147.
Tại sao không có hai Đức Phật xuất hiện một lần?
- Thưa
đại đức! Trẫm nghe rằng, các Đức Phật giác ngộ những
điều giống nhau, thuyết những pháp giống nhau, giới luật
ban hành cũng giống nhau..., có phải thế không ạ?
- Tâu,
vâng!
- Một
vị Phật xuất hiện ở thế gian như thế, cuộc đời sẽ
rất đẹp, hoàn thiện và tươi sáng thêm lên, có phải thế
không ạ?
- Tâu,
vâng!
- Thế
tại sao hai bậc Toàn Giác không xuất hiện một lúc để cùng
hỗ trợ cho nhau, tương trợ nhau để xiển dương chánh pháp?
Nếu vậy thì cuộc đời này sẽ tốt đẹp gấp đôi, hoàn
thiện gấp đôi, và xán lạn tươi đẹp cũng gấp đôi! Và
như thế thì đạo Phật sẽ huy hoàng, lan tràn trong hoàn vũ,
tế độ được gấp bội chúng sanh trời, người hơn nữa.
Xin đại đức chỉ giáo cho điều này?
- Tâu
đại vương! Đức Phật dạy rằng, thế gian này có mười
ngàn thế giới. Mười ngàn thế giới ấy chỉ có khả năng
nâng đỡ một vị Phật mà thôi. Nói cách khác, mười ngàn
thế giới chỉ có thể chịu đựng sự hiện hữu của một
vị Phật. Nếu hai vị Phật cùng xuất hiện một lúc thì
mười ngàn thế giới này sẽ bị chấn động, bị rung chuyển,
bị nghiêng lệch đi, sẽ bị hủy diệt, bị tiêu vong!
Ví
như một chiếc thuyền nhỏ chỉ chở được một người,
nếu hai người cùng quá giang thì thuyền ấy sẽ không chở
nổi, sẽ bị chìm. Chiếc thuyền chính là mười ngàn thế
giới, khách quá giang là một vị Phật. Ví dụ này đại vương
nên hiểu để tự trả lời và tìm hiểu lý do tại sao cho
câu hỏi của mình.
- Thưa,
vâng.
- Ví
như hai chiếc xe chất hàng hóa với trọng tải vừa đủ để
chuẩn bị cho lộ trình xa. Với lý do nào đó, người ta lấy
bớt một xe, sớt hàng hóa xe ấy sang xe kia. Đại vương thấy
thế nào? Một chiếc xe mà chở nặng một số hàng hóa với
trọng tải gấp đôi, thì số phận chiếc xe ấy sẽ như thế
nào?
- Bánh
xe ấy sẽ gãy hoặc trục xe ấy sẽ vỡ lìa từng đoạn!
- Mười
ngàn thế giới này cũng sẽ gãy đổ hoặc vỡ lìa tan nát
ra như thế, nếu sức nặng của hai vị Phật đồng ngự đến
một lần, tâu đại vương?
- Trẫm
đã hiểu nhờ hai ví dụ ấy.
- Ngoài
ra, biết bao điều tai hại do tranh chấp, do chia rẽ, do chấp
thủ, do bảo vệ, rằng là "đây là Phật của tôi, kia là
Phật của anh"; và thế là phân thành hai nhóm, sẽ tranh đấu
với nhau bằng binh khí miệng lưỡi, binh khí đao gậy. Nói
tóm là những điều nguy hại cho giáo pháp sẽ xảy ra.
- Vâng!
Ví như trong triều đình của trẫm đây, nếu trẫm có hai
vị quan cận thần có tài đức và công lao ngang nhau, đều
được trẫm sủng ái. Quan lại trong triều đều phân làm
đôi ủng hộ hai vị quan ấy. Chuyện gì sẽ xảy ra? Dĩ nhiên
là sẽ có chuyện tranh chấp cãi cọ lôi thôi, sẽ có sự
chia rẽ, mất hòa khí khi "ông quan này của chúng tôi, ông
quan kia của các anh!" Thật là khó xử cho trẫm đấy. Trong
triều không thể để cho hai ông quan có tài đức ngang nhau,
công lao ngang nhau, quyền lực ngang nhau... như thế nào thì
mười ngàn thế giới này cũng không nên tồn tại hai vị
Phật, thưa đại đức!
- Vâng,
mong rằng đại vương đã hiểu. Và có thể có những tế
toái, phức nhiễu khác nữa. Ngay chính những hồng ân, danh
hiệu, sự tôn xưng của thế gian đối với chư Phật sẽ
có cái gì không được ổn cho lắm.
Ví
dụ, Đức Phật là bậc tối thượng giữa muôn loài. Chữ
tối thượng kia phải xét lại. Tối thượng là chỉ có một
người, duy nhất, tại sao ở đây lại có hai người?
Lại
ví dụ, Đức Phật là bậc đáng tôn trọng, cao quý nhất
trong tam giới. Dùng chữ cao quý nhất ấy không còn thích đáng
nữa.
Cũng
thế, chẳng hạn, Đức Phật là bậc tiến hóa đệ nhất
giữa chốn chư thiên và loài người. Chữ "đệ nhất" ấy
cũng sẽ không còn dùng được.
Ngoài
ra, tỉ như, Vô thượng sĩ, Thế Tôn, Thiên nhân sư v.v... đều
phải sửa đổi lại.
Còn
nữa, tâu đại vương! Trên đời này, những cái to lớn, vĩ
đại thường chỉ có một: quả đất, mặt trời, mặt trăng,
biển cả, hư không, núi Tu di, Hy mã lạp sơn... Còn các giống
hữu tình lớn như ma vương, Đế thích, đại phạm thiên cũng
chỉ có một. Tương tợ thế ấy, giữa thế gian chỉ có một
đức Chánh Đẳng Giác mới gọi ngài là vĩ đại, quý báu,
tôn quý, cao thượng, vô thượng, tối thượng v.v... Như thế,
trong một thời kỳ nhất định, giữa mười ngàn thế giới
này chỉ có một vị Phật đản sanh, không thể có hai vị
được, tâu đại vương!
* *
*
148.
Không nên cho kẻ phàm tục xuất gia
trong
giáo hội thanh tịnh của Đức Bổn Sư!
- Thưa
đại đức! Trẫm nghe rằng giáo hội của Đức Tôn Sư trong
sạch, quý báu, cao thượng lắm phải chăng?
- Tâu,
vâng.
- Trong
giáo hội ấy, tất cả Tăng chúng và Ni chúng đều là người
đã chứng đắc các quả vị thanh tịnh cả chăng?
- Tâu,
không hẳn thế. Có rất nhiều vị đắc quả Tứ thánh. Có
nhiều vị đang trên đường. Có nhiều vị còn ít phàm tính.
Có nhiều vị còn nhiều phàm tục, lắm tham, sân, si v.v...
Các
bậc thanh tịnh, cao quý đã chứng đắc quả Thánh thì sẽ
làm cho giáo hội trang nghiêm, đẹp đẽ, tôn quý hơn lên,
chúng ta không đề cập ở đây. Những vị đang trên đường
kiên trì, tinh tấn thực hành giáo pháp thì trước sau cũng
đạt được mục đích tối thượng, chúng ta cũng không đem
ra bàn. Trẫm chỉ hỏi đến hai hạng người cuối: những
vị nhiều phàm tính và ít phàm tính - những vị ấy có khả
năng chứng ngộ đạo quả chăng? Hoặc trong tương lai, họ
sẽ ra sao?
- Tâu,
có thể có người đạt quả vị nhỏ hoặc không đắc đạo
quả nào cả. Có vị không đắc đạo quả nào nhưng được
phước báu trời, người. Có vị chỉ như là gieo duyên cho
vô lượng kiếp về sau. Cũng có nhiều vị như muỗng canh
ở trong nồi canh, chẳng nếm được hương vị của giáo pháp,
cho dẫu nhiều đời họ khoác phẩm mạo sa môn. Có nhiều
vị sau khi tu không được gì, họ hoàn tục; như ngựa quen
đường cũ, tật nào tánh nấy, sống đâu cũng hư dối, gian
ác, tham lam, lọc lừa... Như thế là trong giáo hội còn có
rất nhiều người hư, xấu, chứ không phải ai cũng tốt đẹp
cả đâu.
- Những
kẻ như thế mà sao Đức Tôn Sư vẫn để họ tồn tại trong
giáo hội? Đức Phật không sợ người ta chê bai, phỉ báng
giáo hội, rằng giáo hội ấy quả là rất xấu xa nên có
người xuất gia cũng rất xấu xa! Tại sao Đức Thế Tôn không
ngại họ làm nhơ uế giáo hội?
- Những
vị tỳ kheo xấu xa, nhơ uế ấy có liên quan gì đến sự
thanh tịnh của giáo hội đâu!
- Tại
sao không liên quan? Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Con
sâu làm rầu nồi canh. Lý nó vậy làm sao đại đức biện
hộ được?
- Đại
vương nghĩ thế nào, ví như có một chiếc hồ trong vắt,
mát mẻ, có người con trai mình đầy bụi đất muốn đến
đấy tắm cho sạch sẽ, nhưng y vừa lội xuống đã vội bước
lên. Thế là bụi đất ở trên người y vẫn còn nguyên. Có
người thấy vậy, không chê chàng thanh niên mà lại chê cái
hồ nước: "A! Cái hồ nước ấy quả là bất tịnh, nó dính
đầy dơ uế, bụi đất". Lời chê trách ấy có đúng chăng,
đại vương?
- Ai
lại chê cái hồ bao giờ! Có chê là chê chàng thanh niên làm
biếng, không chịu kỳ cọ tắm rửa thân thể cho sạch sẽ.
- Cũng
thế, ai lại chê trách giáo hội bao giờ, đại vương! Có
chê là chê vị tỳ kheo không chịu rửa ráy tâm mình bằng
giới luật cho sạch sẽ, không chịu thiền định để cho
tâm được tĩnh lặng, bình hòa, an ổn. Lỗi ở ai thì đại
vương biết rồi!
- Vâng!
- Giáo
hội của Đức Bổn sư vốn không có dơ bợn, bao giờ cũng
quý báu, cao thượng, trong sạch. Tuy nhiên, cũng rất là thường
tình khi trong giáo hội ấy có những phàm phu tục tử vào
tu không phải với mục đích cao thượng, chỉ nhắm đến
những mục đích hạ liệt như: kiếm miếng cơm manh áo, tích
lũy tứ sự cúng dường, được thân cận bậc quyền quý,
cao sang, tìm chỗ nhàn hạ, thảnh thơi, tham vọng lãnh đạo
tăng chúng v.v... Với hạng người ấy, đa phần là những
kẻ lười biếng tu tập; chỉ có ăn và ngủ, nhìn ngắm nữ
giới, chọc ghẹo nữ giới; chẳng theo pháp học, pháp hành;
không chịu thọ đầu đà, không thọ trì giới luật dù lớn
dù nhỏ; tà mạng lang thang nhà thí chủ này, thí chủ kia để
xin vật này, vật nọ. Khi tích lũy, tom góp được của cải,
tài sản rồi; những kẻ ấy mang về cho gia đình, quyến thuộc,
vợ con; hoặc nếu chưa có vợ con thì đem cho những người
nữ, quyến rũ những người nữ để lợi dụng dâm dục,
làm việc bất tịnh, xấu xa. Chúng ẩn mình trong chiếc y cà
sa, lợi dụng tín tâm của nhiều người để thỏa mãn tham
vọng, mưu đồ, để thỏa mãn tham muốn thấp hèn. Chúng ở
đâu cũng phóng túng, bừa bãi, ăn nói lố lăng, đi đứng
vung vãi; không hề biết hổ thẹn với đám đông, với mọi
người v.v...
Tuy
nhiên, tâu đại vương! hiện tượng ấy cũng tự nhiên như
vàng ngọc thì ít nhưng đá sỏi đất cát thì nhiều. Đá
sỏi đất cát nhiều, vàng ngọc càng quý hiếm như thế nào,
thì các bậc xa rời trần cấu càng trở nên quý báu, cao thượng
chừng ấy! Không thể chê trách hồ nước, chỉ nên chê trách
chàng thanh niên ở trong hồ nước sạch mà không chịu tắm
rửa. Giáo hội và những người xuất gia phàm phu tục tử
cũng y như thế. Đức Phật là bậc Toàn Giác, thấy rõ thế
gian, thông suốt thế gian, ngài biết rằng: những kẻ xấu
xa bất tịnh ấy, vài ba kiếp về sau, ngàn kiếp về sau, hoặc
lâu xa hằng vạn kiếp quả địa cầu, chúng cũng sẽ được
cứu độ, tâu đại vương!
- Thật
là kinh khiếp! Trẫm hiểu rồi, nhưng còn muốn nghe ví dụ.
- Vâng,
ví như có một bệnh nhân ở gần nhà một vị lương y đại
tài. Vị lương y ấy sau khi xem bệnh, chẩn bệnh, kê cho một
toa thuốc, bốc thuốc rồi dặn bệnh nhân ấy rằng: "Thuốc
này chữa được bệnh của anh, nếu uống mười thang như
thế. Vậy hãy lấy siêu đổ vào ba chén nước, sắc còn tám
phân, lần thứ hai, đổ vào hai chén rưỡi nước, sắc còn
sáu phân, trộn chung lại, chia làm hai lần mà uống. Khi uống
thuốc xong, phải kiêng cử không nên ăn vật này, vật nọ."
Bệnh nhân nghe nhưng không sắc, không uống. Cũng có thể có
sắc, có uống nhưng không đúng liều lượng như vị lương
y đã chỉ bày. Cũng có thể có sắc, có uống đúng liều
lượng nhưng không chịu kiêng cử. Thế là bệnh nhân không
lành. Trường hợp ấy thì nên trách thầy thuốc hay trách
bệnh nhân?
- Trách
ai thì trẫm hiểu rồi.
- Bệnh
nhân kia không uống thuốc, hoặc có uống nhưng không đúng
liều lượng, có uống nhưng không biết kiêng cử; tương tự
như các hàng xuất gia phàm phu tục tử trong giáo hội của
Đức Bổn Sư đấy, tâu đại vương!
- Vâng!
- Ví
như có người nghèo đói nọ không có cơm cháo ăn, một người
giàu có, nhiều thiện tâm, thấy vậy nói rằng: "Vậy mỗi
ngày hãy đến nhà tôi ở đầu phố, mang theo đồ đựng vật
thực, cơm cháo tôi để dành sẵn nơi cái bàn ở mái hiên,
mang về ăn để chiến thắng cái đói." Nhưng người nghèo
đói kia làm biếng, ngại đường xa, không chịu đi lấy cơm
cháo. Chuyện ấy biết trách ai bây giờ đại vương!
- Làm
biếng thì rán chịu đói, kẻ ấy dù có chết cũng chẳng
ai thương. Người ta còn khen sự thiện tâm của người giàu
có: "Cơm cháo để dành sẵn cho kẻ đói nghèo." Tương tự
thế, kẻ xuất gia ngu si không nếm được hương vị của
pháp, nuôi dưỡng tâm tính hạ liệt, nhiều bợn nhơ, cấu
uế; trong lúc giáo pháp của Đức Tôn Sư luôn dành sẵn "cơm
cháo thơm ngon, bổ dưỡng" cho đủ mọi căn cơ trong xã hội.
Người ta không chê trách giáo hội mà còn khen giáo hội luôn
mở rộng cửa kho tàng cho những ai siêng năng, đến đấy
lấy "vật thực nuôi tuệ mạng" cho mình. Đúng là giáo hội
có lòng từ, có tâm bi mẫn đối với chúng sanh vậy.
- Ngợi
khen, tán dương không có lý nghĩa gì đối với Đức Tôn Sư,
nhưng thế gian, những người có trí họ sẽ ngợi khen tán
dương giáo hội là chuyện có thật!
Đức
vua Mi-lan-đà ngẫm ngợi giây lát:
- À,
cái gọi là "vị ngon ngọt, bổ dưỡng", để "nuôi dưỡng
tuệ mạng" là những gì vậy, thưa đại đức?
- Tâu,
đại vương hãy nghe đây. Vật thực, đồ ăn ngon bổ thường
mang đến sự tham đắm, tham luyến. Vật thực, đồ ăn ấy
không chỉ là những thứ dùng để ăn nơi miệng mà còn mang
nghĩa rộng hơn: đấy là tất cả "vật thực ngũ trần" mà
ngũ căn (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân) muốn ăn!
Tham
đắm, tham luyến ngũ trần thường dẫn đến hành động xấu
xa tội lỗi. Người xuất gia trong giáo hội thường được
Đức Phật dạy về pháp môn Tứ niệm xứ - tức là bốn
chỗ quán niệm: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.
Niệm thân bất tịnh là đề mục đầu tiên, sơ cơ nhất
cho mỗi hành giả. Phải thấy rõ sự bất tịnh của thân,
thường dành cho những người nhiều tham, nhiều dục, nhiều
mê đắm!
- Tâu
đại đức! Tại sao thân lại bất tịnh?
- Tâu,
nó bất tịnh, vì cái gọi là thân ấy chỉ là tổng hợp
của tóc, lông, móng, răng, da, đàm, dãi, bao tử, ruột non,
ruột già, nước mắt, phẩn, ghèn v.v..., nói đủ là ba mươi
hai thể trược.
Người
nào chuyên niệm thân đầy những uế trược ấy, thấy rõ
được uế trược ấy; sẽ nếm thưởng được những vị
ngon ngọt, cao quý, những phần thưởng cao quý:
Thứ
nhất là, được uống nước cam lồ của thiên cung (ý nói
phước báu cảnh trời).
Thứ
hai là, nếu niệm thân mà có định, khi lâm chung, khỏi rơi
vào 4 đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la)
Thứ
ba là, nếu niệm thân được tốt, ái dục và phiền não tương
đối yên lặng (có định), hành giả phát triển tuệ quán:
quán thân đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi v.v..., đấy được
gọi là "nuôi dưỡng tuệ mạng", vì nó là con đường của
tuệ giác, giác ngộ, giải thoát.
Tâu
đại vương! Đấy là hàm nghĩa "cứu đói", "ngon ngọt bổ
dưỡng" cũng như "nuôi dưỡng tuệ mạng"! Xin đại vương
hãy suy gẫm.
- Thưa,
rõ ràng lợi ích thứ ba ấy cao quý nhất. Từ niệm thân mà
sang quán niệm có thể xuất ly cả ba cõi: dục, sắc và vô
sắc; có thể chấm dứt sinh tử luân hồi, vĩnh ly phiền não
và đắc quả Niết bàn! Ôi! ngon ngọt bổ dưỡng đến thế
là cùng. Tuy nhiên, thưa đại đức, trẫm lại phát sanh thêm
một hoài nghi.
- Xin
tự nhiên cho!
- Vâng.
Tại sao Đức Tôn Sư và các vị Thánh Tăng không dạy cho cư
sĩ thực hành ngang chỗ ấy; chỗ thấy rõ thân bất tịnh,
cấu uế; ngũ trần bất tịnh, cấu uế? Hãy cho họ đặt
được bàn chân đầu tiên trên lộ trình của giáo pháp, cho
họ uống được tí xíu ngon ngọt bổ dưỡng của hương vị
pháp mầu rồi hãy cho họ xuất gia? Nếu được như thế thì
giáo hội của Đức Tôn Sư sẽ hoàn hảo xiết bao? Hoàn hảo
và hoàn toàn trong sạch, cao quý, cao thượng!
Đại
đức Na tiên mỉm cười:
- Đại
vương quả có lòng tốt cho giáo hội, nhưng việc "bảo vệ"
ấy xem ra có gì không ổn, đại vương biết chăng?
- Xin
đại đức bi mẫn chỉ dạy?
- Vì
lòng thương yêu bá tánh không có chỗ tắm rửa sạch sẽ,
đại vương cho làm một cái hồ lớn, nước trong mát mẻ.
Sợ nước hồ dơ bẩn do quá nhiều người đến tắm, muốn
bảo vệ nước hồ sạch, đại vương ra một bảng cáo thị:
"Ai đến đây tắm cũng được, nhưng mọi người hãy tắm
sơ sơ ở đâu đó, rửa tay, rửa chân, kỳ cọ thân thể cho
bớt dơ bẩn, ít đất bụi mới cho phép xuống hồ!" Cái bảng
cáo thị ấy nghe có lọt tai không, đại vương?
Đức
vua Mi-lan-đà đưa tay gãi đầu:
- Ờ...
ờ! Quả là không được nhỉ!
- Dạy
cho người cư sĩ tại gia bớt cấu uế mới cho xuất gia, có
khác gì tắm trước mới cho xuống hồ, hở đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà cười xòa:
- Thật
không có ví dụ nào sít sao hơn!
- Cái
mà chúng ta gọi " rửa ráy cho sạch sẽ sơ sơ, kỳ cọ tắm
rửa cho bớt cấu uế, nếm tí xíu vị ngon ngọt của pháp,
đặt được bàn chân đầu tiên trên lộ trình của giáo pháp"
- những nhóm từ ấy nghe thì thường thường - nhưng thực
ra, phải tu nhiều đời nhiều kiếp, căn cơ sâu dày mới được
vậy, đại vương hiểu chăng?
- Thưa,
chưa rõ.
- Đấy
là cách nói khác của quả vị Thánh nhân đầu tiên: là khai
mở tuệ nhãn, là đã bắt đầu đi vào dòng Thánh, là đặt
được bàn chân đầu tiên trên mảnh đất bất tử - là ám
chỉ quả vị Tu đà huờn, tâu đại vương!
- À,
ra thế!
- Những
bậc ấy, những vị ấy, dù họ có tu hay không tu, dù họ
xuất gia hay tại gia; sáu, bảy kiếp lưu lạc cõi trời và
người nữa thôi, họ sẽ đắc quả Bất hoàn hoặc Vô sanh
A-la-hán, tâu đại vương!
- Xin
ghi vào lòng!
- Nếu
Đức Phật và chư vị Thánh Tăng đại Trưởng Lão, dạy cư
sĩ được ngang chỗ ấy - chỗ bắt đầu đi vào dòng Thánh
ấy - thì việc xuất gia còn có nghĩa lý gì với họ nữa
mà nói chuyện xuất gia, phải không đại vương?
- Thưa
phải!
- Đắc
quả Thánh đầu tiên có nghĩa là mọi phận sự họ đã làm,
và làm tốt, rồi từ từ họ sẽ giảm bớt cấu uế! Thấy
được bệnh, đã uống thuốc và đã lành bớt bệnh mà còn
đến nhà thầy thuốc xin chẩn bệnh là việc làm của người
ngu đấy, tâu đại vương!
- Đúng
thế! Có bệnh mới đi tìm thầy thuốc. Bớt bệnh thì cứ
vậy mà uống, tịnh dưỡng, nghỉ ngơi, kiêng cử, thời gian
sau sẽ lành thôi.
- Tương
tự thế, những người đã đắc quả Tu-đà-huờn, xuất gia
không có nghĩa lý gì với họ nữa, trước sau gì, ở đâu,
họ cũng giác ngộ, giải thoát thôi!
Đức
vua Mi-lan-đà gật đầu:
- Người
có bệnh mới đi tìm thầy thuốc. Cũng thế, Đức Phật sẽ
không ngăn cấm người tại gia nhiều cấu uế, nhiều bệnh;
cứ để cho họ xuất gia trong giáo pháp của ngài.
- Vâng,
đúng thế. Ví như đại vương thấy xóm làng kia thiếu ăn,
đại vương cho người nấu rất nhiều cơm, cả hàng trăm
phần, rồi bố cáo rằng: "Ai đói thì cứ đến lấy cơm ăn
theo ý muốn." Người muốn thì đến lấy cơm ăn, người không
muốn thì họ sẽ không đến lấy ăn, giản dị vậy thôi.
- Quả
vậy.
- Đức
Thế Tôn từ bi tế độ chúng sanh, như đại vương bố thí
cơm vậy. Sẽ có một số người đến xin xuất gia, số người
khác sẽ không đến, hoàn toàn tự do, tùy ý. Trong số xuất
gia ấy, có một số biết làm bổn phận của mình và làm
tốt bổn phận của mình, đã đi vào dòng Thánh hay đang trên
đường đi vào dòng Thánh. Số ấy thường ít. Còn số đông
không biết bổn phận của mình, không làm tốt bổn phận
của mình hoặc phá hoại, xem thường bổn phận của mình,
tâu đại vương!
- Thưa,
vậy chính số đông phàm phu tục tử, ngu si ấy làm nhơ bẩn,
cấu uế giáo hội đấy, đại đức!
Đại
đức Na tiên mỉm cười:
- Giáo
hội không bao giờ cấu uế, bất tịnh đâu, đại vương chớ
lo về điều ấy. Nó có mấy lý do. Thứ nhất, một thời
gian ngắn, những kẻ ấy cũng hoàn tục, trở lại nếp sống
cũ trước đây của họ. Thứ hai, những kẻ xấu xa ấy ở
trong phẩm mạo tăng tướng sa môn, nếu họ không hoàn tục
sớm cũng hoàn tục muộn; vì họ sẽ nóng nảy, bất an, khoác
chiếc y mà như khoác cái lò lửa! Thứ ba, những kẻ đầy
cấu uế họ sẽ được giáo pháp cảm hóa chút chút, họ
sẽ sống tốt hơn thuở xưa!
Đại
vương có biết tại sao phát sanh ba trường hợp nêu trên không?
- Thưa,
không rõ!
- Tâu,
vì có năm đức tính quý báu, cao thượng của bậc xuất gia,
của tăng tướng sa môn. Chính nhờ năm đức tính ấy mà nó
"đẩy" người xấu hoàn tục sớm, "đẩy" người xấu hoàn
tục muộn hoặc cảm hóa, thấm nhuần kẻ xấu cho được
tốt hơn.
- Trẫm
rất muốn nghe năm đức tính cao thượng vi diệu ấy.
- Tâu,
năm đức tính ấy là:
Trước
tiên, bậc xuất gia là phẩm mạo sang cả, có địa vị lớn,
phước báu lớn, chức năng, chức danh lớn.
Tiếp
đến, bậc xuất gia có trạng thái trong sạch lớn, thanh tịnh
lớn.
Thứ
ba, bậc xuất gia không thân cận với người xấu ác (ác tâm,
uế tâm).
Thứ
tư, bậc xuất gia sẽ đắc những pháp cao siêu, cao thượng
rất khó khăn, thế gian khó thấy, khó hiểu, khó biết được.
Thứ
năm, bậc xuất gia luôn có Tứ thanh tịnh giới làm đất đứng,
chỗ tựa vững chắc, làm sức mạnh cho mình.
- Xin
đại đức hoan hỷ giảng cho từng điểm một, cho sáng rõ
ý nghĩa: Giáo hội không bao giờ cấu uế, bất tịnh?
- Vâng.
Chúng ta sẽ đi từ điểm thứ nhất: "Bậc xuất gia là phẩm
mạo sang cả, có địa vị lớn, chức danh, chức năng lớn,
phước báu lớn" là tại sao?
Bậc
xuất gia ví như ngôi vua chí tôn, chỉ để dành cho những
người đã có tích trữ phước báu sâu dày. Phước báu là
tên gọi chung chỉ cho y báo và chánh báo. Y báo và chánh báo
cũng mới chỉ là tên gọi chung để chỉ cho tất cả những
phước báu thọ hưởng trên đời này, đó là: địa vị,
chức tước, phẩm hàm, phú quý, tiền bạc, công danh, vợ
con, gia sản, quyến thuộc, kiến thức, dung mạo, trí tuệ
v.v... Trên thế gian, phước báu của vua là đệ nhất. Phước
báu ấy nó phù hợp với ngôi vua ấy, đức vua ấy.
Giả
dụ một người ít phước báu hoặc không có phước báu,
nghĩa là một người nghèo hèn, ngu dốt, đui què mẻ sứt,
vô học... mà đặt lên địa vị ngôi vua thì chuyện gì sẽ
xảy ra, đại vương?
- Sẽ
phát sanh rất nhiều sự nguy hại, tai hại xảy ra cho chính
đức vua ấy. Có thể bị tẩn suất, bị giết, bị các quan
đại thần khinh bỉ, thế gian cười chê. Cuối cùng, y không
thể ngồi yên trên ngai vàng, luôn cảm thấy nóng nảy, bất
an; nếu không bị ai giết thì y cũng cảm thấy xấu hổ, đau
khổ, và tự động rút lui, xin trở về làm thường dân!
- Cũng
tương tợ thế, kẻ ít phước báu, nghĩa là kẻ đần độn,
si mê, xấu ác... mà xuất gia trong giáo pháp của Đức Tôn
Sư sẽ bị Tăng lữ khinh bỉ, mọi người cười chê; cuối
cùng y sẽ nóng nảy, bất an; cảm thấy đau khổ, xấu hổ...
mà xin hoàn tục, trở về với cuộc đời!
Đức
vua Mi-lan-đà cảm thán:
- Ôi!
Chính nhờ năng lực của đức tính thứ nhất này, nó "đẩy"
người xấu kia ra khỏi giáo hội! Lạ lùng thay mà cũng vi
diệu thay! Xin đại đức cho nghe điều thứ hai?
- Tâu:
"phẩm mạo xuất gia vốn hàm tàng sự trong sạch lớn, thanh
tịnh lớn"! Tại sao lại như thế? Đại vương! Ngài nghĩ
như thế nào! Ví như những giọt mưa, những hạt sương rớt
trên lá sen, chúng chỉ chạy lướt qua, lăn trôi đi, rơi đi
chứ không thể dính trên lá sen hoặc ngấm sâu vào lá sen
được! Tại sao thế? Tại vì lá sen trơn láng, trong sạch;
nó đẩy đi tất cả những thứ gì có thể bám dính vào!
Giáo hội của Đức Tôn sư, phạm hạnh của bậc xuất gia
bản chất cũng giống như lá sen ấy. Những kẻ lạm mạo
tăng tướng, xuất gia trong giáo pháp này mà có tâm địa không
tốt, lường láo, khoe khoang, gian manh, xảo trá, phá giới -
sẽ tự mình chuốc lấy sầu khổ - một lúc nào đó cũng
phải trượt đi, rơi đi... không tồn tại trong giáo pháp kia
được, phải hoàn tục thôi. Đây là năng lực vi diệu có
từ đức tính thứ hai này.
- Vậy
cho trẫm nghe tiếp điều thứ ba, tức là "đức tính không
thân cận bậc xấu ác", thưa đại đức?
- Tâu,
vâng! Ví như biển cả trong sạch, vốn không bao giờ dung chứa
vật bất tịnh, bất cứ xác chết nào lớn hoặc nhỏ, người
hoặc thú; nếu trôi xuống biển lớn, một lúc nào đó sóng
sẽ đánh dạt những tử thi ấy vào bờ. Biển luôn luôn dọn
sạch những vật bất tịnh để giữ gìn sự thanh khiết cho
mình. Cũng tương tự thế, những kẻ bất tịnh, xấu xa, ác
tâm, tà tâm, hung dữ, thô bỉ, trược hạnh, lười biếng,
ngu tối... sẽ không thể tồn tại lâu dài trong giáo hội
của Đức Tôn Sư. Phẩm mạo xuất gia và giáo hội ấy không
thể làm bạn, gần gủi kẻ xấu ác được. Biển đẩy, sóng
xô lên bờ các vật bất tịnh như thế nào thì bản chất
thanh khiết của phẩm mạo xuất gia cũng đẩy, cũng xô chúng
đi như thế. Đấy là ý nghĩa thứ ba, tâu đại vương!
- Trẫm
đã
hiểu, xin cho nghe tiếp điều thứ tư.
- Tâu,
vâng! Ví như một người căn cơ chậm lụt, ngu đần, chẳng
học được văn chương, hay võ nghệ, chỉ đeo đuổi cái nghề
bắn cung mà thôi. Nhưng nghề bắn cung cũng không dễ gì. Người
thầy chỉ dạy cho kiến thức cơ bản: tay cầm, mắt nhắm,
chỗ đứng, hướng gió v.v..., nhưng y cũng không thể nào bắn
trúng mục tiêu. Chán nản quá, y bỏ đi, không học nữa, trở
thành kẻ vô công rồi nghề, ăn bám xã hội. Loại người
này do thiếu phước, do nhiều kiếp tạo nghiệp ác, nên kiếp
này si mê, đần độn, ngu xuẩn, ăn nói bập bẹ, phều phào,
nước dãi chảy đầy mồm miệng, hay quên, hay lẫn... chẳng
làm được bất cứ một việc gì trên đời này. Những kẻ
ấy không thể học được nghề bắn cung thì làm thế nào
có khả năng, trí tuệ để học hỏi giáo pháp Tứ diệu đế
nhiệm mầu, cao siêu - đòi hỏi tinh tấn, kiên trì, chú tâm,
tỉnh giác - là những đức tính mà không bao giờ y có thể
có được. Người học bắn cung chán nản bỏ đi như thế
nào, thì người ngu si kia cũng sẽ hoàn tục, bỏ đi như thế!
- Rõ
ràng lắm! Đại đức hoan hỷ cho nghe thêm điều thứ năm:
"Bậc xuất gia có Tứ thanh tịnh giới làm nền tảng, làm
đất đứng, là sức mạnh của mình."?
- Ví
như một đám quân rời rạc, yếu ớt, không có dũng cảm...
bước vào chiến trận, nhìn xung quanh thấy quân địch bao
vây hàng hàng lớp lớp, gươm giáo sáng lòa, đồng loạt xông
tới. Sợ hãi quân địch, đám quân ấy run rẩy, khiếp sợ,
bèn vội quăng giáo, đua nhau chạy trốn. Cũng vậy, những
kẻ xuất gia trong giáo hội này có tâm địa tráo trở, làm
việc xấu xa, tà hạnh, bất chánh... sẽ có tâm sợ hãi, khiếp
nhược... khi sống giữa hội chúng thanh tịnh. Năng lực thanh
tịnh của phẩm mạo xuất gia toát ra một sức mạnh, một
hùng lực... bao vây lớp lớp xung quanh, làm cho kẻ xấu ác
run rẫy, sợ hãi, quăng y, quăng bát, trở về hoàn tục cũng
giống như thế.
- Thật
là hay lắm vậy. Tất cả những kẻ xuất gia xấu xa ấy,
rốt lại, bị đẩy ra ngoài hết, bản chất của giáo hội
thanh tịnh thì vẫn là thanh tịnh.
- Đúng
thế! Ví như hoa sen là cao quý, hương thơm ngát so với trăm
hoa, sắc màu tinh khiết, nhã đạm. Ai cũng ưa và ai cũng thích.
Đại vương bảo thuộc hạ trồng một hồ sen để thưởng
thức. Hôm kia rảnh rỗi, bệ hạ ra hồ sen ngắm cảnh cho
thư thái tâm hồn. Sắc hoa sen đẹp và hương thơm ngạt ngào.
Nhưng ngắm kỹ, có khá nhiều hoa bị sâu đục, cắn đài
hoặc khóet nhụy, bệ hạ tức giận lắm. Sau bình tĩnh nghĩ
lại, biết bắt tội ai bây giờ? Bắt tội người trồng,
không thể, bắt tội sâu, không thể. Bắt tội những cây
sen bị sâu khóet đục, cũng không thể. Giữa đất trời này
có gì là hoàn hảo? Vả, hồ sen vẫn khoe sắc và tỏa hương!
Dẫu có những đóa bất toàn nhưng không vì vậy mà hồ sen
thiếu sắc, thiếu hương!
Giáo
hội của Đức Tôn Sư, phẩm hạnh của bậc xuất gia dẫu
không được như ý muốn của đại vương; dẫu có những
kẻ bị sâu đục khóet, nhưng giới đức, định đức, tuệ
đức, giải thoát đức vẫn khoe sắc và tỏa hương ngào ngạt.
Những sa môn đệ nhất quả, đệ nhị quả, đệ tam quả,
đệ tứ quả, biện tài, thần thông, tuệ phân tích, thuyết
pháp, đầu đà, mật hạnh, thiền định... vẫn tỏa sáng
như những ngôi sao giữa bầu trời trong vắt, đại vương
có thấy thế chăng?
- Quả
đúng vậy.
- Lại
nữa, ví như có người trồng lúa Sàlilohitaka [*], nó có đặc
tính: hễ nơi nào có lúa Sàlilohitaka, thì nơi ấy, lúa Sàlikarumabaka
cũng mọc lên chen dày không có chỗ hở. Nhưng lúa Sàlikarumabaka
không thể làm hư hại lúa Sàlilohitaka, vì nó mọc lên ở
đâu thì nó bị diệt mất, tiêu hoại ở đấy. Cũng thế,
những người vào tu trong giáo hội, không được hưởng chút
hương vị nào của giáo pháp, hoàn tục trở lại cuộc đời.
Như thế, chúng cũng "mọc" lên như lúa Sàlikarum-abaka, chúng
cũng tự tiêu hoại như lúa Sàlikarumabaka, không hai, không khác.
[*]
Tên một loại lúa, thơm ngon và quý nhất.
- Ví
dụ hay lắm.
- Lại
nữa, ví như ngọc ma ni làm cho thành tựu mọi điều mơ ước
con người, gọi là ngọc như ý. Không tỳ vết, gọi là ngọc
như ý, có tỳ vết chút ít, cũng gọi là ngọc như ý, cũng
thành tựu mơ ước cho mọi người giống nhau. Những người
xấu xa xuất gia trong giáo hội, làm cho giáo hội thanh tịnh
có tỳ vết. Có tỳ vết, hay không có tỳ vết thì giáo hội
vẫn thanh tịnh, vẫn tỏa hương thơm ngào ngạt, vẫn thành
tựu mơ ước cho mọi người, vẫn lợi ích cho chư thiên và
nhân loại.
- Đúng
thế!
- Lại
nữa, ví như chiên đàn đỏ. Chiên đàn đỏ toàn hảo, không
bị sâu ăn, không bị hư mục..., nó tỏa hương thơm ngào
ngạt. Nhưng chiên đàn đỏ khiếm khuyết, hư lủng, bị sâu
ăn... vẫn tỏa hương thơm ngào ngạt. Dẫu những tỳ khưu
xấu tồn tại trong giáo hội hoặc hoàn tục về nhà, giáo
hội ấy vẫn là chiên đàn đỏ; những phẩm mạo xuất gia
trong phạm hạnh ấy, toàn thể ấy, hương thơm ấy vẫn xông
ngát đến bốn cõi Tứ đại thiên vương!
Đấy
là tất cả mọi kiến giải ngu hèn và vụng về của bần
tăng, mong đại vương chỉ giáo thêm cho.
- Không
dám. Ai mà làm thế thì cái đầu của hắn sẽ bị vỡ thành
bảy mảnh.
- Mô
Phật!
* *
*
149.
Thân thọ khổ, tâm có thọ khổ chăng?
- Thưa
đại đức! Khi thọ khổ phát sanh, bậc A-la-hán chỉ thọ
có một khổ thọ ấy, còn phàm phu thì thọ luôn cả hai thọ
khổ, có phải vậy chăng?
- Xin
đại vương nói rõ hơn một tí nữa.
- Thưa,
có nghĩa rằng, bậc A-la-hán chỉ thọ có một khổ thọ ở
nơi thân, còn phàm phu thì thọ khổ cả thân lẫn tâm?
- Đúng
thế.
- Vậy
khi thân A-la-hán đau, tâm vị ấy không đau sao?
- Tâu,
vâng!
- Có
nghĩa là thân và tâm vị A-la-hán không liên hệ gì với nhau
cả!
- Không
phải thế, nó tương quan liên hệ với nhau.
Đức
vua Mi-lan-đà mỉm cười:
- Đại
đức không cảm nghe là kiến giải ấy mâu thuẫn nhau ư? Thân
và tâm liên quan, nhưng khi thân thọ khổ mà tâm không thọ
khổ? Lý lẽ ấy chẳng thuyết phục chút nào?
Đại
đức Na tiên cũng mỉm cười:
- Vì
đại vương chưa chứng nghiệm điều ấy nên đại vương
hoài nghi. Vì đại vương chưa làm chủ được tâm mình nên
không thấy rõ tâm của các vị A-la-hán. Các bậc ấy làm
chủ được tâm nên khổ thọ của thân không chi phối tâm
của các ngài được. Đơn giản chỉ có vậy.
- Điều
ấy nghe thì có vẻ đúng, nhưng suy nghiệm kỹ cũng không hợp
lý. Tại sao? Đáng ra, khi các ngài làm chủ tâm, thì các ngài
làm chủ được cả thân mình chứ?
- Thân
không làm chủ được, tâu đại vương!
- Tại
sao?
- Khi
thân đau, đại vương có thể bảo "thân đừng đau" được
không?
- Không
thể.
- Khi
cái thân bị già, yếu, tâm có thể bảo rằng: "Thân! mày
đừng già, yếu" được chăng?
- Thưa,
thật không thể.
- Không
những chỉ có già, đau, chết... mà còn nóng, lạnh, đói,
khát, đại tiện, tiểu tiện, buồn ngủ v.v... hằng đi theo
thân, chi phối thân khắp ba cõi sáu đường - mà tâm chẳng
làm gì được, chẳng sai bảo, nhắc nhủ gì được. Nghĩa
là tâm không thể làm chủ thân được.
Đức
vua Mi-lan-đà gật đầu:
- Trẫm
tạm thời chấp nhận như vậy, nhưng tại sao trong giới luật
của Tăng-già thường hay nhắc nhở: thu thúc thân?
- Thân
không làm chủ được nhưng thu thúc được. Thu thúc nghĩa
là rút lại, bó buộc lại... đừng cho thân manh động mà
tạo nên những thân ác nghiệp như sát sanh, trộm cắp v.v...
Mong đại vương hiểu cho: "làm chủ" và "thu thúc" là hoàn
toàn khác biệt nhau.
- Vâng!
Quả là không làm chủ được, chỉ ngăn cấm được chút
ít, thế đại đức có thể nêu ví dụ cụ thể được chăng?
- Được
chứ! Tâm nương nhờ thân để ăn nói, nằm ngồi, đi đứng,
như con người nương nhờ quả đất mà làm nhà cửa, đường
sá, làm ruộng, làm rẫy; xây dựng quốc gia nhỏ, quốc gia
lớn v.v... Tuy nhiên, tâm chỉ có thể sai khiến thân, bó buộc
thân, thu thúc thân trong chừng mực có thể - vì thân do kết
hợp của tứ đại, còn chịu sự ràng buộc của tứ đại,
ảnh hưởng tụ tan của tứ đại, sự quân bình của tứ
đại v.v... ; nên nó chịu sự chi phối bởi các định luật
tự nhiên của nhiên giới. Cũng thế, con người nương nhờ
nơi quả đất mà sinh sống, nhưng con người chỉ có khả
năng rất chừng mực là có thể cải tạo đất đai, khơi
dòng sông dẫn nước, làm đê, làm hồ, đường sá, lấp eo
biển v.v... chứ không thể làm chủ hoàn toàn quả đất, bắt
quả đất phục vụ cho tất cả ý muốn của con người! Vì
sao vậy? Vì quả đất cũng là tứ đại, nó phải bị chi
phối bởi các định luật tự nhiên của trời đất, tâu
đại vương!
- Thật
là hay lắm vậy! Đấy là thường nhân, là phàm phu; còn các
bậc A-la-hán cũng không làm chủ được thân ư? Phải có chứ?
Ví như khi thân đau, thân nóng, thân lạnh; tâm các vị ấy
làm chủ cái đau, cái nóng, cái lạnh?
- Nhưng
như vậy không có nghĩa là tâm làm chủ thân. Chữ "làm chủ
thân" không áp dụng ở đây được. Phải nói là do tâm quý
ngài đã được huấn luyện, đã được buộc chặt nên sự
đau, sự nóng, sự lạnh... không ảnh hưởng đến tâm của
các ngài được.
- Còn
phàm phu vì tâm chưa được huấn luyện nên khi thân đau, bị
chi phối bởi cái đau ấy, tâm đau một cách tức khắc?
- Vâng.
Ví như một con bò bị chủ buộc bằng giây thừng, ngăn không
cho vật thực là nước và cỏ. Bò kia thấy nước và cỏ,
bị chi phối bởi đói và thèm muốn nên bò vùng vẫy, kêu
rống... Và thế là bò càng bị giây siết chặt, càng đau
khổ hơn. Đấy là hình ảnh của chúng sanh trên thế gian này.
Bò là chúng sanh. Cỏ và nước là ngũ trần. Chúng sanh cũng
do tìm kiếm ngũ trần, thỏa mãn ngũ trần mà thọ các khổ.
Cũng kêu rống, cũng vùng vẫy, nhưng càng vùng vẫy, kêu rống,
càng thọ thổ nhiều hơn. Chúng sanh, tất cả phàm phu, khi
tâm chưa được huấn luyện, đều y như thế: dẫu vùng vẫy
kiệt sức cũng không thoát khỏi khổ.
Ngựa
Àjànaya, tức là ngựa thuộc dòng giống tốt, đã được
huấn luyện thuần thục rồi sẽ không vùng vẫy, kêu rống...
như chú bò ở trên kia; nó sẽ ở yên, nằm yên dẫu bị buộc
chặt, dẫu chủ chưa cho cỏ và nước.
Tương
tự như thế, tâm các vị A-la-hán đã được huấn luyện
thuần thục rồi, nên các sự thọ khổ ở nơi thân, dẫu
thân bị nóng, lạnh, đói, khát v.v... tâm các ngài cũng không
lay động. Vì các ngài đã tự buộc tâm vào một cái thạch
trụ kiên cố, vững chắc - ấy là Định, nhờ vậy, thân
dù thọ khổ, tâm các ngài không thọ khổ, tâu đại vương!
- Trẫm
mới hiểu được sơ sơ.
- Vậy
để hôm khác, chúng ta tiếp tục.
- Thưa,
vâng.
* *
*
150.
Giải thêm về "tâm không động"
- Xin
đại đức giảng thêm ở chỗ "tâm không động"? Thân động
mà tâm không động quả là phi thường! Thế ngài có ví dụ
nào cụ thể, dễ hiểu chăng?
- Có
chứ! Ví như có một đại cổ thụ, gốc to lớn đến mười
người ôm không xuể, tàng lá cành nhánh của nó sum suê, che
phủ cả một vùng. Những cơn gió từ hướng đông, tây, nam,
bắc thổi đến; cành nhánh lá lay động, có thể cành nhánh
gãy, lá rụng, nhưng gốc đại thụ vẫn an nhiên không nhúc
nhích. Điều ấy chứng tỏ gì? Chứng tỏ cành nhánh lá lay
động nhưng không thể lay động gốc, nếu rễ ken dày, sâu
ở trong đất, kiên cố, vững chắc như một thạch trụ! Thân
ví cho cành nhánh lá mà tâm có Định ví như gốc cây kia vậy,
tâu đại vương!
- Gió
dù lớn cũng không lay động, nhưng giả dụ bão lớn thì sao?
Có những trận bão lớn không những lay động gốc mà còn
bật tung cả gốc rễ? Ví dụ của đại đức không tương
hợp, không áp dụng được ở đây rồi!
- Vẫn
áp dụng được, vẫn tương hợp được, tâu đại vương!
Cái tâm bị bật gốc ví cho những người mà tâm định chưa
kiên cố, chưa vững chắc. Cái tâm ấy nếu bị những cơn
bão, tức là những đối tượng ngũ trần lôi cuốn, quyến
rũ cường liệt, thì nó cũng không thể chịu đựng nổi,
bị rung động, rung chuyển hoặc bật gốc ngay! Đấy là cái
tâm định từ sơ thiền đến bát thiền, rất kiên cố, nhưng
vẫn có thể bị bão lay động. Chỉ có định của bậc A-la-hán
mới tự tại, an nhiên và bất động đúng nghĩa. Thân vị
ấy có thể bị các cảm thọ đau đớn chi phối, nhưng tâm
vị ấy luôn rỗng rang, trạm nhiên, giải thoát.
- Cảm
ơn đại đức đã mở mắt lớn cho trẫm.
* *
*
151.
Người đã phạm "bất cộng trụ", xin tu lại, có đắc được
đạo quả không?
[*]
Bất cộng trụ: Hành dâm, trộm cắp, giết người, khoe pháp
bậc cao nhân. Là giới luật tỳ kheo.
- Thưa
đại đức! Người đã phạm "Bất cộng trụ", xin tu lại,
nhưng y không biết gì về tội bất cộng trụ, không hay mình
phạm tội bất cộng trụ, không có ai nhắc nhở, chỉ bảo
đấy là bất cộng trụ. Và chính người xin tu lại ấy không
nghĩ rằng mình phạm bất cộng trụ, cứ nghĩ mình tốt, trong
sạch; vẫn tinh tấn, kiên trì để hy vọng giác ngộ đạo
quả cao siêu. Nhưng người ấy có thể nào chứng đắc đạo
quả cao siêu không thưa đại đức?
- Tâu
đại vương! Đã phạm và đang phạm bất cộng trụ dẫu vì
lý do nào, cũng không thể chứng đắc đạo quả cao siêu!
Họ nỗ lực, tinh tấn mấy cũng vô ích mà thôi!
- Đại
đức phải giải thích chứ?
- Tâu,
vâng. Đạo quả cao siêu là pháp xuất thế gian. Pháp xuất
thế gian chỉ phát sanh đến cho những người có giới đức
trong sạch, phẩm hạnh thanh khiết. Người mà đã phạm, đang
phạm bất cộng trụ thì giới và phẩm hạnh đã bị hoen
ố, hư hỏng, pháp xuất thế gian không thể phát sanh đến
cho người ấy.
- Đồng
ý là thế, nhưng thưa đại đức, vẫn có những trường hợp
khác nhau chứ? Người đã phạm mà cố ý phạm, biết rằng
mình đã phạm và đang phạm, biết rằng đấy là tội nặng,
là giới trọng... thì tâm sẽ ăn năn, ray rứt, nóng nảy.
Chính trạng thái ray rứt, ăn năn của tâm làm cho những pháp
xuất thế gian cao siêu không phát sanh được, trường hợp
này là đúng.
Nhưng
có trường hợp khác. Đấy là người phạm mà không cố ý
phạm, không biết rằng mình đã phạm, không nghi ngờ mình
đã phạm, không thấy biết đó là tội nặng, là giới trọng;
vẫn cứ nghĩ mình trong sạch, thanh tịnh, nên tâm họ không
ray rứt, ăn năn, không nóng nảy. Những người như thế ấy
thì làm sao mà không đắc đạo quả cao siêu được?
- Câu
hỏi ấy hay lắm, tuy nhiên, đại vương hãy nghe đây. Có người
nông phu lựa chọn giống lúa tốt, gieo trên thửa ruộng tốt
thì chắc chắn đám ruộng ấy cho năng xuất cao chứ?
- Thưa
vâng.
- Cũng
cùng giống lúa ấy mà cho gieo trên đám ruộng xấu thì thế
nào?
- Dĩ
nhiên là năng xuất sẽ kém hơn.
- Giả
dụ, cũng lúa ấy, lại đem gieo trên núi đá thì sao nhỉ ?
- Ai
lại làm thế được? Gieo trên núi đá thì làm sao nẩy mầm
được?
- Đúng
thế, tâu đại vương! đám ruộng tốt ví cho giới trong sạch,
thanh tịnh, là nơi sanh trưởng nảy nở của các pháp xuất
thế gian, những đạo quả cao siêu. Những đám ruộng vừa
ví cho người có giới chưa được hoàn toàn, nhưng có tâm
tu, cũng đạt được một vài thành quả lợi ích. Còn núi
đá tượng trưng cho đám ruộng không sử dụng được, do
vậy, không thể nẩy mầm những pháp cao siêu ở nơi những
người có giới hư hỏng, ác nghiệp nặng, phạm giới như
bất cộng trụ!
Đức
vua Mi-lan-đà lắc đầu:
- Nghe
thì rất có lý nhưng vẫn có cái gì đó chưa được tương
hợp, thích đáng, chưa được thuyết phục cho lắm. Đại
đức có ví dụ nào sít sao hơn thế chăng?
- Có
thể được! Ví như đại vương lấy những vật có ít hoặc
nhiều trọng lượng như cục đá, khúc cây, miếng gỗ v.v...
đại vương quăng lên hư không rồi xem thử chuyện gì xảy
ra?
- Chẳng
cần xem làm gì! Một hạt cát nhỏ cũng có trọng lượng,
có sức nặng, vậy những vật kia sẽ rơi xuống đất thôi!
- Chúng
không thể dính vào hư không được sao?
- Không
thể, vì chẳng phải nhân chẳng phải quả.
- Vật
có trọng lượng không thể dính vào hư không được vì chẳng
phải nhân, chẳng phải quả ; cũng vậy, những người phạm
bất cộng trụ, tội nặng dĩ nhiên là phải rơi xuống các
cảnh giới đau khổ, thấp hèn. Chúng làm sao với tới, bay
lên, chứng đạt được các cảnh giới cao siêu, vì nhân quả
không thích hợp, không tương ứng, tâu đại vương!
- Hay
lắm!
- Lại
nữa! Ví như người ta nhen một đống lửa lớn trên một
đám đất khô ráo, lửa sẽ cháy sáng rực rỡ phải không,
đại vương?
- Đúng
vậy!
- Trái
lại, kẻ kia muốn có đám lửa sáng rực rỡ như thế, bèn
nhen một đống lửa lớn, nhưng lại nhen ở trong nước. Thử
hỏi đại vương, người kia có đạt được ý nguyện của
mình chăng?
- Thưa,
không thể. Đấy chẳng khác gì việc làm của người ngu,
y chẳng thấy đâu nhân, đâu quả.
- Đúng
vậy, những kẻ muốn có đạo quả cao siêu, trí tuệ chói
sáng rực rỡ mà thân tâm bị chìm đắm trong nước bùn đen
của dục ái, tham ái, ác giới; mới nhen lên đã tắt ngấm
ngay, việc làm ấy quả là si mê, chẳng thấy nhân quả vậy.
Nhân đã tắt, đã diệt thì quả làm sao thành?
- Thưa
có thể đúng đối với trường hợp người kia biết mình
làm ác, biết mình phạm bất cộng trụ, biết thân tâm mình
bị chìm đắm trong nước ái dục; còn đối với trường
hợp sau, họ làm ác với tâm tự nhiên, chẳng nghĩ rằng đó
là giới trọng, bất cộng trụ; họ hoàn toàn chẳng nghi ngờ
gì cả, không hề nghĩ đấy là hư hỏng, xấu xa, giới phạm;
tâm họ trong sáng, hồn nhiên, chẳng ăn năn, ray rứt, nóng
nảy gì cả. Trường hợp ấy thì sao họ không thể chứng
đạt đạo quả cao siêu, nếu họ cố gắng kiên trì tu tập?
- Đại
vương! Một người ăn phải thuốc độc, nhưng họ không biết
đấy là thuốc độc, không nghi ngờ đấy là thuốc độc,
thì người ấy có bị ngộ độc mà chết không?
- Đã
là thuốc độc thì biết hay không biết cũng chết thôi!
- Một
người bị rắn độc cắn nhưng y không biết đấy là rắn
độc, không nghi đấy là rắn dộc, thì kết quả thế nào,
tâu đại vương?
- Tất
sẽ chết!
- Việc
xấu ác, phạm trọng giới bất cộng trụ là những tội nặng,
biết hay không biết nó cũng đã ngấm vào tâm rồi, như thuốc
độc đã ngấm vào cơ thể vậy. Biết hay không biết, thuốc
độc cũng mang hậu quả chết người. Cũng vậy, biết hay
không biết, nhưng xấu ác, trọng giới, tội nặng - tất phải
chịu trả quả đau khổ thôi. Chỗ tội báo nặng nề ấy
không thể là vùng đất thanh cao, khô ráo cho các pháp xuất
thế gian nảy sinh, đại vương nên hiểu cho như vậy.
- Thưa,
vâng.
- Lại
nữa, ví như đức Chuyển luân Thánh vương Kàlinga có con bảo
tượng cao quý, nó di chuyển vô ngại giữa hư không. Hôm kia,
đức Chuyển luân Thánh vương khởi ý chu du thiên hạ trên
bảo tượng của mình. Con bảo tượng sau khi bay qua nhiều
quốc độ, bay qua núi non, sông suối, rừng rậm, thị trấn,
làng mạc; đến một con sông nhỏ, chợt khựng lại, không
thể lướt qua được. Xuống ngựa, đức Chuyển luân Thánh
vương quan sát, xem phương hướng, vị trí, xác định điểm
dừng, thì thấy một cây đại thụ Bồ đề to lớn: chỗ
ngồi thành đạo của Đức Phật! Chính cây Bồ đề này toát
ra một năng lực siêu nhiên, dù bảo tượng có nhiều thần
lực cũng không thể vượt qua, lướt trên đầu cây Bồ đề
ấy. Thí dụ này như thế nào thì đại vương cũng nên hiểu
câu hỏi của đại vương theo nghĩa ấy. Biết hay không biết
cũng không thể chứng ngộ đạo pháp cao siêu do giới hạn
của trọng tội, ác giới, phạm bất cộng trụ!
- Những
ví dụ thiện xảo của đại đức mở mang rất nhiều cho
trí óc của trẫm.
* *
*
152.
Cư sĩ phá giới và sa môn phá giới,
hậu
quả tội lỗi nặng nhẹ ra sao?
- Tu
hành mà phá giới tất là tội nặng rồi, phải không đại
đức?
- Hẳn
vậy.
- Một
người cư sĩ phá giới và một sa môn phá giới, ai tội nặng
hơn ai?
Đại
đức Na tiên mỉm cười:
- Đại
vương thử phát biểu ý mình xem sao!
- Vâng,
theo trẫm, cả hai cùng phá giới, ắt sa môn sẽ tội nặng
hơn!
- Tại
sao?
- Vì
sa môn ăn cơm của thí chủ, sàng tọa, y áo, thuốc men đều
là nợ của thập phương. Sa môn còn giữ gìn phẩm hạnh để
làm gương, để dạy dỗ thiện tín, môn đồ... Chỉ chừng
ấy thôi, trẫm đã xác định là sa môn phải mang tội nặng,
tối thiểu là gấp đôi so với cư sĩ.
- Lời
của đại vương chỉ đúng một nửa và cũng sai một nửa.
Một nửa đúng là phá giới phải mang tội. Một nửa sai là
do đại vương không biết rõ những phước báu của phẩm
mạo sa môn.
- Xin
đại đức giảng cho nghe!
- Tâu,
vâng. Người cư sĩ phá giới thì mang tội, nhưng mang tội
ấy chỉ hại cho mình nhưng chẳng được lợi ích cho ai. Còn
sa môn phá giới, tuy có hại mình nhưng còn giúp ích cho rất
nhiều người khác, đại vương có biết thế không?
Đức
vua Mi-lan-đà lắc đầu:
- Phá
giới mà còn lợi ích cho người khác! Quả thật trẫm nghe
chưa lọt tai, phải nói là chối tai, nhức tai nữa là khác!
- Rồi
đại vương sẽ thuận tai ngay khi nghe đến những đức tính
của phẩm mạo sa môn, dù y đã phá giới.
- Xin
cho nghe!
- Tâu
đại vương! Một sa môn phá giới nhưng y còn trong phẩm mạo
sa môn, y còn đức tin với Tam Bảo, y có pháp học; tiếng
nói của y có giá trị trong hàng Tăng lữ... thì chúng ta không
nên xem thường, vì sao, vì y được bảo trợ, nâng đỡ bởi
mười đức tính sau đây:
Thứ
nhất, y biết cung kính Đức Phật.
Thứ
hai, y biết cung kính Đức Pháp.
Thứ
ba, y biết cung kính Đức Tăng.
Thứ
tư, y biết cung kính các bậc phạm hạnh.
Thứ
năm, y biết dạy Pàli và chú giải.
Thứ
sáu, y có học pháp, nghe pháp nhiều.
Thứ
bảy, dẫu đã phá giới nhưng khi đi đâu y cũng giữ gìn tư
cách, phẩm hạnh; biết thu thúc thân khẩu, không để cho bất
cứ ai cười chê tư cách của mình.
Thứ
tám, y có khả năng hướng dẫn và lãnh đạo chúng đồ.
Thứ
chín, hoàn cảnh nào y cũng giữ được phẩm mạo sa môn, Tăng
tướng; còn là kẻ dìu dắt, hướng dẫn, nâng đỡ các hàng
xuất gia hậu học.
Thứ
mười, dẫu phá giới nhưng y làm chỗ khuất lấp không cho
ai hay biết.
Tâu
đại vương, chính nhờ mười đức tính ấy mà sa môn phá
giới tốt hơn cư sĩ phá giới nhiều. Sa môn phá giới hội
đủ mười đức tính trên, y sẽ còn mang đến lợi lạc rất
nhiều cho thiện nam tín nữ. Nói rõ hơn, sa môn phá giới cũng
làm cho thành tựu quả bố thí, cúng dường của đàn na thí
chủ. Tất thảy có mười trường hợp lợi ích:
Một
là, do phẩm mạo tăng tướng bên ngoài trong sạch, vô tội,
nên sẽ phát sanh tâm trong sạch cho thí chủ.
Hai
là, đang trong phẩm mạo sa môn, đang đi trên lộ trình của
pháp lành, dẫn đường cho thí chủ bước theo để họ biết
bố thí, cúng dường.
Ba
là, vẫn làm cho sự bố thí của thí chủ có kết quả, do
thực hiện pháp nhỏ, pháp lớn của Tăng sự, thực hành mọi
phận sự do sự chỉ định của Tăng.
Bốn
là, vẫn còn các pháp nương nhờ do qui y Tam Bảo, là lý do
làm cho việc bố thí của thí chủ được thành tựu.
Năm
là, do còn thọ trì những pháp đã thọ, không ở lâu một
nơi, không dính mắc trú xứ.
Sáu
là, có nghiên cứu học hỏi giáo pháp nên vẫn là đám ruộng
tốt cho thí chủ bố thí gieo hạt giống lành.
Bảy
là, đem kết quả bố thí cho thí chủ vì giảng thuyết pháp
cao thượng đến cho mọi người.
Tám
là, do còn pháp là nơi nương nhờ, bảo trợ, nên sự cúng
dường của thí chủ vẫn mang lại phước báu tốt lành.
Chín
là, do đức tin, tri kiến thấy rõ Đức Phật là bậc tối
thượng, cao thượng, quý báu nhất trong tam giới, không ai
sánh bằng.
Mười
là, có công đức quét dọn nơi làm lễ phát lồ nên sự cúng
dường của thí chủ kết quả vẫn tốt đẹp.
Tâu
đại vương! Ngài hãy quay ngược lại tri kiến của mình,
thay đổi quan niệm của mình, vì sa môn phá giới vẫn cho
kết quả thù thắng cho những ai bố thí, cúng dường. Đừng
theo lý lẽ và sự hiểu biết chung chung của người đời.
Họ không biết rõ sự thật đâu.
- Vâng,
vâng!
- Nước
không được tinh sạch, không uống được nhưng cũng có thể
rửa sạch vật dơ, bụi đất, mồ hôi đấy, đại vương!
- Thưa,
vâng.
- Nước
sôi sùng sục cũng có thể rưới tắt đống lửa được đấy,
đại vương!
- Thưa,
vâng.
- Vật
thực dù mất hương vị cũng có thể làm no những kẻ đói
lòng!
- Thưa,
vâng!
- Tóm
lại, người nam nữ cư sĩ nào trú trong ngũ giới, bát giới;
thọ trì giới rất tốt, rất kiên trì; lại có tâm trong sạch,
vật bố thí chánh mạng, hợp pháp đến cho sa môn phá giới
nhưng biết tin nghiệp, tin quả, thì chắc chắn sẽ thành tựu
phước quả như y muốn. Sa môn phá giới vẫn làm cho dakkhinà
(vật cúng dường) của thí chủ được kết quả, tâu đại
vương!
Đức
vua Mi-lan-đà vô cùng ngưỡng mộ nên hết lời tán thán:
- Thật
phi thường thay là những lời giải đáp này. Đại đức đã
làm cho tỏ lộ những pháp vị sâu kín, xứng đáng để nghe
và học hỏi. Trẫm hoan hỷ mà ai nghe cũng phải hoan hỷ.
Đại
đức! Khi trao một món thịt, người đầu bếp bình thường
chỉ làm được một món; còn người đầu bếp thiện xảo
sẽ kiếm gia vị, rau cải để nấu canh, chiên, xào, hấp nướng...
chế biến thành hàng chục món ăn cũng từ một món thịt
ấy thôi. Cũng thế, trẫm chỉ trao một câu hỏi, mà đại
đức đã chiên, xào, nấu... thêm gia vị... để cho trẫm được
ăn một bữa thịnh soạn xiết bao! Trẫm cảm ơn lắm. Trẫm
đã hết nghi rồi!
* *
*
153.
Nước có sanh mạng chăng?
- Thưa
đại đức! Nước có sanh mạng chăng?
- Tâu
đại vương! Nước vốn không có tâm, không có thức, không
có sự sống, làm sao lại có sanh mạng được!
- Thưa,
theo trẫm được hiểu, những người ngoại đạo quan niệm
rằng, nước lạnh là nước sống, nước nóng là nước chết,
nên họ chỉ uống nước nóng thôi. Họ chê trách các sa môn
Thích tử uống nước lọc, nước lạnh là giết hại chúng
sanh. Điều ấy phải nên giải thích như thế nào?
- Đấy
là tà kiến, thấy sai, hiểu lầm, tâu đại vương! Nước
không có sanh mạng nên chẳng phải là chúng sanh.
- Vâng,
trẫm cũng biết thế, nhưng họ bảo rằng, nước có sanh mạng,
là chúng sanh; vì khi đun nước, nước đau quá nên nước sôi
lên, nước kêu lên, nước sủi bọt; chứng tỏ nước có
tâm, có thức biết cảm giác như tất cả giống hữu tình
khác.
- Chẳng
phải thế đâu, đại vương! Nước bị lửa đốt, nóng thì
kêu lên, đấy là chuyện nhân quả xảy ra rất tự nhiên!
- Nhưng
họ bảo, vì nóng nên nước kêu lên; kêu lên, chứng tỏ nước
có cảm giác, có tâm thức.
- Thế
gặp những năm hạn hán, nước trong hồ, trong giếng, sông
rạch đôi khi khô cạn sao nước ấy lại không kêu? Nước
ở sông, giếng, ao hồ không có sanh mạng sao?
- Vì
nước ấy không nóng sôi như nước nấu!
- Tâu,
nóng sôi thì kêu nhiều, nóng ít thì kêu ít! Nếu có tâm thức
thì ít ra nước cũng phải kêu lên chứ, vì mặt trời thêu
đốt cho đến nỗi nước khô cạn mà!
- Vâng,
lẽ ra phải thế!
- Tuy
nhiên, nước kêu bằng nhiều giọng khác nhau cũng không phải
là nước có sanh mạng! Vì sao! Nước suối kêu, nước thác
đổ kêu, nước biển kêu ì ầm năm này sang năm nọ, đâu
phải vì nóng sôi mà kêu! Nó lạnh, mát là khác!
- Vâng!
- Nước
nấu sôi do nóng mà kêu. Nước suối, nước thác kêu là do
đổ xuống chỗ thấp, va đập vào đá; nước biển kêu là
do gió thổi tạo thành làn sóng. Làn sóng này đập vào làn
sóng kia, sóng đập vào bờ, vào chân núi nên có tiếng kêu.
Nói tóm là do tác động của sức nóng, của gió, do va đập
mà kêu chứ đâu phải nước có sanh mạng, có tâm, có thức,
tâu đại vương!
- Vâng!
- Lại
nữa, ví như nước nóng bốc hơi lên giữa hư không kết tụ
làm mây, gió thổi đưa đám mây ấy tan tác, rơi chỗ này,
chỗ kia gọi là mưa. Mưa ấy rơi xuống đất, một phần ngấm
trong đất sau thành nước mạch, nước giếng, một phần thành
hồ, thành ao, thành sông... rồi thành biển. Chỗ nước lặng,
không kêu, không nổi thành sóng là nước trong vại, trong chum,
không có sức nóng đốt và không có gió. Chỗ nước sôi động,
kêu là do có sức nóng, do va đập, do gió. Đơn giản chỉ
có vậy. Cho nên, nước nóng hay lạnh đều không có tâm, có
thức, có sanh mạng!
- Thưa
vâng!
- Người
ta căng da trống, đánh lên, trống kêu đâu có sanh mạng gì
đâu, đại vương!
- Vâng,
- Con
voi lấy vòi hút nước uống, vì vòi voi dài, rỗng nên nước
kêu lên chứ đâu phải là vì có tâm thức!
- Thưa,
vâng.
- Thuyền
chở hàng, căng buồm vượt biển lớn, sóng vỗ vào mạn thuyền
mà kêu, tâu đại vương!
- Vâng!
- Có
những loài cá to lớn sống dưới biển, thường hay đùa giỡn,
hút nước phun lên giữa hư không; nước qua miệng và răng
chúng nên kêu lên, chứ có sanh mạng nào ở đó, tâu đại
vương! Vậy lời của ngoại đạo, sự chấp kiến của ngoại
đạo hoàn toàn sai lầm.
- Trẫm
đã thấy rồi!
* *
*
154.
(Trùng với câu hỏi 141)
* *
*
155.
Trên thế gian này cái gì không sanh?
- Thưa
đại đức! Trên thế gian này, từ những bậc thượng đẳng
như Đức Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác, Phật Thinh Văn
Giác... tuy được gọi là Vô sanh, nhưng quả thật những vị
ấy đã có mặt giữa thế gian, đã sanh ra từ thế gian!
- Vâng,
bần tăng đồng ý.
- Các
đức Chuyển luân Thánh vương, vua chúa, chư thiên, loài người...
đều được sanh ra như thế?
- Tâu,
vâng.
- Nói
rộng ra, người có của hoặc người không có của, là khổ
hoặc vui, là nữ hay nam, có phước, có tội... tất thảy...
đều y như thế?
- Tâu,
vâng.
- Chúng
sanh các loại, từ noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh...
cũng vậy nữa?
- Quả
vậy.
- Loài
không chân, hai chân, bốn chân hoặc nhiều chân. Các loại
dạ xoa, ma da, cưu bàn trà (kumbhanda), a tu la, càn thát bà, cẩn
na la, rồng, đại bàng, voi, ngưa, trâu, bò, lạc đà, lừa,
dê, cừu, nai, heo, sư tử, cọp beo, gấu, chó sói, chó nhà,
chó rừng... hẳn cũng đều được sanh ra giống nhau.
- Dĩ
nhiên rồi!
- Rồi,
cả kim, ngân, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não, ngọc
ma ni, hột xoàn, đồng đen, đồng đỏ, đồng trắng, đồng
vàng... cho chí vải, gấm vóc, lụa là... cũng đều là vật
được sanh?
- Tâu,
vâng!
- Ngoài
những thứ ấy, có cái gì, có vật gì... mà nó "không sanh",
thưa đại đức?
- Có
ba cái "không sanh", tâu đại vương!
- Xin
kể nghe?
- Những
vật có tâm lý, có tác ý, có sinh khí, có cảm giác, là chúng
sanh hữu tình đều là cái có sanh ra. Cho chí những vật được
cấu tạo, hữu cơ hoặc vô cơ; chúng sanh vô tình như thảo
mộc, hoặc đất đá vô tri... vẫn được sanh ra. Tất cả
chúng phải nằm trong định luật già chết hoặc biến hoại,
tiêu diệt. Vậy cái "không già, không chết, không biến hoại,
không đổi khác" không được sanh ra trong thế gian, tâu đại
vương!
- Hay
lắm! Vậy cho trẫm nghe cái "không sanh" thứ hai?
- Tâu,
vâng. Theo ngôn ngữ chế định, qui ước của thế gian thì
gọi người, voi, gạo, ngọc, chanh, khế v.v... nhưng theo đệ
nhất nghĩa đế, thắng nghĩa pháp, siêu lý thì "không có cái
gì là người, voi hay ngựa cả!" Vậy cái "không phải người,
voi, ngựa v.v..." cái không thuộc ngôn ngữ chế định, cái
siêu lý, cái đệ nhất đế... chúng không sanh ra, không bị
sanh, không được sanh trong thế gian, tâu đại vương!
- Thật
vi diệu.
- Thứ
ba: Tất cả hành đều vô thường, thay đổi không bền vững!
Vậy cái "trường tồn, chân thường, vững bền", chúng "không
sanh" trong thế gian, chúng không thể có mặt, hiện hữu trong
thế gian, tâu đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà tán thán:
- Đại
đức đã hé cánh cửa cho trẫm thấy những pháp siêu thế,
thật cao siêu, mầu nhiệm vậy. Rất tri ân đại đức.
* *
*
156.
Bậc A-la-hán còn phạm giới?
- Bậc
A-la- hán còn si mê không đại đức?
- Tâu,
đã xa lìa hẳn si mê rồi.
- Thế
các ngài còn phạm giới không?
- Có
đôi khi còn giới phạm, tâu đại vương!
- Giới
phạm do trường hợp nào, lý do nào?
- Tâu,
các bậc A-la- hán phạm giới thường là do vô tâm, vô ý hay
không biết. Tất cả có bốn trường hợp:
Thứ
nhất: vô tâm, vô ý (hình thức thì có phạm nhưng nội dung,
tính chất thì không, vì vị ấy không cố ý, không tác ý).
Thứ
hai: do không phải thời (phi thời) mà tưởng là thời.
Thứ
ba: ngăn vật thực rồi mà tưởng là chưa ngăn.
Thứ
tư: đồ dùng không phải dư mà tưởng là dư (không phải
xả mà xả)
Đức
vua Mi-lan-đà lắc đầu:
- Trẫm
không đồng ý như thế. Bốn lý do đại đức đưa ra có thể
tóm thành hai lý do: phạm giới do vô tâm, không lưu tâm, tất
là không chú tâm, không chánh niệm; và tội do không biết,
là si mê. Một vị A-la- hán không thể nào si mê và thiếu
chú tâm, thiếu chánh niệm được!
Đại
đức Na tiên mỉm cười:
- Chí
lý lắm. Nhưng đại vương hãy nghe đây. Giới của Đức Thế
Tôn đặt ra gồm có hai loại: những giới thuộc về thế
gian, tức là những giới nằm trong định luật nhận quả,
có khen chê, có tội phước. Loại giới thứ hai, Đức Thế
Tôn chế định chỉ riêng cho bậc xuất gia mà thôi.
Những
tội thuộc về thế gian gọi là Loka vajja.
Những
tội thuộc về giới chế định gọi là Pannatti vajja.
Những
tội thuộc về thế gian, ví du nhự thập ác nghiệp: cư sĩ
hoặc tỳ khưu đều phải thọ trì.
Những
tội thuộc về giới chế định chỉ dành cho hàng xuất gia:
ví dụ ăn sái giờ, nhổ cỏ, đào đất v.v... Loại chế định
này, cư sĩ không thọ trì, họ phạm không có tội, nhưng tỳ
khưu phạm thì tội. Các vị A-la- hán tuyệt đối không phạm
các tội thuộc về thế gian (loka vajja) ví dụ mười ác nghiệp.
Nhưng các tội thuộc về chế định, đôi khi vô tâm, vô ý
hoặc không biết, nên phạm phải cũng là lẽ thường thôi.
Đại vương đừng nên đem chuyện thiếu chánh niệm và si
mê áp dụng vào đây!
- Xin
đại đức giảng rộng hoặc ví dụ cho nghe về sự vô tâm,
vô ý hoặc không biết ấy.
- Tâu,
vâng. Ví dụ có một vị A-la- hán trước đây là một nông
phu, vị ấy chỉ biết về pháp hành, giác ngộ, giải thoát,
ngoài ra, vị ấy có biết gì nữa không đại vương?
- Vị
ấy biết về gieo hạt, trồng tỉa, những chuyện liên quan
về cày bừa, gặt hái v.v...
- Thế
thì thiên văn, địa lý, sử truyện, văn phạm, cú pháp v.v...
vị ấy có biết không?
- Dĩ
nhiên là không biết.
- Không
biết ấy có phải là si mê không?
- Thưa,
cái biết ấy thuộc về kiến thức thế gian, thuộc về trí
thế gian, không gọi là si mê được!
- Đúng
thế. Khi không thấy biết tham, sân của mình, hành động theo
tham sân, đắm đuối trong ngũ trần mới gọi là si mê. Vậy
tại sao đại vương dám khẳng định vị A-la- hán không biết,
là si mê?
- Vâng,
trẫm biết mình sai rồi.
- Lại
nữa, ví dụ có vị A-la- hán sau khi đi khuất thực về, chánh
niệm, tỉnh giác, lựa tìm một cội cây. Vị ấy chánh niệm,
tỉnh giác soạn y bát ra, chánh niệm, tỉnh giác độ vật
thực, chánh niệm tỉnh giác nhai, nuốt. Sau khi ăn xong, vị
ấy dọn dẹp rửa ráy, cất đặt cũng hoàn toàn chánh niệm,
tỉnh giác. Cũng chánh niệm tỉnh giác vị ấy đứng dậy
hoàn toàn không hay biết, hoàn toàn không để ý lúc ấy đã
quá ngọ. Như thế, vị ấy dùng vật thực phi thời (quá ngọ)
- tức là phi thời mà tưởng là thời! Vị ấy đã phạm giới
do vô tâm, vô ý không biết; nhưng tâm thái hoàn toàn sáng
suốt, định tĩnh, chứ đâu có lơ là, dễ duôi, thất niệm
hoặc si mê, hở đại vương!
- Trẫm
biết rồi!
- Ngăn
vật thực rồi, mà tưởng là chưa ngăn; y áo, vật dụng không
phải là dư thừa mà xả đi, cũng do vô ý, vô tâm như trên
cả, tâu đại vương!
- Vâng!
- Ngoài
ra, còn rất nhiều điều vị ấy chưa biết nên thực hành
sai, nói sai, phạm vào những giới cấm thuộc về chế định
(Pannatti vajja) - cũng là thường thôi! Chỉ có một điều vị
ấy biết chắc chắn, đó là sự giải thoát và biết những
gì mình đã kinh nghiệm qua, thực hành, học hỏi hay thói quen
trước đây. Vị ấy không thể biết gì ngoài trình độ và
sự chứng đắc của mình. Những vị biết về một thông,
hai thông, ngũ thông... cũng vậy. Những vị thuộc lòng một
tạng, hai tạng, ba tạng... cũng y như thế. Sở học, chứng
đắc ngang đâu thì biết ngang đó. Tất cả các vị A-la-hán
đều có sự khiếm khuyết về kiến thức, về tâm, về tuệ.
Chỉ có Phật Toàn Giác mới hoàn toàn mọi phương diện. Đại
vương nên hiểu như vậy.
- Xin
Đại đức bi mẫn tha thứ cho những hiểu lầm của trẫm.
- Không
có chi!