Đây
là hương thơm của giải thoát,
Đây
là hương thơm của giải thoát tri kiến.
Tất
cả chỉ có năm món thôi, đại vương!
- Vâng,
vâng! Vậy là đủ ngất ngây rồi, xài trăm triệu kiếp cũng
không hết rồi, vì trẫm biết mùi hương của nó.
- Đại
vương biết như thế nào?
- Thưa,
chỉ cần nói về giới hương thôi, đã vi diệu, tối thắng
hơn tất cả mùi thơm quý báu trong quốc độ của trẫm cọng
lại. Hương thơm của hoa chẳng bay ngược theo chiều gió,
còn hương của giới không những bay ngược chiều gió mà
còn có thể thơm khắp tất cả mọi phương hướng, lan tỏa
cả cõi người cõi trời, xông ngát đến bốn cõi Tứ đại
thiên vương, thưa đại đức!
- Đúng
vậy! Người thọ trì ngũ giới, bát quan giới, tiểu giới,
đại giới, tứ thanh tịnh giới... sẽ có được hương thơm,
như Đức Thế Tôn đã thuyết: "Hương hoa lài, hương hoa sen
thơm tho lắm; và quý báu nhất là hương chiên đàn, hương
trầm. Nhưng các loại hương ấy không thể thơm ngược chiều
gió. Chỉ có giới hương là lan tỏa khắp mười phương, tám
hướng. Giới hương còn cao quý hơn cả thiên hương."
Đức
vua Mi-lan-đà nói:
- Kinh
đô của chánh pháp rộng lớn quá, đại đức chỉ nên giới
thiệu tượng trưng thôi. Ví dụ như giới hương đã quý báu
thế, còn nói gì đến tuệ hương và giải thoát hương! Bây
giờ đại đức cho xem gian hàng khác, ví như gian hàng bán
trái cây chẳng hạn?
- Vâng,
đấy là gian hàng bán các thứ quả như sau:
Tu-đà-hoàn
quả,
Tư-đà-hàm
quả,
A-na-hàm
quả,
A-la-hán
quả,
Không
quả,
Nhập
định quả,
Vô
tướng quả nhập định,
Xả
quả nhập định v.v...
Tâu
đại vương! Trái cây thế gian dù ngon ngọt cũng chỉ ăn trong
chốc lát, no trong chốc lát - còn các loại quả bất tử (amata
phala), ăn vào thì no nhiều đời nhiều kiếp, nuôi dưỡng
thọ mạng và được an lạc miên trường không gì sánh nổi.
- Vâng,
trẫm mong rằng sẽ mua được quả nho nhỏ cũng hạnh phúc
lắm rồi.
- Vậy
bây giờ chúng ta đi vào chợ bán thuốc trừ độc rắn nhé?
- Vâng!
- Bây
giờ đại vương hãy nhìn những toa thuốc chuyên trị các
loại độc rắn:
Thuốc
giải tham sân si độc,
Thuốc
giải sanh, già, bệnh, chết độc,
Thuốc
giải luân hồi độc,
Thuốc
giải phiền não độc,
Thuốc
giải sầu bi khổ ưu độc,
Thuốc
giải trái ý, nghịch lòng độc,
Thuốc
giải ganh tỵ, tật đố độc,
Thuốc
giải quên ơn, bạc nghĩa độc,
Thuốc
giải bỏn xẻn rít róng độc,
Thuốc
giải cứng đầu, ương ngạch độc,
Thuốc
giải tự cao, tự đại độc v.v...
Đức
vua Mi-lan-đà nói:
- Thôi,
vậy là đã quá nhiều, trẫm đang đầu váng mắt hoa đây.
Chỉ một chút nọc độc ấy cũng đủ tiêu hủy một đời
người, hoặc làm cho con người quằn quại, đau đớn. May
mắn thay, gian hàng chánh pháp đã bán sẵn các loại thuốc
giải. Thật là hữu ích cho chúng sanh. Ai bị loại độc nào
thì cứ tự động mua loại thuốc giải ấy mà trị. Phải
thế không, đại đức?
- Vâng!
chỉ sợ chúng sanh không dám mua đó thôi!
- Không
mua thì đừng có thống khổ, rên la!
- Đức
Thế Tôn bố thí đấy, có bán chác gì đâu, đại vương!
- Thế
thì tốt quá. Nhưng liều lượng thế nào, uống rồi cử cái
gì, sao không thấy ghi bên dưới.
- Cũng
đúng thôi! Cái đó tùy mỗi người biết độc của mình ra
sao, uống ra sao, kiêng cử ra sao. Hãy tự mình chiêm nghiệm
và sử dụng.
- Hay
vậy thay!
- Thế
bây giờ đại vương còn muốn đi xem nữa chăng?
- Còn
muốn.
- Giờ
chúng ta qua gian hàng bán thuốc trừ bách bệnh, kể cả tứ
chứng nan y, kể cả bệnh mà thần chết không muốn rước.
Tất cả sẽ lành tất!
- Hay
dữ!
- Đây,
hãy xem cái nhãn hiệu cùng cách đối chứng trị liệu:
Tứ
niệm xứ: chữa trị bệnh thân, bệnh thọ, bệnh tâm, bệnh
pháp.
Tứ
chánh cần: chữa trị bệnh dễ duôi, buông xuôi theo ác niệm.
Tứ
thần túc: chữa bệnh thiếu ý chí, thiếu quyết tâm, thiếu
tập trụng, thiếu sự quan sát.
Ngũ
căn và ngũ lực: chữa bệnh thiếu đức tin, thiếu tinh tấn,
thiếu niệm, thiếu định, thiếu tuệ.
Thất
giác chi: uống vào là lành hẳn, là giải thoát tất cả bệnh.
Bát
chánh đạo: chữa bệnh tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp,
tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
Tâu
đại vương! Đấy là nói ngắn gọn. Chứ gian hàng bán thuốc
này có thể trị dứt hẳn tám mươi bốn ngàn căn bệnh của
chúng sanh!
Đức
vua Mi-lan-đà tán thán:
- Thật
là vi diệu thay! Thế còn chợ bán nước trường sanh bất
tử ở đâu, đại đức?
- Tâu,
đại vương! Hãy nghe đây! Nhiều người sau khi xem chợ bán
hoa, chợ bán hương, chợ bán trái cây, chợ bán độc rắn,
chợ bán thuốc trị bách bệnh; thấy nhiều thứ nhiều loại
quá, không biết chọn thứ nào, mua thứ gì... họ bèn vào
chợ bán nước trường sanh bất tử này. Đây là chợ chỉ
bán duy nhất một món, khỏi lựa chọn gì cả. Chỉ chuyên
uống một món này thôi cũng nếm thưởng được vị cam lồ
bất tử là Niết bàn. Nếu chưa được vị ngon ngọt của
Niết bàn, họ cũng chấm dứt được ưu sầu, thống khổ:
khỏi tái sanh vào các cảnh thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh, a-tu-la... tâu đại vương!
- Độc
vị ấy là gì, đại đức?
- Là
pháp niệm thân, đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà gật đầu:
- Ồ!
Đúng vậy! Đây là thuốc dành cho mọi người chung chung, uống
loại nước này công hiệu như thần, không lợi bề ngang cũng
lợi bề dọc... lần hồi vô sanh bất tử cả. Bây giờ đại
đức cho vào chợ bán ngọc, xem thử có những loại ngọc
vi diệu như thế nào!
- Tâu,
vâng!
Đây
là giới bảo ngọc;
Đây
là định bảo ngọc;
Đây
là tuệ bảo ngọc;
Đây
là giải thoát bảo ngọc;
Đây
là giải thoát tri kiến bảo ngọc;
Đây
là tuệ phân tích bảo ngọc v.v...
- Ở
gian hàng này ngọc cũng nhiều quá, đại đức giới thiệu
cho từng sản phẩm một, công năng diệu dụng hoặc là tính
chất quý báu của nó ở chỗ nào?
- Vâng,
vậy thì bần tăng sẽ giới thiệu về "giới bảo ngọc"!
Ngay giới bảo ngọc này cũng có rất nhiều loại khác nhau:
ngũ giới, bát giới, thập giới, thu thúc giới, lục căn thu
thúc giới, chánh mạng thanh tịnh giới, quán tưởng tứ vật
dụng thanh tịnh giới, tiểu giới, trung giới, đại giới,
đạo giới, quả giới, tâu đại vương!
- Vâng,
ngọc ấy là quý, sáng rỡ, cao đẹp như thế nào?
- Ngọc
thế gian dùng để trang điểm có nhiều thứ nhiều loại,
nhưng quý nhất là ngọc mani, chỉ đức Chuyển luân Thánh
vương mới có. Nhưng ngọc mani ấy dù quý báu thế nào cũng
là thế gian ngọc, phàm phu ngọc, giá trị không bằng một
phần mười sáu các loại ngọc này. Có ngọc này trang điểm
thân tâm, có thể bước vào cửa xuất thế gian, gặp mặt
các hàng thánh nhân; nên ngọc này được chư thiên, nhân loại,
sa môn, bà-la-môn rất tán thán, ca ngợi. Tỳ khưu trang điểm
cho mình loại ngọc này sẽ có ánh sáng huy hoàng chói lọi,
tỏa hào quang đi khắp các hướng đông tây nam bắc thượng
hạ trung; xuyên đến các cõi trời dục giới và phạm thiên
giới; đúng như Đức Thế Tôn đã thuyết: "Dù các hàng đa
văn, bác học; học rộng nghe nhiều cũng không bằng người
thọ trì giới, thực hành giới. Giới cao thượng hơn sự
nghe, sự học rất nhiều. Có giới phòng hộ, trang điểm thân
tâm, các ngươi có thể chấm dứt tất cả khổ và bước
vào cõi Thánh".
Đấy
là tính chất, công năng, diệu dụng của giới bảo ngọc,
tâu đại vương!
- Trẫm
rất hài lòng về giới bảo ngọc, bây giờ sang món hàng tiếp
theo?
- Đây
là định bảo ngọc, cũng có nhiều thứ nhiều loại: tầm
tứ định, vô tầm tứ định, lạc định, xả định, không
định v.v... Thứ nào cũng quý báu, cao sang cả, tâu đại vương!
- Xin
cho nghe tính chất, công năng, diệu dụng của nó, đại vương!
- Vâng,
các loại định này trước tiên là ngăn ngừa tất cả những
tà tư duy: dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy...; đồng thời
hủy trừ luôn các tư duy ngã chấp, tư duy phóng dật, tư duy
hoài nghi, tư duy tham luyến! Nhờ vậy tâm được yên lặng,
trong sạch, thuần khiết; đúng như Đức Thế Tôn đã thuyết:
"Ví như lá sen không bao giờ dính nước, định có công năng
làm cho những bợn nhơ phiền não xa lìa không thể dính vào
tâm. Định chính là bảo vật cao quý làm cho những tư duy
xấu ác không xâm hại được, không xen vào được, không
lay động được" - tâu đại vương!
- Quý
hiếm thay là định bảo. Đại đức cho nghe thêm về tuệ
bảo?
- Tuệ
bảo cũng có nhiều thứ nhiều loại: tuệ viễn ly, tuệ phá
chấp, tuệ giảm trừ, tuệ chiếu sáng, tuệ phân tích, tuệ
đoạn lìa, tuệ diệt tận, tuệ thấy rõ, tuệ giải thoát
v.v... Vậy đại vương muốn nghe loại tuệ nào?
- Loại
tuệ bảo nào mà đại đức thấy là công năng diệu dụng
của nó lợi ích cho nhiều người thì đại đức tùy nghi
thuyết giảng.
- Vâng,
Vậy thì bần tăng mang ra đây loại ngọc này: Tuệ Thấy Rõ!
Tuệ này dùng để trang điểm cho hai cõi: phàm và thánh. Các
vị Thánh nhân hằng trang điểm cho mình khi đi, đứng, nằm,
ngồi... không bao giờ xa rời, luôn với hào quang lấp lánh.
Còn phàm phu có nó mà trang điểm trên đỉnh trán - thì có
thể thấy: cái này là tội, cái kia là phước, cái này nên
gần gủi, cái kia nên xa lìa, cái này là quý, cái kia là tiện,
cái này là trắng, cái kia là đen, việc này nên làm, việc
kia không nên làm v.v... Cứ "thấy rõ" mãi như thế, phàm phu
bước lên cái "thấy rõ" cao hơn: cái này là khổ, cái này
là nhân sanh khổ, cái này là diệt khổ, cái này nếu thực
hành sẽ đưa đến nơi diệt khổ. Lên cấp độ này, người
ấy không còn là phàm phu nữa mà trở thành tuệ bảo của
Thánh nhận; có thể trang điểm cho mình để rong chơi ngoài
ba cõi, tự tại, an vui, rỡ rỡ dung nghi, cao sang tột bực!
Ngọc Mani của Chuyển luân Thánh vương nào có nghĩa lý gì,
phải thế không đại vương?
- Nhất
định rồi! Nhưng trẫm còn muốn nghe loại ngọc khác nữa.
- Tâu,
vâng! Ta tiếp tục. Đây là "giải thoát bảo châu"! đây là
loại trang sức, trang điểm bình thường của những công dân
ở cõi Thánh. Những vật thoa, vật thơm, những tràng hoa trang
điểm ở thế gian như trầm hương, cây có vỏ thơm, gỗ mục
thơm, mạt chiên đàn, hoa tỷ quân, hoa hường, hoa huệ, hoa
dâm bụt, hoa cúc, hoa lay ơn, hoa lài kép, hoa lý, hoa ngâu, hoa
ngọc lan, hoa sứ, hoa phượng hoàng, hoa phong lan... thật không
đáng kể. Hoặc hoa sen có mùi thơm bảy ngày, hoa cây có mùi
thơm nửa tháng... cũng không nghĩa lý gì!
Đi
vào gian hàng giải thoát bảo châu, ta sẽ gặp:
Giải
thoát nhất phần bảo châu,
Giải
thoát nhị phần bảo châu,
Giải
thoát tam phần bảo châu,
Giải
thoát tứ phần bảo châu.
Đây
là các loại bảo châu mà các vị Thánh nhân Tu-đà-hườn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán thường trang điểm cho mình.
Nó có hào quang chiếu diệu, cao quý và đẹp đẽ phi thường.
Thế gian chuộng ngọc thạch, ngọc mã não, ngọc lưu ly, ngọc
mani như thế nào thì chư vị Thánh nhân quý chuộng bốn loại
giải thoát bảo châu cũng y như thế.
- Càng
đi vào càng ngất ngây - đức vua Mi-lan-đà nói - nhưng trẫm
vẫn chưa muốn rời chân, thưa đại đức.
- Vậy
thì sang đây xem gian hàng: "giải thoát tri kiến bảo châu".
Tâu
đại vương! Ở nơi chỗ tuệ thì còn viễn ly, soi chiếu,
thấy rõ điều đáng làm, điều nên làm. Ở nơi chỗ giải
thoát thì giải thoát bán phần, giải thoát toàn phần v.v...
Còn giải thoát tri kiến bảo châu này là giải thoát rốt
ráo, giải thoát không còn dư tàn. Do vậy loại bảo châu này
hào quang tỏa rạng bất khả tư nghì. Tính chất và công năng
của nó là vô hạn, vô lượng định vậy. Các bậc Thánh
nhân vô lậu, trưởng tử của Như lai thường trang điểm
loại bảo châu này, tự tại vô ngại giữa dòng đời để
giáo hóa chúng sanh. Họ vừa trú nơi chơn tuệ để làm phận
sự công việc mình, vừa khởi ý làm thiện sự vì hạnh phúc
cho chư thiên và loài người, mà bao giờ cũng với tâm giải
thoát, tuệ giải thoát, tâu đại vương!
- Ồ
quý hiếm vậy thay.
- Ở
đây còn thứ quý hiếm nữa, là tuệ phân tích bảo ngọc,
đại vương cũng nên xem tiếp:
Tuệ
phân tích ý nghĩa,
Tuệ
phân tích pháp ,
Tuệ
phân tích văn tự,
Tuệ
phân tích biện tài vô ngại (tốc trí biện tài).
Đức
vua Mi-lan-đà:
- Đức
pháp chủ Xá - lợi - phất có thứ ngọc bảo này.
- Vâng.
- Nhờ
đại đức giảng rộng cho nghe.
- Tâu,
vâng, Bậc Thinh văn A-la-hán nào trang điểm cho mình loại ngọc
bảo này, thì dù đi vào hội chúng nào, đoàn thể nào, giới
cấp nào - ví như vua chúa, quan lại, sa môn, bà-la-môn, thương
gia, nông dân v.v... - bao giờ cũng với thái độ dũng cảm,
uy vũ, bất khuất; ngồi không cúi gục đầu xuống, tâm không
hề rung động, không sợ hãi, không chau mày, không cần nơi
nương tựa, không cần niệm, không cần quán tưởng, không
tự trấn an mình; hoàn toàn làm chủ mọi tình thế, tự biết
mình là lãnh chúa của muôn loài như sư tử vương tọa thị
điềm nhiên giữa chốn sơn lâm vậy.
Đức
vua tán thán:
- Thật
là đáng khâm phục, ngưỡng mộ!
- Dĩ
nhiên rồi! Ví như một viên dũng tướng vô địch xông xáo
giữa chốn thiên binh vạn mã; khi đã trang điểm cho mình mười
loại khí giới tuyệt hảo rồi - viên dũng tướng ấy chân
đạp một kẻ thù, chân đá một kẻ thù, tay nắm chỏm tóc
một kẻ thù, tay kia một nhát dao rơi một lúc mười kẻ thù
khác v.v... Mỗi mỗi động tác là trúng đích, một mũi tên
buông ra xuyên suốt bảy, tám tên giặc. Trường kiếm, đoản
kiếm, cung nỏ, giáo ngắn, giáo dài, trủy thủ, đao to, đao
nhỏ, xà mâu, đoản côn v.v... y đều sử dụng một cách thiện
xảo, nhuần nhuyễn... và chính xác từng ly tấc một... Viên
đại dũng tướng ấy chẳng hề sợ ai, chẳng chùn, chẳng
run tay, chẳng cần ngồi nghỉ dưỡng sức, chẳng cần tự
trấn an mình v.v... Khi tấn, khi thoái, lúc lạng người, lúc
né người, lúc cúi xuống, lúc đứng lên, lúc nhảy chéo,
lúc nhảy ngang, lúc vút lên cao, lúc hoành thân, lúc đảo bộ...
mỗi mỗi động tác của viên dũng tướng... đều tạo thêm
lợi thế, khí thế bừng bừng... làm cho kẻ thù dựng đứng
tóc gáy, tan tác dần dần... và rùng rùng bỏ chạy.
Tâu
đại vương! Bậc Thánh nhân vô lậu trang điểm cho mình loại
bảo châu bốn tuệ phân tích, đi vào giữa các hội chúng
cũng y như viên đại dũng tướng kia đi vào trận địa giết
giặc vậy!
- Thật
là khiếp hãi. Xin đại đức cho nghe ngay ngữ nghĩa đi thôi.
- Vâng.
Nếu các hội chúng:
Hỏi
về ý nghĩa, sẽ giải thích bằng ý nghĩa;
Hỏi
về nhân, sẽ giải thích về nhân;
Hỏi
về duyên, sẽ đáp về duyên;
Hỏi
về cách thức, phương pháp, sẽ giảng giải về cách thức,
phương pháp;
Hỏi
pháp phân tích nào, đáp pháp phân tích ấy;
Hỏi
pháp, trả lời pháp;
Hỏi
bất tử pháp, đáp bằng bất tử pháp;
Hỏi
pháp không tạo tác, đáp bằng pháp không tạo tác;
Hỏi
Niết bàn pháp, trả lời Niết bàn pháp;
Hỏi
không pháp, trả lời bằng không pháp;
Hỏi
vô tướng pháp, sẽ trả lời về vô tướng pháp;
Hỏi
bằng tầm tứ pháp, sẽ giải thích về tầm tứ pháp;
Hỏi
về vô tầm tứ pháp, sẽ đáp vô tầm tứ pháp;
Hỏi
về xả pháp, trả lời bằng xả pháp.
Nói
tóm lại, hỏi bằng pháp nào sẽ giải thích về pháp ấy
một cách có thứ tự, mạch lạc, thông suốt, bác học, vô
ngại về ngữ nghĩa, tâu đại vương!
- Vâng!
- Còn
nữa, nếu có những kẻ sắc sảo, thích chữ nghĩa, thích
lý luận thì:
Hỏi
bằng tuệ phân tích sẽ trả lời bằng tuệ phân tích;
Hỏi
về văn tự, đáp bằng văn tự;
Hỏi
bằng câu, sẽ đáp bằng câu;
Hỏi
bằng câu ngắn,, đáp bằng câu ngắn.;
Hỏi
bằng chữ, sẽ đáp bằng chữ;
Hỏi
bằng chữ nối ráp, sẽ đáp bằng chữ nối ráp;
Hỏi
bằng phụ âm, đáp bằng phụ âm;
Hỏi
bằng chiết tự sẽ đáp bằng chiết tự;
Hỏi
bằng mẫu tự sẽ đáp bằng mẫu tự;
Hỏi
bằng chánh âm, sẽ đáp bằng chánh âm;
Hỏi
bằng ngôn thuyết, đáp bằng ngôn thuyết;
Hỏi
với biện tài, sẽ đáp bằng biện tài;
Hỏi
bằng ví dụ, sẽ đáp bằng ví dụ;
Hỏi
bằng vị, sẽ đáp bằng vị;
Hỏi
bằng tướng, sẽ đáp bằng tướng v.v...
Tất
cả, tất cả đều được vị thánh nhân với bốn tuệ phân
tích giải bày cặn kẽ, khúc chiết, quảng bác... làm cho các
hội chúng giải tan được hoài nghi, có đức tin nơi chánh
pháp và trở về với chánh pháp, tâu đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà bần thần nói:
- Trẫm
không ngờ loại châu báu này "kinh khủng" đến như thế. Uy
dũng của nó đúng là chúa sơn lâm, sẽ không sợ hãi bất
kỳ một ai trong tam giới. Sở học mà được như thế, chắc
không mấy người, đại đức nhỉ?
- Vâng,
quả vậy!
- À,
trẫm có nghe đồn trong lâu đài chánh pháp của Đức Thế
Tôn còn có một loại ngọc nữa, được gọi là "thất giác
chi bảo ngọc", sao không nghe đại đức nhắc tới?
Đại
đức Na tiên mỉm cười:
- Vì
nhiều quá nên đầu óc lú lẫn của bần tăng quên đi chăng?
Vâng, quả thật có loại ngọc ấy. Nó chính là:
Niệm
giác chi bảo ngọc;
Trạch
pháp giác chi bảo ngọc;
Tinh
tấn giác chi bảo ngọc;
Hỷ
giác chi bảo ngọc;
An
giác chi bảo ngọc;
Định
giác chi bảo ngọc;
Xả
giác chi bảo ngọc.
Đấy
là bảy loại bảo ngọc bắt buộc ai cũng phải trang điểm
nếu muốn bước vào cõi hào quang của chư Thánh. Chư thiên,
nhân loại, phạm thiên ai cũng thèm muốn, ước vọng, trầm
trồ, tán thán, ca ngợi về sắc đẹp, tính chất có một
không hai trên trần đời của nó, tâu đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà vui vẻ hỏi tiếp:
- Thế
còn cái chợ tổng hợp, đại đức? Nó ra sao mà gọi là chợ
tổng hợp?
- Thế
trong kinh đô của đại vương, chợ tổng hợp họ bán những
gì?
- Ồ!
Thượng vàng hạ cám. Từ ngọc báu, xa cừ, pha lê, mã não...
từ voi, cọp, rắn, thuồng luồng, các loại cá, hải sản
và thủy sản, vải vóc, lương thực cho đến cây kim, sợi
chỉ, mắm tôm, mắm tép, giày, ủng, gươm, giáo, nồi, soong
chảo, chén bát, đũa, đồ sứ, đồ sành, trẫm, quế, củi...
cho đến ếch, nhái, chim, chuột, chó, mèo... tất thảy đều
có cả, thưa đại đức.
- Có
nghĩa là giới quý tộc, thượng lưu, hạng triệu phú, bá
quan, các giai cấp thợ thuyền, nông dân, kẻ hạ tiện... đều
có thể vào chợ tổng hợp này để tìm mua vật vừa lòng,
thích ý của mình phải không đại vương?
- Đúng
vậy!
- Gian
hàng tổng hợp của Đức Thế Tôn cũng y như thế. Nghĩa là
để dành cho đủ mọi căn cơ trong xã hội, từ người căn
cơ chậm lụt đến căn cơ thượng trí, đều có phần của
mình trong kho tàng chánh pháp của Đức Thế Tôn. Người tại
gia có món hàng cho người tại gia. Người xuất gia có món
hàng cho bậc xuất gia.
Ở
đây, người ta có thể làm lành chút ít để cầu trường
thọ, cầu sức khỏe, cầu an vui, cầu sắc đẹp. Người ta
cũng có thể mua món hàng ngũ giới, bát giới để thọ trì,
để đổi lấy cõi người và cõi trời hạnh phúc sang cả.
Người khôn ngoan hơn tí nữa, họ mua thêm bố thí, tham thiền,
để vừa được hạnh phúc trời, người, vừa gieo duyên hạnh
phúc cao thượng hơn.
Còn
nữa, riêng các bậc xuất gia thì những món hàng đắt giá
được bày bán trong những câu lạc bộ thanh lịch và thanh
khiết hơn. Vào đây sẽ có đầy đủ tạng kinh, tạng luật,
vi diệu tạng. Ai ưa tạng nào thì mua tạng nấy. Ngoài ra,
lác đác chỗ này chỗ kia, có những ngăn riêng để bán lẻ
cho nhiều người. Nào là túc sanh truyện, kệ ngôn, kệ thơ,
tiểu bộ kinh, tạp bộ kinh, tăng chi bộ kinh, trung bộ kinh,
trường bộ kinh, tương ưng bộ kinh v.v... Người thích trì
luật thì có giới thọ trì giới bổn, giới phòng hộ các
căn, tiểu giới, trung giới, đại giới. Người ưa chiêm nghiệm
sâu xa về tâm vương, tâm sở, sắc pháp, Niết bàn thì đi
vào tạng vi diệu, thắng nghĩa.
Ngoài
ra, có vị thích chỉ tịnh, quán minh; có vị thích đầu đà
khổ hạnh, người thích ở cội cây, rừng, nghĩa địa; kẻ
thích thiền định, người ưa giáo hóa, pháp sư, giảng sư...
ai muốn mua, đều có. Có những vị được một thông, hai
thông, ba thông, bốn thông, năm thông, sáu thông. Có vị được
một tạng, hai tạng, ba tạng. Có vị chuyên tu tứ niệm xứ,
chuyên tu thất giác chi, người ngũ căn, ngũ lực, kẻ thích
thú bát chánh đạo.
Nhờ
vậy, trong câu lạc bộ này, biết bao nhiêu vị Thánh nhân
ra đời, từ Tu-đà-hườn quả đến A-la-hán quả. Có vị
được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền và vô
sắc thiền.
Ví
như trong một khu rừng, hằng-hà-sa số các loại thảo mộc
thì trong câu lạc bộ chánh pháp cũng hằng-hà-sa số là các
vị Thánh nhân cùng phước báu trời, người... như thế!
Đức
vua Mi-lan-đà nói:
- Quả
đúng là gian hàng tổng hợp. Nhưng đại đức kể nhiều quá.
Trẫm nhớ không hết, hãy từ từ nhé! Ví như trong quốc độ
của trẫm, trẫm là vua, bên cạnh trẫm có vị quốc sư hằng
bàn việc nước với trẫm, các quan đại thần thì chăm lo
tất cả công việc từ kinh tế, quân sự, nông nghiệp, giáo
dục, y tế, thiên văn v.v... Ngoài ra lại còn bốn giai cấp
trong xã hội, và dân chúng thì làm đủ tất cả mọi ngành
nghề v.v... Vậy trong cái gọi là quốc độ chánh pháp của
Đức Thế Tôn có tổ chức tương tự như thế hay chăng?
- Có
chứ, tâu đại vương!
- Xin
đại đức giảng cho nghe?
- Vâng,
trước khi trình bày điều đó, bần tăng sẽ xin kể những
thần dân ở trong quốc độ chánh pháp ấy đã.
Một
là, các bậc hết luyến ái, hết sân hận, hết si mê, hết
ái dục và không còn cố chấp; ấy là những bậc đã đắc
giải thoát thiền.
Hai
là, các vị thọ đầu đà, ở trong rừng, ngăn oai nghi nằm,
thọ đi kinh hành, thọ y bó tử thi, thọ tam y, thọ tròn đủ
bốn pháp môn, những bậc hiểu pháp đệ nhất.
Ba
là, các vị thọ đầu đà, tri túc trong lợi lộc.
Bốn
là, các vị đắc thiền, vô sắc thiền, có thần thông hoặc
không có thần thông.
Năm
là, các vị thực hành để đắc được quả hữu học, có
tâm tầm cầu hướng thượng.
Sáu
là, các bậc Tu-đà-hườn, Tư-đà-hàm, bậc A-na-hàm, A-la-hán
xa lìa các bợn nhơ tội lỗi.
Bảy
là, các vị thông suốt tứ niệm xứ, hoan hỷ tiến tu thất
giác chi, thực hành tuệ minh sát.
Tám
là, các vị thông hiểu thần túc, hoan hỷ nhập định, thực
hành tứ chánh cần.
Chín
là, các vị thông tuệ ba la mật, có hỷ mãn, có lạc mãn.
Mười
là, những vị đi đâu cũng nhìn xuống, không ngó láo liên,
biết thu thúc khẩu, gìn giữ lời ăn tiếng nói, thu thúc thân
tâm.
Mười
một là, người đắc pháp cao thượng, đắc tam minh, đắc
lục thông, đắc thần thông ba-la-mật, có trí tuệ ba-la-mật...
Tâu
đại vương! Thần dân trong quốc độ chánh pháp ấy rất
nhiều, nhưng bần tăng chỉ tóm tắt vào mười một nhóm công
dân ưu hạng như vậy thôi!
- Đúng
là công dân thượng đẳng! Nếu ai cũng thượng đẳng cả
thì ai là vua, là quan, là dân hở đại đức?
Đại
đức Na tiên mỉm cười, như nói riêng với đức vua.
- Cũng
vì chúng sanh mà ra cả, đại vương!
- Ồ!
Vâng! Vậy xin đại đức bi mẫn kể cho "chúng sanh" nghe?
- Vâng!
Trong quốc độ của đại vương chỉ có một vị vua, nhưng
trong quốc độ của chánh pháp thì có hằng trăm hằng ngàn
vị pháp chủ. Đó là những bậc:
Thứ
nhất, nâng đỡ trí tuệ cao thượng.
Thứ
hai, không dính mắc một chút cấu uế.
Thứ
ba, bất động, trạm nhiêm giữa cuộc đời.
Thứ
tư, nâng đỡ đạo hạnh, đức độ.
Thứ
năm, nâng đỡ phước duyên.
Thứ
sáu, vô bố, vô úy.
Thứ
bảy, thông tuệ tư duy.
Thứ
tám, nâng đỡ thần thông.
Thứ
chín, nâng đỡ hào quang.
Thứ
mười, nâng đỡ giảng giải kinh nghĩa.
Thứ
mười một, nâng đỡ pháp giải thoát.
Thứ
mười hai, nâng đỡ pháp luận.
Thứ
mười ba, thu thúc trong trí tuệ ba la mật...
Nhóm
người cao thượng, siêu việt này đều là những bậc pháp
chủ, tâu đại vương!
- Cảm
ơn, trẫm đã lãnh hội rồi. Có vua tất có quốc sư. Vậy
trong quốc độ chánh pháp, có vị quốc sư ấy chăng?
- Tâu,
có ạ! Đấy là các vị vừa đắc bốn tuệ phân tích vừa
thành tựu những thần thông tột cùng; có thể đưa tay sờ
mặt trời, mặt trăng, đi trên biển, đi trong đất một cách
vô ngại. Họ là những vị quốc sư.
- Thế
còn những vị quan nào nữa, đại đức?
- Tâu,
đấy là những vị quan tòa. Họ hành pháp đầu đà, sống
đời thiểu dục tri túc, chán ghét tà mạng, chán ghét trì
bình khất thực tà mạng; giữ gìn lục căn thanh tịnh, lánh
xa thỏa thích trong sắc, thanh, hương, vị, xúc. Hằng ngày
họ đi nơi này nơi kia, tùy nghi nhận phẩm vật cúng dường,
không làm phiền lụy đến ai; như con ong hút nhụy mà không
phá hoại nụ hoa, lợi lộc không màng tới, không cần để
ý đến sự đòi hỏi của thân và tâm. Họ đích thực là
những vị quan tòa, cầm cán cân quân bình cho thần dân trong
quốc độ, tâu đại vương!
- Có
phải họ nêu tấm gương thiểu dục tri túc, phải vậy không
đại đức?
- Tâu,
vâng! Đại vương dùng từ rất chính xác.
- Không
dám! Thế còn ai làm phận sự gì nữa, thưa đại đức?
- Tâu,
vâng! Đó là vị quan giữ lửa cho quốc độ!
- Ở
đấy phải tuyển chọn những bậc như thế nào?
- Tâu,
trước tiên vị ấy không còn bợn nhơ phiền não, lại có
thiên nhãn thông, thần túc thông, có thiền định kiên cố.
Sau đó vị ấy còn phải đi nơi này nơi kia một cách mau lẹ,
để giáo hóa mọi người.
- Còn
chức vụ gì nữa, đại đức?
- Tâu,
còn có chức quan giữ gìn pháp bảo. Ơ đây, phải lựa chọn
những vị nghe nhiều, học rộng, nâng đỡ các bộ kinh, nâng
đỡ luật; rành rẽ các chủ đề, các loại văn tự ngôn
ngữ, đọc đúng giọng dài, giọng ngắn v.v...
- Vâng,
còn có những gì nữa?
- Tâu,
còn có luật sư đoàn. Ở đây phải biết tuyển chọn người
biết luật, thông về luật, rành rẽ sự xử phạt. Biết
rõ hành động này là phạm, hành động kia không phạm, điều
này phạm nhẹ, điều kia phạm nặng; biết rõ việc này nên
châm chước, việc kia không nên châm chước. Còn biết dạy
bảo thêm những giới phụ, biết rành rẽ lối đọc tụng
sám hối này cần thay đổi, nơi kia không nên thay đổi v.v...
- Rất
phong phú. Vậy trong ấy có ai coi về việc quán sá, chợ búa
không?
- Tâu,
có. Ở trong vương quốc này cũng có người bán hoa, bán quả,
bán vật thơm, bán hàng ăn uống...!
- Xin
cho nghe!
- Vâng.
phải tuyển chọn những người có pháp giải thoát, biến
uốn nắn ngọn cây A-la-hán cho đẹp từ gốc, cành, lá đến
ngọn; phải làm cho hoa nở bốn mùa... tâu đại vương!
Còn
nữa, còn tuyển chọn những người bán trái cây, là người
đã thực hành và giác ngộ Tứ diệu đế, thành tựu bốn
sa môn quả, diệt tận vô minh phiền não là phước điền
đơm hoa kết trái cho chư thiên và nhân loại.
Còn
nữa, những người bán vật thơm là những người thọ trì
giới một cách tuyệt hảo, thanh tịnh bên trong, thanh tịnh
bên ngoài, không còn bất kỳ một chút cấu uế nào. Hoàn
toàn vắng lặng và ngát ngào giới hương!
- Trẫm
thấy rồi. Còn hàng ăn uống là thế nào hở đại đức?
- Ở
đây, phải tuyển chọn những người phục vụ món hàng luôn
đem đến no đầy, an lạc, phỉ lạc cho nhiều người. Là
những vị hớn hở vui tươi trong pháp và luật. Là những
vị an lạc, thỏa thích trú trong rừng, dưới cội cây. Người
hành đầu đà một chỗ, đầu đà nơi chỗ trống, nơi thanh
vắng. Là những bậc luôn ăn uống no đầy những pháp đức
cao siêu, pháp lớn, pháp nhỏ đều hân thưởng... Đấy cũng
là những vị chỉ nói về thiểu dục, chỉ nói về tri túc,
chỉ nói lời nghiêm tịnh, chỉ nói lời khách quan không lẫn
lộn giữa các phe nhóm, chỉ nói lời tinh tấn, chỉ nói lời
phước báu của giới, chỉ tán dương giải thoát tri kiến
A-la-hán quả v.v...Nhờ vậy, mọi người đến đây ăn uống
no say, vui thích... quên cả nẻo về trần thế, tâu đại vương!
- Thế
còn chức vụ gì nữa không?
- Tâu,
còn quan phòng hộ, giữ gìn, bảo vệ quốc độ nữa, tâu
đại vương!
- Vâng,
trẫm hiểu.
- Số
phòng hộ, bảo vệ này rất đông, không biết là có tất
cả bao nhiêu vị. Đây là những người có oai nghi ngồi, đi
và đứng. Họ đi kinh hành canh đầu, canh giữa và canh cuối;
luôn luôn thức tỉnh, luôn luôn cảnh giác những quân giặc
phiền não xuất hiện, hằng giữ gìn phận sự của mình,
vì lợi ích cho mình và cho quốc độ chánh pháp.
Còn
nữa, còn tuyển chọn những người dạy pháp, đọc tụng
Phật ngôn; nói ý nghĩa, trình bày cách thức, giảng văn tự,
chứng minh về nhân về quả, có thí dụ lớn, có thí dụ
nhỏ... Các ngài chính là những chủ quán bán pháp cao quý
đấy đại vương!
Còn
nữa, trong quán ấy còn tuyển dụng thêm những người có
vốn liếng tài sản về pháp bảo, nhất là kinh tạng; rành
về cú pháp, văn phạm, nguyên âm, phụ âm... cho gian phòng
thêm phong phú.
Ngoài
ra, còn những nhân sĩ, trí thức hằng lui tới, họ có nhiều
ba la mật, biết thuyết pháp, biết sưu tầm pháp, biết chia
chẻ pháp; các ngài cũng góp thêm công sức cho quốc độ chánh
pháp thêm huy hoàng, tươi đẹp và thịnh mãn.
- Đúng
vậy! Chẳng có vương quốc nào mà thanh bình, an lạc được
như thế.
- Vâng,
ở đấy do nhờ phòng hộ chặt chẽ, an ninh tuyệt đối nên
không hề có kẻ thù xâm lăng, họa hại; muôn dân sống trong
cảnh hạnh phúc của giống dòng thượng đẳng, cao quý của
mình. Chính Đức Chánh Đẳng Giác, sau khi Niết bàn, đã để
lại vương quốc chánh pháp ấy, được xiển dương, quảng
bá, đã bất tử với thời gian. Thầy tổ của bần tăng là
những công dân tiền bối, và bây giờ là bần tăng đang nổ
lực tinh cần, hoàn thiện mình để được bước vào vương
quốc ấy. Đại vương cũng thế, những câu hỏi đáp hôm
nay giữa chúng ta cũng được rút ra từ di sản của Đức
Tôn Sư. Vậy mà đại vương còn dám hoài nghi là Đức Phật
chưa từng có mặt?
- Ừ!
À! Đại đức cứ nói tiếp!
- Tâu,
vâng. Cũng giống như kinh đô và quốc độ của đại vương
đó thôi. Vị kiến trúc bậc thầy kia ra đi, đại vương còn
sống bây giờ đây, tác phẩm kiến tạo này sẽ còn mãi mãi
với thời gian. Lẽ nào chừng một trăm năm sau, di sản, chứng
tích kinh đô cũ vẫn còn, thế mà có người lại bảo không
hề có ông vua Mi-lan-đà - thì đại vương nghĩ sao?
Đức
vua Mi-lan-đà có vẻ suy nghĩ đăm chiêu, một hồi mới nói:
- Nói
tình thật, thưa đại đức! Lý luận, diễn giảng, chứng
minh, ví dụ của đại đức thật không có kẻ hở cho hoài
nghi xen vào. Trẫm có đức tin trong sạch và trí tuệ sáng
suốt để xác định rằng: Đức Phật có thật! Không còn
một mảy may nghi. Tuy nhiên, giả dụ thế, có kẻ ngoại đạo
cắc cớ nói: "Vẫn có thể là không có Đức Phật". Vì sao?
Vì qua những kiến thức uyên bác, kiến giải thông tuệ, trình
độ hiểu biết, lý luận... của đại đức bây giờ - nếu
như trước đây chừng một trăm năm, thế gian xuất hiện
chừng hai, ba vị như đại đức - thì có thể họ cùng nhau
ngồi lại một chỗ mà sáng tác nên các bộ kinh, luật, vi
diệu tạng kia, được chăng? Nghi không có Đức Phật và nghi
là có vài bậc trí tuệ sáng tác - thì cũng giống nhau thôi,
thưa đại đức!
Câu
hỏi có trọng lượng ngàn cân - và mối nghi rất có cơ sở
của đức vua Mi-lan-đà, làm cho cả hội trường im phăng phắc,
có kẻ toát mồ hôi. Tuy nhiên, đại đức Na tiên dáng dấp
vẫn điềm nhiêm, nhìn quanh một vòng rồi mỉm cười nói:
- Hay
lắm! Đáp, hỏi là phải như thế! Học Phật pháp là phải
như thế: phải vấn nạn cho tận cùng, không nên tương nhượng,
vị nể nhau. Phong cách thể hiện đạo đức tri thức của
đại vương, bần tăng rất khâm phục vậy.
Rồi
đại đức tiếp lời:
- Tâu
đại vương! Biển cả tức là đại dương, sâu rộng quá
chừng; lượng nước và lượng cát ở đấy không ai đếm
hết được. Trong lòng đại dương quần tụ sinh sống hằng
vạn hằng ức loài thủy tộc. Đi lại trên đại dương có
các loài rồng, đại bàng, dạ xoa nước... hằng đi kiếm
ăn. Trong biển, trên biển luôn luôn có sự đấy động huyên
náo; hợp tấu cùng các a-tu-la hăng say đùa giỡn, đoàn lũ
rầm rộ làm chấn động biển trời tạo nên một loại nhạc
cụ tổng hợp, âm thanh tạp náo. Lác đác chỗ này chỗ kia,
nhô lên những hòn đảo tốt tươi xinh đẹp, có các thần
tiên du hành, rong chơi đây đó. Sơn thần, thọ thần, thủy
thần cũng ngoạn du nhàn lạc trong lãnh điạ của mình...
Đại
đức Na tiên nói đến ngang đây, chợt đức vua Mi-lan-đà
ngắt lời:
- Xin
lỗi đại đức! Không biết đại đức kể chuyện gì mà
lan man trên trời dưới biển như thế, chuyện các loài thủy
tộc và thần tiên kia liên hệ gì với chủ đề chúng ta đang
thảo luận hôm nay?
- Hãy
kham nhẫn, đại vương! Đấy là tiền đề, và rồi nó sẽ
đi thẳng vào nội dung cốt lõi của vấn đề mà!
- Ồ!
Thế thì xin đại đức cứ tiếp tục!
- Vâng,
bần tăng kể tiếp đây. Trong biển, trên biển huyên náo ngày
đêm như thế; nhưng lại còn hằng trăm ngàn ghe thuyền bán
buôn từ quốc độ này sang quốc độ khác dong buồm lui tới
nữa... Những ngọn sóng to, những ngọn sóng nhỏ dào dạt,
ầm ào, đập vào bãi biển, các doi đất lồi, vịnh, hải
khẩu; thủy triều lên xuống các đầm nước mặn, các đầm
nước ngọt, các vực sâu tiếp giáp biển và núi...
Đâu
đâu cũng có chúng sanh nương gá, là nơi quần cư giữa các
loài hữu tình, vô tình, có những vùng sáng chói ngọc thạch,
san hô. Biết bao nhiêu là cá xà, cá mập, voi nước, ngựa
nước, nhơn ngư, tôm rùa..., loài thủy tộc có tên và loại
thủy tộc không tên, lấn hiếp nhau, cắn xé nhau để tự
vệ và sinh tồn. Tuy nhiên, nếu như thế thì đại dương vẫn
bình lặng trong định luật sinh diệt của các loài...
Ví
như trên trời có điểu vương, trên rừng có tượng vương...
thì dưới biển cũng có ngư vương! Hốt nhiên, hôm kia, như
sau một giấc ngủ ngàn năm dưới đáy đại dương, Ngư vương
rùng mình đứng dậy, đội một biển nước trên mình và
nhảy vọt lên cao! Ôi một cơn sóng thần cũng không được
như thế! Một trận động đất cũng không được như thế!
Từng quả sóng núi lớn nổi lên cao, điệp trùng sóng núi,
rùng rùng nối đuôi nhau chạy dạt ra bốn phương trời. Muôn
loài thủy tộc sợ hãi tưởng là giờ tận thế. Hằng trăm,
ngàn ghe thuyền chạy trốn núp vào các vực nhưng cũng không
tránh khỏi tử nạn thương vong. Cá nhỏ, có to biển động
sóng nhồi nằm phơi xác trắng hếu trên mặt nước...
Ồ!
Chuyện gì đã xảy ra mà biển sóng nổi kinh hoàng như thế?
Các bậc thức giả, trí giả, giáo sư hải dương học... đều
đưa ra một kết luận giống nhau: "Có một loài cá rất to,
gọi là Ngư vương vừa xuất hiện. Đây là hiện tượng hằng
triệu năm mới có một lần. Trận sóng vừa rồi là sự "ra
oai" với muôn loài thủy tộc của Ngư vương đấy!
Nói
đến ngang đây, đại đức Na tiên nghỉ hơi một lát. Đức
vua Mi-lan-đà thở một hơi dài:
- Dường
như trẫm vừa nắm bắt được nội dung của tiền đề rồi
đây!
- Đại
vương đã đoán trúng - đại đức Na tiên tiếp lời - Biển
thế gian này cũng là đại dương mênh mông, vô lượng nước,
vô lượng cát như thế đấy, tâu đại vương! Vô lượng
nước ấy tức là ái dục tham luyến, vô lượng cát ấy chính
là phiền não. Ai dục, tham luyên chính là hạng chúng sanh ngu
si tăm tối đếm không xiết kể trên thế gian này. Đáy biển
có những luồng lạch, có những hang hóc tối tăm chính là
tà kiến, ngã chấp, cứng đầu, vô ơn, bội nghĩa, si mê,
hận thù, gian xảo, độc ác v.v...
Tâu
đại vương! giả dụ như đại vương là bậc trí tuệ - và
quả ngài là bậc trí tuệ rồi - thì nếu khởi lên sự so
sánh như thế, đại vương có khiếp hãi biển thế gian này
chăng?
- Đúng
là khiếp hãi, khiếp đảm!
- Vậy
đại vương có nên giữ gìn mình chăng?
- Tuyệt
đối phải giữ gìn, phòng hộ. Người chỉ có một con mắt
sẽ bảo vệ con mắt của mình như thế nào thì trẫm sẽ
tự bảo vệ mình như thế đó!
- Đúng
vậy! Giữa biển sâu, muôn loại thủy tộc sống lẫn lộn;
ngọc, cát đá và san hô cũng sống lẫn lộn - thì biển thế
gian này cũng y như thế:
Người
nam người nữ, kẻ thiện, người ác sống lẫn lộn với
nhau. Người có chức quyền, địa vị, người không chức
quyền, địa vị. Người có phước và người vô phước.
Bậc có oai đức và kẻ không có oai đức. Người phi thường
và kẻ bình thường. Người tiến hóa và người không tiến
hóa. Người có trí tuệ và người không có trí tuệ. Người
hiểu biết và người không hiểu biết...
Ngoài
ra, còn có các hàng vương giả, quý tộc, bà-la-môn, thương
gia, nông phu, người nấu ăn và kẻ chăn ngựa, người áo
trắng và người tu theo ngoại đạo. Các sa môn trong giáo hội
Đức Tôn Sư và các vị khuất thực du sĩ lang thang, người
ăn xin đủ loại, đủ kiểu; người tu nằm dưới đất, kẻ
nằm một bên vai, có người không tắm, có người bết bùn
đầy người, kẻ lõa lồ thân thể, các đạo sĩ thần chú,
thờ thần lửa, thầy bắt rắn... Tất cả họ sống đông
đặc, chen chúc trong thế gian này.
Lại
nữa, biển thế gian còn có biết bao nhiêu loài chúng sanh chưa
kể hết. Những loài chúng sanh có bốn chân như lạc đà,
lừa, ngựa, sư tử, beo, gấu v.v... kể sao xiết? Những chúng
sanh có hai chân như le le, két, sáo, tu hú, bồ câu... thật
là hàng vạn loại! Rồi còn chúng sanh nhiều chân và không
chân... nhung nhúc, đặc đầy.... còn đông hơn là đại dương
kia nữa.
Như
trên không có điểu vương, như rừng sâu có tượng vương,
như biển cả có ngư vương, như quả địa cầu có Chuyển
luân Thánh vương... thì mười ngàn thế giới của cõi ta bà...
muôn triệu năm mới có một bậc Đại giác ngộ ra đời.
Địa cầu chuyển động, biển thế gian chấn động, ba cõi
rung động. Ngọn cờ chánh pháp dương cao; một trận sấm
pháp, sóng pháp long trời lở đất, cuồn cuộn tràn ra sông
mê, biển khổ; len lỏi vào các luồng lạch tối tăm, những
hang sâu, những vực thẳm, những hải đảo, những rừng xanh,
những đại quốc, những tiểu quốc, những bộ lạc, những
chủng tộc, những nhóm người, những giai cấp, những quý
tộc và cùng đinh, người nô lệ và bà-la-môn, kẻ giàu người
nghèo, kẻ quý người tiện, bậc thức giả và người ngu
si, kẻ tối mắt, người sáng mắt v.v... Ai cũng nghe được
thông điệp của bậc bất tử. Đấng Đại Giác bố thí nước
bất tử cho chúng sanh không phân biệt để diệt trừ, dập
tan lửa nóng và ba độc phiền não; làm cho không có bợn nhơ,
giải thoát bợn nhơ, hết bợn nhơ, duyên tận bợn nhơ, làm
cho trong sạch, mát mẻ, thanh khiết; lần hồi giúp cho chúng
sanh trú trong pháp giải thoát, đạt phẩm vị A-la-hán hạnh
phúc tối thượng...
Tâu
đại vương! Trận sấm pháp, sóng pháp vô tiền khoáng hậu
ấy là gì? Làm cho cõi người, cõi trời rúng động ấy là
gì? Làm cho ma vương, bóng tối, si mê, tà kiến, ngã chấp...
bị sóng nhồi, sấm dập... mà chết nằm la liệt, phơi xác
trắng hếu trên biển thế gian, ấy là gì?
Là
Tứ diệu đế, tâu đại vương! Ngoài số bỏ xác tại trận
tiền, còn vô số chúng sanh khác, nhờ sấm pháp mà thức tỉnh
cơn mộng dài, nhờ sóng pháp mà đẩy trôi sang bên kia giác
ngạn. Bởi vậy, vô lượng chúng sanh có nhóm đến được
đảo an lạc Tu đà hườn, bình nguyên hạnh phúc Tư đà hàm,
quốc độ thanh bình A na hàm, thế giới thanh khiết A-la-hán!
Nhóm chúng sanh ít công đức, phước báu hơn, có thọ trì
quy giới, có đức tin..có bố thí, tham thiền, thì hoặc được
quả người, trời sang cả, hoặc được mở con mắt trí tuệ
để khỏi rơi vào bốn đường dữ.
Tâu
đại vương! Một cơn sấm, một cơn sóng... đều trải qua
bốn giai đoạn: sanh, trụ, dị, diệt. Lúc Đức Thế Tôn thuyết
Tứ diệu đế tạo cơn sấm pháp, sóng pháp cũng trải qua
bốn giai đoạn: khổ, tập, diệt, đạo.
Tại
cõi trời Đao lợi, khi Đức Thế Tôn thuyết về khổ đế,
không biết bao nhiêu là chư thiên phấn khởi, hoan hỷ; có
kẻ sạch trần cấu, có kẻ đắc pháp nhãn. Lúc Đức Đạo
Sư thuyết về tập đế, vô lượng chư thiên thấy rõ nguyên
nhân khổ, đắc được pháp cao thượng, họ rất vui mừng
và phát sanh phỉ lạc. Khi Đức Đại Giác thuyết về diệt
đế, tất thảy mọi hoài nghi của một số chư thiên được
lắng dứt; cảm nhận ra được đâu là pháp sanh, pháp diệt,
trí tuệ xuất trần ly cấu hiện ra. Khi Đức Chánh Đẳng
Giác thuyết về đạo đế, rất nhiều chư thiên thấy rõ
con đường diệt tận tham sân ái luyến, thấu triệt mọi
ngõ ngách đen tối của vô minh, chứng A-la-hán đạo, A-la-hán
quả...
Tâu
đại vương! Tiếng sấm pháp ấy còn vang dội, và cơn sóng
pháp ấy còn ùn ùn lan đến cung điện này. Tứ diệu đế
vẫn còn đây. Các bậc thầy tổ của bần tăng đắc quả
A-la-hán, kẻ còn sống, người đã tịch diệt trên thạch
động Rakkhita; chư tăng trong hàng ngũ của giáo hội rất nhiều
người tinh thông một tạng, hai tạng, ba tạng; rất nhiều
vị đắc một thông, hai thông, ba thông; rất nhiều vị có
bốn tuệ phân tích, vô ngại giải; rất nhiều vị đầu đà,
khất thực sống hạnh thiểu dục, tri túc; rất nhiều vị
trì luật nghiêm minh, thanh tịnh; rất nhiều vị đa văn, bác
học, làu thông kinh nghĩa, văn phạm, cú pháp; rất nhiều vì
từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng.
Và chính ngay đây, đại vương là bậc đang được tiếng
sấm xưa lay tỉnh, cơn sóng xưa rung động... bởi vậy, mới
có buổi tao phùng kỳ ngộ, hỏi và đáp hôm nay. Thế mà đại
vương cứ dám bảo là không có Phật? Dám bảo ai đó sáng
tác kinh luận! Bậc vĩ đại như thế, làm chúa cả ba cõi
và ở ngoài ba cõi, thường chỉ có một người, một đấng,
một bậc, một đức duy nhất và tối thượng: Đức Chánh
Đẳng Giác Thế Tôn, tâu đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà suy nghĩ hồi lâu.
- Rất
thuyết phục, thưa đại đức!
- Thế
đại vương còn nghi ngờ sự hiện thân của Đức Phật nữa
chăng?
- Thưa,
đã hết.
- Thế
sao đại vương còn trầm mặc như thế?
- Vâng,
vì trẫm không còn hoài nghi - nhưng chúng ngoại đạo họ vẫn
còn luận cứ của họ!
- Vậy
họ có thể phản bác ra sao?
- Họ
có thể nói như thế này: "Quý vị gọi chúng tôi ngoại đạo,
tà giáo - thì chúng tôi cũng gọi qúy vị là ngoại đạo,
tà giáo! Sự xuất hiện của ông Cồ Đàm - nếu ta công nhận
ông ấy có xuất hiện - làm cho ba cõi rúng động gì đó,
sóng tràn đến hôm nay gì đó; thì các bậc giáo chủ, chân
sư của chúng tôi xuất hiện ở đời này, còn rúng động
hơn thế, còn vĩ đại hơn ông Cù Đàm gấp bội, gấp chục,
gấp trăm là khác. Bằng cứ là chúng tôi đông hơn, am miếu,
tu viện, tự viện, trang viện, cốc liêu... của chúng tôi
rải rác khắp hang cùng ngõ hẻm; ba bộ phệ đà của chúng
tôi phổ cập và ảnh hưởng toàn bộ đời sống của nhân
dân châu diêm phù đề, còn nguy nga, hoằng viễn và bất tử
hơn kinh điển của ông Cù Đàm nữa. Sóng động, biển động,
sấm chớp long trời lở đất - là của các vị chân sư, giáo
chủ của chúng tôi. Ông Cù Đàm không có phần ở đây!'
Trước
luận cứ ấy thì đại đức phải trả lời làm sao, đại
đức?
- Tâu,
họ có quyền nói như thế, tâu đại vương! Quả đúng cái
gì họ cũng đông hơn gấp bội, nhưng điều đó chứng tỏ
gì? Chứng tỏ bao giờ vàng ngọc cũng ít hơn cát đá; trầm
hương bao giờ cũng ít hơn tre gỗ. Những tập tục mê tín
dị đoan: thần mặt trời, thần mặt trăng, thần bình vôi,
thần ống nhổ, thần bò cái, thần gốc đa, thần sông, thần
hói, thần rùa, thần sư tử, thần ngã ba, thần bà mụ, thần
bói toán, thần đất đai, thần ngày tốt, thần hộ mạng,
thần chó mực, thần mèo đen, thần gà quạ v.v... Cả hằng
triệu vị thần như thế có mặt từ tôn giáo của họ. Rồi
còn hằng trăm hằng ngàn cách tu ăn lông ở lỗ, man di mọi
rợ... đã lôi cuốn hàng triệu người ngu si, dốt nát... tin
cuồng, tin bậy, lạy lục, cầu khấn, van xin... để họ cầu
cạnh đủ mọi thứ tham dục trên cuộc đời này. Khác xa
là tiếng sấm uy vũ, cơn sóng dậy vỗ vào giấc mê cuồng
tăm tối của chúng sanh, tâu đại vương! Các bậc Thánh nhân
A-la-hán trong giáo hội Đức Thế Tôn, sống thanh khiết giữa
chốn trần gian cấu uế, bất tịnh... như cả hằng trăm ví
dụ sống động... hằng ngàn hình ảnh cụ thể sống động
mà đại vương đã từng thấy, từng chiêm nghiệm và từng
biết qua. Lẽ nào đại vương lại không đủ sức bẻ gãy
câu hỏi ngang ngược tối tăm, cố chấp, cuồng vọng... của
họ, hả đại vương?
Đức
vua Mi-lan-đà thở dài nói:
- Quả
có vậy. Và quả trẫm cũng định nói tương tự thế. Chuyện
ấy cho qua. Nhưng giáo pháp chơn chính của họ thì sao? Họ
cũng có thể nói rằng, giáo pháp của Đức Thế Tôn không
bằng họ. Và cơn sấm động, sóng giật kia... cũng chính là
của chân sư, giáo chủ của họ đấy thôi.
- Tâu,
đại vương! Đỉnh Hy-mã-lạp-sơn cao ngất tầng mây, ngự
giữa hư không một cách uy nghi, đỉnh đạc, không núi nào
có thể so sánh được. Nhưng đến gần ta có thể thấy rõ
cả hằng ngàn đỉnh núi to nhỏ nhấp nhô kéo dài, bao bọc
xung quanh như một bức tường thành kiên cố của cõi trời.
Ở đấy có những đỉnh núi rất có tên tuổi, có những
đỉnh núi đá phát sáng rất có tên tuổi. Lại có những
khu rừng trầm, rừng chiên đàn, rừng đại thọ; có cả hằng
trăm hằng ngàn hồ nhỏ nước trong mát như suối trời. Hằng
trăm ngàn kỳ hoa, dị thảo, thuốc trường sinh, thuốc dưỡng
nhau, thuốc dưỡng lão, thuốc hồi sức, thuốc sinh con... tất
thảy đều có đủ....
Tâu
đại vương! Đừng tưởng Hy-mã-lạp-sơn chỉ có một màu
xanh của núi, hay màu trắng của tuyết, hay màu xám của mây
trời! Không phải thế. Nhìn ngày, nhìn đêm, qua các thời
khắc khác nhau; đôi khi Hy-mã-lạp-sơn có màu sắc của trời,
màu của đêm hắc nguyệt. Thảng hoặc, nó như màu của hoa
mạng sanh, có màu trộn lẫn giữa lam, tía thâm. Có khi lại
giống màu nơi thân của chúa rồng xanh đậm. Lại có khi sáng
trắng như sóng nắng tháng năm. Các đỉnh thấp, núi cháu,
núi chắt ở xung quanh cũng biến hiện sắc màu huyền ảo
như thế.
Và
nơi đây là chốn dạo chơi của thần tiên, chỗ đàn ca xướng
hát của càn thát bà. Các loại cẩn na la, phù chú gia tới
lui rong chơi thoả thích. Ở đây cũng là quê hương của Kim
xí điểu, các loại rồng, a-tu-la và dạ xoa v.v... Và đúng
là một quần cư rất thịnh mãn các chủng loại chúng sanh...
Đỉnh
Hy-mã-lạp-sơn, hàng ngàn đỉnh núi to nhỏ khác cùng toàn
bộ quần cư ấy được ví như pháp sơn vương mà Đức Thế
Tôn đã kiến tạo. Vua núi pháp ấy sừng sững, uy nghi, chói
lọi giữa mười ngàn thế giới ta bà. Trên chóp núi vua pháp
ấy là Tam tạng thánh điển, đồng thời, hiển lộ ba pháp
giải thoát là không, vô tướng và vô tác. Hằng ngàn ngọn
núi to nhỏ tạo nên thế liên hoàn của quần thể ấy, được
ví các đại trưởng lão A-la-hán cùng chư tăng đắc từ đệ
nhất quả đến đệ tứ quả; đồng thời cũng là những
bậc làm pháp sư, giảng sư; bậc nâng đỡ tạng kinh, tạng
Vi diệu pháp, tạng luật; các bậc đầu đà khất thực, bậc
thiểu dục, tri túc, bậc đắc tam minh, bậc đắc tuệ phân
tích, bậc thành tựu ba-la-mật tuệ, bậc đệ nhất nhẫn
nhục, bậc đệ nhất tinh tấn, bậc đệ nhất độc cư, bậc
đệ nhất thiền định, bậc đệ nhất thiên nhãn, bậc đệ
nhất đa văn, bậc đệ nhất thuyết pháp, bậc đệ nhất
đầu đà v.v... Còn nữa, các khu rừng trầm hương, rừng chiên
đàn, rừng đại thọ... ấy là gì? Là vô lượng giới đức,
định đức ở đấy, hoặc ngạt ngào hương thơm hoặc vững
chãi kiên cố để cho muôn loại chúng sanh được chở che
và được hưởng bóng mát. Vô lượng nước trường sanh,
thuốc dưỡng sức, thuốc dưỡng lão, thuốc dưỡng nhan, thuốc
sinh con... ấy là gì? Là vô lượng pháp môn tùy căn tánh,
trình độ của chúng sanh, đến đấy để thâu hái lợi ích
cho chính mình.
Tâu
đại vương! Có lẽ ngoại đạo bảo rằng, họ cũng có pháp
sơn vương hùng vĩ cùng quần cư thanh tịnh như thế? Đúng,
họ cũng có sáu mươi hai đỉnh núi tà kiến, phiến diện,
một chiều đã được Đức Tôn Sư điểm mặt trong kinh Phạm
võng. Đức Thế Tôn đã bủa bằng một chiếc lưới lớn,
vớt tất thảy tà kiến ấy quăng lên bờ và không một chú
cá nào thoát khỏi. Sáu mươi hai luận thuyết kia làm sao đứng
vững trước cái thấy biết toàn diện của Đức Đạo Sư?
Đại vương cũng đã từng đi tham vấn với các tông phái
ấy, lẽ ra đại vương hiểu rõ trình độ kiến giải của
họ ngang đâu, đã có thể so sánh với ngọn núi pháp của
đại vương chưa, mà dám ví mình là pháp sơn vương như Đức
Phật!
Đức
vua Mi-lan-đà nói:
- Cái
điều định hỏi, trẫm chưa hỏi mà đại đức đã trả
lời rồi. Quả là biển thế gian và núi pháp kia, các bậc
giáo chủ của ngoại giáo cũng đã từng ví về mình. Nhưng
trẫm còn muốn biết đại vương còn ví dụ nào nữa chăng?
- Có
thể được, tâu đại vương! Ví như sau những ngày nắng
hạn, một trận mưa lớn rơi xuống. Trước khi mưa, trên trời
có những đám mây quần tụ hoặc có những đám mây lượn
quanh như dây chuyền, có những khoảng sáng rực và có những
sắc màu chói chang! Từ hư không, những làn gió mát mẻ quạt
tới, phất phới những đóa hoa trời. Có những âm thanh dội
vang như voi rống, ngựa hí, cọp gầm... làm chao đảo không
gian. Từng lằn điện chớp ngang dọc như xé rách bầu trời.
Hằng trăm thứ chim bay liệng tứ tung. Mọi người tụ họp
vui tươi hoan hỷ. Mây kéo về thêm nữa, màu sắc thay đổi
nữa, hoặc xanh hoặc vàng, hoặc đỏ hoặc trắng, màu hoa
cà lẫn lộn màu chim phượng hoàng, màu hồng thẫm lẫn lộn
màu trái đào tiên. Nhạc trời trổi khúc ca tấu tưng bừng...
Mưa rơi xuống. Mưa rơi khắp thế gian từng trận, từng hồi,
ào ào, tuôn chảy đầy mương rãnh, suối khe, giếng to giếng
nhỏ, hồ lớn, hồ nhỏ... cỏ cây thấm, đất thấm. Dòng
sông hào sảng nước, biển mênh mông nước. Tất cả đều
xanh tươi, nảy lộc, đâm chồi. Tất cả đều sanh trưởng
no vui, thịnh mãn...
Tâu
đại vương, trận mưa ấy được ví là trận pháp vũ của
Đức Thế Tôn, đã rơi xuống trần gian này sau mấy triệu
năm. Cơn pháp vũ ấy đã thấm vào vô lượng chúng sanh trời
người; nẩy lộc đâm chồi đạo quả, no vui hỷ lạc, thịnh
mãn phước báu, sanh trưởng đức tin và trí tuệ; tẩy sạch
bụi bặm cấu uế, dập tắt lửa tham sân, phiền não...
Tâu
đại vương! Không cần phải nói hết ra đây diệu dụng của
cơn pháp vũ ấy. Chúng ta không muốn trùng lập văn tự, trùng
lập ngữ nghĩa, trùng lập chi pháp. Nhưng quả thật là rõ
ràng, khi nước từ bi ấy chảy tràn qua lịch sử, chảy qua
các quốc độ, chảy qua thời gian; để chánh pháp có mặt
ở đâu thì ở đó không có hận thù, oan trái, kẻ cướp
buông đao, hung dữ mỉm cười và tình tương thân tương ái,
thuận hòa làm mát mẻ trái tim, làm phơi phới lòng người!
Vậy
do đâu mà nước cam lồ bất tử ấy có mặt hôm nay? Ngoại
đạo chăng? Chính thể vương pháp của đại vương chăng?
Ồ! Đại vương bảo rằng trong quốc độ của đại vương
có thứ nước ấy à? Nhưng xin hỏi đại vương lấy thứ
nước ấy ở đâu? Ý bần tăng hỏi là hỏi tận suối nguồn?
- Quả
là từ Phật, từ cơn pháp vũ năm xưa ấy!
- Ồ!
Té ra Đức Phật có mặt thật rồi!
- Thật
ra, trẫm chỉ hỏi cho hết mọi lý do, mọi hoài nghi có thể.
Chứ Đức Phật đang thờ kia, lịch sử kinh sách đang còn
đó, chánh pháp đang được giảng nói đến tận hôm nay -
thì làm sao có thể phủ nhận Đức Phật lịch sử của chúng
ta được!
- Đại
vương nói "chúng ta"? Nghĩa, chúng ta là Phật tử?
Đức
vua Mi-lan-đà cười ha hả:
- Thôi!
Trẫm đồng ý là có Đức Phật rồi mà!
- Đại
vương có muốn nêu ra ví dụ nữa chăng?
- Nếu
đại đức còn ví dụ thì trẫm vẫn muốn nghe như thường!
- Vâng.
Có một con voi chúa tên là Chaddanta, cao thượng hơn các voi.
Nó có thân hình cao đến bảy hắc tay, dài đến chín hắc
tay, có trang sức buộc đeo đến mười điều. Voi chúa ấy
có mắt trắng, đuôi trắng, móng cũng trắng; có lọng trắng,
bành trắng và thân trắng như màu mây trời. Tấm lưng của
nó đầy đặn như tấm phản, các chi thể múp múp, bắp thịt
no tròn. Nó to cao xinh đẹp như một quả đồi với cây cối
non tơ óng óng, có ngà trắng bóng trông như ngọc chuốt. Voi
chúa ấy có sức mạnh kinh người, có thần lực tuyệt hảo,
vô địch chốn sơn lâm. Nó đi đơn độc rừng cao rừng thấp,
hướng này hướng kia một cách vô bố, vô úy, đỉnh đạc
và cao sang. Nó đi đâu, hướng nào, thì ở đấy cây cối
bị dẫm nát, bật gốc. Nó lấy vòi quấn những cây thân
mềm, nhổ ăn. Nó lấy chân đạp oằn xuống những cây thân
mộc làm vướng lối đi. Dấu chân của nó rất to lớn, hằn
sâu trên lớp đất cứng, thành hố ở các lớp đất mềm...
Chỉ
nhìn nơi nào cây cối ngã đổ chỏng chiên và dấu chân phi
thường còn lưu lại dấu tích, ai cũng có thể xác định
đấy là do tượng vương Chaddanta làm ra, tượng vương Chaddanta
là thủ phạm.
Cũng
như thế đó, tâu đại vương! Nhìn lộ trình đi, nhìn dấu
chân để lại ai cũng biết đó là tượng vương Chaddanta -
thì nhìn lộ trình trải qua lịch sử, thời gian và những
di tích để lại như chùa chiền, tượng đài, ki