104.
Oai lực của Đức Phật thua ma vương?
- Bạch
đại đức! Đức Đại Giác đã tròn đủ các công hạnh ba-la-mật,
nhờ trong vô lượng kiếp ngài đã tích lũy biết bao nhiêu
công đức và phước báu; nên kiếp cuối cùng này chắc ngài
cũng viên mãn tài lộc, viên mãn lợi danh, viên mãn về tứ
sự như y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men ... phải
vậy không đại đức?
- Tâu
vâng!
- Chuyện
khác thì không nói, chỉ nói đến vật thực. Nếu đại đức
bảo rằng phước báu về vật thực của Đức Thế Tôn là
rất lớn, rất viên mãn, luôn luôn dư thừa, không bao giờ
thiếu thốn; thế tại sao một lần nọ, khi ngài đi trì bình
tại nhà người bà-la- môn Panca Sàla, ngài không nhận được
vật thực, đành phải ôm bát không mà đi ra? Đại đức nghĩ
sao về trường hợp ấy?
- Rồi
đại vương sẽ sáng tỏ thôi. Đức Thế Tôn chẳng bao giờ
thiếu thốn vật thực đâu. Sở dĩ tại nhà người bà-la-môn
Panca Sàla, Đức Phật phải ôm bát không trở ra là do ma vương
quậy phá. Ma vương đã dùng thần lực che mắt người bà-la-môn
đấy, tâu đại vương!
- Thưa,
chuyện ấy mà có thì phát sanh hoài nghi khác nữa. Hoài nghi
rằng, công năng vô lượng phước báu ba-la-mật của Đức
Thế Tôn ở đâu - mà khi ấy nó không trổ quả?
- Chẳng
phải thế đâu, đại vương! Lúc ấy vì ma vương có tâm ác
rất mãnh liệt đã tìm cách che mắt ông bà-la-môn không cho
thấy Đức Thế Tôn.
- Nếu
thế thì phát sanh nghi vấn to lớn hơn nữa. Rằng là điều
ác đã thắng điều thiện? Rằng là tâm ác mãnh liệt của
ma vương đã chiến thắng sự toàn thiện của Đức Thế Tôn?
Rằng là sức mạnh, uy đức của Đức Thế Tôn do viên mãn
ba-la-mật vẫn không bằng sức mạnh, ác đức của ma vương?
Rồi người ta lại còn mỉa mai, biếm nhẽ rằng: Ồ! Té ra
ngọn cây mà nặng hơn gốc cây? Tà đạo mà thắng chánh đạo?
Người xấu xa, độc ác, người hung dữ, tham sân vẫn thường
là kẻ có nhiều sức mạnh hơn người hiền thiện, người
tốt, người khiêm nhu và đức hạnh! Chẳng lẽ nào lại có
cái sự thật đau lòng trên thế gian này như thế, thưa đại
đức?
- Chánh
bao giờ cũng thắng tà. Gốc bao giờ cũng nặng hơn ngọn,
thiện bao giờ cũng thắng ác. Đại vương chẳng cần phải
bi quan như thế. Sức mạnh dẫu là ác tâm của ma vương cũng
chẳng bao giờ có thể thắng nổi Đức Thế Tôn toàn thiện
đâu! Đại vương phải hiểu rằng, lúc ấy ma vương với
ác tâm mãnh liệt đã tìm cách che mờ mắt của người bà-la-môn
không cho thấy Đức Thế Tôn. Tâm ác mãnh liệt là khác mà
che mờ mắt là khác, tâu đại vương!
- Xin
đại đức giảng cho nghe điều ấy?
- Đại
vương! Điều này đại vương có thể hiểu được qua một
ví dụ. Ví như cung điện của đại vương có nhiều cổng
thành ra vào, mỗi cổng thành như vậy thường có một số
quân lính túc trực cùng với một viên võ tướng chỉ huy
canh gác. Vì đại vương thương yêu thần dân như con nên hằng
ngày có một số người hay mang đến mật ong, sáp ong, cơm
nước thượng vị vào dâng cho đại vương vì lòng tôn kính
và sự ngưỡng mộ. Có một viên võ tướng chợt sanh tâm
ganh ti với đại vương, khi người ta mang vật phẩm đến,
viên võ quan ấy chặn lại, xét hỏi rắc rối không cho vào,
làm cho đại vương không nhận được vật phẩm ấy. Đại
vương nghĩ thế nào? Đại vương không nhận được vật phẩm
là bởi sức mạnh, uy lực của đại vương không bằng sức
mạnh và uy lực của người gác cửa hay sao?
- Tên
gác cửa ấy nếu trẫm bảo chết, nó sẽ chết - thì làm
sao lại có sức mạnh, uy lực hơn trẫm được!
- Đúng
thế! Vì tâm ganh tỵ của tên võ quan quá lớn nên sinh ra việc
ngăn người ta vào, chứ sức mạnh uy lực làm sao bằng được
đại vương? Cũng vậy, vì ma vương tâm ác quá mạnh, che mờ
mắt người bà-la-môn, chứ sức mạnh, uy lực của ma vương
làm sao bằng Đức Thế Tôn được! Đại vương nên hiểu
như vậy.
- Vâng,
vậy là trẫm hết nghi rồi.
Đại
đức Na-tiên chợt hỏi:
- Thế
hằng ngày đại vương cũng thường nhận được vật phẩm
như vậy hay sao? Có khi nào những tên gác cổng ngăn chặn
tất cả cổng thành làm cho đại vương mất phần lợi lộc?
- Làm
sao lại mất được, đại đức. Biết bao nhiêu là cổng,
biết bao nhiêu người vào! Lại nữa, tên võ quan kia chỉ trực
cổng, ngày hôm sau đã đổi viên võ quan khác. Vật phẩm của
trẫm không bao giờ thiếu, thưa đại đức quý trọng!
- Hay
lắm! Đức Thế Tôn cũng y như thế. Trưa hôm ấy tuy Đức
Thế Tôn ôm bát không từ nhà người bà-la-môn đi ra, do từ
phước báu quá khứ của ngài làm cho chư thiên nóng ruột.
Khi quán xét biết sự việc ấy, quá nhiều chư thiên đã hối
hả làm vô số món ăn từ cõi trời, xuống dâng cúng cho Đức
Thế Tôn . Thế đó, sức mạnh của ma vương không thể hơn
sức mạnh của Đức Thế Tôn, tà không thể hơn chánh, ngọn
không thể nặng hơn gốc, ác không thể thắng thiện. Và công
đức, phước báu của Đức Thế Tôn bao giờ cũng dư thừa,
viên mãn - tâu đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà gật đầu:
- Thôi,
đồng ý là sức mạnh, uy lực ma vương không bằng được
Đức Phật, đồng ý là phước báu của Đức Toàn tri lúc
nào cũng viên mãn! Nhưng trẫm vẫn còn thấy cái gì đó ẩn
đằng sau câu chuyện này. Là dù sao, khi ma vương che mắt người
bà-la-môn Panca Sàla, làm cho Đức Phật ôm bát không đi ra,
là ma vương đã đạt được tâm nguyện rồi, đã vừa ý
muốn của mình rồi. Chẳng lẽ nào Đức Chánh Đẳng Giác
với bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp ba-la-mật, bao
nhiêu giác, minh, tuệ, thần thông mà không nâng đỡ được
mình sao, để cho ma vương đắc ý mỉm cười, có phải thế
không? Để cho ma vương đem đến sự tai hại cho Đức Thế
Tôn, dù là chút ít? Đại đức có thể nào phá nghi điều
ấy cho trẫm không?
- Có
thể được, đại vương hãy chú tâm nghe. Về vấn đề bố
thí, cúng dường vật thực của thí chủ đến cho người
thọ thí, có thể có bốn sự tai hại ngăn trở làm cho sự
cúng dường không thành tựu:
Thứ
nhất, tai hại khi thí chủ chưa thấy người thọ thí.
Tiếp
đến, tai hại khi thí chủ đã sẵn có chủ tâm làm vật thực
dâng cúng.
Sau
nữa, tai hại khi thí chủ đã sửa soạn vật thực xong rồi.
Cuối
cùng, tai hại khi thí chủ dâng cúng vật thực rồi - và người
thọ thí đang thọ dụng.
Tâu
đại vương ! Trường hợp ma vương ngăn trở che mắt người
bà-la-môn, thuộc loại tai hại thứ nhất. Đấy là vì ông
bà-la-môn không thấy Đức Thế Tôn, người đến thọ thí
tại nhà mình. Đấy là sự tai hại bình thường, vì ông bà-la-môn
chưa thấy Phật nên chưa khởi tâm gì cả. Ma vương chỉ có
khả năng đem đến sự tai hại ngăn trở loại thứ nhất
này mà thôi!
- Thưa,
các loại ngăn trở sau là thế nào ạ?
- Thưa,
loại tai hại thứ hai là khi thí chủ rắp tâm, chủ tâm sửa
soạn vật thực để dâng cúng, thì có người đến với ác
tâm phá hoại, tìm cách ngăn cản đi. Ví dụ, người kia dùng
lời khôn khéo nói sao cho gia chủ thối thất thiện tâm, làm
cho gia chủ chán nản, mệt mỏi, làm cho gia chủ không cảm
thấy hứng thú trong việc cúng dường, hoặc có thể rủ gia
chủ đi chơi chỗ này chỗ kia hấp dẫn, vui vẻ hơn v.v...
- Vâng,
trẫm đã hiểu, còn loại tai hại thứ ba là thế nào?
- Thưa,
mặc dầu vật thực đã sửa soạn xong, nhưng người thọ
thí chưa đến, kẻ khởi ác tâm phá hoại bèn lân la bên cạnh
thí chủ tìm cách nói sao cho gia chủ phân vân, hoài nghi. Ví
dụ, cúng dường có phước báu gì đâu, thà để cho chồng
con cháu chắt thọ dụng tốt hơn. Hoặc, người thọ thí ấy
có tu hành gì đâu, ông ấy là một người xấu, không có
đức hạnh. Hoặc, cúng dường đệ tử ông Cù đàm thì các
giáo phái khác người ta ghét, người ta sẽ thù hằn, đố
kỵ.v.v... Sự lập tâm của người ngăn trở là làm cho gia
chủ phân vân, lưỡng lự, hoài nghi ... để gia chủ bỏ hẳn
sự cúng dường ấy đi. Đây là điều tai hại thứ ba, tâu
đại vương. Còn điều tai hại thứ tư, là khi đang thọ thực,
kẻ ác tâm đến, tìm cách ngăn trở bằng cách nói với người
thọ thực rằng: Thưa ngài, ngài dùng vật thực này không
thanh tịnh do gia chủ có ác tâm với ngài. Cơm bánh ngài dùng
là do gạo dơ, nước dơ. Những gia vị ngài dùng có tẩm độc
tinh vi, lâu ngày mới phát tác, coi chừng ngài sẽ thọ bệnh,
sau một năm nữa sẽ vỡ cửu khiếu ra mà chết .v.v...
Tâu
đại vương! Ma vương chỉ làm loại tai hại thứ nhất đến
Đức Thế Tôn, còn ba loại tai hại sau; bần tăng không thấy
trong tam giới, trời và người, ma vương, phạm thiên, sa môn
hoặc bà-la-môn nào có khả năng làm ba loại tai hại ấy đến
Đức Phật. Kẻ nào mà ngu si làm ba loại tai hại ấy đến
ngài - thì cái đầu của người ấy sẽ bể tan làm bảy mảnh,
tâu đại vương!
Lại
nữa, một Đức Chánh Đẳng Giác thường có bốn điều bất
khả xâm phạm; không ai với uy lực nào có thể đem đến
tai hại hoặc phá hoại được, ấy là:
Thứ
nhất, bất cứ lợi lộc gì, phẩm vật gì, tứ sự gì mà
thí chủ đã khởi tâm hoặc đã sửa soạn cúng dường đến
Đức Phật - thì sự cúng dường ấy ắt hẳn thành tựu,
không ai với uy lực nào có thể phá hoại được.
Thứ
hai, Đức Thế Tôn có hào quang sáu màu thường tỏa sáng xung
quanh, bán kính chừng một sải tay - chẳng có ai với uy lực
nào có thể làm cho lu mờ hoặc phá hỏng hào quang ấy.
Thứ
ba, tuệ giác của Đức Phật rỡ rỡ quang minh, tịch nhiên,
viên chiếu, xuyên chiếu, bao trùm, chẳng ai có khả năng tung
bóng tối vô minh xâm phạm được.
Thứ
tư, sanh mạng của Đức Thế Tôn, chẳng có uy lực ma quân
nào động đến được.
Tâu
đại vương! Nếu đại vương thông hội thêm bốn điều bất
khả xâm phạm ấy thì đại vương sẽ không bao giờ dám đem
sức mạnh và uy lực của ma vương để so sánh với uy lực
và sức mạnh của Đức Thế Tôn, phải vậy chăng? Việc ma
vương che mắt người bà-la-môn là việc làm ẩn khuất, dấu
diếm, chứ ma vương nào dám trực diện với Đức Thế Tôn?
Việc làm của ma vương chẳng khác gì người đàn bà ngoại
tình vụng trộm, hành động lén lút, dấu diếm đức lang
quân của mình. Nếu ông chồng mà bắt được vợ mình làm
việc vụng trộm ấy, dẫn đến đại vương thì đại vương
xử trị ra sao?
- Làng
xã thôn ấp người ta cũng trị được, nói đến luật nước
tối cao làm gì. Người ta thường hành hạ, đánh đập, gọt
tóc, bôi tro vào mặt, bêu rếu giữa xóm làng rồi sau đó
cho làm kẻ gia nô, nô lệ!
- Ma
vương hành động lén lút cũng dường như thế, nếu mọi
người biết mọi người sẽ khinh bỉ. Còn riêng Đức Thế
Tôn, dù ma vương có tâm xấu với ngài, có lẽ tâm ngài vẫn
là tâm giải thoát như hư không, tâu đại vương!
- Cảm
ơn đại đức đã rọi đèn sáng vào khắp các hang hóc tối
tăm của câu chuyện, trẫm không hề còn một mảy may nghi!
Chỉ có trí tuệ quảng bác, uyên áo, sắc bén của ngài mới
giải nạn cho những vấn nghi mà thế gian này không ai làm
nổi. Một lần nữa tri ân đại đức vậy.
Đức
vua Mi-lan-đà hân hoan quá bèn quỳ sát đất đảnh lễ rồi
tán thán:
- Trẫm
xin tôn kính đảnh lễ ngài, đại đức Na-tiên cao quý và
trí tuệ vô song!
* *
*
105.
Vì Đức Phật thuyết pháp
mà
làm cho sáu mươi vị tỳ kheo hộc máu chết!
- Thưa
đại đức - có lần trẫm đọc một đoạn kinh nói rằng
Đức Thế Tôn thuyết một thời pháp làm cho sáu mươi vị
tỳ khưu hộc máu chết hay là họ treo cổ tự vẫn gì đó
không rõ! Có phải trẫm nhớ lầm không hở đại đức?
- Có
đấy! Bần tăng cũng nhớ là họ hộc máu mà chết khi Đức
Thế Tôn thuyết về kinh ... "Lửa của ngũ uẩn"!
- Như
thế thì đức Thập Lực Tuệ làm hại họ rồi! Ngài hằng
đem điều hạnh phúc đến cho chúng sanh, nhưng ở đây, sao
ngài lại đem đến điều tai hại, làm cho sáu mươi sanh mạng
phải lìa đời? Đấy là một nghi vấn trọng đại, mong đại
đức chỉ giáo cho?
- Tâu
đại vương! tất cả sáu mươi vị tỷ kheo ấy vì phạm trọng
giới, nhất là những giới bất cộng trụ. Sau khi nghe pháp
họ thấy được tội của mình nên ray rứt ăn năn, ruột
như bị lửa đốt. Sức nóng như lửa ấy ở bên trong thiêu
đốt nên máu trào vọt ra thất khiếu mà chết - thì đâu
có phải do Đức Thế Tôn thuyết thời pháp ấy. Họ chết
bởi tâm ăn năn, ray rứt của chính họ vậy.
- Đại
đức lý luận vậy thật không đủ sức mạnh để thuyết
phục trẫm, vì Đức Thế Tôn thuyết pháp đến họ, họ mới
hộc máu chết, nếu ngài không thuyết thời pháp ấy, đâu
có chuyện gì xảy ra? Sáu mươi vị tỳ khưu chết, nguyên
nhân chính là do thời pháp của Đức Thế Tôn! Đại đức
không thể biện hộ nữa rồi!
-Như
thế là đại vương cương quyết kết tội Đức Đạo sư?
- Đúng
như vậy! Đại đức hãy nghe đây. Nếu như có người đàn
ông cần dùng đất ổ mối, ông ta lấy cuốc, lấy xẻng vào
cái hang lớn. Khi đào lấy đất, mặc dầu người ấy không
cố lấp cửa hang, nhưng đất đã sập xuống, bịt chặt miệng
hang làm cho những con rắn trú ngụ ở trong ấy ngộp thở
mà chết. Thử hỏi đại đức, có phải vì người đàn ông
lấy ổ mối là nguyên nhân làm cho những con rắn chết phải
chăng?
- Đúng
thế, người ta ai cũng có thể kết luận vậy.
- Thì
trường hợp của Đức Thập Lực Tuệ nào có khác gì? Ngài
dầu không cố ý nhưng chính thời pháp của ngài là nguyên
nhân giết hại sáu mươi mạng người, tội ấy không nhỏ
đâu.
- Tâu
đại vương! Nghe nói thì chí lý lắm, nhưng Đức Đại Giác
thuyết pháp đâu phải chỉ riêng cho sáu mươi vị tỳ khưu
ấy; ngài thuyết pháp với tâm rộng khắp, bao trùm, hàng ngàn
hạng vạn chúng sanh, trời và người, ngài đâu có phân biệt
thân và sơ, đâu phân biệt sáu mươi vị tỳ khưu kia giữa
hàng ngàn hàng vạn người thính pháp?
- Vẫn
không thuyết phục được, đại đức!
- Tâu
đại vương! Người nào nghe pháp rồi nghĩ mình đã thực
hành tốt, thực hành đúng thì tâm họ sẽ hoan hỷ, thanh tịnh,
nhờ vậy mà chứng ngộ đạo quả. Có người nghe pháp rồi
thấy mình thực hành sai, hối hận, ruột bị lửa đốt mà
đi xuống, xa rời chánh đạo - thì làm sao bắt lỗi được
Đức Thế Tôn hở đại vương! Ai làm nấy chịu chứ? Tâm
ai sao thì cảnh của họ vậy chứ? Tâm niệm, tư tưởng, ý
nghĩ, hành động của mỗi người như thế nào - thì quyết
định nghiệp hoặc cảnh thú cho người ấy theo định luật
nhân quả không hề sai trật vậy.
- Đại
đức có ví dụ cụ thể được điều ấy chăng?
- Vâng,
thưa được! Người kia có cây xoài quý, thuê người đến
chăm sóc, canh giữ, bảo vệ. Đến khi xoài chín, người kia
ra xem, thấy một số trái chín mọng, ngon ngọt trĩu đầy
cành; ngoài ra khá nhiều trái rụng xuống đất do sâu đục,
chim mổ, dơi cắn. Người chủ cây xoài bắt lỗi người giữ
vườn, tại sao không bảo vệ, canh giữ cho chu đáo để đến
nỗi xoài rụng nhiều như thế? Đại vương nghĩ thế nào?
Lời bắt tội của người chủ cây xoài có hữu lý không?
- Thưa
không, hữu lý sao được khi xoài xanh tốt không có sâu sia,
dơi chim phá thì nó tốt, chín mọng, đẹp. Trái lại thì nó
rụng là điều tự nhiên thôi!
- Cũng
vậy là thời pháp của Đức Thế Tôn, tâu đại vương! Xoài
chín mọng, ngọt ... là do bản thân nó hoàn hảo, kiện toàn,
trái rơi rụng là do bản thân nó có mầm giống tiêu hoại
bởi sâu bệnh. Cũng thời pháp ấy mà có người đi lên, hay
chứng ngộ đạo quả là do tâm họ tốt, thực hành tốt.
Trái lại, có người đi xuống, rơi xuống là do tâm họ xấu,
thực hành sai! Đại vương bắt lỗi Đức Thế Tôn khác nào
đại vương bắt lỗi người canh giữ xoài! Cả hai đều không
liên hệ gì đến tác ý của Đức Thế Tôn cả!
- Nghe
có vẻ hữu ý lắm, thưa đại đức! Và như thế chính tác
ý mới quan trọng sao?
- Tâu
đại vương! Tác ý mới chính là vấn đề! Tác ý là hướng
tâm, khởi tâm đến, điều ấy đại vương hiểu rồi. Khởi
tâm của Đức Thế Tôn là quảng đại, bi mẫn, với lòng
từ vô lượng, thuyết pháp đến chúng sanh để chúng sanh
tự thấy những sai lầm của mình để tu sửa, để hướng
thượng, để giải thoát khổ đau. Vậy những khởi tâm với
các trạng thái tâm ấy là có tội sao hở đại vương?
- Thế
Đức Thế Tôn vô tình mà làm cho sáu mươi vị tỳ khưu kia
chết, và vô tình là không có tội phải chăng? Ví như người
nông phu làm ruộng, trước khi gieo giống, lấy trâu bò cày
sâu đám ruộng của mình. Khi làm vậy, người nông phu chỉ
khởi tâm cho đám ruộng được tốt, thu hoạch được nhiều
lúa. Nhưng những nhát cày của ông ta đã làm chết bao nhiêu
cây cỏ, làm chết bao nhiêu côn trùng! Đấy là vô tình, và
vô tình là không có tội sao? Trong nhân quả trùng trùng, trực
tiếp và gián tiếp, xét cho kỹ vẫn có tội như thường!
Ví như người kia ép mía, khởi tâm để có nước ngon ngọt
uống, nhưng máy ép mía của y đã ép chết biết bao nhiêu
kiến sâu ở trong. Thế không có tội sao, đại đức? Hoặc
nếu đại đức nói Đức Thế Tôn thuyết pháp là chỉ để
dành cho những chúng sanh có trí, có căn cơ bậc thượng còn
kẻ ngu si hạ liệt thì không cần đến; ví như người thợ
đẽo, chỉ lựa lấy những khoảng gỗ cần dùng, cái nào
xấu hoặc không cần thì đẽo bỏ đi! Như thế có được
chăng, có đúng chăng? Khi Đức Thế Tôn thuyết pháp để người
lành thì đi lên, người xấu thì đi xuống, việc làm ấy
của Đức Thế Tôn chẳng khác gì người đẽo gỗ kia vậy!
Xin đại đức giải nghi vấn nạn ấy cho!
- Quả
là lời buộc tội rất hùng hồn, rất đanh thép, tuy nhiên
trường hợp Đức Thế Tôn không phải là vô tình như ông
nông phu kia, như người ép mía nọ. Cũng không phải như ông
đẽo gỗ chỉ lựa thứ gỗ mình dùng được! Đức Thế Tôn
ở ngoài và ở trên mọi lượng ước, nghĩ nghì của chúng
ta, đại vương hãy từ từ, cố gắng lắng nghe.
- Thưa
vâng.
- Đại
vương, ví như một trận mưa lớn xuống một vùng dân cư
và đồng ruộng, vườn tược; cây lớn thì hứng được nước
nhiều, cây con thì hướng nước ít; người trỉa bắp thì
vui mừng, người phơi lúa thì khổ sở. Việc xảy ra như vậy
thì cây con hứng ít nước và người phơi lúa có trách trận
mưa làm ác không hở đại vương?
- Không
thể trách được!
- Đức
Thế Tôn thuyết pháp đến chúng sanh, hoàn toàn với tâm bình
đẳng như trận mưa ấy. Chúng sanh căn cơ bậc thượng như
cây lớn thì hứng nước nhiều, như căn cơ bậc hạ, cây
con thì hứng nước ít. Có người đắc pháp thì vui mừng
như người trỉa bắp, kẻ khổ như người phơi lúa là sáu
mươi vị tỳ kheo kia, hộc máu chết, lẽ nào lại trách Đức
Thế Tôn và thời thuyết pháp của Đức Thế Tôn cho được,
hở đại vương?
Đức
vua Mi-lan-đà suy nghĩ một hồi:
- Ví
dụ này của đại đức thật là xác đáng, là sít sao với
chủ đề vậy. Đúng, thời pháp chính là một trận mưa bình
đẳng, là pháp vũ! Đúng, là nói vô tình cũng sai vậy. Xin
đại đức cho nghe tiếp.
- Thời
pháp ví như mưa thì thời pháp cũng được ví như nắng. Nắng
chiếu xuống nhân gian cũng bình đẳng như thế! Cây lớn ngoài
khoảng trống thì hứng được nắng nhiều. Những cây nhỏ
trong một khu rừng chằng chịt thì cố vươn ra mà đón nhận
một vài tia nắng để chuyển hóa nhựa luyện và sức sống
...! Cứ suy ra thêm nữa thì nắng đâu có tội tình gì, phải
thế không đại vương?
- Vâng,
đúng là không có tội!
- Ngoài
ra, điều này mới là bất khả tư nghì hơn, tâu đại vương!
Đức Thế Tôn có cả thảy tám minh, do vậy, ngài biết rõ,
thấy rõ căn, cơ, nhân, quả, nghiệp, duyên, báo ... của sáu
mươi vị tỷ kheo kia hơn chúng ta chứ?
- Thưa
vâng!
- Vậy
thì như trường hợp Đề-bà-đạt-đa đọa địa ngục là
tốt hơn, thì sáu mươi vị tỷ kheo kia, chết đi như thế
không tốt hơn cho họ hay sao? Nếu họ không nghe pháp, họ
sống si mê, lầm lạc với tội lỗi của mình, sẽ còn trầm
luân khổ đau bao nhiêu kiếp nữa? Còn họ nhờ nghe pháp, tâm
tàm quý [*] khởi sanh, họ bắt đầu biết mình tội lỗi nặng
nề. Tâm tàm quý ấy quá mạnh làm cho họ hộc máu, đoạn
lìa sự sống. Có thể họ sẽ bị trả quả khổ, nhưng chính
tâm tàm quí mạnh mẽ kia sẽ là pháp hỗ trợ, nâng đỡ họ
trong các kiếp sống sau này. Điều ấy có thể xảy ra không,
đại vương?
[*]
hổ thẹn tội lỗi và ghê sợ tội lỗi.
- Có
thể lắm, đại đức!
- "Có
thể", nghĩa là chúng ta chưa vội quy kết, kết luận cái "không
thể", phải vậy không đại vương?
- Chí
lý!
- Thế
sao trước đây, đại vương sớm đổ tội cho Đức Thế Tôn
và thời thuyết pháp của ngài làm tai hại đến sáu mươi
vị tỷ kheo?
Đức
vua Mi-lan-đà cúi đầu xuống:
- Vâng,
trẫm thấy trẫm còn quá ư nông nổi.
Chưa
dừng ngang đó, đại đức Na-tiên còn hùng hồn thuyết giảng
thêm:
- Đại
vương! chúng sanh có mặt trên đời này, có kẻ đi xuống,
kẻ đi lên, kẻ vui, kẻ khổ, kẻ trầm luân, người giải
thoát đều do duyên nghiệp, ngu trí quyết định. Ở đây,
nhân quả nó làm việc rất bình đẳng, rất phân minh, chẳng
thiên vị ai và bỏ quên ai bao giờ!
Đại
vương hãy nghĩ xem ! Thuốc độc đâu phải lúc nào cũng làm
chết người? Thuốc bổ đâu phải luôn luôn là cứu người?
Thuốc trường sanh bất tử đâu phải ai uống vào cũng bất
tử - mà đôi khi có kẻ chết sớm vì thuốc trường sanh bất
tử ấy! Vật thực nuôi mạng chúng sanh, nhưng vật thực cũng
giết chết rất nhiều chúng sanh ... Trọng tâm, sợi chỉ đỏ
của mấy ví dụ bần tăng nêu ở trên chỉ quy kết về một
điều: ngoại cảnh chỉ là duyên, là trợ duyên, thuận duyên
hoặc chướng duyên; nó sẽ tác động thuận chiều hay nghịch
chiều, lợi hay hại, vui hay khổ, tốt hay xấu ... vào bên
trong cái nhân, từ trong tâm của chúng sanh; mà cái tâm ấy
là nơi tích lũy vô lượng hạt giống từ quá khứ; vậy chúng
ta không thể nào quy kết một hiện tượng là xấu hay tốt
được, là lợi hay hại được! Phải thế không đại vương?
- Vâng,
điều này rất sâu xa, nan tư nghì vậy.
- Đúng
thế, căn, cơ, nhân, quả, duyên, báo ... của chúng sanh, chúng
ta làm sao mà hiểu, mà thấy, mà biết hết được!
- Thưa,
chỉ có đấng Toàn Giác!
- Vậy
thì sáu mươi vị tỳ khưu kia hộc máu chết, đại vương
không còn quy kết Đức Thế Tôn đem đến họa hại cho họ
nữa chứ?
- Một
trăm lần cái chết như thế vẫn chưa đánh đổi được môt
lần tỉnh thức hoặc nghe được một thời pháp chơn chánh,
thưa đại đức!
Đại
đức Na-tiên chợt hô "sàdhu", lành thay, rồi vui vẻ nói lớn:
- Cảm
ơn đại vương đã hoàn toàn nắm vững vấn đề!
- Trẫm
còn cảm ơn đại đức nhiều lần hơn thế nữa!
* *
*
106.
Bậc Thánh cư sĩ sao lại phải đảnh lễ,
cúng
dường phàm Tăng?
- Thưa
đại đức! "Người đắc pháp xuất thế gian là vô cùng cao
quý, xứng đáng để cho chư thiên và nhân loại đảnh lễ,
cúng dường". Lời của Đức Đại Bi thuyết cho Setthà nghe
như thế có đúng chăng?
- Thưa
đúng.
- Thế
tại sao sau đó, Đức Thế Tôn còn thuyết rằng: "Những tại
gia cư sĩ đắc quả thánh Tu-đà-huờn rồi, họ chỉ còn nghiệp
rất nhẹ, không còn đọa vào bốn đường ác, đức tin Tam
Bảo đã vững chắc, là người đã thấy rõ pháp; tuy nhiên,
những tại gia cư sĩ đắc quả Thánh Tu-đà-huờn ấy, khi
gặp chư tỳ khưu Tăng bất kể thánh hay phàm, đều phải
đứng dậy, mời ngồi, lễ bái và cúng dường". Lời thuyết
này cũng đúng chăng, thưa đại đức?
- Vâng,
cũng rất đúng!
- Vậy
thì lời thuyết sau phủ định lời thuyết trước? Lời thuyết
sau bắt các vị Thánh đã đắc quả xuất thế gian phải lễ
bái, cúng dường những vị phàm Tăng thế gian sao? Nghe có
lọt tai không chứ?
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Rất
lọt tai là khác, nếu như đại vương biết rõ những pháp
cao thượng mà những vị phàm Tăng kia đang thực hành, đang
y chỉ, đang bảo lưu, gìn giữ, tâu đại vương!
- Xin
đại đức hãy lật đứng dậy những cái gì khuất lấp ở
trong cái đầu óc u mê của trẫm!
- Đại
vương đừng quá tự khiêm, bần tăng sẽ nói đây! Là những
vị phàm Tăng ấy, tâu đại vương, họ hằng có hai mươi
pháp hành cao thượng của sa môn. Ngoài ra, còn hai pháp cao
thượng nữa thuộc về phẩm mạo, tăng tướng nhằm hỗ trợ,
nâng đỡ cho hai mươi pháp cao thượng nêu trên. Như vậy,
tất cả có hai mươi hai pháp mà họ đang y chỉ, thực hành,
đáng để cho các vị Thánh cư sĩ Tu-đà-huờn ngưỡng mộ,
tôn trọng, lễ bái, cúng dường, tâu đại vương! Hai mươi
pháp ấy như sau:
Một
là, tâm bi mẫn và sự chơn thật;
Hai
là, hỷ hoan trong đời sống thanh cao;
Ba
là, đang thực hành pháp;
Bốn
là, tứ vô lượng tâm;
Năm
là, thu thúc lục căn;
Thứ
sáu, thu thúc trong giới bổn pàtimokkha;
Thứ
bảy, nhẫn nhục;
Thứ
tám, vắng lặng;
Thứ
chín, thỏa thích trong chánh pháp;
Thứ
mười, thực hành pháp cao thượng;
Mười
một, thường thích ở ẩn;
Mười
hai, hổ thẹn tội lỗi;
Mười
ba, ghê sợ tội lỗi;
Mười
bốn, tinh tấn;
Mười
lăm, không giải đãi (dễ duôi);
Mười
sáu, biết học hỏi giáo pháp;
Mười
bảy, biết giảng giải giáo pháp;
Mười
tám, thỏa thích trong giới đức;
Mười
chín, không tham muốn, không chất chứa, không luyến tiếc;
Hai
mươi là, đầy đủ tất cả các điều học.
Và
hai pháp cao thượng thuộc phẩm mạo, tăng tướng là:
Thứ
nhất, thọ dụng y cà-sa;
Thứ
hai, đầu cạo trọc.
Đại
vương thấy thế nào, hai mươi hai pháp ấy có cao thượng
chăng?
- Thưa,
đồng ý là cao thượng, nhưng dẫu sao cũng mới chỉ là pháp
cao thượng chứ không phải là người cao thượng!
- Nhưng
mà chư tỳ khưu Tăng có vị đã chứng, đang chứng, và sẽ
chứng, tâu đại vương!
- Xin
đại đức tuần tự giảng cho nghe. Thật là đáng khâm phục
trí tuệ biện tài của đại đức nếu như đại đức giảng
trôi nạn vấn của trẫm!
- Vâng,
đại vương nghĩ thế nào, nếu có vị tỳ khưu thọ trì đầy
đủ hai mươi hai pháp ấy; thực hành không cho hư hỏng hai
mươi hai pháp ấy, thực hành trọn vẹn hai mươi hai pháp ấy;
có thể tiến từ bậc hữu học lên bậc vô học, đắc quả
A-la-hán thì vị cư sĩ Thánh quả Tu-đà-huờn kia nên đứng
dậy mời chào, lễ bái, cúng dường các vị tỳ khưu ấy
không?
- Rất
xứng đáng!
- Tại
sao lại xứng đáng?
- Vì
dù sao Thánh cư sĩ Tu-đá-huờn đâu có được hai mươi hai
pháp ấy? Một vì tỳ khưu đắc Tu-đá-huờn, quả vị tuy
bằng người cư sĩ nhưng sẽ cao thượng hơn người cư sĩ
vì vị tỳ kheo còn có hai mươi hai pháp quý báu ở bên mình,
đáng được trọng nể hơn vậy? Nhưng nếu vị tỳ khưu thọ
trì hai mươi hai pháp, có thực hành nhưng chưa thành tựu đầy
đủ hai mươi hai pháp ấy; chưa đạt địa vị hữu học hoặc
vô học thì làm sao vị Thánh cư sĩ lại lễ bái, cúng dường
được, đại đức?
- Thưa,
vẫn rất xứng đáng lễ bái, cúng dường - vì vị Thánh cư
sĩ sẽ nghĩ rằng: "Dầu sao, các ngài tỳ khưu cũng là môn
đệ bậc cao của Đức Phật, đã thọ trì giới bổn thanh
tịnh, đã từng thuyết giới bổn thanh tịnh. Các ngài đều
có khả năng làm những việc mà những cư sĩ bậc Thánh không
thể làm được, là có khả năng cho những người xuất gia
thọ sa đi giới và thọ cụ túc giới. Ngoài ra có vị tỳ
khưu, dẫu là phàm Tăng, nhưng, chính họ là người kế thừa,
bảo lưu, giữ gìn hạt giống bồ-đề làm cho Phật giáo được
hưng thịnh lâu dài". Tâu đại vương! Nếu vị Thánh cư sĩ
suy nghĩ như thế ở trong tâm, vị ấy có đứng dậy, mời
ngồi, lễ bái, rót nước, dâng vật thực đến cho chư tỳ
khưu phàm Tăng chăng?
- Thưa,
suy nghĩ ấy rất chánh đáng, rất thuyết phục, xứng đáng
đảnh lễ, cúng dường lắm! Nhưng, ngoài ra, các vị tỳ khưu
có thọ trì hai mươi hai pháp ấy, nhưng khuyết tật hoặc
hư hỏng hai mươi hai pháp ấy - thì chắc chắn không xứng
đáng rồi!
- Vẫn
rất xứng đáng, tâu đại vương! Vì bậc Thánh cư sĩ sẽ
suy nghĩ rằng: "Họ hư hỏng, khuyết tật nhưng họ vẫn đang
trong tăng tướng và phẩm mạo cao thượng; họ đang đi trên
con đường phạm hạnh, họ ăn một bữa, họ thiểu dục,
tri túc; họ thường sống nơi tịch mịch, xa chỗ huyên náo
ồn ào, xa chỗ ngũ dục thấp hèn! ... Còn ta là gì? Ta là
cư sĩ áo trắng, dù đắc quả Tu-đà-huờn, nhưng ta vẫn có
gia đình với vợ và con, bạc tiền, của cải, danh vọng,
địa vị, nghề nghiệp nuôi sống. Ta không cắt móng tay, không
cạo râu tóc, vẫn trang điểm, vẫn thoa vật thơm, y phục
lành tốt, thọ hưởng ngũ dục, ăn ngon, mặc ấm, giường
cao, nhà rộng v.v... Chỉ nguyên nhân ấy thôi, ta đã phải
lễ bái, cúng dường đến các ngài rồi. Huống hồ các ngài,
chư phàm Tăng ấy còn có khả năng dạy giáo pháp, truyền
giới luật cho người tại gia, người xuất gia? Đấy là những
việc mà không một Thánh cư sĩ siêu phàm nào làm được".
Đại vương! nếu khi mà vị Thánh cư sĩ suy nghĩ như thế
- thì vị ấy có đứng dậy tiếp rước, mời ngồi với hai
tay chấp lại thành kính không, hở đại vương?
- Ồ!
nếu mà suy nghĩ vậy thì quả thật trẫm đã thua xa trí tuệ
thấu suốt ngọn ngành của đại đức rồi!
- Không
dám!
- Chắc
chắn là vậy! Vì sự gợi ý sáng suốt của đại đức mà
trẫm có được một ví dụ như sau: "Trẫm có một vị hoàng
tử, trẫm cho đi học văn chương, triết học ... nơi một
thầy bà-la-môn, là một bậc giáo thọ lớn. Nhờ sự giáo
huấn của thầy bà-la-môn lỗi lạc, con trẫm được nên người,
thành tài. Nếu sau này mà con trẫm có lên vương, thì trẫm
cũng phải hằng nhắc nhở con trẫm rằng: Con nên hằng đến
thăm thầy, kính trọng, đảnh lễ thầy, vì nhờ thầy mà
bây giờ con đã trở nên một vị vua xứng đáng". Thưa đại
đức! Cũng vậy là vị Thánh cư sĩ kia, mặc dầu ở địa
vị cao hơn, quý báu hơn; nhưng dù sao cũng nhờ các vị tỳ
khưu phàm Tăng, là bậc thầy dạy đạo cho mình, cho mình thọ
trì tam quy, ngũ giới, dạy pháp học, pháp hành ... để mình
có cơ hội tiến tu và nhập vào dòng Thánh ngày hôm nay! Chỉ
ngay cái sự tri ân ấy thôi cũng xứng đáng lễ bái, cúng
dường rồi, phải vậy không đại đức?
- Rất
là chính xác! Đại vương có thể suy diễn cả những điều
mà bần tăng đang định nói ra, chứng tỏ đại vương có
thể đi đến một sự nhất trí về kết luận của bần tăng
như sau: "Không kể phàm, không kể thánh - chỉ ngay cái phẩm
vị tỳ khưu - đã là phẩm vị cao thượng, xứng đáng cho
trời và người lễ bái, tôn trọng, cúng dường".
- Rất
đồng ý!
- Cho
nên, vị Tu-đà-huờn cư sĩ lễ bái, cúng dường phẩm vị
tỳ khưu là phải lẽ. Cho chí một vị cư sĩ A-la-hán, muốn
bảo toàn phẩm hạnh thanh cao của mình, đắc quả A-la-hán
trong ngày nào [*] thì phải xuất gia phẩm vị tỳ khưu trong
ngày ấy. Nếu quá một ngày không gặp đủ số Tăng hội,
thì vị cư sĩ A-la-hán ấy đành phải Niết bàn! Cho hay, phẩm
vị tỳ khưu cao thượng, quý báu dường ấy mà ít người
hiểu cho trọn vẹn, thưa đại vương!
[*]
Đôi chỗ nói là bảy ngày.
Đức
vua Mi-lan-đà gật đầu hóm hỉnh:
- Gặp
được bậc thiện trí thức thông tuệ như đại đức đây,
hôm nay, đã làm cho tâm tư trẫm mát mẻ, rỗng không nghi vấn
- dẫu trẫm là vị đế vương sang cả, quyền uy vô tận;
đại đức chỉ là một công dân thôi, trẫm cũng phải cung
kính, đảnh lễ như thường!
- Đại
vương quả là bậc thiện trí!
- Không
dám!
* *
*
107.
Giáo hội của Đức Tôn Sư có bị phân ly, chia rẽ không?
- Thưa
đại đức! Nghe nói rằng, giáo hội của Đức Tôn Sư có
tinh thần dân chủ, trật tự và kỷ cương nhất trên thế
gian. Các môn đệ của ngài sống tương kính, tương ái, đoàn
kết và hòa hợp, không ở đâu có được! Phải vậy không
đại đức!
- Thưa
vâng.
- Thế
sao Đề-bà-đạt-đa lại chia rẽ được giáo hội ấy? Ông
ta đã dẫn năm trăm vị tỳ khưu lên núi Kên kên để thành
lập một giáo hội riêng? Vậy ra lời nói giáo hội của Đức
Tôn Sư đoàn kết, hòa hợp là không đúng ư? Giáo hội của
Đức Tôn Sư rồi cũng bị ly tán, phân ly, chia rẽ hay sao?
Câu hỏi này đối với trẫm thật đau nhức vì chúng ngoại
đạo lấy lý do đó để đàm tiếu. Xin đại đức hãy thi
thố sức mạnh trí tuệ để giải đáp cho xong mối nghi này,
trẫm tri ân đại đức lắm vậy!
- Đại
vương! Trên thế gian này có cái gì mà không bị phân ly, ly
tán, tụ mà không tan, hợp mà không lìa được, hở đại
vương? Tất cả pháp hữu vi dầu lớn như núi Tu di, dù nhỏ
như mảnh hư trần đều bị sự tác động của các định
luật mà thành, trụ, hoại, không - ấy là lẽ thường! Tất
thảy vũ trụ vạn hữu đều bị định luật vô thường biến
hoại chi phối. Cho nên, đến một lúc nào đó, mẹ cũng phải
xa con, chồng phải xa vợ, anh trai, em gái, quyến thuộc, bạn
hữu ... cũng vậy, chẳng bao giờ được ở vĩnh viễn bên
nhau. Chiếc thuyền ra khơi kia được đóng một cách vững
chắc, kiên cố - nhưng chỉ cần một cơn sóng to đánh vào
là đã bị tan vỡ, gỗ lìa theo gỗ, buồm rã theo buồm! Trái
cây kia có quả rất ngon ngọt nhưng chỉ cần một thân dây
đắng quấn quanh, ngon ngọt của trái cây kia đâu còn nữa?
Bạc vàng lóng lánh sáng đẹp nhưng trộn với đồng thì màu
sắc tất phải biến dị!
Tâu
đại vương! Đức Thế Tôn có thuyết về tam tướng, và đấy
là định luật tất yếu của mọi hiện hữu. Vậy thì ai
nói rằng môn đệ của Đức Như Lai không phân ly, không ly
tán là không đúng sự thật, không đúng với pháp, không đúng
với chân lý. Nhận thức ấy không phù hợp với cái thấy
biết của bậc trí tuệ. Lời khen ngợi ấy thật không đẹp
lòng, vừa ý bậc trí giả đâu!
Đức
vua Mi-lan-đà ngạc nhiên:
- Vậy
là ngược lại, giáo hội Đức Tôn Sư là giáo hội không
hòa hợp, không đoàn kết, luôn luôn phân ly, tan rã?
- Chẳng
phải thế đâu, đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà lại ngỡ ngàng:
- Thế
là sao ạ? Trẫm không nắm bắt được điều đại đức muốn
nói?
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Tâu
đại vương! phân ly, ly tán, tụ tan, tan tụ, thay đổi, biến
hoại là định luật tất yếu của pháp hữu vi. Giáo hội
của Đức Tôn Sư cũng phải bị định luật ấy chi phối.
Tuy nhiên, Đức Tôn Sư có dạy rằng: "Nơi nào mà Tăng chúng
sống thuận hòa, tương ái, tương kính với nhau; nơi nào mà
Tăng chúng sống với nhau bằng tinh thần lục hòa và tứ nhiệp
- thì nơi ấy tất sẽ có được sự đoàn kết, hòa hợp,
không phân ly, không chia rẽ!" Đại vương phải hiểu cho thật
đúng là như thế.
Đức
vua Mi-lan-đà gật đầu:
- À,
ra trẫm đã hiểu.
- Lục
hòa, tứ nhiếp chính là pháp hỗ trợ, nâng đỡ cho môn đệ
của Đức Tôn Sư. Lục hòa là để các môn đệ sống với
nhau được lợi ích, thuận hòa, an lạc. Tứ nhiếp là để
sống trong tương quan giữa thầy và trò, giữa Đức Phật
và môn đệ, giữa người xuất gia và kẻ tại gia, nói rộng
ra là với nhân quần xã hội.
- Xin
đại đức giảng rộng cho nghe.
- Thưa
vâng, đại vương có từng nghe ở đâu mà Đức Phật và Chư
Tăng, hoặc Chư Tăng sống với nhau mà thường lấy vật không
cho của kẻ khác? Sống với nhau mà nói lời khiếm nhã, cộc
cằn, thô lỗ? Sống với nhau mà ích kỷ, tư kỷ hoặc có
những hành động đưa đến hại người, không có lợi cho
người? Hoặc sống với nhau, ăn ở với nhau mà không bình
đẳng với nhau, có giai cấp, có địa vị?
- Thưa
không, đại đức! Đức Phật và môn đệ của ngài sống
với nhau chưa hề nghe có những việc như vậy xảy ra, mà
ngược lại. Họ không bao giờ lấy vật không được cho mà
họ còn san sẻ, chia sớt, giúp đỡ nhau những tài vật có
được. Họ sống với tâm xả ly, với hạnh không dính mắc.
Họ nói lời từ hòa, hiền thiện, thuận tai và mát mẻ đôi
tai của mọi người. Họ luôn luôn khuyến thiện, hành động
thiện để cùng lợi mình lợi người. Họ bình đẳng trong
ăn, ở, vui, khổ, không có giai cấp này phục vụ giai cấp
kia ...
Đại
đức Na-tiên gật đầu:
- Đúng
vậy, tâu đại vương! Chính nhờ vậy, chính nhờ Đức Phật
và môn đệ sống như vậy giữa nhau và giữa mọi người;
luôn lấy bốn pháp tế độ: bố thí, ái ngữ, lợi hành và
đồng sự làm thước đo, làm kim chỉ nam, làm pháp hộ trì
nâng đỡ; nên đã được thế gian tán thán: "Giáo hội của
Đức Phật, Chư Tăng và các môn đệ sống đoàn kết, hòa
hợp, không có phân ly, không có chia rẽ ... mà sống trong một
trật tự, kỷ cương, hòa bình và tương kính, tương ái lẫn
nhau", cũng không ngoa vậy!
- Cảm
ơn đại đức! Trẫm đã hoàn toàn thông hiểu rồi, những
nhức đau bây giờ đã trở nên mát mẻ và lành lặn!
* *
*
108.
Tỳ kheo tạo nghiệp do không biết, tại sao lại không có tội?
- Thưa
đại đức! Đức Thế Tôn có dạy rằng: "Người nào không
biết rõ ác nghiệp mà tạo ác nghiệp như sát sanh, trộm cắp
v.v... thì bị tội nặng". Một chỗ khác, Đức Thập Lực
Tuệ lại thuyết ở trong luật rằng: "Tỳ khưu tạo ác nghiệp
do không biết thì không phạm tội". Thế thì nếu ta tin theo
lời thuyết trước thì không thể tin theo lời thuyết sau.
Hai lời thuyết đó như hai con đường không thể gặp nhau
hoặc như cách nhau một cái biển mênh mông khó vượt qua!
Mong rằng đại đức hãy giải nghi cho trẫm.
- Thật
dễ dàng thôi, tâu đại vương! Người nào không biết rõ
ác nghiệp mà tạo ác nghiệp - có nghĩa là không biết rõ
ác nghiệp nhưng đã tạo ác nghiệp ấy do cố ý, do cố tình,
do tưởng biết, do tâm tạo tác - nên phải bị tội báo nặng,
đó là điều dĩ nhiên. Nhưng trong luật, Đức Thế Tôn nói
rằng, chư tỳ khưu tạo ác nghiệp do không biết, không phạm
tội! Không biết mà tạo ác nghiệp, có nghĩa là có tạo ác
nghiệp nhưng do không cố ý, không cố tình, do không tưởng
biết, do tâm không tạo tác - nên không có tội!
Nói
tóm lại, nếu đại vương để ý một bên là có tác ý, cố
ý - một bên là không tác ý, không cố ý thì đại vương
sẽ rõ biết đâu có tội, đâu không tội, và như thế thì
đại vương sẽ không còn thắc mắc nữa.
- Vâng,
vâng! Trẫm hiểu rồi! quả là đơn giản.
* *
*
109.
Đức Thế Tôn có lãnh đạo, bảo quản giáo hội tỳ khưu
không?
- Thưa
đại đức, trẫm nhớ không lầm thì có lần Đức Thế Tôn
tâm sự với ngài Ànanda rằng: "Này Ànanda, có người nghĩ
rằng Như Lai sẽ bảo quản, lãnh đạo chư tỳ khưu Tăng hoặc
giáo hội tỳ khưu Tăng sẽ tùy thuộc vào Như Lai! Này Ànanda,
Như Lai không nghĩ rằng có người nào phải lãnh đạo giáo
hội các tỳ khưu hoặc giáo hội phải tùy thuộc một người
nào!".
- Tâu
đại vương! Đúng là Đức Đại Giác có thuyết như thế!
- Rồi
ở đâu đó, khi Đức Phật tán dương những đức tính của
vị Bồ-tát đương lai sắp thành Phật Di lặc, lại thuyết
rằng: "Này các thầy tỳ khưu! Đức Phật Di lặc đương lai
có công hạnh rất lớn, ngài bảo quản và lãnh đạo chư
tỳ khưu Tăng đông đến hằng trăm ngàn vị, còn hiện nay
Như Lai bảo quản và lãnh đạo chư tỳ khưu Tăng chỉ hằng
ngàn vị mà thôi!".
- Đúng
là có vậy, tâu đại vương!
- Tại
sao có sự mâu thuẫn thế, thưa đại đức? Một bên bảo
là không bảo quản, lãnh đạo, một bên là xác định có
bảo quản, lãnh đạo? Lời và ý sao chống chỏi nhau đến
vậy, hay ý Đức Thế Tôn nói khác, thưa đại đức?
- Đúng
là vậy đó, đại vương, lời tuyên bố trên là sự thật,
đồng thời nó có ý nghĩa khác nữa! Chính vào thời ấy,
chúng ngoại đạo tưởng rằng, Đức Thế Tôn thành lập giáo
hội Tăng-già để ngài làm giáo chủ và biến giáo hội ấy
thành sở hữu của mình. Lại nữa, Đề-bà-đạt-đa manh tâm
thay Phật lãnh đạo giáo hội và muốn giáo hội tùy thuộc
nơi ông ta!
Tâu
đại vương! Đức Đại Giác có mặt ở trên đời là vì
lợi ích cho chư thiên và loài người, ngài đã dứt bỏ trọn
vẹn mọi thằng thúc trói buộc, đã rời xa những ảo giác,
ảo tưởng về cái gọi là Ta và của Ta! Do vậy, vì nhân
duyên mà có giáo hội, vì nhân duyên mà phải bảo quản, lãnh
đạo - chứ không phải "chấp thủ", "dính mắc" vào cái giáo
hội giả danh ấy! Ngài thường dạy rằng, chính mỗi thầy
là một hòn đảo cho chính mình, là nơi nương tựa cho mình,
đừng nương tựa vào bất cứ ai, nương tựa vào những cái
ở bên ngoài mình! Ngài có mặt ở trên đời là chỉ cho tất
cả chúng sanh phải tự thành tựu thiện pháp, phải biết
rằng chúng sanh nào cũng có khả năng thành Phật. Và cho dầu
công đức ngài có lớn lao ngài cũng không nghĩ rằng ngài
đã tạo công đức cho chúng sanh, chúng sanh nương nhờ ngài!
Tâm và tuệ của bậc Đại Giác, chúng ta không thể tư lường
được. Những ý niệm Ta và của Ta chính là trọng tâm mà
Đức Thế Tôn muốn giáo huấn môn đệ phải thấy rõ, nó
hàm ẩn vi tế ở trong hai dẫn chứng của đại vương đưa
ra! Ấy là pháp ngũ uẩn trong thường ngữ đấy, tâu đại
vương!
- Đại
đức có thể cho nghe ví dụ được không?
- Thưa
vâng, ví như mặt đất lớn rộng này là nơi trú xứ, nơi
nương gá của tất cả chúng sanh. Mặt đất ấy không khởi
tâm hoan hỷ hay bất bình đối với chúng sanh nào cả. Và
mặt đất cũng không nghĩ rằng chúng sanh là của mình hay
không phải của mình. Tâm mặt đất luôn luôn trạm nhiên,
thanh tịnh và bình đẳng. Mặt đất không có ý niệm ngã
và ngã sở như thế nào thì Đức Thế Tôn cũng y như thế,
tâu đại vương!
- Xin
đại đức cho nghe thêm ví dụ nữa.
- Vâng,
ví như đám mưa lớn rơi xuống cho người, loài vật, thảo
mộc; đám mưa thật sự đã nuôi dưỡng quả đất, nuôi dưỡng
chúng sanh, nhưng đám mưa không hề có tác ý nhận lấy bất
kỳ một ân huệ nào của chúng sanh cả. Đức Thế Tôn cũng
vắng bặt tất cả mọi tạo tác phước hữu lậu và vắng
bặt tất cả mọi chấp thủ ngã và ngã sở cũng như vậy
đó, tâu đại vương!
* *
*
110.
Tại sao Đức Thế Tôn không thu thúc lục căn?
- Thưa
đại đức! Đức Thế Tôn có thuyết rằng: "Sự thu thúc tốt
lắm. Thu thúc thân, thu thúc khẩu, thu thúc ý và thu thúc tất
cả thì tốt đẹp biết bao nhiêu!" Đức Thế Tôn đã không
hết lời khen ngợi về sự thu thúc như thế, nhưng một lần
nọ, giữa đầy đủ tứ chúng và cận sự nam nữ hai hàng,
ngài đã không giữ được sự thu thúc tốt đẹp ấy.
- Đại
vương cứ nói tiếp tục.
- Vâng,
lần ấy quả là Đức Thế Tôn đã không biết mắc cỡ, đã
lò nam căn ra để khắp chư thiên và nhân loại cùng xem! Lại
nữa, ngài lại còn chơi cái trò kỳ dị là le luỡi đụng
tới lỗ mũi và hai lỗ tai, rồi lại đưa cái lưỡi lên che
kín cả vừng trán! Thưa đại đức, ngài nghĩ thế nào, một
Đức Chánh Đẳng Giác, một bậc thầy mô phạm cao quý của
trời và người mà lại làm cái việc không thích đáng, một
việc làm mà ai cũng cười chê như thế hay sao?
- Đại
vương! Đức Thế Tôn sở dĩ phải hiện tướng nam căn và
tướng lưỡi rộng dài là để tạo duyên lành cho ông bà-la-môn
Sela, cốt ý chỉ để cho ông bà-la-môn Sela thấy, chứ tứ
chúng, cận sự nam nữ hai hàng và chư thiên không thể thấy
được, tâu đại vương!
- Trẫm
không tin điều đó, đại đức!
- Rất
có lý khi đại vương không tin, vì thứ nhất là đại vương
không thể biết được tâm, tuệ cùng các khả năng thần
thông bất khả tư nghị của Phật. Thứ hai là đại vương
không biết được tâm của bà-la-môn Sela!
- Chuyện
ấy thì có liên hệ gì hở đại đức?
- Sao
lại không liên hệ! Ví như có một người bị đau khổ, đại
vương có thể nào biết được sự thọ khổ trong tâm của
người ấy ra sao không?
- Thưa,
không thể biết.
- Cũng
như vậy là việc làm của Đức Tôn Sư! Chỉ có Đức Tôn
Sư là biết rõ việc làm của Ngài, là để tạo duyên lành
cho bà-la-môn Sela. Và chính bà-la-môn Sela mới biết rằng ông
ta đã nhận được duyên lành ấy. Còn đại vương, vì không
thấy, không biết nên đại vương nghi ngờ, có đúng thế
chăng?
- Có
thể như vậy.
- Ví
như ma qủy nhập vào một bệnh nhân, chỉ có bệnh nhân ấy
mới biết rõ ma quỷ đã làm gì ở trong thân tâm mình, còn
người khác thì không thể biết được. Cũng thế là trường
hợp Đức Thế Tôn. Bà-la-môn Sela sau khi quan sát Đức Thế
Tôn bằng đôi mắt của một bậc thầy tướng pháp, ông ta
thấy Đức Thế Tôn hầu như có đủ ba mươi hai quý tướng
cùng tám mươi vẻ đẹp của bậc đại nhân - chỉ thiếu
có hai tướng là tướng nam căn mã âm tàng và tướng lưỡi
rộng dài. Đức Thế Tôn biết rằng, nếu bà-la-môn Sela thấy
thêm được hai tướng ấy, ông ta sẽ phát khởi lòng tin,
và đấy là duyên lành để cho ông ta chứng ngộ đạo quả
sau này! Vì lý do đó, Đức Thế Tôn đã dùng thần thông hiện
tướng cái bóng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài. Việc
làm ấy chỉ có Đức Thế Tôn biết và ông bà-la-môn Sela
thấy, và lợi ích của nó ra sao chỉ có bà-la-môn Sela cảm
nhận được mà thôi!
- Nếu
Đức Thế Tôn dùng thần thông thì trẫm có thể tin được.
Và ý của đại đức nói là Đức Thế Tôn đã dùng trí tuệ
thiện xảo, tạo duyên lành cho ông bà-la-môn kia sau này thấy
được giáo pháp cao siêu hay sao?
- Thưa
vâng, trí tuệ thiện xảo - là cụm từ mà đại vương đã
dùng rất hay - để chỉ cho phương tiện giáo hóa tùy căn
cơ, tùy duyên, tùy căn, tùy cảnh mà Đức Thế Tôn thường
dùng để hóa độ chúng sanh! Vậy là đại vương đã bắt
đầu hiểu rõ vấn đề.
- Chưa
đâu, xin đại đức cho nghe về cái gọi là trí tuệ thiện
xảo ấy!
- Đức
Thế Tôn là bậc có cơ trí thiện xảo vô song. Như một vị
lương y đại tài, Người biết bệnh này phải cho uống thuốc
xổ, bệnh kia phải cho thêm thuốc bổ, bệnh này nên mổ xẻ,
bệnh nọ nên dùng tí độc mới trị được độc v.v... Lại
còn phải biết gia giảm liều lượng tùy thời tiết gió mưa,
nóng lạnh; tùy thân thể người nam hay nữ, trẻ hay già, người
khỏe mạnh hay người huyết hư, suy kiệt v.v... Căn cơ trình
độ chúng sanh giữa thế gian này vốn sai khác dị đồng;
tâm bệnh, phiền não đều phức tạp, đa diện và rất khó
phân, nếu Đức Thế Tôn không dùng nhiều phương cách trị
liệu khác nhau thì sao có thể đạt hiệu quả cao, và được
gọi là bậc Toàn Tri, Diệu Giác hở đại vương?
- Vâng,
đúng thế!
- Vì
tâm bi mẫn đối với chúng sanh, vì muốn giáo hóa chúng sanh
nên Đức Thế Tôn đâu có nề hà gì trong việc hiện tướng
mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài cho người bà-la-môn
thấy? Như người đàn bà sinh con, vì mong mỏi có đứa con
thì người đàn bà đâu có mắc cỡ với bà mụ vào đỡ
đẻ, phải thế không hở đại vương?
- Thưa
vâng!
- Còn
nói về trí tuệ thiện xảo giáo hóa của Đức Thế Tôn thì
đại vương hãy thử nhớ lại trường hợp Ngài độ Đức
Nandà, trường hợp Ngài độ vị tỷ kheo ba tháng không học
thuộc được câu kệ ngôn, trường hợp Ngài độ kẻ cướp
Anguli-màla...
- Trẫm
không nhớ đâu, xin đại đức hãy cho nghe một vài câu chuyện
để trẫm được mở rộng kiến văn.
- Vâng,
đại vương có nhớ hoàng tử Nandà là em cùng cha khác mẹ
với Đức Phật, trong ngày cưới của Nandà với vị công
nương xinh đẹp, Đức Phật đã thản nhiên đến dự, rồi
sau đó dẫn hoàng tử Nandà đi xuất gia luôn! Tuy kính nể
ông anh mà xuất gia nhưng Nandà không ngớt tơ tưởng đến
hình ảnh của người vợ diễm kiều nên sinh ra tương tư
sầu khổ, tiều tụy, võ vàng! Dùng thần thông và trí tuệ
thiện xảo, Đức Phật đã dẫn Nandà lên cõi trời, cho Nandà
trông thấy những thiên nữ thiên kiều bá mị, để rồi khi
ngoảnh nhìn lại sắc đẹp của vị công nương hôn thê của
mình - Nandà chợt nảy sự so sánh và thấy vợ mình chẳng
khác gì con khỉ cái già bị lửa rừng thiêu trụi lông và
đuôi!
Đức
Phật nói: "Này Nandà! Nếu ông cố gắng tu tập thì Như lai
hứa là ông sẽ có được năm trăm vị thiên nữ như thế".
Khi
Đức Nandà dụng công tấn tu thì thường bị bạn bè, đồng
đạo chê cười vì mục đích hạ liệt; mắc cở quá, Ngài
không hướng đến năm trăm thiên nữ nữa mà tâm lại có
xu thế hướng về đạo quả cao siêu. Cuối cùng, Ngài đắc
được Thánh quả!
Đại
vương nghĩ thế nào về phương tiện giáo hóa ấy, Đức Thế
Tôn có dùng trí tuệ thiện xảo không?
- Rất
là thiện xảo!
- Vị
tỷ kheo tên là Culapanthaka, ba tháng không thuộc được câu
kệ ngôn, muốn hòan tục; Đức Phật quán căn duyên, trình
độ của ông ta nên chỉ đưa cho một cái khăn tay! Cuối cùng,
nhờ quán cái khăn thay đổi, biến dị từ sạch qua dơ...
mà vị tỷ kheo chứng ngộ được sự vô thường, đắc Thánh
quả, luôn cả lục thông!
Đại
vương thấy thế nào, trường hợp ấy nếu không phải là
trình độ của bậc Tòan Giác - thì ai có khả năng làm cho
vị tỷ kheo dốt đặc thành một vị thánh phi phàm?
- Đúng
thế!
- Lại
có trường hợp một bà-la-môn tên là Moghàràja đến hỏi
đạo Đức Thế Tôn. Cả ba lần hỏi, Đức Thế Tôn đều
im lặng không trả lời. Thế mà nhờ vậy, bà-la-môn kia tiêu
trừ được ngã chấp; bố thí xả ly tất cả tài sản, của
cải, xuất gia tỳ kheo, tiến tu định tuệ, đắc quả thánh
và thuần thục luôn cả lục thông! ...
- Trẫm
đã hiểu rồi, thưa đại đức! Vì lòng bi mẫn đối với
chúng sanh, vì để giáo hóa chúng sanh, vì muốn trao pháp mầu
cho chúng sanh mà Đức Phật đã tùy nghi sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau... Trẫm và mọi người vì quá nhiều bụi cát
trong mắt mà nghi ngờ như thế này thế kia, quả là ngu si!
Trẫm đã có được con mắt sáng rồi, thưa đại đức!
* *
*
111.
Sao Đức Thế Tôn lại có lời nói khiếm nhã?
- Thưa
đại đức! Đức Thế Tôn là đấng Toàn Thiện nên luôn luôn
có thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh và ý thiện hạnh,
phải thế chăng?
- Vâng,
đúng thế!
- Lời
Ngài nói ra bao giờ cũng dịu ngọt, hòa nhã, từ ái, làm mát
mẻ đầu óc của mọi người, làm hoan hỷ đôi tai của mọi
người, phải thế không, đại đức?
- Quả
vậy!
- Thế
tại sao khi tỳ khưu Sudinna hành dâm với người vợ cũ, Đức
Thế Tôn cấm chế điều luật bất cọng trụ, Ngài đã nguyền
rủa tỳ khưu Sudinna là người trống rỗng. Đại đức có
biết người trống rỗng là từ rất nặng lời chăng? Ấy
là lời khiếm nhã, khinh bỉ, miệt thị... mà người ta chỉ
sử dụng khi chiến tranh bằng binh khí miệng lưỡi! Do vậy,
khi nghe Đức Thế Tôn mạt sát mình bằng lời người trống
rỗng, tỳ khưu Sudinna khuôn mặt tái xanh, run rẫy, sợ hãi...
Thưa
đại đức, như thế rõ ràng Đức Thế Tôn đã ác khẩu,
đã nói lời như gai đâm trong óc, như lửa đốt trong tai,
chứ từ hòa, hiền dịu, mát mẻ ở chỗ nào? Đại đức
hãy cố biện minh cho Đức Thế Tôn thử xem?
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Bần
tăng sẽ không biện minh, chỉ nói ra sự thật cùng những
ý nghĩa từ sự thật ấy. Ngoài ra, đại vương sẽ có cơ
hội biết thêm một vài trường hợp trí tuệ thiện xảo
mà Đức Thế Tôn đã sử dụng để giáo hóa chúng sanh!
Đức
vua Mi-lan-đà cũng mỉm cười:
- Có
lẽ đại đức đang bắt đầu một cuộc biện minh thiện
xảo rồi đấy! Trẫm đang cố gắng lắng nghe!
- Vâng,
tâu đại vương! Nhóm từ Mogha purisa mà người ta dịch là
"người trống rỗng" thực ra mang ý nghĩa về giáo pháp chứ
không phải lời miệt thị, khinh bỉ như thế gian thường
hiểu. Mogha purisa là người trống rỗng, nghĩa là trong con
người của y trống rỗng tri thức, trống rỗng trình độ,
trống rỗng pháp lành, trống rỗng trí tuệ, nói chính xác
hơn là trống rỗng về sự thấy biết khổ, nguyên nhân khổ,
sự diệt khổ và con đường diệt khổ! Nói cách khác, đó
là sự trống rỗng về nhận thức tứ đế. Người nào mà
trống rỗng nhận thức về tứ đế sẽ dễ có những hành
động lầm lạc, ngu si; và dẫu cho họ có tu hành, bố thí,
làm phước - thì sự tu hành ấy cũng không đi đến đâu.
Tỳ khưu Sudinna là một con người như vậy nên Đức Thế
Tôn đã nói lên sự thật, đã ghép y vào loại người trống
rỗng, điều đó đúng với sự thật, chứ Đức Tôn Sư nào
phải ác khẩu, khiếm nhã, khinh miệt ai bao giờ!
- Rất
cao siêu là cái nghĩa ấy, nhưng thưa đại đức, mấy ai hiểu
được ý nghĩa cao siêu như đại đức! Người ta vẫn hiểu
theo thường ngữ, "người trống rỗng" là người ngu si, hèn
hạ, là người đáng phỉ nhổ, khinh bỉ mà thôi. Người cư
sĩ tại gia nói riêng, và người đời nói chung chỉ hiểu
đó là lời chưởi mắng cộc cằn, thô lỗ. Dù sự thật
như thế nào, tỳ khưu Sudinna có tội như thế nào - thì Đức
Thế Tôn cũng đã mắng chưởi người ta; ấy là một việc
làm không thích đáng, là khẩu trược hạnh, chẳng xứng phẩm
hạnh của một Đấng Toàn Thiện như Đức Thế Tôn!
- Cũng
được - đại đức Na-tiên mỉm cười - hiểu theo nghĩa thế
gian cũng được, hoặc hiểu theo nghĩa thường thường cũng
được. Ví như đại vương là một bậc minh quân thiên hạ,
đại vương thấy có một vài viên quan hành động ngu si, sai
trật, có tội. Khi thấy như vậy, đại vương có kêu những
viên quan ấy đến gần một bên rồi nói lời từ hòa, mát
mẻ, dịu ngọt, êm ái lỗ tai ... và sau đó ban thưởng nhiều
vàng bạc, phẩm vật quý giá?
- Ban
thưởng sao được, đối với những viên quan hư hỏng, tồi
tệ ấy, trẫm sẽ kêu lại mắng chửi, phạt tù hoặc phạt
cảnh cáo... để chúng sợ hãi mà trở nên người tốt hơn
- chứ ai nào lại kêu tới mà dịu ngọt, mà từ ái, mà ban
thưởng! Họa là đồ điên!
- Đức
Thế Tôn cũng xử sự tương tự như đại vương vậy! Tỳ
khưu Sudinna có tội bởi tư cách hành động sái quấy của
y. Con người y đáng bị khiển trách. Đức Thế Tôn kêu lại,
Ngài không mắng chửi, miệt thị - mà chỉ dùng từ "trống
rỗng" để nói lên sự thật, để chỉ thẳng vào sự thật
nơi con người y. Thế thôi, Đức Thế Tôn cũng chưa quát mắng,
phạt cảnh cáo hoặc phạt tù như ý nghĩ của đại vương!
Trường hợp ấy, lẽ nào Đức Thế Tôn lại nói lời hoan
hỷ đầu óc, mát mẻ đôi tai, từ hòa, ngon ngọt... đối
với tỳ khưu Sudinna, phải thế không đại vương?
- Lý
luận của đại đức không có kẻ hở, trẫm rất tín phục!
- Không
dám!
- Và
nhờ vậy, trẫm hiểu thêm một điều là, Đức Thế Tôn là
bậc Toàn Thiện, luôn luôn thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh,
ý thiện hạnh; nghĩa là thân khẩu ý của Ngài không còn bị
điều động, thúc phược bởi tham sân, phiền não. Thân khẩu
ý của Ngài đã diệt tận chúng, đã đoạn lìa chúng tận
gốc rễ. Nhưng khi giáo hóa chúng sanh thì Ngài chỉ nghĩ đến
lợi ích cho chúng sanh, tùy nghi, tùy lúc mà sử dụng thân,
khẩu, ý ấy. Cốt ý là chỉ để cho chúng sanh tự thấy lỗi
của mình, thấy rõ đâu trược, đâu thanh... để lần hồi
cải thiện bản thân cho đúng với pháp, với sự thật...
Thưa
đại đức, đến ngang đây, trẫm liên tưởng đến câu hỏi
trước, rằng Đức Phật lại tùy bịnh cho thuốc, không biết
có đúng chăng?
- Hoàn
toàn đúng, tâu đại vương! Ví như một bệnh nhân có nhiều
đàm, thầy thuốc cho uống thuốc xổ đàm là dứt bệnh. Chúng
sanh tham sân tích lũy lâu ngày, cái tâm của của chúng sanh
cũng bị uất chướng, đầy hơi... nên những loại đàm như
hận, tật, xan, hối, dục, bỏn xẻn, keo kiệt, mạn v.v...
đã trở nên trầm kha bất trị! Vì tâm bi mẫn đối với
chúng sanh, vì muốn cứu độ chúng sanh, nếu thuốc xổ kia
khó uống quá, đắng quá, chát quá... thì có vì thế mà chúng
ta nghĩ rằng Đức Thế Tôn không có lòng từ, không có lòng
bi chăng hở đại vương?
- Thật
không thể!
- Và
giả dụ Đức Thế Tôn có dùng lời pharusa - tức là hơi cộc
cằn thô lỗ - như vị thuốc quá đắng cay, cốt dứt trừ
bệnh cho chúng sanh, thì có khả thứ không hở đại vương?
- Được
lắm chứ!
- Nhưng
ở đây không như thế, Đức Thế Tôn không dùng lời pharusa
mà chỉ dùng lời hơi nghiêm khắc - thì ta có vì vậy mà bảo
rằng Đức Thế Tôn đánh mất tâm từ, tâm bi không hở đại
vương?
- Cảm
ơn đại đức, trẫm hiểu rồi.
- Ví
như sức nóng có khả năng làm cho các đồ vật dính liền
với nhau, làm cho vật mềm lại - những lời nói của Đức
Thế Tôn có tỏa ra sức nóng, thì sức nóng ấy cũng chỉ
cốt làm cho chúng sanh sợ hãi mà lìa xa ác hạnh, trược hạnh
mà thôi! Một người cha có tâm từ mẫn với con cái thì dù
có la rầy, mắng nhiếc, nghiêm khắc chăng nữa, cũng chỉ
mong cho con được nên người, phải thế không đại vương?
- Thưa
vâng.
- Thế
gian truyền rằng hễ ai uống nước trường sanh bất tử vào
thì cả thân tâm đều mát mẻ, hưởng được an vui hạnh
phúc thiên niên. Giáo pháp năng diệt khổ của Đức Thế Tôn
cũng y như thế, ai uống vào rồi thì những ác nghiệp lần
hồi nhẹ bớt, phiền não lần hồi tiêu tan... và đến lúc
nhân duyên đủ đầy thì thọ hưởng được hạnh phúc giải
thóat cuối cùng. Đấy là kết quả do giáo pháp và do tâm
bi mẫn giáo hóa độ sinh của Đức Thế Tôn. Như một cánh
hoa nhẹ nhàng rơi lên thân thể, giáo pháp và tâm bi mẫn của
Đức Thế Tôn cũng y như thế, lẽ nào lại có thể làm người
khác đau đớn được, hở đại vương?
- Vâng,
đúng thế. Trẫm rất tán dương và hoan hỷ lời giải đáp
của đại đức. Quả thật, Đức Thế Tôn xuất hiện ở
đời là vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người! Giáo pháp
và tâm bi mẫn của Ngài đủ để chứng minh cho sự thật
ấy!
- Cảm
ơn đại vương!
* *
*
112.
Cái cây có tâm ý không?
- Thưa
đại đức! Trẫm không nhớ là ở đoạn kinh nào, Đức Thế
Tôn có thuyết cho một người bà-la-môn như sau: "Này ông bà-la-môn,
ông là người có học thức, siêng năng học hỏi; ông biết
rõ cái gì tốt, cái gì xấu... thì tại sao ông tìm kiếm sự
an lạc bằng cách nói chuyện với cái cây, là vật không có
tâm ý? Việc làm ấy của ông có thích đáng không, có xứng
đáng là kẻ có trí thức không?" Thế rõ là cái cây không
có tâm ý, phải vậy không đại đức?
- Thưa
vâng!
- Thế
nhưng tại sao ở một chỗ khác, khi nói chuyện với bà-la-môn
Bhàradvàja, Đức Thế Tôn lại bảo: "Này ông bà-la-môn, hãy
đi hỏi cái cây Phandano ấy đi, cái cây ấy đáp như thế
nào thì lời của Như lai cũng như thế ấy?"
Thưa
đại đức, vậy là sao ạ? Ở trên thì Đức Thế Tôn bảo
cái cây không có tâm ý, dưới thì Đức Thế Tôn bảo là
cái cây trả lời, tức là cái cây có tâm ý? Chẳng lẽ nào
Đấng Đại Giác lại nói hai lời, trước sau bất nhất như
vậy?
- Tâu
đại vương! Đức Thế Tôn chẳng bao giờ nói hai lời, trước
sau không nhất quán đâu! Cái cây vốn không có tâm ý là sự
thật. Trường hợp sau, Đức Thế Tôn bảo cái cây biết nói
chuyện cũng là sự thật, chẳng có gì sai ngoa cả!
- Trẫm
không hiểu.
- Rất
dễ hiểu đấy, đại vương! Trên cái cây ấy Đức Thế Tôn
biết có vị thọ thần ở. Khi bà-la-môn Bhàradvàja hỏi, vị
thọ thần ấy sẽ trả lời. Người đời thường không thấy,
không biết nên truyền với nhau rằng: cái cây biết nói chuyện,
cái cây biết trả lời!
- À
ra thế!
- Đấy
cũng là cách nói bình thường trên thế gian. Ví như cái xe
chở lúa làm bằng gỗ, thế nhưng vì chở lúa nên người
ta không gọi là xe gỗ mà gọi là xe lúa, tâu đại vương!
- Đúng
thế.
- Ví
như bao vải người ta làm bằng bông vải, nhưng khi đựng
sắn, khoai người ta không còn gọi là bao vải nữa mà người
ta gọi là bao sắn, bao khoai - tâu đại vương!
- Trẫm
đã hiểu.
- Vì
người đời thường nói theo với thấy biết của họ, có
tính cách ước lệ, cốt trao đổi thông tin với nhau - nên
trong khi thuyết giảng, Đức Thế Tôn cũng nói theo cách nói
của đại chúng - để mọi người dễ lãnh hội. Điều ấy
đại vương đã lãm tường rồi chứ?
- Thưa
vâng, trẫm nhờ đại đức mà thấy thêm được một mặt
nữa về trí tuệ vô lượng của Đức Tôn Sư!
* *
*
113.
Bữa cơm của Cunda có vấn đề!
- Thưa
đại đức! Trẫm nghe rằng, người thợ rèn Cunda dâng vật
thực cho Đức Thế Tôn thọ thực lần cuối cùng trước khi
Ngài Niết bàn. Và, lần thọ thực ấy Đức Thế Tôn bị
nhiễm bệnh lỵ huyết trầm trọng gần dứt sinh mạng, có
phải thế không ạ?
- Thưa
vâng.
- Vì
thọ vật thực của Cunda dâng cúng mà Đức Thế Tôn bị nhiễm
bệnh gần dứt sanh mạng - thế mà Đức Thế Tôn lại nói
với ngài Ànanda rằng: "Ông hãy nói cho tứ chúng biết rằng,
bữa ăn của nàng Sujàtà dâng Như Lai trước khi thành tựu
đạo quả, và bữa ăn của Cunda dâng cúng trước khi Như Lai
Niết bàn; cả hai bữa ăn ấy đem lại phước báu bằng nhau,
tạo quả bằng nhau; và quý báu, cao thượng hơn tất cả sự
cúng dường khác. Nghiệp tốt của hai bữa ăn ấy sẽ trổ
quả hạnh phúc nhiều đời, tuổi thọ cao, tài sản, danh vọng
đều thịnh mãn, thường hưởng được phước báu cảnh trời
hoặc cảnh vua chúa quyền quý cao sang!"
Thưa
đại đức! Bữa cơm cúng dường của nàng Sujàtà thì có
thể, nhưng bữa cơm của Cunda thì không thể, nó tồn tại
nhiều nghi vấn, khúc mắt! Phước báu cao thượng cái kiểu
gì mà làm cho Đức Thế Tôn gần chết? Phước báu cao thượng
là do Cunda trộn lẫn thuốc độc gì chăng? Phước báu cao
thượng là vì Cunda đã làm cho nhắm lại con mắt của loài
người, của Đế Thích, của phạm thiên chăng?
Đại
đức hãy giải nghi vấn nạn ấy đi! Nếu không giải nghi
được - thì chúng ngoại đạo sẽ nói to, miệng truyền miệng,
tai truyền tai rằng: Ông Cồ Đàm già rồi mà còn tham vật
thực quá độ, đã thọ thực quá nhiều, sức nóng của tâm
tham và bao tử thiêu đốt nên ra máu gần chết!
Vậy
xin đại đức hãy sử dụng trí tuệ biện tài mà giải đáp
cho, trẫm mang ơn lắm vậy!
- Tâu
đại vương! Đức Thế Tôn vốn là Đấng Toàn Tri Diệu Giác
nên ngài biết rõ nhân, quả, duyên, báo của chúng sanh hơn
những người khác chứ?
- Thưa
vâng!
- Thế
những tin truyền của ngoại đạo có thẩm quyền về sự
thật không? Có đáng tin và nghe theo không? Có phản ánh đúng
nhân, quả, duyên, báo... như trình độ tuệ giác của đấng
Tòan Tri không?
- Thưa
không!
- Vậy
thì sự lo lắng của đại vương không có cơ sở! Vì Đức
Thế Tôn thấy rõ nhân, quả, duyên, báo... của chúng sanh nên
ngài nói rằng, bữa ăn dâng cúng của nàng Sujàtà trước
khi Như Lai thành đạo và bữa ăn dâng cúng của người thợ
rèn Cunda trước khi Như Lai Nhập Diệt; có phước báu đồng
nhau, trổ quả giống nhau và quý báu hơn tất cả sự cúng
dường khác; ấy là lời nói dựa theo sự thật, dựa theo
sự thấy, biết của Đức Tôn Sư!
- Có
thể là như thế, nhưng bữa ăn của ông Cunda, giả dụ có
trộn thuốc độc làm Đức Phật thọ bệnh... cũng phước
báu cao thượng hay sao?
- Đại
vương, Đức Thế Tôn nói "bữa ăn trước khi Như Lai thành
đạo và bữa ăn trước khi Như Lai Niết bàn" chứ không liên
hệ đến chuyện "trong bữa ăn ấy có món gì, sang hay hèn,
thượng vị hay hạ vị, cứng hoặc mềm, có chất bổ hay
có thuốc độc"!
- Xin
đại đức giảng cho nghe điều đó!
- Vâng,
ví như món ăn của nàng Sujàtà là cơm trộn sữa, món ăn
của Cunda là thịt heo rừng hay một loại nấm, món ăn của
chư thiên có mỹ vị tuyệt hảo; tức là các món ăn có ngon
dở có khác nhau nhưng quả và phước vẫn đồng đều, tâu
đại vương!
- Sao
lại có chuyện món ăn chư thiên ở đây!
- Vâng,
chuyện ấy đại vương không hiểu và cũng rất nhiều người
không hiểu, là ngày Cunda dâng cúng bữa ăn cuối; chư thiên
rất hoan hỷ nên họ đã cùng nhau dâng vật thực mỹ vị
cõi trời, trộn chung với vật thực của Cunda! Và chính chư
thiên ấy, sau này, cũng hưởng được phước quả đồng đẳng
với Cunda, với Sujàtà!
- Vâng,
nhưng cho đến giờ này trẫm vẫn chưa nghe xuôi tai về món
ăn của Cunda làm Đức Phật nhuốm bệnh!
- Nhuốm
bệnh lại là chuyện khác nữa, tâu đại vương! Nhuốm bệnh
của Đức Phật không liên hệ gì đến phước quả của Cunda
cả, tâu đại vương!
- Tại
sao lại thế được?
- Tại
vì có thân ắt có bệnh, già lão thì cơ thể suy nhược, khí
kém, huyết hư là chuyện thường. Cơ thể Đức Thế Tôn đã
già yếu, lại đã nhuốm bệnh cách đó ít lâu, sau khi an cư
mùa mưa tại vườn xoài của cô Ampapàli chứ không phải tại
bữa cơm của Cunda. Bữa cơm của Cunda chỉ như là giọt nước
cuối cùng để cho cái bát đầy nước tràn đổ ra ngoài,
đại vương có hiểu điều đó không?
- Trẫm
chưa hiểu lắm!
- Tâu
đại vương! Ví như một dòng nước chảy bình thường chỉ
tạo nên một khe rãnh nhỏ, nhưng nếu trời đổ thêm nhiều
trận mưa lớn, dòng nước sẽ chảy mạnh, khe rãnh nhỏ kia
sẽ bị xé thành rãnh lớn hơn, thành khe sâu, thành vực! Kim
thân Đức Thế Tôn đã già yếu, đã suy kiệt, lại vừa bị
bệnh chưa lành hẳn, thì bữa cơm của Cunda là nguyên nhân
cuối cùng, ví như giọt nước cuối cùng ở trên - đã làm
cho Đức Tôn Sư lâm trọng bệnh, cũng là lẽ thường thôi,
phải không đại vương?
- Thưa
vâng!
- Ví
như có đống lửa lớn, có người đem cỏ khô và bổi nhuyễn
bỏ thêm vào - thì đống lửa kia sẽ cháy dữ dội hơn bội
phần. Cũng thế, cơ thể Đức Thế Tôn đã già lão, suy yếu,
đã bệnh... ăn thêm bữa cơm của Cunda sẽ làm cho sự già
lão, suy yếu tăng thêm, bệnh tình sẽ tăng thêm, cũng là điều
dễ hiểu thôi, phải không đại vương?
- Thưa
vâng!
- Ví
như một người đau bụng từ trước, bây giờ ăn thêm ít
vật thực lạ vào, bụng lại sình chướng, đau đớn hơn
lúc trước một cách dữ dội. Nhục thân của Đức Đại
Giác cũng y như thế đó, tâu đại vương!
- Bây
giờ thì trẫm đã thông tỏ nhờ những ví dụ của đại
đức! Tuy nhiên, phước báu đồng nhau và trả quả giống
nhau, trẫm vẫn chưa hiểu lý do tại sao?
- Tâu
đại vương! Sở dĩ phước báu đồng nhau và trả quả giống
nhau là do từ hai bữa ăn ấy có liên hệ đến pháp!
- Xin
đại đức hãy giảng giải cho trẫm được thông suốt.
- Vâng,
từ bữa ăn của nàng Sujàtà, Đức Thế Tôn thành đạo, đắc
quả Chánh Đẳng Giác, ngài nhập cửu định, đi cả chiều
thuận và chiều nghịch. Từ bữa cơm của Cunda, Đức Thế
Tôn Niết bàn, ngài cũng nhập cửu định, đi từ chiều xuôi
đến chiều ngược, tâu đại vương!
- Thế
ra trong khoảng thời gian bốn mươi lăm năm hoằng hóa của
Đức Thế Tôn, ngài chưa nhập cửu định, chiều thuận và
chiều nghịch lần nào nữa hay sao?
- Thưa
không. Chỉ có hai lần ấy thôi. Nhờ phước báu đưa đến
pháp nhập định thuận, nghịch như vậy, nên nó sẽ trổ
quả cao thượng, thù thắng bằng nhau; và nó quý báu hơn bất
kỳ sự cúng dường nào trong suốt cuộc đời của Đức Thế
Tôn, tâu đại vương!
- Bây
giờ thì trẫm đã phủi được lớp bụi trong mắt mình rồi,
thưa đại đức!
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Thật
ra, mắt đại vương vốn không có bụi đâu, có sự tưởng
lầm nào đấy chăng?
- Thật
là chí lí!
Đức
vua Mi-lan-đà lòng đầy hoan hỷ.