136.
Các vị A la hán còn sợ hãi?
- Thưa
đại đức! Trẫm có nghe đại đức nói nhiều lần rằng
bậc A-la-hán không còn một sự sợ hãi nào trên thế gian
này, kể cả sợ hãi sự chết! Vì các nguyên nhân của sợ
hãi các ngài đã chấm dứt, đã tuyệt diệt, có phải thế
không ạ?
- Tâu,
vâng!
- Trẫm
có đọc một đoạn kinh , đại ý rằng: khi Đức Thế Tôn,
năm trăm vị A-la -hán cùng đại đức Ànanda đi vào thành
Vương-xá để khất thực, Đề-bà-đạt-đa với ác tâm, bèn
thả con voi dữ uống rượu say cố ý giết Phật. Năm trăm
vị A-la-hán thấy con voi như điên cuồng lao tới, các ngài
sợ hãi quá bỏ trốn hết; chỉ có đại đức Ànanda là không
sợ hãi gì cả, bước đến, đứng chắn phía trước, cố
ý thà chết để bảo vệ cho Đức Thế Tôn! Phải vậy không,
thưa đại đức?
- Tâu,
vâng!
- Sao
kỳ lạ như thế! Năm trăm vị A-la-hán đều là bậc vô lậu,
đã chấm dứt mọi nguyên nhân của sợ hãi; lại tham sống
sợ chết, thấy voi dữ, bỏ trốn hết, để Đức Thế Tôn
đứng đấy một mình! Còn đại đức Ànanda là bậc hữu
học, phiền não còn nhiều, nguyên nhân của mọi sợ hãi chưa
được cắt đứt; thế mà ngài lại không hề sợ hãi, chẳng
tiếc sanh mạng của mình, hy sinh cái thân giả tạm để che
chắn cho Đức Đạo Sư? Hay năm trăm vị A-la-hán ấy tò mò,
muốn biết, muốn thấy Đức Thế Tôn sử dụng thần thông,
phép lạ ra sao? Lý nào lại thế được?
- Vâng,
chẳng có lý nào mà năm trăm vị A-la-hán còn tò mò, khởi
tâm muốn thấy, muốn biết phép lạ, thần thông
của
Đức Thế Tôn. Quả thật không hề có chuyện đó xảy ra!
- Nếu
là không có lý thì đại đức phải giải thích cho minh bạch
chứ?
- Vâng!
Quả đất hoặc như tối đại sơn là đỉnh Sineru có khi nào
lay động, sợ hãi bởi điều gì không, hở đại vương?
- Dĩ
nhiên là không! dù cho ai cuốc, ai đào, ai đánh, ai đập, ai
dùng lửa đốt, thì quả đất hoặc núi Tu-di vẫn không lay
động, không sợ hãi bao giờ.
- Quả
đất hoặc núi chúa không lay động, không xao động, không
sợ hãi bất cứ một điều gì; cũng giống như tâm bất động,
trạm nhiên của các bậc A-la-hán vậy, tâu đại vương. Dù
có một số đông người, tay nắm xà-mâu sắc bén, vây quanh
một vị A-la-hán với thái độ rất hung dữ, đằng đằng
sát khí, muốn giết vị A-la-hán ấy; cũng không vì vậy mà
vị A-la-hán tỏ ý khiếp sợ hoặc có một sự dao động,
xao động nào ở trong tâm. Đại vương nên hiểu như vậy.
- Nói
thế cũng không biện hộ được cho thái độ hèn nhát, khiếp
nhược của các vị A-la-hán khi họ tham sống, sợ chết, bỏ
trốn lấy thân mình mà bỏ mặc Đức Đạo sư ở lại đấy
với voi dữ!
- Đại
vương nói như vậy hơi nặng lời! Đại vương hãy sám hối
đi là vừa! Đại vương có biết khi ấy các vị A-la-hán suy
nghĩ gì không?
- Thưa,
không biết!
- Không
biết thì đừng võ đoán! Hoặc chỉ nhìn thấy bên ngoài,
chưa thấy sự thật ở bên trong thì đừng vội quy kết! Năm
trăm vị A-la-hán đều là bậc lậu hoặc đã tận, mọi nguyên
nhân của cái gọi là hèn nhát, khiếp nhược gì đó đã chấm
dứt. Khi thấy voi dữ xông đến, các vị ấy tâm ý tương
thông, đồng khởi niệm như sau: "Đức Ànanda suốt đời tận
tụy, kính cẩn, thương yêu phục vụ, hầu hạ Đức Thế
Tôn, thật trong hàng đệ tử chẳng ai dám sánh. Rõ là đức
Ànanda sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình để bảo vệ
cho Đức Thế Tôn mà chẳng khởi lên một tí sợ hãi nào.
Vậy tất cả chúng ta hãy lánh đi, để bố cáo những đức
tính cao quý sáng rỡ như mặt trời, mặt trăng của đức
Ànanda; cho tứ chúng cùng tất thảy mọi người trong nhiều
quốc độ được thấy, được biết! Còn việc đối trị
với voi dữ chỉ là trò trẻ con đối với Đức Tôn sư! Chỉ
có
Đức Tôn sư mới biết rõ ngài nên làm gì!"
Đức
vua Mi-lan-đà giật mình, kinh sợ:
- Quả
các ngài ấy đã nghĩ như vậy sao?
- Quả
đúng thế, đại vương!
- Vậy
là trẫm có tội rồi! Làm sao sám hối cho hết cái tội võ
đoán, loạn ngôn, lộng ngữ của trẫm đây, đại đức?
Đại
đức Na- tiên mỉm cười:
- Nói
thế chứ đại vương không có tội! Bần tăng hiểu rõ tâm
ý của đại vương, là chẳng có sự khi mạn nào đối với
các bậc Thánh Tăng! Sở dĩ đại vương lập ngôn, lập ngữ
như thế là lợi ích cho phần đông, có vậy mới lột tả
được cái "phản diện" của vấn đề!
Đức
vua chợt thốt "Sàdhu, lành thay" rồi quỳ xuống đảnh lễ
thật cung kính:
- Chỉ
có sự thông tuệ của đại đức mới hiểu được dụng
tâm sâu kín cuả trẫm!
- Không
dám!
* *
*
137.
Đức Phật dạy cắt đứt sợ hãi?
(Tương
tự câu hỏi 125)
- Thưa
đại đức! Đức Thế Tôn dạy chư tỳ kheo chấm dứt nguyên
nhân của sợ hãi, rồi sau đó, dạy cho hai hàng cận sự nam
nữ đem nguyên nhân sợ hãi đến cho chư tỳ kheo là nghĩa
làm sao?
- Đại
vương nói gì bần tăng không hiểu?
- Thưa,
đây là câu hỏi đã hỏi rồi, nhưng trẫm đã lý giải để
hỏi theo cách khác.
- Đại
vương cứ dẫn chứng cho đầy đủ.
- Vâng.
Có lần Đức Bổn Sư thuyết rằng: "Này các thầy tỳ kheo!
Sự sợ hãi chỉ xảy đến cho các thầy khi các thầy còn
tham luyến chỗ ở, quyến niệm trú xứ của mình. Vậy muốn
chấm dứt sợ hãi, các thầy phải sống đời không dính mắc,
như hươu nai được tự do đi lại trong rừng sâu!"
- Quả
đúng thế!
- Nhưng
khi dạy cho cận sự nam nữ, Đức Tôn Sư lại thuyết rằng:
"Người nào cúng dường, tôn tạo chùa, thất, liêu, chỗ ngự
cho tỳ khưu Tăng sẽ có phước báu lớn, lợi ích lớn.Tại
sao vậy? Vì rằng các ngài là con mắt sáng của thế gian,
là bậc đa văn, quảng kiến; là người thông suốt tam tạng,
là người hằng đem đến lợi ích, phước báu cho chư thiên
và loài người."
- Cũng
đúng như thế!
- Một
bên thì dạy đừng nên có chỗ ở, một bên thì dạy nên
tạo chỗ ơ ? Tham luyến chỗ ở đem đến sợ hãi, thế mà
còn dạy người ta nên tôn tạo chùa, thất, liêu; điều ấy
không phải là sự mâu thuẫn lạ lùng sao, hở đại đức?
Đại
đức Na- tiên im lặng một lát rồi hỏi:
- Đại
vương có thấy, là nếu chư tỳ khưu sống hạnh không dính
mắc chỗ ở, sống đời ta-bà vô trú như hươu nai tự do,
tự tại giữa rừng sâu có lợi ích chăng?
- Dĩ
nhiên là lợi ích.
- Còn
nếu các hàng cư sĩ phát tâm cúng dường, tôn tạo chùa thất
đến cho tỳ khưu Tăng, thì có lợi ích chăng?
- Dĩ
nhiên là lợi ích.
- Xin
đại vương cho nghe tôn ý? Chúng có những lợi ích gì?
- Thứ
nhất là giúp cho chư Tăng có nơi để hành đạo. Thứ hai
là cận sự nam nữ dễ dàng lui tới học đạo, nghe pháp,
làm phước cúng dường, thọ trì quy giới v.v... Thứ ba là
có nơi để cho chư Tăng học hành, nghiên cứu, trao đổi kinh,
luật, luận. Thứ tư là để cho kẻ ngoại giáo, vua chúa,
quan lại... có chỗ lui tới để vấn đạo, học đạo...
- Đúng
vậy. Và những lợi ích ấy có thiết thực, hữu ích cho nhân
quần, xã hôi không hở đại vương?
- Rất
thiết thực. Tuy nhiên, nó vẫn là nguyên nhân đem đến sự
sợ hãi trong hàng tăng lữ, thưa đại đức?
- Nguyên
nhân ấy là gì?
- Là
sự tham luyến chỗ ở.
- Vậy
thì vấn đề là sự tham luyến và không tham luyến, tâu đại
vương!
- Ồ!
trẫm đã sai rồi!
* *
*
138.
Cái gì nơi Đức Thế Tôn là cao quý không ai sánh bằng?
- Thưa
đại đức! Trẫm còn thắc mắc về một câu hỏi trước
đây, khi Đức Thế Tôn khen ngợi rằng tỳ khưu Bàkula cao
quý không ai sánh bằng... Đại đức có thể trả lời cho
trẫm những câu hỏi liên quan đến vấn đề ấy chăng?
- Tâu,
vâng, đại vương cứ hỏi.
- Đức
Thế Tôn là vị lương y, chữa trị tất cả mọi căn bệnh
cho chúng sanh; nhưng chính ngài là người lại đau ốm luôn,
ít ra là bốn lần. Trị bệnh cho chúng sanh mà chính mình lại
bị bệnh, đấy không là điều đáng ngạc nhiên sao?
- Đại
vương lầm rồi, hay chính đại vương giả vờ đặt ra câu
hỏi ấy? Những căn bệnh thống khổ của chúng sanh là tham
sân, phiền não, luân hồi tử sinh... chứ không phải là bệnh
tật thông thường, tâu đại vương! Ngài đã thuyết pháp,
giảng giải con đường đi đến Niết bàn, nơi diệt tận
những điều thống khổ ấy nên thế gian tôn ngài là vị
lương y. Còn sở dĩ tỳ khưu Bàkula cao quý không ai sánh bằng
là do vị ấy thiểu bệnh hơn các vị Thanh văn khác, chỉ
có thế thôi.
- Vậy
thì Đức Tôn Sư ám chỉ sự cao quý gì trong lời thuyết:
"Như Lai là bậc bà-la-môn tối thượng, xứng đáng để cho
kẻ khác xin rửa tay dâng vật phẩm cúng dường, không có
ai sánh bằng!"? Trong lúc vô bệnh thì ngài không bằng tỳ
khưu Bàkula, phước vật thực thì không bằng đại đức Sìvali,
đầu đà khổ hạnh thì không bằng ngài Mahà Kassapa v.v...
Ngoài ra, các vị Thinh văn đệ tử Phật, thọ thực ngày một
lần, có vị dù chết cũng không thọ thực hai lần một ngày;
còn Đức Tôn Sư thọ thực ngày một lần, ngày hai lần hoặc
ngày ba lần cũng có. Vậy thì trẫm e rằng phẩm hạnh của
Đức Thế Tôn không cao quý bằng chính đệ tử của mình
rồi.
- Tâu
đại vương! Như bần tăng đã trình bày hôm trước, Đức
Thế Tôn cao quý không ai sánh bằng ở phương diện tâm, phương
diện tuệ và phương diện giải thoát. Tức là những pháp
mà ngài đã chứng đạt và chứng ngộ. Cụ thể hơn, Đức
Thế Tôn có những pháp tối thượng sau đây:
Thứ
nhất, giải thoát tri kiến (Vimutti nànadassana);
Thứ
hai, thập lực tuệ và bốn tuệ dũng cảm (Vesàvajjanàna);
Thứ
ba, mười tám pháp Phật (Buddha Dhamma);
Thứ
tư, sáu tuệ không phổ thông (Àsàdhàranàna);
Thứ
năm, tất cả pháp trình độ của Phật (Buddhavisaya Dhamma).
Cho
nên, dù Đức Thế Tôn có bệnh hay không bệnh, thọ thực
một bát hay thọ thực hai bát, thọ đầu đà hay không thọ
đầu đà; thì tất cả chíng sanh trong tam giới, chúng sanh
không chân hay hai chân, có bốn chân hay nhiều chân, có thân
hình hoặc không có thân hình, có tâm tưởng hoặc không có
tâm tưởng v.v..., chẳng chúng sanh nào có thể cao thượng,
cao quý để so sánh với Đức Tôn Sư!
- Thưa
đại đức! Trẫm không còn nghi ngờ gì về điều ấy nữa.
* *
*
139.
Đức Thế Tôn là người khai sáng Đạo hay Đạo có sẵn từ
ngàn xưa?
- Thưa
đại đức! Đạo vốn có sẵn tự ngàn xưa phải chăng?
- Vâng,
có tự ngàn xưa, do chư Phật quá khứ đã khai sáng, đã tìm
ra.
- Thế
sao Đức Thế Tôn của chúng ta lại nói rằng "Như Lai là người
làm cho Đạo chưa phát sanh được phát sanh"? Vậy ra lời nói
sau lại nghịch ngôn, mâu thuẫn với lời nói trước.
- Chẳng
có hai lời sái nghĩa đâu, tâu đại vương! Đạo xưa ấy
là nói về Bát chánh đạo, con đường có tám chi; đấy là
con đường đi đến giải thoát, chấm dứt sinh tử luân hồi.
Chính chư Phật quá khứ sau khi giác ngộ con đường, đã tán
dương, tuyên thuyết con đường ấy cho chúng sanh thực hành,
noi theo. Nhưng khi các ngài nhập diệt, Bát chánh đạo ấy
cũng theo thời gian mà khuất lấp đi, chẳng còn ai biết đến
để tu tập nữa. Đến thời Phật Thích Ca, do công hạnh ba-la-mật
sâu dày, ngài đã vén mở con đường xưa cũ; đã phát hiện
lại con đường, đã phát quang lại con đường, tu tập theo
con đường, giác ngộ con đường... cho nên gọi là làm cho
con đường được phát sanh! Lý nghĩa ấy thì có gì mâu thuẫn
đâu, tâu đại vương?
- Thưa
đại đức! Phát sanh là chưa có mà bây giờ lại có, lại
sanh ra. Còn Đạo vốn là cái có sẵn nên không thể lập ngôn
như vậy được!
- Đại
vương nói rất có lý. Nhưng đại vương nghĩ thế nào trong
trương hợp viên ngọc mani với đức Chuyển luân Thánh Vương?
Phước đức của đức Chuyển luân Thánh Vương từ ngàn xưa
có công năng làm cho ngọc mani xuất hiện, gọi là ngọc mani
phát sanh đến cho đức Chuyển luân Thánh vương. Nhưng đến
khi đức Chuyển luân Thánh vương mãn tuổi thọ, ngọc mani
ấy cũng bị biến mất, đến trú ẩn nơi đỉnh núi Vikula.
Nhiều đời sau, đức Chuyển luân Thánh vương khác lại ra
đời trên thế gian, ngọc mani xuất hiện, lại tìm đến cho
đức vua ấy. Thế có thể lập ngôn là ngọc Mani phát sanh
đến cho đức Chuyển luân Thánh vương không hở đại vương?
- Có
thể được.
- Nghĩa
là đức vua ấy không thể tạo ra ngọc mani mà mani ấy vốn
có sẵn?
- Đúng
vậy.
- Chữ
"phát sanh" mà Đức Thế Tôn dùng cũng nằm trong ngữ nghĩa
ấy. Đức Thế Tôn không tạo ra Đạo mà Đạo vốn là có
sẵn.
- Trẫm
hiểu rồi.
- Ngọc
mani xưa thần bí, ẩn tàng không ai có thể thấy được, chẳng
ai có khả năng làm cho nó lộ diện, chỉ có công năng phước
báu của đức Chuyển luân Thánh vương mới làm cho nó phát
sanh. Tương tự như thế, Bát chánh đạo sâu kín, mầu nhiệm,
khó thấy, khó tìm; chẳng ai trong tam giới có khả năng làm
cho Bát chánh đạo hiện hữu; chỉ có công hạnh ba-la-mật
sâu dày, trí tuệ vô thượng của Đức Phật mới có công
năng làm cho Bát chánh đạo phát sanh giữa cuộc đời.
- Trẫm
đã hiểu.
- Lại
nữa, ví như người nữ sanh con. Trong bụng người nữ có
con mới gọi là người nữ sanh con. Nếu trong bụng người
nữ không có con thì người nữ có sanh con được không hở
đại vương?
- Chẳng
thể nào.
- Đức
Phật giác ngộ Bát chánh đạo từ ngàn xưa, ở trong tâm,
rồi nói ra bát chánh đạo ấy; cũng như người nữ có con
trong bụng, rồi sanh đứa con ấy ra, tâu đại vương!
- Hay
lắm!
- Lại
nữa, ví như một người đàn ông giàu có, của cải tài sản,
châu báu được chôn giấu nhiều nơi; do chiến tranh, loạn
lạc, vật đổi, sao dời, người đàn ông không tìm ra tài
sản ấy nữa. Sau đó, do cố gắng, do kiên trì, do trí nhớ,
ông ta đã tìm lại được. Ấy có thể gọi là làm cho tài
sản phát sanh trở lại không, hở đại vương?
- Có
thể được.
- Lại
nữa, ví như một người đàn ông nọ tự ý vào rừng, nhắm
hướng đông tây nam bắc rồi chặt bỏ bụi bờ, gai góc,
làm sạch một con đường, thì tình cờ phát hiện một con
đường xưa cũ bộ hành qua lại. Tương tự như thế, Đức
Thế Tôn cũng là một người đi vào một khu rừng, phát quang
bụi bờ gai góc, chợt tìm ra con đường Bát chánh đạo mà
chư Phật quá khứ đã đi qua, vốn đã bị thời gian khuất
lấp. Trường hợp ấy cũng cùng một ý nghĩa cả, tâu đại
vương!
- Trẫm
đã hết nghi ngờ rồi, thưa đại đức!
* *
*
140.
Đức Phật từ bỏ sự tinh tấn, lại khuyên đệ tử nên
tinh tấn?
- Thưa
đại đức! Có phải Đức Thế Tôn đã tinh tấn thực hành
khổ hạnh để diệt trừ phiền não, hủy diệt ma quân? Và
sự tinh tấn thực hành khổ hạnh ấy trên thế gian không
ai bằng được?
- Tâu,
vâng!
- Cũng
do sự tinh tấn thực hành khổ hạnh ấy mà thân thể ngài
trở nên suy nhược, gầy yếu...; nếu tiếp tục, có thể
đưa đến tử vong, nên ngài đã cương quyết từ bỏ, trở
lại ăn uống bình thường. Nhờ vậy mà ngài đã đắc vô
thượng Bồ đề tuệ! Có đúng thế chăng?
- Tâu,
vâng!
- Thế
sao ở một chỗ khác, khi thuyết giáo cho chư đệ tử, Đức
Thế Tôn lại khuyên nên thực hành hạnh tinh tấn, tức là
con đường sai lầm mà trước đây ngài đã chán nản, từ
bỏ?
- Đại
vương nói thế có chứng cứ gì không?
- Có
chứ! Đức Thế Tôn có thuyết với đại ý như vầy: "Này
chư tỳ khưu! Các ngươi hãy tinh tấn, hãy ra khỏi phe nhóm,
đừng ở trong phe nhóm. Hãy là người tri túc, sống đời
nhẹ nhàng. Hãy đi vào rừng, thọ đầu đà ở trong rừng
hay tìm đến một côi cây nào đó. Hãy tinh tấn tiến tu chỉ
tịnh, quán minh. Hãy dứt bỏ quân binh của diêm chúa. Hãy
như voi chúa lớn sổ mạch (dậy tình) phá đổ tất cả nhà
cửa, dũng mảnh tinh tấn để đạp nát thành lũy của ma quân.
Dẫu trường hợp nào cũng phải thực hành tinh tấn, đừng
bỏ tinh tấn cho đến lúc giác ngộ, giải thóat hẳn thôi!"
- Đúng
là Đức Tôn Sư đã có thuyết như vậy.
- Cái
đại nguyện tinh tấn ấy, cái siêng năng mãnh liệt ấy, khi
hành đại khổ hạnh, chính Đức Thế Tôn đã thấy rõ nó
có hại, không đưa đến yểm ly, ly tham, giác ngộ, Niết bàn
nên ngài đã chán nản và từ bỏ. Vậy mà bây giờ ngài lại
khuyên đệ tử nên thực hành theo sự sai lầm của mình! Than
ôi!
- Đại
vương đã hiểu sai đoạn kinh ấy rồi!
- Trẫm
chưa hiểu ý của đại đức.
- Đại
vương chưa hiểu thế nào là khổ hạnh, thế nào là tinh tấn!
Chẳng lẽ nào tinh tấn và khổ hạnh lại giống nhau, hở
đại vương?
--
Xin đại đức giải thích cho!
- Tâu
đại vương! Tinh tấn dõng mãnh, cường liệt để thực hành
chỉ tịnh và quán minh, nó rất khác biệt so với sự tinh
tấn, dõng mãnh, cường liệt để thực hành khổ hạnh! Cũng
là đại tinh tấn, nhưng hai sự tinh tấn ấy, dù có sự quyết
tâm hạ thủ công phu tương tợ nhau, nhưng đối tượng thì
lại hoàn toàn khác biệt nhau!
- Trẫm
chưa hiểu.
- Tâu,
khi tinh tấn để thực hành khổ hạnh, trong sáu năm lầm lạc,
Đức Thế Tôn suy nghĩ rằng: "Ta phải thực hành khổ hạnh
cho thế gian này không ai có thể thực hành bằng ta, hơn ta!
Ta phải phát nguyện cho đại tinh tấn tốt hơn nữa, bằng
cách cương quyết thọ thực ngày một ít dần đi, phải giảm
thiểu cho đến lúc không cần cả ăn, cả uống, cả đại
tiểu tiện... và cả hơi thở nữa!". Và chính do đại tinh
tấn khổ hạnh ấy mà Đức Thế Tôn sút giảm sức khỏe,
tiều tụy thân thể... cho đến lúc mạng sống sắp lâm nguy!
Sự hành thân hoại thể ấy chỉ đưa đến việc chấm dứt
sự sống chứ không thể chấm dứt phiền não, giải thoát
sinh tử khổ đau!
- Điều
ấy thì trẫm đã có nghe.
- Sau
khi từ bỏ đại tinh tấn khổ hạnh, Đức Phật thọ thực
ngày một bữa, rồi khởi tâm đại tinh tấn quay sang đề
mục chỉ tịnh và quán minh. Nhờ vậy ngài mới chứng đắc
vô thượng Bồ đề tuệ. Nói cách khác, ngài từ bỏ khổ
hạnh ép xác, chứ không phải từ bỏ đại tinh tấn, tâu
đại vương! Với đại tinh tấn thì ai muốn chấm dứt khổ
cũng phải thực hành y chỉ, tuân theo ! Vật thực nuôi mạng
chúng sanh trong các cõi như thế nào, thì đại tinh tấn cũng
nuôi mạng tuệ giác cho tất cả Chư Phật quá khứ, hiện
tại , vị lai cũng y như thế ấy.
- Xin
đại đức cứ giảng thêm.
- Vậy,
tội không phải là tội của sự tinh tấn, mà là tội của
khổ hạnh, ép xác, tâu đại vương!
- Vâng!
- Đức
bồ tát muốn mau đắc thành Chánh Đẳng Giác mà ép xác khổ
hạnh, cũng tương tợ như người đi đường muốn đến đích
nhanh, cố gắng chạy, rán sức chạy cho đến lúc kiệt quệ.
Muốn nhanh lại trở thành chậm vậy.
- Tại
sao?
- Vì
rằng, đến lúc kiệt lực, chân tay rã rời, nhấc không nổi
thì làm sao mà đi được? Trái lại, có kẻ chạy bình thường,
liên tục, đều đặn, biết duy trì hơi thở; thì tuy thấy
chậm, còn ở đằng sau, nhưng sẽ đến đích nhanh hơn. Có
phải thế không, đại vương?
- Vâng!
- Trường
hợp người kia đến đích chậm hoặc kiệt lực nằm dài
ở dọc đường... thì lỗi ở đôi chân, lỗi ở con đường,
lỗi ở mặt đất hay lỗi ở đâu, đại vương?
- Thưa,
lỗi do tâm nóng nảy muốn mau đến đích mà sanh ra. Lỗi do
không biết duy trì sức lực mà làm cho kiệt lực.
- Đức
bồ tát sáu năm khổ hạnh do thiếu trí tuệ mà ép xác cho
đến kiệt lực cũng y như thế. Tội là do si mê ép xác khổ
hạnh chứ không phải do tinh tấn, tâu đại vương!
- Thưa,
vâng!
- Ví
như một người mặc áo quần quá dơ bẩn, không biết cách
giặt, không có thuốc tẩy lại đổ lỗi cho nước, có được
không, đại vương?
- Nước
vốn không có lỗi như thế nào thì tinh tấn cũng không có
lỗi như thế ấy, đại đức!
- Một
người nấu cơm bị khê, bị cháy, lại không tự trách mình
mà đi đổ lỗi cho lửa, có được không, đại vương?
- Không
thể do lửa được.
- Cũng
là đại tinh tấn, nhưng biết sử dụng đại tinh tấn cho
chỉ tịnh, quán minh thì được tuệ giác; còn sử dụng đại
tinh tấn cho ép xác, khổ hạnh thì si mê chồng chất si mê,
có được gì đâu! Đại vương đã thấu đáo vấn đề chưa?
- Bây
giờ thì trẫm đã hoàn toàn lãnh hội rồi.
* *
*
141.
Tại sao có sự đắc quả nhanh, chậm khác nhau?
- Thưa
đại đức! Đức Toàn-thắng-ma có dạy rằng: "Này các thầy
tỳ khưu! Các thầy phải biết sợ hãi luân hồi, phải thoát
ra khỏi sự ràng buộc của cấu uế, dơ bẩn, phiền não.
Phải thỏa thích trong pháp xa lánh cấu uế, tìm an lạc trong
pháp xa lánh cấu uế!". Pháp ấy được gọi là Nippapanca.
Trẫm không hiểu Nippapanca là gì?
- Tâu
đại vương! Nippapanca dhamma là pháp nhằm thoát ly ra khỏi
mọi nhơ bẩn, cấu uế của tâm; hàm chỉ bốn quả vị của
bốn bậc thánh: Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na- hàm và A-la-hán
quả.
-Thế
Đức Đạo Sư muốn dạy bảo đệ tử phải tu tập để chứng
đắc tứ quả thánh?
- Tâu,
vâng.
- Nhưng
rải rác chỗ này, chỗ kia, Đức Thế Tôn không dạy chứng
quả ngay như thế; mà ngài dạy phải bố thí, cúng dường...,
dạy phải học kinh, học kệ thi, học văn phạm, học túc
sanh truyện, học phi thường pháp v.v..., thế là sao nhỉ?
- Tâu
đại vương! Chư tỳ khưu phải học và hành tuần tự thứ
lớp cho đầy đủ như thế, nhưng mục đích cuối cùng cũng
đều phải đắc pháp Nippapanca giống nhau. Người đắc pháp
Nippapanca ngay, thoát ly mọi cấu uế nhơ bẩn, được trong
sạch không phải là một cái gì chợt đến một cách tức
khắc; mà là do sự huân tu lâu đời, duyên ba-la-mật già dặn
từ nhiều kiếp trước. Những kẻ ấy, trong đời này, sẽ
đắc quả nhanh, không chậm trễ, chỉ một sát na tâm là họ
nhập vào dòng thánh rồi. Trường hợp trái lại, những tỳ
khưu đang còn phàm, chưa có huân tu sâu dày, duyên ba-la-mật
chưa đủ, muốn đắc Nippapanca cũng phải học và hành tuần
tự thứ lớp, tinh tấn mỗi khi mỗi ít, đến một lúc nào
đó, dù chậm trễ, họ cũng sẽ đắc quả Thánh!
- Trẫm
hiểu rồi, nhưng đại đức có ví dụ cụ thể nào về hai
trường hợp ấy chăng?
- Tâu,
vâng! Ví dụ có người nông dân cần mẫn, chăm lo làm ăn.
Mấy năm trước ông ta khai phá một mảnh ruộng, làm hàng
rào rất chắc chắn. Ngoài ra, ông ta còn siêng năng nhổ cỏ,
thêm phân, thêm nước thường xuyên cho đám ruộng của mình.
Đến mùa, đám ruộng ấy được bội thu, nuôi sống mình
và gia đình... Tâu đại vương! Hạt gạo của người nông
phu ấy, tức khắc được làm ra, nó có ngay, hay phải trải
qua thời gian lâu dài?
- Thưa,
họ phải tốn biết bao công sức, thời gian cùng sự chăm
chuyên cần mẫn mới có được !
- Đúng
là vậy. Lại có một người nông dân khác, quanh năm đói
nghèo do tính chậm lụt, thiếu quyết tâm, ít siêng năng, chịu
khó; luôn luôn than thở mình thiếu phước, đến nhà người
''nông dân giàu'' để vay gạo, nói rằng: ''Tôi thiếu gạo,
anh dư gạo, hãy cho tôi vay gạo!'' Người kia đáp: ''Không
ai là người thiếu gạo cả, chỉ tại anh làm biếng, không
có chí, không có đầu óc, không biết siêng năng, chịu khó
mà thôi!". "Vậy anh hãy dạy tôi!". "Hãy cầm lấy cái cuốc,
vào ven suối làm một đám ruộng, rồi tuần tự làm những
việc như tôi đã làm, thời gian sau sẽ có gạo ăn!". Nguời
nông dân nghèo nghe lời bạn dạy bảo, quyết tâm khởi lên,
cầm lấy cái cuốc, chí thú, tinh cần...; thời gian sau, anh
ta có đủ gạo ăn! Tâu đại vương! Người nông dân này cho
ta một ví dụ về sự đắc quả chậm, người nông dân trước
cho ta ví dụ về sự đắc quả nhanh; nhưng ai cũng phải trải
qua thời gian khởi tâm, quyết tâm, chí thú, tinh cần cày bừa
và gieo hạt. Có gạo ăn được ví cho Nippapanca, các công đoạn
làm ruộng thì ví cho sự học và hành tuần tư, thứ lớp,
tinh tấn mỗi ngày một ít, tâu đại vương!
- Vâng,
thế đại đức còn ví dụ nào nữa không?
- Tâu,
vâng. Ví như có hai người đi vào rừng để kiếm trái cây.
Một người gan dạ dũng cảm, có trí. Một người nhác nhớm,
lề mề, chậm chạp, không có gan lại thiếu trí. Người đầu
tiên nhanh tay nhanh mắt, xông xáo tìm ra một cây nhiều trái
ngon; bèn xắn gọn quần áo, lựa thế leo lên. Thế là anh
ta hái được rất nhiều trái cây. Người thứ hai rất lâu
sau mới tìm được cây có trái, thấy cây cao và thân cây
to quá, anh ta sợ hãi không dám leo. Sau một hồi suy nghĩ bèn
chặt cây rừng làm thang, bắt thang vào khi ấy mới leo lên
được. Thế là anh ta cũng hái được trái nhưng mất thời
gian hơn anh thứ nhất rất nhiều. Phàm việc tu hành, đắc
quả nhanh chậm cũng y như thế. Người có trí, nhậm lẹ,
chịu khó, có sức mạnh nội tâm, tinh cần, nhiều nỗ lực
bao giờ cũng đắc quả sớm hơn người thiểu trí, người
yếu đuối, đầy mặc cảm sợ hãi, thiếu tinh cần, chuyên
niệm, thiếu nỗ lực huân tu, tâu đại vướng!
- Vâng,
trẫm rõ rồi.
- Lại
nữa, ví như hai người cùng làm một việc giống nhau. Một
người tự nguyện làm, hiểu công việc của mình. Một người
thiếu tự nguyện, không biết rõ công việc của mình, nên
phải được nhắc nhở, khuyên bảo; đôi khi phải cho họ
bạc tiền, lắm lúc còn la mắng, đánh đập, kẻ kia mới
thành tựu công việc được, nhưng lại chậm hơn rất nhiều.
Tương tự như thế, kẻ có căn cơ Nippapanca và kẻ có căn
cơ anavajja - tuần tự thứ lớp - giống như những ví dụ
trên, không hai, không khác.
- Cảm
ơn đại đức.
* *
*
142.
Về cư sĩ A-la-hán
- Thưa
đại đức! Dường như đại đức có nói với trẫm rằng,
một vị cư sĩ đắc quả A-la-hán trong ngày nào thì phải
xuất gia ngay trong ngày ấy; nếu trong ngày ấy [*],
vì một lý do nào đó mà không xuất gia được, thì vị ấy
bắt buộc phải nhập Niết bàn. Điều ấy có đúng thế không
ạ?
[*]
Đôi nơi bảo là một tuần lễ.
- Tâu
đại vương! Hoàn toàn đúng như vậy.
- Họ
có thể tự cạo bỏ râu tóc, mặc y cà sa, nghĩa là tự tu
lấy; hay là phải cần có thầy tiếp dẫn, thầy hòa thượng
tế độ, chứng minh?
- Không
thể tự ý được, mà phải có thầy, tâu đại vương! Tự
tu là trộm phẩm mạo, tăng tướng, cách tu ấy không có mặt
trong giáo pháp của Đức Tôn sư!
- Thế
có nghĩa là sau khi người cư sĩ đắc quả, các vị thầy
tiếp dẫn, tế độ là những bậc có thần thông, tức khắc
hiện đến và làm lễ xuất gia ngay cho người cư sĩ ấy chăng?
- Có
thể có trường hợp ấy, tâu đại vương!
- Giả
dụ họ đến muộn một, hai ngày không được sao?
- Dĩ
nhiên là không được! Chính vị cư sĩ đắc quả phải đi
tìm vị thầy tế độ cho mình ở trong vùng, ở trong trú xứ
ấy. Nếu tìm không ra, đến lúc mặt trời lặn của ngày
ấy, vị cư sĩ phải nhập Niết bàn.
- Đã
đắc quả rồi mà tại sao còn nôn nóng chấm dứt sinh mạng
như thế? Hay có lý do bí ẩn nào chăng?
- Tâu
đại vương! Chẳng phải do nôn nóng, cũng chẳng phải có
lý do bí ẩn nào. Phẩm mạo cư sĩ thấp thỏi quá, thật không
xứng đáng với quả vị A-la-hán mà người ấy đã đắc,
do vậy phải thay đổi phẩm mạo xúất gia. Chính phẩm mạo
xuất gia mới tương ứng, xứng đáng với quả vị A-la-hán.
- Về
lý do thì tạm thời trẫm chấp nhận kiến giải của đại
đức, nhưng nếu có những ví dụ cụ thể để chứng minh,
có lẽ dễ thuyết phục trẫm hơn, thưa đại đức.
- Vâng,
bần tăng sẽ đưa ví dụ. Ví như có người vào buổi đói
kém chẳng có vật thực để nuôi mạng, phải nhịn đói lâu
ngày. Hôm kia có vị bá hộ thương tình cho người ấy ăn
thỏa thích những món ăn thượng vị. Do không biết tiết
độ, người ấy ăn một bụng căng, chất lửa không có đủ
để tiêu hóa, cơ thể nhịn đói lâu ngày không chịu đựng
nổi, người ấy bội thực mà chết. Tâu đại vương! Trường
hợp ấy có nên bắt tội "vật thực" không?
- Vật
thực không có tội gì, thưa đại đức!
- Thế
sự chấm dứt sanh mạng của người kia là do nguyên nhân nào?
- Thưa,
do nhịn đói lâu ngày, cơ thể quá suy yếu, không đủ lửa
để tiêu hóa.
- Cũng
vậy, tâu đại vương! Phẩm mạo cư sĩ tại gia quá suy yếu,
quá thấp thỏi, thật không đủ sức tiêu hóa món ăn thượng
vị - là quả vị A-la-hán tối thượng - nên bắt buộc người
ấy phải xuất gia; nếu không xuất gia kịp thời, phải chấm
dứt mạng sống bằng cách nhập Niết bàn thôi.
- Hay
lắm! Ví dụ ấy có hình ảnh cụ thể, dễ nắm bắt lý nghĩa
hơn.
- Ví
như một lùm cỏ nhỏ, thật không đủ sức chịu đựng nổi
một tảng đá lớn dằn lên trên.
- Vâng!
- Quả
vị A-la-hán là tảng đá mà phẩm mạo cư sĩ chỉ là lùm
cỏ nhỏ.
- Trẫm
đã hiểu.
- Ví
như một người bần tiện, hạ liệt, ngu si, mà người ta
đặt để cho y một quả lớn - ngôi vua chí tôn chẳng hạn
- thì sẽ xảy ra chuyện gì hở đại vương?
- Thưa,
không khốn đốn, nguy hại đến cho y thì thế gian cũng loạn
lạc. Không phát sinh lo âu, sợ hãi... thì kẻ khác cũng giết
y, chấm dứt mạng sống của y để chiếm ngôi. Thiếu đức,
thiếu tài, thiếu phước mà an ngự ở địa vị quá lớn
là mầm mống của họa hại, diệt vong... thôi, thưa đại
đức!
- Không
phải lỗi do vương vị chứ?
- Vương
vị không có tội gì! Chỉ tội do kẻ không xứng đáng với
vương vị!
- Cũng
thế, tâu đại vương! Quả A-la-hán không có tội gì, chỉ
tội cho phẩm mạo cư sĩ không tương xứng, không xứng đáng
với quả vị A-la-hán đó thôi!
- Hay
lắm!
- Chính
phẩm mạo xuất gia như kẻ có đức, có trí, có tài, nhiều
phước báu, mới xứng đáng với quả vị A-la-hán. Phẩm mạo
xuất gia có thể được ví như một bảo cái lớn rộng, có
khả năng che chở cho quả vị A-la-hán, tâu đại vương!
- Sàdhu,
lành thay! Thật chẳng có chỗ nào để mà hoài nghi nữa.
* *
*
143.
Tại sao bồ tát Loma Kassapa giết hại chúng sanh để tế lễ?
- Thưa
đại đức Na-tiên! Có lần Đức Thế Tôn thuyết rằng: "Này
các thầy tỳ khưu! Vào thời quá khứ, Như Lai hành trì ba-la-mật
không mệt mỏi, luôn luôn tinh cần, nỗ lực để bổ khuyết
ba-la-mật cho chính mình. Một kiếp nọ, dù năng lực ba-la-mật
của Như Lai còn non yếu, còn khiếm khuyết, đấy là kiếp
làm người có tên là Avihe Dhaka - nhưng Như Lai cũng đã không
lấn hiếp, đe dọa hoặc cướp đoạt mạng sống của bất
cứ chúng sanh nào." Lời tuyên bố ấy của Đức Đạo Sư
có đúng chăng, đại đức?
- Đại
vương có trí nhớ rất tốt.
- Không
dám. Bồ tát kiếp làm người có tên là Avihe Dhaka, tuy ba-la-mật
còn non yếu, lại không hề giết một sanh mạng nào; nhưng
sau đó, nhiều kiếp về sau, dĩ nhiên là ba-la-mật sung mãn
hơn, lại đang tâm giết rất nhiều sanh mạng để cúng dường
đại tế, là nghĩa làm sao, thưa đại đức?
- Xin
đại vương nói cho rõ hơn.
- Vâng,
đấy là kiếp bồ tát làm vị đạo sĩ tên là Loma Kassapa.
Đạo sĩ vì nghe lời nàng Cinda Vatì đã giết hại rất nhiều
chúng hữu tình dùng cho việc tế lễ. Điều này chứng tỏ
gì? Chứng tỏ rằng, lời Đức Thế Tôn không như một. Đã
không như một lại phơi bày sự thật hiển nhiên, rằng là,
ba-la-mật ít lại không sát sanh, ba-la-mật nhiều lại sát
sanh? Sự mâu thuẫn không thể lý giải này làm cho người
học Phật đời sau như rơi vào mê lộ tối tăm, chẳng tìm
đâu ra ánh sáng nữa. Mong đại đức chỉ giáo cho.
Đại
đức Na tiên chợt mỉm cười:
- Câu
hỏi của đại vương như một cái thòng lọng, nhúc nhích
một cái là bị siết chặt vào cổ ngay! Hay lắm, chúng ta
sẽ cố gỡ xem sao.
- Tất
cả chỉ nhờ vào trí tuệ của đại đức.
- Không
dám, bần tăng sẽ cố gắng cùng với đại vương xem thử
lý do nó nằm ở đâu. Chắc đại vương biết rõ là bồ tát
Loma Kassapa thuở ấy chưa đắc quả Thánh chứ?
- Dĩ
nhiên là chưa đắc.
- Thế
có nghĩa là vẫn còn dục ái chứ?
- Vâng.
- Và
dục ái thì cho chí bậc thánh Tu-đà-huờn, Tu-đà-hàm vẫn
còn bị chi phối, đến bậc thánh A-na-hàm dục ái mới hoàn
toàn yên lặng.
- Vâng.
- Thế
thì bồ tát Loma Kassapa bị dục ái chi phối mà sát sanh thì
cũng là chuyện không lạ lùng lắm. Năng lực của dục ái,
luyến ái đến độ cường liệt thì nó che mờ tất cả mọi
thiện pháp, làm nguội tắt tất cả năng lực ba-la-mật! Vì
yêu nàng Cinda Vatì, vì luyến ái, mê đắm nàng Cinda Vatì mà
bồ tát Loma Kassapa đã phạm tội sát sanh, tâu đại vương!
- Trẫm
nghe rằng, sát sanh có tám lý do:
Sát
sanh do năng lực dâm dục;
Sát
sanh do sân hận;
Sát
sanh do si mê;
Sát
sanh do ngã chấp;
Sát
sanh do tham lam;
Sát
sanh do nuôi mạng;
Sát
sanh do ngu si, không có trí tuệ, không thấy tội, phước, lợi,
hại v.v...;
Sát
sanh do các quy luật tự nhiên.
Vậy
thì bồ tát Loma Kassapa sát sanh là do một trong tám lý do thông
thường ấy chăng?
- Nó
là một trong tám lý do ấy nhưng cũng ở ngoài tám lý do ấy!
- Tại
sao?
- Tâu,
cũng là luyến ái nhưng luyến ái ấy quá cường liệt, quá
mạnh mẽ đã che mờ hết tâm trí; hành động do năng lực
luyến ái ấy chẳng khác gì hành động của người điên,
tâu đại vương!
- Xin
đại đức giải thích cho trẫm nghe.
- Vâng.
Một người điên thì có dẫm chân lên một đống than đỏ
rực cũng không sợ hãi, bắt rắn độc bỏ lên tay cũng không
ngán, dù gặp voi sổ mạch (voi động dục) hung dữ hắn ta
cũng có thể liều mạng bắt cỡi được. Biển cả sâu và
lớn rộng không thấy mé bờ, người mất trí ấy cũng có
thể nhảy ùm xuống và lội qua. Đối với các loại thú dữ
như cọp, beo, tê giác, trâu rừng v.v..., y cũng có thể đến
gần đùa chơi mà không sợ nguy hiểm. Cả một rừng cây gai
chằng chịt hắn cũng có thể ung dung đi vào! Nói tóm lại,
người điên chẳng sợ núi cao, vực sâu; chẳng hề thấy
vật đáng nhờm gớm; chẳng hề biết mắc cở, hổ thẹn
khi trần truồng trước mắt mọi người. Việc gì y cũng có
thể làm được. Trong đầu người điên không có chuyện thiện
ác, phải trái, an nguy, lạnh nóng, khôn dại, đúng sai, xấu
đẹp, được mất, hơn thua, khen chê v.v...
Đạo
sĩ Loma Kassapa của chúng ta khi thấy sắc thân nàng Cinda Vatì,
tâm luyến ái phát sanh, lửa dục thiêu đốt; nên hành động
của vị ấy chẳng khác gì hành động của người điên,
tâu đại vương! Vậy đối với người điên hư hỏng tâm
tính, đánh mất nhân cách; nếu có hành động nào sái quấy
xâm phạm đến pháp luật quốc gia, đại vương sẽ xử tội
như thế nào?
- Thưa
đại đức, người điên nếu phạm tội tử hình, luật pháp
của trẫm cũng không thể giết được. Dẫu phạm tội nặng
thế nào, vì an nguy cho mọi người xung quanh, trẫm cũng chỉ
bắt trói hoặc nhốt y lại là cùng.
- Đại
vương không ghép vào tội tử hình, chỉ bắt trói hoặc nhốt
lại thôi! Nhưng sau đó? Giả dụ người điên kia tỉnh lại
thì đại vương làm sao nhỉ?
- Thì
phải thả người ta ra.
- Thế
đại vương có xét lại những tội lỗi mà y đã làm từ
trước?
- Thưa,
không thể xét lại được, hoàn toàn tha bổng.
Đại
đức Na-tiên chậm rãi nói:
- Trường
hợp đạo sĩ Loma Kassapa cũng y như thế đó, tâu đại vương!
Khi lửa dục thiêu đốt, đạo sĩ làm những điều sai lầm,
càn quấy giết hại loài hữu tình do năng lực nàng Cinda Vatì
xúi giục. Đại vương không bắt tội người điên như thế
nào thì cũng không nên luận tội đạo sĩ Loma Kassapa theo lý
giải thường tình. Người điên sau khi hết điên, đại vương
tha bổng, cho người ấy trở lại đời sống bình thường.
Tương tự thế, đạo sĩ Loma Kassapa sau khi " hết điên", có
"trí nhớ" trở lại, "tỉnh táo" trở lại; đã trở về với
sinh hoạt tâm linh bình thương, đã tiến tu, đã đắc thiền
và đắc ngũ thông, hết tuổi thọ được sanh vào cõi Phạm
thiên.
- Ồ!
hy hữu vậy thay!
- Người
điên khôngthể luận phải trái, thiện ác, đúng sai... như
thế nào, thì đạo sĩ Loma Kassapa khi bị lửa dục thiêu đốt,
cũng không thể luận ba-la-mật non hay già, tâm từ ít hay nhiều,
sát hay không sát...; chỉ coi là sự đột khởi điên loạn
nhất thời, chẳng thể xác định phẩm hạnh hoặc tư cách
trọn vẹn của một con người được.
- Vâng,
vâng!
- Hãy
dùng tuệ giác mà ngắm nhìn vấn đề, đại vương! Dùng đạo
đức, luân lý của thế gian hay tôn giáo mà nhìn ngắm vấn
đề sẽ đưa đến cục bộ, giới hạn. Dùng tuệ giác mà
soi chiếu, đại vương sẽ tỏ tường, thông suốt, xuyên thấu
vấn đề hơn, tâu đại vương!
- Thật
là tri ân đại đức!
* *
*
144.
Tượng vương Chaddanta thì cung kính y cà sa -
mà
bồ-tát Jotipàla lại nhiếc mắng "sa môn trọc đầu"?
- Đại
đức chắc nhớ chuyện voi chúa Chaddanta, là tiền thân của
Đức Phật Thích Ca chứ?
- Đấy
là chủ đề "cung kính y cà sa" mà đại vương sẽ nói chuyện
hôm nay?
- Vâng.
- Vậy
thì xin đại vương hoan hỷ kể chi tiết câu chuyện cho nghe,
bần tăng chỉ nhớ đại lược.
- Cung
kính chẳng bằng tuân mệnh, trẫm sẽ kể đây:
Bồ
tát của chúng ta, một kiếp kia sinh làm Tượng vương, có
tên là Chaddanta, ngài là voi chúa cai quản một đàn voi, thường
gặp những sa môn mặc y cà sa đang hành thiền định hoặc
lui tới trong khu rừng. Thấy màu vàng của y cà sa, tượng
vương Chaddanta với trí nhớ tiền kiếp, biết đây là những
bậc tu hành cao thượng nên hết sức cung kính. Tượng vương
Chaddanta dạy bảo đàn voi, theo gương mình, quỳ xuống đảnh
lễ.
Ngày
qua tháng lại, có người thợ săn theo dấu đàn voi để săn
ngà, thấy voi chúa và cả đàn voi cung kính lễ bái những
vị sa môn mặc y cà sa vàng. Mưu kế nảy sinh, người thợ
săn kiếm vải nhuộm vàng bằng nước chát, trùm lên người
giả làm sa môn rồi tập ngồi thiền định dưới một cội
cây to.
Hôm
nọ, voi chúa và đàn voi đi qua, thấy vị "sa môn", đồng quỳ
xuống đảnh lễ rất cung kính, cúi đầu, thụt lùi mấy bước
mới tiếp tục lộ trình. Khi cả đàn voi đi khuất, chỉ còn
con voi chậm chạp sau cùng; người thợ săn tay nhanh như điện,
lấy ngọn giáo sắt, tẩm độc cực mạnh đâm chết con voi,
thiêu hủy thịt, lấy ngà đem bán. Hành động ấy của gã
thợ săn kéo dài chưa được bao lâu thì voi chúa đã khởi
tâm nghi ngờ: "Dường như có sự thiếu vắng của một số
con voi quen thuộc? Vậy thì một số voi đã mất, bị giết
hại ở đâu và do đâu? Trên lộ trình kiếm tìm thức ăn,
sự nguy hiểm có thể xảy ra tại nơi nào? Chỗ kiếm tìm
thức ăn không có, những chỗ bước đi không có! Vậy thì
phải bắt đầu từ chỗ quỳ xuống đảnh lễ các vị sa
môn rồi bước đi! Sự nguy hiểm phải được quan sát từ
đó!"
Sau
khi suy nghĩ chu đáo, buổi sớm, tượng vương cho cả đàn
voi đi trước, mình đi sau cùng. Trên đường đi, gặp sa môn
y cà sa màu vàng, voi chúa và đàn voi đều quỳ xuống cung
kính đảnh lễ như mọi hôm, nhưng không có gì xảy ra. Đến
chỗ "sa môn" giả dạng, sau khi đảnh lễ, voi chúa cảnh giác
đi sau cùng. Thấy voi chúa với sáu chiếc ngà vàng to lớn,
thợ săn rất sung sướng nghĩ mình sắp giàu có đến nơi.
Với động tác quen thuộc và rất chính xác, gã thợ săn nhích
tay lao ngọn sắt tẩm độc ra. Lạ lùng làm sao, y đã nhanh
mà chiếc vòi của voi chúa còn nhanh hơn. Khi mũi giáo vừa
thò ra khỏi chiếc y màu vàng thì trọn vẹn thân thể và hai
tay của tên thợ săn đã bị vòi voi quấn chặt rồi nhấc
lên cao!
Giữa
sát na ấy, khi voi chúa định quật nát thân thể gã thợ săn,
màu vàng của chiếc y đã làm cho tâm của voi chúa chùn lại.
Voi chúa nghĩ: "Y cà sa màu vàng là lá cờ chiến thắng, quý
báu, cao thượng của chư vị A-la-hán, chư vị Chánh Đẳng
Giác! Tuyệt đối ta không thể xâm phạm. Dẫu tên thợ săn
này đã có tâm ác độc, đã giết hại đồng loại của ta,
nhưng tội y làm thì y sẽ lãnh chịu. Một ngàn lần sanh mạng
của ta dầu bị phanh thây, chặt đầu..., ta cũng không dám
đụng chạm đến chiếc y cà sa màu vàng linh thiêng ấy."
Ý
nghĩ đi liền theo hành động, voi chúa thay vì quật nát tên
thợ săn, đã nhẹ nhàng đặt y xuống, thò vòi lấy ngọn
giáo sắt bẻ vụn, quăng ra xa. Voi chúa nhìn tên thợ săn đang
co rúm, da mặt tái xanh đầy sợ hãi, bằng cái nhìn nghiêm
khắc, rống to một tiếng đầy uy vũ, vang động cả rừng
già rồi bỏ đi!
Chuyện
voi chúa cung kính y cà sa là vậy đó, tâu đại đức. Khi kể,
trẫm có thêm bớt một tí cho nó liền lạc câu chuyện.
Nghe
xong, đại đức Na-tiên nói với giọng cảm khái:
- Thật
là một bài thơ đẹp và hùng tráng biết bao!
- Quả
là vậy! Nghĩa cử ấy thật là tuyệt vời!
- Tâu,
từ câu chuyện ấy, đại vương sẽ dẫn đến nội dung gì?
Đức
vua Mi-lan-đà mỉm cười:
- Vâng!
Cũng là bồ tát mà kiếp ấy voi chúa kính trọng y cà sa, kính
trọng phẩm mạo xuất gia của các bậc sa môn; nhưng kiếp
khác, khi làm thanh niên bà-la-môn, có tên là Jotipàla, lại
nói lời thô bỉ xâm phạm đến Đức Phật Kassapa, như nguyền
rủa Đức Phật Kassapa là "sa môn đầu trọc". Điều ấy chứng
tỏ gì? Chứng tỏ hai khía cạnh và hai ý nghĩa khác nhau, chỗ
thì tôn trọng, chỗ thì phỉ báng trong hai tiền thân của
Đức Phật. Xin đại đức giải minh mối nghi cho!
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Vâng,
nhưng xin đại vương vui lòng cho bần tăng nghe câu chuyện
"sa môn đầu trọc" ấy chứ? Ít ra cũng có hoàn cảnh, bối
cảnh như thế nào? Nhân và quả của sự việc như thế nào
chứ?
- Vâng,
trẫm sẽ kể đây:
Thuở
Đức Phật Kassapa tại thế, ngài có một Thánh đệ tử cư
sĩ làm nghề thợ gốm. Ông ta có đức tin bất động với
Tam Bảo, thường hay cúng dường đến Đức Phật Kassapa và
Tăng chúng. Ông ta cũng thường hay dẫn dắt ngoại đạo đến
nghe Pháp, quy y với Đức Phật. Trong số ấy có thanh niên
Jotipàla, là một thanh niên có học thức, có trí nhưng cứng
đầu. Không biết bao nhiêu lần, người thợ gốm tìm cách
dẫn thanh niên Jotipàla đi nghe thuyết pháp, nhưng thanh niên
ấy đều từ chối, nói rằng: "Đến sa môn trọc đầu xấu
xa ấy mà làm gì, ta không đi."
Hôm
kia, rủ bạn đi tắm sông, gần tịnh xá của Đức Phật Kassapa;
người thợ gốm lựa thế nắm chỏm tóc của thanh niên Jotipàla,
kéo và lôi bằng sức mạnh, buộc Jotipàla đến chỗ Đức
Phật nghe pháp cho bằng được. Thanh niên Jotipàla, ban đầu,
chưởi toáng lên, luôn miệng phỉ báng "sa môn đầu trọc"
và người bạn thợ gốm; nhưng sau đó, y chợt tỉnh: "Bạn
ta vốn là người từ tốn, ôn nhu, đức hạnh; chưa bao giờ
bạn ta có lời nói hay hành động thất lễ với một đứa
con nít, mà sao bây giờ lại tỏ thái độ như vậy đối với
ta? Lại nữa, bạn ta biết rõ ta là dòng dõi bà-la-môn cao
quý, thượng đẳng; còn bạn ta thuộc vào giai cấp thợ thuyền,
hạ liệt? Chắc phải có lý do gì bức thiết, quan trọng,
bạn ta mới nắm chỏm tóc ta, kéo và lôi bằng sức mạnh,
vô lễ đối với ta như vậy."
Thưa
đại
đức! Đấy là câu chuyện, là lý do, là bối cảnh phát sanh
từ lời phỉ báng. Như vậy chứng tỏ gì? Chứng tỏ những
câu nói rải rác trong kinh điển: "Hễ vị bồ tát sinh trong
kiếp nào cũng đều cung kính Đức Phật, Đức Pháp, Đức
Tăng"... là sai! Câu chuyện kia quả là một minh chứng hùng
hồn vậy.
- Đại
vương kết luận hơi sớm. Câu chuyện thanh niên Jotipàla dường
như chưa chấm dứt mà.
- Vâng.
Sau khi nghe pháp xong, trí tuệ phát sanh, thanh niên Jotipàla quay
sang bạn, cất giọng ngạc nhiên: "Với những thời pháp cao
siêu, vi diệu như thế này, tôi không hiểu tại sao, cho đến
bây giờ bạn chưa xuất gia trong giáo pháp của Đức Đạo
Sư!" Rồi sau đó thanh niên Jotipàla xuất gia, không bao lâu,
đắc thiền và thắng trí, cuối đời, mãn thọ, hóa sanh vào
phạm thiên giới.
Đại
đức Na-tiên chợt nói:
- Như
vậy, chứng tỏ gì? Chứng tỏ từ thâm sâu, thanh niên Jotipàla
đã có sẵn căn cơ vững chắc, có đức tin, sự kính trọng
Tam Bảo không chỉ ở bình diện cạn cợt của năm bảy kiếp
sống. Còn sự phỉ báng ở đầu môi, như "sa môn đầu trọc,
xấu xa đê tiện v.v..." thì còn phải xét ở thói quen, sự
tạp nhiễm, truyền thống gia tộc, phương cách giáo dục...;
nghĩa là trong bối cảnh toàn diện mà thanh niên Jotipàla đang
sống, khi ấy may ra mới đủ thẩm quyền xác định tư cách
trọn vẹn của một con người. Tâu đại vương! Đại vương
đã có cái nhãn quan tổng thể ấy chưa?
Đức
vua Mi-lan-đà cảm thán:
- Đại
đức quả là thông tuệ, mở rộng tầm nhìn cho trẫm. Tuy
nhiên, lập ngôn của đại đức quá cô đọng, hãy từ từ
mở phơi vấn đề cho trẫm thấy, thì trẫm cảm ơn lắm vậy!
- Thật
là hân hạnh khi được bậc chí tôn tán thán. Bần tăng xin
mạo muội đưa ra vài câu hỏi, đại vương hiểu như thế
nào thì xin đáp cho thế ấy.
- Thưa,
vâng!
- Một
gia đình bà-la-môn giàu có, sang trọng như gia đình thanh niên
Jotipàla thời đó, sẽ nói về giòng giống của mình, sẽ
dạy cho con cái của họ như thế nào?
- Thưa,
sẽ nói rằng, họ là chủng tộc cao quý, thượng đẳng, sanh
ra từ miệng đấng Phạm thiên; là người cầm muỗng trong
các chiếu tiệc tùng, là con mắt sáng của thế gian; là tập
cấp tôn quý đứng đầu xã hội, cho chí giai cấp quý tộc,
vua chúa cũng phải cúi đầu, cung kính, lễ bái, cúng dường.
Các tập cấp trong xã hội phải có bổn phận cung phụng tất
cả mọi nhu cầu ăn ở cùng tiện nghi sinh hoạt. Họ là trí
tuệ, là tri thức của loài người; chỉ có họ mới đủ
tư cách thiêng liêng nói chuyện, trao đổi với thần linh v.v...
Với
truyền thống như thế, với sự giáo dục như thế, thanh niên
Jotipàla hít thở, ăn nói, đi đứng... mang sự hãnh diện và
tự hào của một tập cấp cao quý lâu đời. Vậy thì từ
cửa miệng của thanh niên Jotipàla, khinh chê tập cấp khác,
hoặc phát ngôn câu "sa môn đầu trọc, xấu xa, đê tiện"
là lời phát ngôn bình thường hay do ác khẩu, ác ngữ?
Đức
vua Mi-lan-đà có vẻ suy nghĩ mới đáp:
- Nói
rằng "ác khẩu, ác ngữ" thì hơi vội quy kết, võ đoán. Có
lẽ là do thói quen, tự hào của tập cấp mình mà sinh ra thế!
- Vậy
là đại vương đã tự trả lời. Cái tâm của Jotipàla có
lẽ không do định kiến sâu dày, không do ác kiến, chỉ là
sự phát ngôn bừa bãi ở bên ngoài mà thôi.
- Vâng!
- Nước
của trái amata vốn ngọt, nhưng nếu trộn với nước rau má
nhiều, nước ngọt kia sẽ trở nên đắng. Nước rau má đắng,
nhưng nếu trộn nhiều nước amata ngọt, nước đắng kia sẽ
trở thành ngọt. Thanh niên Jotipàla bản chất tốt, hạt giống
Bồ đề lâu đời ở trong tâm, nhưng một mình sống giữa
tập cấp bà-la-môn, sự lây nhiễm hoặc mất cả mùi vị
cũng là điều dĩ nhiên vậy.
- Vâng!
- Nước
nhiều, lửa phải thua nước. Lửa nhiều, nước phải thua
lửa.
- Vâng!
- Người
có tâm lành, nhưng thường hay thân cận, giao tiếp quá nhiều
với bạn ác, thì tâm lành, tốt kia lần hồi sẽ bị biến
chất. Người có tâm ác, nhưng bạn bè, gia đình, quyến thuộc
đều là người hiền lương, thì không bao lâu, kẻ có tâm
ác kia sẽ được cảm hóa.
- Thưa,
vâng!
- Thanh
niên Jotipàla dẫu tu tập nhiều đời, nhưng trí tuệ chưa
già dặn, chàng lại còn non trẻ; nói năng đi đứng, hiểu
biết... đều bị uốn nắn theo đức tin của ngoại giáo,
tà kiến. Chúng ta có thể nào quy chụp thanh niên Jotipàla là
ác khẩu, ác ngữ, sân tâm, ác tâm, nói lời thô bỉ, mạ
lỵ với định kiến sâu dày được chăng?
- Thật
không thể.
- Khi
thanh niên Jotipàla còn một mình, nghe pháp, chàng tức khắc
xuất gia, như vậy chứng tỏ gì? Chứng tỏ rằng trái amata
ngọt đã trở lại nguyên trạng trái amata ngọt; chàng đã
trở lại với căn cơ, tâm tuệ vốn có sẵn từ nhiều kiếp
trước.
- Vâng!
- Đến
đây ta có thể kết luận rằng: tự thâm sâu, chàng Jotipàla
vẫn cung kính, tôn trọng Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng,
được không hở đại vương?
- Kết
luận ấy không hời hợt, không vội vã, không nông cạn chút
nào!
- Cảm
ơn đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà sảng khoái, cười ha hả.
* *
*
145.
Về cái nhà không mái của người thợ gốm?
- Thưa
đại đức! Chuyện của người thợ gốm, Thánh đệ tử cư
sĩ của Đức Phật Kassapa vẫn chưa xong ạ!
- Đại
vương cứ hỏi! Chẳng lẽ đại vương có những hoài nghi
nào đó liên quan đến vị Thánh cư sĩ này chăng?
- Thưa,
vâng!
- Chuyện
ấy ra sao, đại vương cứ kể ra và cứ đặt câu hỏi, hy
vọng rằng bần tăng sẽ góp được một vài ý kiến chăng!
Đức
vua Mi-lan-đà bắt đầu kể:
- Trẫm
có nhớ rằng, người thợ gốm có tên là Ghàtikàra, sống
đời cư sĩ nhưng giữ giới luật của bậc Thánh. Vị ấy
tuy làm thợ gốm nhưng không dám tự tay đào đất lấy sét
vàng, sét trắng. Vị ấy đã phải bỏ nhiều thời gian đi
từ cánh đồng này sang cánh đồng khác tìm những hang, những
lỗ do chuột, chồn, cáo đào, bới vương vãi ra. Vị ấy chỉ
dùng loại đất sét ấy về lọc mịn, nhồi, nắn thành thau,
chậu, nồi, chén, bát... rồi đặt vào lò nung, sau đó đem
bán cho mọi người. Vì giữ giới luật của bậc thánh, vị
ấy không nhận tiền, vàng, bạc hoặc cất giữ tiền, vàng
và bạc; chỉ nhận và trao đổi theo giá trị của mặt hàng
để lấy ngũ cốc, rau cải, muối, vải vóc v.v... Bằng cách
sống và làm việc như vậy, vị ấy nuôi mình, nuôi cha mẹ
mù lòa cùng hộ độ Đức Phật Kasspa và Tăng chúng. Đặc
biệt, vị Thánh cư sĩ luôn đặt bát cho Đức Phật Kassapa
vào mỗi buổi sáng.
Hôm
kia, vì công việc đi tìm đất sét khó khăn, xa xôi, vị Thánh
cư sĩ phải đi rất sớm. Từ khi sao mai còn tinh rạng trên
bầu trời, vị Thánh cư sĩ đã lo cơm canh và nước uống
cho cha mẹ, lại còn chuẩn bị chu đáo phần để bát cho Đức
Phật theo lệ thường.
Vị
Thánh Ghàtikàra dặn lại với cha mẹ mù lòa:
- Thưa
cha mẹ! Sáng nay con không thể tự tay đặt bát cho Đức Thế
Tôn, thật là có lỗi, nhưng con tin là Đức Thế Tôn hiểu
lòng dạ của con. Vậy thì khi cha mẹ nghe tiếng "đằng hắng"
ở nơi cửa - nhất định đấy là Đức Phật - thì cha mẹ
sẽ thưa lại với ngài như sau: "Bạch Đức Thế Tôn! Con trai
của con đã đi vắng, nhưng đứa con trai của con vẫn mong
muốn cúng dường vật thực vào mỗi buổi sáng. Vậy xin Đức
Thế Tôn hoan hỷ, hãy tự ý đi vào bếp; thức ăn khô, thức
ăn nước, con của con đã đậy đằng sẵn ở trong cũi, cơm
trộn sữa, con của con đang để sẵn ở trong chảo."
Và
quả đúng, sau đó, chuyện xảy ra y như vậy. Đức Thế Tôn
Kassapa chẳng chấp nhất gì, đi vào bếp và tự tay đổ cơm
và canh vào bát cho mình. Người cư sĩ thánh thiện cùng cha
mẹ mù lòa của vị ấy sung sướng, hỷ lạc vô cùng.
Lại
hôm khác, mưa xuống, tịnh thất của Đức Phật bị dột
rất nặng, chẳng có chỗ nào khô ráo để Đức Thế Tôn
an ngự. Ngài nói: "Này chư tỳ kheo! Hãy đi tìm tranh hoặc
cỏ để lợp lại cốc cho Như Lai. Hãy đến nhà cư sĩ Ghàtikàra
xem sao!" Khi các vị tì kheo đi về, Đức Phật hỏi: "Thế
nào, ở đấy có tranh hoặc cỏ không?" Chư tỳ kheo thưa: "Dạ
có, nhưng nó ở trên mái!" Đức Thế Tôn phán: "Cứ có tranh
là được, bất kỳ ở đâu, hãy lấy tranh ấy về!"
Vâng
lời Đức Phật, chư tỳ kheo đến nhà cư sĩ Ghàtikàra, leo
lên mái và gỡ tranh ra. Hôm ấy, cư sĩ đi vắng. Cha mẹ mù
lòa của ngài cư sĩ, nghe tiếng người xôn xao, với tiếng
tranh bị gỡ ở trên mái, bèn ngạc nhiên hỏi: "Các người
là ai?" "Thưa, chúng tôi là tỳ kheo!" "Các vị làm gì vậy?!"
"Thưa, cái cốc của Đức Thế Tôn bị mưa dột, chúng tôi
gỡ tranh này về lợp lại cái cốc cho Đức Thế Tôn!"
Cha
mẹ mù lòa của cư sĩ Ghàtikàra nghe vậy, hỷ lạc dâng khắp
đầy người, rối rít nói: "Vậy là tốt, vậy là có phước
báu lắm, vậy các ngài hãy gỡ đi, cứ gỡ hết đi, về lợp
lại tịnh thất cho Đức Thế Tôn".
Người
cư sĩ thánh thiện đi công việc về, thấy nhà trống không,
chẳng có mái che, bèn hỏi: "Tại sao cái nhà toang hoác, thấy
trời vậy, thưa cha mẹ?" Cha mẹ cư sĩ kể lại. Thế là hỷ
lạc dâng khắp đầy trong tâm vị cư sĩ suốt một tuần mới
chịu tan đi.
Câu
chuyện kể đến ngang đây, Đức vua Mi lan đà ngưng hơi nghỉ
một lát. Đại đức Na tiên tiếp lời:
- Thế
là bắt đầu hôm ấy, cái mái nhà trống không ấy của ngài
cư sĩ, mưa nắng gì cũng không lọt vào được, suốt ba tháng
như thế?
Đức
vua gật:
- Đúng
vậy. Và các vấn đề, những mối nghi cũng bắt đầu từ
đấy.
- Đại
vương cứ nói!
- Nước
mưa hoặc nắng không thể lọt vào nhà suốt trong ba tháng
hẳn là điều phi thường, nhiệm mầu, lạ lùng! Ôi! oai lực
của vị cư sĩ kia quả là to lớn! Cũng phải thôi! Người
cư sĩ kia có ngũ giới trọn vẹn, có bát quan trai giới tuyệt
hảo, lại còn có thêm giới luật của bậc thánh. Ngoài ra,
ông ta có thiện căn sâu dày, hiếu thảo phụng sự nuôi dưỡng
cha mẹ mù lòa, hộ độ Đức Phật và Tăng chúng, có đức
tin trong sạch, bất thối với Tam Bảo, với thiện pháp...
Người như thế thì phước báu như thế. Nhân như vậy thì
quả phải thù thắng. Nhà không phải lợp bằng cỏ tranh bình
thường mà rõ ràng là được lợp bởi giới, bởi đức tin
thuần khuyết, bởi công đức cao vợi, bởi tâm hiếu thảo,
bởi sự cúng dường không mệt mỏi! Trên thế gian này chẳng
ai có oai lực để so sánh bằng...
- Đại
vương cứ nói tiếp.
- Vâng,
cho chí Đức Thế Tôn Kassapa cũng chẳng có oai lực được
như thế, mưa dột mái phải kiếm tranh lợp lại như mọi
người trong thế gian này? Thưa đại đức! Đấy là những
câu hỏi của trẫm, những mối nghi của trẫm vậy!
- Nói
tóm lại, đại vương muốn hỏi: "Tại sao oai lực của Đức
Thế Tôn không bằng oai lực của vị Thánh đệ tử?"
- Vâng,
vâng!
- Và,
tại sao, Đức Phật Kassapa lại vô ngại đến độ, đi vào
bếp nhà người ta, tự ý lấy cơm canh đổ vào bát của mình?
- Vâng,
vâng!
Đại
đức Na-tiên im lặng giây lát:
- Tâu
đại vương! Về oai lực chư Phật thì quả là vô biên giới,
vô hạn lượng, vô hạn định, không có mé bờ. Đức Phật
là tối thượng trong tam giới, là thầy của chư thiên và
nhân loại, không có oai lực nào trên thế gian khả dĩ so sánh
với oai lực của ngài được. Cốc của Đức Phật bị dột,
thế ra ngài sợ bị dột ư? Ngài sợ nước ư? Không phải
thế đâu! Hằng trăm, hằng ngàn, hằng vạn nước ấy; hằng
ngàn hằng triệu mưa, nắng, gió ấy... cũng chẳng thể làm
gì ngài được đâu! Núi Tu di vẫn bất động trước cơn
gió hung bạo, cuồng nộ thổi trăm chiều và cho dù sức mạnh
của trăm ngàn cơn gió ấy cọng lại, núi Tu di vẫn không
lay chuyển.
Ví
như biển cả sâu thẳm và mênh mông, hằng trăm hằng ngàn
con sông Hằng tuôn đổ vào, không vì thế mà biển cả đầy
hơn. Trái lại, hằng trăm, hằng ngàn con sông Hằng, hằng
ngày rò rỉ nước, không vì vậy mà biển cả vơi đi chút
nào. Núi Tu di và biển cả được ví như đức lớn của Đức
Phật vậy, nó ở ngoài và ở trên mọi oai lực, không có
oai lực phi thường nào đụng đến ngài được. Huống hồ
là oai lực của vị cư sĩ! Huống hồ là các oai lực của
tự nhiên như nắng, mưa, gió, bão... tâu đại vương! Có lẽ
là đại vương chỉ giả vờ hỏi khó bần tăng đấy thôi!
- Không
dám! Cách giải thích của đại đức như thế đã tạm ổn,
tuy chưa có minh chứng cụ thể. Đức Phật nhập diệt lâu
rồi, chúng ta chỉ còn thấy oai lực ấy hiện hữu trên ngôn
ngữ và lý luận. Ở đấy cần phải có đức tin mới giải
tan vấn đề được, phải vậy không, đại đức?
- Đúng
thế. Và bần tăng biết, bần tăng có đức tin ấy.
Đức
vua Mi lan đà cười xòa:
- Trẫm
cũng có, đại đức chớ có lo! Vậy còn mối nghi thứ hai
và thứ ba?
- Tâu,
việc dâng cúng vật thực thành tựu là do ở tâm, ở tác
ý quyết định. Chính Đức Phật Kassapa biết tác ý kính thành,
trong sạch của người cư sĩ, nên đã vô ngại đi vào bếp.
Nhờ vậy, người cư sĩ và cha mẹ của người cư sĩ sẽ
hoan hỷ hơn. Vì hoan hỷ nên phước báu sẽ lớn hơn. Giúp
cho chúng sanh nhiều phước báu, tạo thêm duyên cho chúng sanh
biểu hiện tấm lòng, tăng trưởng đức tin, không là việc
đáng làm sao, hả đại vương!
- Trẫm
đồng ý với kiến giải này.
- Việc
gỡ mái nhà cũng y như thế. Đức Thế Tôn biết gia đình
ấy sẽ sung sướng, hỷ lạc; và niềm hỷ lạc sẽ đến
cho họ cả tuần lễ, nên ngài mới làm. Chuyện ấy là thường
tình thôi. Ví như đại vương là bậc cao quý, tự đến nhà
một bề tôi trung thành, thân tín, là niềm hãnh diện cho người
bề tôi ấy. Giả dụ đại vương lấy ở nhà ấy một vật
gì, người bề tôi ấy hẳn là sung sướng lắm. Có phải
thế không ạ?
- Vâng.
- Có
người còn hỏi: "Tại sao Đức Phật không sử dụng oai lực
thần thông để che kín mái nhà của mình? Thảng hoặc, sai
Đế thích hoặc Tứ đại thiên vương bảo thần mưa, thần
nắng đừng có phạm đến mái nhà?" Đại vương có muốn
trả lời điều này chăng?
- Thưa,
không cần thiết. Thần thông là thế gian pháp, bất đắc
dĩ chư Phật mới sử dụng. Khi các câu hỏi ở trên đã thông
rồi thì các điều còn lại, trẫm sẽ tự giải nghi cho mình.
Làm phiền đại đức vậy là đã quá nhiều. Chư Phật độ
người là quan trọng, biểu diễn thần thông phép lạ là việc
làm không thích dáng vậy.
- Cảm
ơn đại vương đã thông hội vấn đề nhặm lẹ.
- Thưa,
cũng thường thôi!
* *
*
146.
Tại sao có lúc Đức Phật xưng mình là bà-la-môn,
có
khi xưng mình là vua?
- Thưa
đại đức! Bà-la-môn là giai cấp tu sĩ ngoại đạo, tôn thờ
thần linh, có gia đình hoặc xuất gia, thuộc về giáo phái
tà kiến... có phải thế không ạ?
- Tâu,
vâng!
- Thế
sao Đức Đạo Sư tối thượng của chúng ta, đôi chỗ lại
tự xưng mình là bà-la-môn, ví dụ như ngài nói: "Như Lai là
một bà-la-môn, cũng đi trì bình khất thực, xin cơm của thí
chủ để nuôi mạng...", điều ấy có đúng chăng? Có cần
thiết phải hạ mình như thế chăng? Ngài không ngại thế
gian hiểu lầm chăng?
- Tâu
đại vương! Đức Phật tự xưng mình là bà-la-môn, điều
ấy có thật, chẳng phải là sự hạ mình, chẳng phải là
đề cao một giáo phái ngoại đạo. Đấy là cách nói chuyện
thân mật, gần gũi của Đức Phật nhằm hóa độ có hiệu
quả mọi tầng lớp trong xã hội.
- Xin
đại đức giảng cho nghe.
- Khi
nói chuyện với người nông dân, Đức Đạo Sư của chúng
ta sẽ nói: "Này người nông phu! Như Lai cũng là một nông
dân, Như Lai cũng cày, cũng cuốc, cũng bừa, cũng gieo mạ!
Cày bừa ấy là đức tin, tinh tấn, gieo mạ ấy là những
hạt giống thiện pháp. v.v..." Khi nói chuyện với một thương
gia, Đức Thế Tôn sẽ nói: "Này người thương gia, Như Lai
cũng là người đi buôn, Như Lai có tiền bạc, Như Lai duỗi
ngựa đường xa, Như Lai mua những món hàng chỗ này chỗ kia!
Tiền bạc của Như Lai là tín, là giới; ngựa của Như Lai
là tinh tấn v.v..."
Đại
vương nghĩ thế nào, với cách nói chuyện như vậy, dẫn đề
như vậy, sự thuyết phục, hóa độ cụ thể, có dễ dàng,
có tạo thêm sức mạnh hay chăng?
- Chắc
chắn thế rồi!
- Lại
nữa, tâu đại vương! Trường hợp ngài xưng mình là bà-la-môn
còn có tính hóa độ sâu sắc hơn thế!
- Trẫm
xin rửa tai để lắng nghe.
- Đại
vương nên hiểu rằng, bà-la-môn vào thời Đức Phật tại
tiền, đã thoái hóa, đã biến chất, đã suy đồi, đã phản
bội lý tưởng ngàn xưa của tiền nhân họ. Kinh sách cổ
xưa của bà-la-môn nói về giới hạnh, tu tập, thiền định...
là để thực hành con đường nhằm có thể đến cọng trú
với phạm thiên. Phạm thiên là cảnh giới cao quý, thanh tịnh,
chói sáng; nơi đã thoát ly mọi ô nhiễm, cấu uế của ngũ
trần dục giới. Đại phạm thiên, vị vua của cõi trời này
có rất nhiều oai lực nên bà-la-môn giáo rất ngưỡng vọng,
tôn thờ.
Đại
vương nên biết rằng, trong tiếng Phạn, phạm thiên là brahmà,
và bà-la-môn là brahamano (brahamana). Vậy một brahmano muốn
đuợc gọi là một brahmano thì phải thực hành con đường
đi đến cõi brahmà; con đường ấy được gọi là brahmacariya,
tức phạm hạnh. Chữ "phạm hạnh" mà Đức Phật thường
dùng là để chỉ đến giới hạnh cao thượng của hàng ngũ
xuất gia.
Tâu
đại vương! Vậy một bà-la-môn chơn chính vốn rất cao quý,
cao thượng chứ không phải tầm thường đâu. Đức Phật
rõ là muốn hóa độ những người bà-la-môn trở về với
ý nghĩa bà-la-môn đích thực của mình, chứ không phải bà-la-môn
thoái hóa, nhãn hiệu, thiếu thực chất, xa cội nguồn, sống
đời lợi dưỡng, xa hoa trong truyền thống tập cấp của
họ.
- Hay
lắm! Bây giờ trẫm mới được hiểu. Khi Đức Phật nói:
"Như Lai cũng là một bà-la-môn..." tức là muốn nói đến
bà-la-môn chơn chính ấy.
- Vâng!
- Xin
đại đức cho nghe thêm một số đức tính cao thượng của
bà-la-môn!
- Như
đại vương đã hiểu, một người bà-la-môn xuất gia chơn
chính phải lấy việc khất thực làm phương tiện nuôi mạng,
không được nuôi mạng bằng buôn bán, các nghề nghiệp, xem
thiên văn, địa lý, bói toán, tử vi, bốc xăm, xem hướng
nhà... để lấy tiền của thiên hạ. Khi đi khất thực phải
giữ tâm bình đẳng, thanh tịnh trước người giàu, kẻ nghèo,
vật thực ít hay nhiều, ngon hay dở. Phải chánh niệm, tỉnh
giác, khoan thai; nuôi dưỡng tâm từ, tâm xả v.v... Tâu đại
vương, đi khất thực nuôi mạng như vậy có được gọi là
cao thượng chăng?
- Rất
là cao thượng.
- Thứ
hai, nếu được gọi là bà-la-môn thì bà-la-môn ấy phải
nuôi dưỡng đức tin trong sáng cho mọi người bằng cách sống
đời xuất gia phạm hạnh; phải có kiến thức về pháp học
để tiêu trừ nạn vấn, nghi nan cho nhiều người. Đức Thế
Tôn là bậc thầy trong tam giới, ngài phải phá nghi cho nhân
loại, Đế thích, phạm thiên, diêm chúa, dạ xoa, a tu la. v.v...
- Ôi!
Cao quý thay!
- Thứ
ba, bà-la-môn phải sống đời dứt bỏ, xả ly mọi bất tịnh
trần cấu dục uế; phải cô đơn một mình như loài tê giác
trên lộ trình ấy, chẳng có ai là bạn, chỉ có mình tự
giải quyết vấn đề của chính mình. Đức Thế Tôn cũng
chỉ đơn độc một mình, dứt bỏ, xả ly mọi bất tịnh
trần cấu của cả ba cõi; giải thoát sanh già bệnh chết,
tận tuyệt vô minh, phiền não; chiến thắng tất cả ma quân
để đến nơi vô sanh bất diệt!
- Trẫm
hiểu rồi.
- Thứ
tư, một bà-la-môn chơn chính luôn luôn nuôi dưỡng thiện
pháp, sống và hành theo thiện pháp, còn Đức Thế Tôn thì
đã đạt đến nơi toàn thiện.
Thứ
năm, một bà-la-môn chơn chính phải thông hiểu Tam phệ đà,
giữ gìn truyền thống tốt đẹp lâu đời về giới hạnh,
về kỷ luật, về kinh điển, về giáo dục... rồi truyền
lại cho thế hệ hậu lai. Đức Thế Tôn cũng y như thế...
trong việc dạy dỗ pháp học, pháp hành đến cho tứ chúng;
chế định luật giới cho mỗi chúng, không mệt mỏi giáo
huấn người, trời, Đế thích, phạm vương, a tu la, dạ xoa
v.v...
Thứ
sáu, bà-la-môn chuyên tâm về thiền định, Đức Phật cũng
chuyên tâm về thiền định. Khi muốn nghỉ ngơi, Đức Phật
thường trú định phạm thiên, tịnh cư!
Thứ
bảy, bà-la-môn hằng biết rõ sự thực hành để đi đến
các cảnh giới cao cả; đâu là cõi nhỏ cảnh giới cao cả,
đâu là cõi lớn cảnh giới cao cả. Đức Thế Tôn cũng hằng
biết như thế, nhưng lại mênh mông và vô lượng hơn nhiều.
- Trẫm
biết rõ.
- Vậy,
danh hiệu bà-la-môn ấy chẳng phải do sự tôn xưng của Phật
phụ, Phật mẫu, thượng tộc Thích ca vương, đại thần,
quân binh, bằng hữu v.v... cũng chẳng phải do sự tôn xưng
của chư thiên, long vương, dạ xoa... Đức Đạo Sư là bậc
Toàn thắng ma, là bậc Thập lực tuệ, có sức mạnh vô úy,
tối thượng, ở trên và ở ngoài ba cõi, thật chẳng có sự
tôn xưng nào xứng đáng hoặc xứng danh được. Chí đến
mười hồng ân tôn xưng ngài cũng chưa đủ, huống hồ là
danh hiệu bà-la-môn, dẫu là cao quý nhưng cũng chỉ thực hành
con đường phạm hạnh (brahmacariya) để đi đến cõi phạm
thiên, đại phạm thiên - là cảnh giới nhỏ, là học trò
của ngài mà thôi vậy.
- Vâng,
quả đúng như vậy! Bà-la-môn là danh hiệu khả dĩ để đối
thoại, đàm thoại... với chúng bà-la-môn để họ trở về
được với phẩm hạnh bà-la-môn chơn chính của mình.
- Đúng
thế! Là phương tiện giáo hóa ở một xã hội bà-la-môn giáo
thịnh hành.
- Thưa,
vâng! Vậy danh hiệu ấy trẫm đã hiểu rồi, nhưng còn danh
hiệu vua? Có lần Đức Thế Tôn nói rằng: "Này đại vương,
Như Lai cũng là vua, cũng là người nâng đỡ mười vương
pháp." Điều này được hiểu ra sao? Trong mười hồng ân không
có, vậy ta phải hiểu cách hiểu bà-la-môn sao?
- Đúng
thế! Đại vương là bậc thông tuệ, ngài có thể từ danh
hiệu bà-la-môn mà giải thích về danh hiệu vua do Đức Phật
tự xưng, về nhân và quả của nó, được chăng?
- Có
thể được. Nhưng có chỗ nào không khế hợp hoặc thiếu
sót, xin đại đức bổ thuyết cho!
- Đại
vương không cần phải tự khiêm!
Đức
vua cười cười trong mắt, rồi nói:
- Thưa
đại đức! Từ xưa tới nay được làm vua do nhiều nguyên
nhân khác nhau. Có kẻ do cha truyền con nối. Có kẻ do đầu
óc, có chí lớn, có tài làm tướng, đánh bại và chinh phục
đất đai, lãnh thổ thiên hạ mà xưng làm vua. Có kẻ do có
tài, có đức được dân chúng tôn phục, kính mến mà suy
cử lên ngôi vua. Có kẻ do soán đoạt, giết cha, giết anh
mà chiếm vương vị. Có kẻ do sự bất công xã hội, sự
áp bức của giới cầm quyền mà nổi dậy đánh bại kẻ
ác mà xưng làm vua v.v... Tuy nhiên, dẫu làm vua kiểu nào, vị
vua ấy cũng có các quan tham mưu đưa ra một chính sách để
cai trị muôn dân; có một đường lối giáo dục theo kiến
thức, quan niệm và chủ trương của vị vua ấy để tuyên
dương, quảng bá chế độ của mình đến cho bá tánh. Đức
Thế Tôn cũng y như thế, ngài tu tập nhiều đời kiếp, đạt
quả vị Chánh Đẳng Giác, làm vua một quốc độ lớn rộng
mênh mông, ở ngoài giới hạn của ba cõi; ngài cũng có một
chính sách, ấy là kinh luật luận, hằng tuyên dương, quảng
bá, giáo dục tất cả chúng sanh trời, người, Đế thích,
phạm thiên, long vương, dạ xoa v.v... biết quay về với chánh
pháp, sống và hành theo chánh pháp.
Thưa
đại đức! điều thứ nhất ấy trẫm vụng về đưa ra, ngài
đừng chê cười nhé!
- Chẳng
dám đâu, đại vương! Nó rất hay là khác, lỗ tai của bần
tăng rất hoan hỷ và mát mẻ.
Rất
hùng hồn, đức vua Mi lan đà tiếp:
- Điều
thứ hai, đức vua khôn khéo áp dụng vương pháp, tuy cũng là
pháp luật nhưng pháp luật này mềm dẻo, thấu tình đạt
lý để cai trị muôn dân. Người trong hoàng tộc không thể
ỷ y mình là lá ngọc cành vàng để sống đời vinh hoa phù
phiếm. Vương pháp sẽ không tha cho họ. Bọn phản nghịch,
nổi loạn sẽ có tinh binh uy dũng đánh phạt; tùy theo tội
nặng nhẹ mà tử hình, chung thân, phạt tiền, phạt trượng,
cảnh cáo hoặc tha bổng. Kẻ trộm cắp, giết người, bất
chánh, lừa đảo v.v... đều có chung hình phạt tương tự.
Người có công được khen thưởng rất xứng đáng. Người
tài hiền được nâng đỡ, đón mời, thỉnh vào triều với
chức cao trọng vọng cho bá tánh y chỉ, nương nhờ. Các ngành
nghề lao động, thủ công... được khuyến khích, đề cao,
hỗ trợ. Kinh thư thánh hiền được dạy dỗ cho muôn dân
v.v...
Nói
tóm, đức vua tối thượng ấy ngồi dưới chiếc lọng trắng
tinh sạch, trang nghiêm, uy vũ - tượng trưng cho quyền lực
của vương pháp - luôn thương yêu và chăm lo cho dân, làm cho
dân giàu nước mạnh, sống thuận hòa, ấm áp, chứa chan tình
người và đạo nghĩa.
Đức
Tối thượng sư của chúng ta cũng y như thế và còn hơn thế
nữa. Vương pháp tức là chánh pháp. Kẻ trong hoàng tộc chính
là thân tộc Thích ca vương, cũng phải được dạy dỗ nghiêm
khắc, giúp họ biết bố thí, cúng dường, nghe pháp; cho xuất
gia kể cả hoàng tử, thái tử, hoặc ngay cả con ruột của
mình. Muôn dân chính là tứ chúng, bá tánh chính là chúng sanh
ba cõi. Kẻ sái quấy, thực hành không đúng pháp thì đã có
giới luật định tội, trục xuất hoặc khinh trọng tùy theo
giới phạm mà răn dạy. Tất cả đều phú túc, phú cường
trong một giáo pháp toàn hảo ở chặng đầu, chặng giữa
và chặng cuối. Vô lượng kẻ đạt ngộ đạo quả bốn bậc.
Vô lượng kẻ giải thoát tử sanh. Vô lượng kẻ thuyết pháp,
đầu đà, tinh thông một tạng, hai tạng, ba tạng. Vô lượng
kẻ phước báu trời, người. Cõi trời thênh thang mở rộng
cho tất cả mọi người một cách đồng đẳng, vô phân biệt.
Đức Tối thượng sư ngồi dưới chiếc lọng trắng thanh
khiết - tượng trưng cho pháp mầu giải thoát - điều ngự
và sách tấn ba cõi, bốn loài đồng đăng giác ngạn.
Nghĩa
lý thứ hai ấy, thưa đại đức kính mến, lỗ tai nghe của
ngài có nóng nảy, khó chịu không?
- Tâu,
nó nổi da gà và rần rần hỷ lạc; như ru võng êm, như tẩm
nước mát. Thật là toàn hảo vậy.
- Cảm
ơn đại đức!
- Xin
đại vương cho nghe thêm điều thứ ba?
- Đức
vua được dân chúng tôn trọng, cung kính, thương yêu, ngưỡng
mộ, thì Đức Phật cũng được chư thiên và nhân loại cung
kính, lễ bái, cúng dường...
- Đúng
thế!
- Người
tốt, người hiền, kẻ có công thì đức vua ban thưởng chức
tước, lộc hàm, phẩm vị, vàng bạc v.v... , việc này đối
với Đức Phật cũng y như thế. Trong tứ chúng, người nào
có sự tu tập tinh cần, đúng đắn; giữ gìn thân khẩu ý
thanh tịnh, nỗ lực xa lìa chấp thủ, tham đắm; Đức Phật
sẽ lần lượt ban cho từng quả vị như Tu đà huờn, Tư đà
hàm, A na hàm, A-la-hán v.v... Ấy là những phần thưởng cao
quý nhất, tối thượng nhất. Bằng không được vậy, mà
ai đó chỉ có đức tin, biết giữ giới cấm, biết bố thí,
xả ly... thì người ấy, cũng được khen thưởng những phước
báu trời, người hạnh phúc, sang cả.
Trái
lại, người xấu ác, kẻ phạm luật, phạm pháp bị đức
vua xử theo pháp luật quốc gia, thì Đức Phật cũng thế;
ngài xử theo giới luật đã được chế định, đồng thời
định luật nhân quả còn làm việc một cách công minh, không
bao giờ thiên vị.
Ngoài
ra, đức vua ban hành mười vương pháp để cho quốc độ được
hạnh phúc và trường tồn, thì Đức Phật cũng hằng giáo
hóa tứ chúng làm lành, tích trữ điều lành, sống theo chánh
pháp để chánh pháp được tồn tại dài lâu trên thế gian
này!
Thưa
đại đức! Đó là trẫm chỉ nêu đại lược những điểm
then chốt, cơ bản;... chứ thật ra còn rất nhiều oai đức,
sự ích lợi tại thế và xuất thế, những pháp tương tự
giữa đức vua và Đức Phật. Nhưng kiến thức trẫm có hạn,
thời gian cũng không cho phép, mong đại đức thông cảm cho.
Đại
đức Na tiên tán thán:
- Vậy
là đã quá đủ. Vậy là đã quá vi diệu. Đức Thế Tôn có
dạy rằng: "Này tỳ kheo! Thật là vô số, vô số nguyên nhân
về bà-la-môn, về vua chúa; cho dẫu có một tỳ kheo thông
minh, thông tuệ, có ngôn ngữ lưu loát, kiến thức thâm sâu,
diễn đạt nhanh nhạy... nói về điều ấy trong suốt một
kiếp cũng không thể nói hết". Vậy thì đại vương tự khiêm
mà làm gì. Chúng ta chỉ cần nghe và hiểu những cái chính
mà thôi, có phải thế không ạ?
- Thưa,
vâng!