49.
Có Phật không?
Đức
vua hỏi:
- Đại
đức đã thấy Phật chưa?
- Thưa
chưa.
- Thầy
hòa thượng, thầy tiếp dẫn của đại đức đã thấy chưa?
- Thưa,
cũng chưa thấy.
- Nếu
thế thì rõ ràng không có Phật trên đời này, vì chính mắt
đại đức không thấy mà các bậc thầy của đại đức cũng
chẳng thấy.
Ngài
Na-tiên bèn hỏi:
- Trên
núi Hy-mã có một con sông tên là Dhànadì, đại vương đã
thấy con sông đó chưa?
- Thưa
chưa.
- Thế
thì thân phụ và các bậc tiền bối của đại vương có thấy
không?
- Cũng
chưa.
- Vậy
thì rõ ràng con sông Dhànadì là không có, vì đại vương không
thấy mà các bậc tiền bối của đại vương cũng chẳng thấy.
- Thưa,
quả là có con sông Dhànadì, vì mặc dầu trẫm không thấy,
các bậc tiền bối của trẫm không thấy nhưng các sách có
ghi chép và những người đã từng thấy họ nói lại.
- Cũng
vậy, tâu đại vương ! Bần tăng dầu chưa thấy Đức Phật;
các bậc thầy của bần tăng cũng không thấy Phật; nhưng
Đức Phật vẫn có, vì kinh sách, bia ký còn ghi chép sử tích
và giáo pháp của ngài, lại còn nhiều vị Thánh tăng A-la-
hán kể lại nữa.
- Hay
lắm.
* *
*
50.
Phật là tối thượng tôn bảo
- Các
vị sa môn thường giáo giới đến đệ tử rằng: Phật là
bậc tối thượng, tối thắng, cao quý vô ngần, thế gian không
ai bì được! Điều ấy có đúng chăng?
- Tâu
đại vương, đúng thế.
- Tại
sao đại đức biết? Đại đức vừa xác nhận là chưa thấy
ngài kia mà!
- Ví
dụ như đại vương chưa từng thấy biển, nhưng có thể biết
rằng là biển sâu thẳm và rộng mênh mông chăng?
- Có
thể biết được.
- Tại
sao?
- Vì
năm con sông lớn như Gangà, Yanumà, Acìravatì, Sarabhù, Mahìnadì...
mang một lượng nước vô tận, thế mà chúng tuôn chảy ngày
đêm về biển, biển vẫn không đầy tràn. Do vậy, nên biết
biển sâu thẳm, mênh mông.
- Cũng
như thế ấy, các hàng đệ tử của Phật, nhất là các bậc
Thánh từ Dự lưu quả đến A-la-hán quả đều thành tựu
giới đức, định đức, tuệ đức; họ đông vô số, và
là những bậc đáng tôn quý, nhưng họ đều là đệ tử của
Đức Đạo Sư. Nhờ vậy nên biết Đức Phật là bậc Tối
thượng Tôn bảo.
- Thật
là chí lý!
* *
*
51.
Phật tối thắng như thế nào?
Đức
vua lại hỏi:
- Đồng
ý Phật là tối thượng, tối thắng; nhưng tối thượng, tối
thắng như thế nào mới được chứ?
- Tối
thượng, tối thắng là vượt người, là vượt trời; là
thầy của chư thiên và loài người, tâu đại vương !
- Làm
sao biết?
- Nghe
mười danh hiệu của Đức Phật mà chúng sanh đã xưng tán
là đủ biết, lại nữa, các vị Đại phạm thiên, những
bậc có uy lực nhất trong tam giới, vốn là đệ tử của
Đức Phật, đủ chứng minh điều đó, tâu đại vương .
- Ai
nói điều đó?
- Kinh
sách còn ghi lại, tâu đại vương .
- Làm
sao tin điều đó được?
- Nghe
nói đại vương rất giỏi toán học, đại vương học được
của ai?
- Có
sách còn để lại.
- Sách
ấy của ai?
- Của
nhà toán học tên là Tissa.
- Vị
ấy còn sống không?
- Đã
chết rồi.
- Cũng
như thế ấy, kinh sách còn để lại mặc dầu Đức Phật
đã nhập diệt rồi. Các vị Thánh đệ tử lưu truyền và
hiện giờ chúng ta đang học giáo pháp ấy, gồm pháp học
và chín pháp xuất thế gian [*] nên nói Đức Thế Tôn là tối
thắng, tâu đại vương
- Rất
chính xác, cảm ơn đại đức .
[*]
Bốn đạo, bốn quả và một Niết bàn.
* *
*
52.
Thấy Phật
- Pháp
mà Đức Chánh Đẳng Giác đã thuyết, pháp ấy như thế nào?
- Pháp
mà Đức Thập Lực Tuệ đã thuyết, ai nghe và thực hành đúng
đắn pháp ấy, chứng đắc pháp ấy được gọi là Thinh Văn
đệ tử của Phật . Và ai thấy pháp ấy tức là thấy Phật,
tâu đại vương!
- Đúng
như thế sao?
- Chính
Đức Thế Tôn đã thuyết: "Ai thấy pháp tức thấy Như Lai,
ai thấy Như Lai tức thấy Pháp." Và khi ấy, người ấy sẽ
không còn hoài nghi và đặt những câu hỏi về Niết bàn,
về sự hiện thân của Đức Phật, về đức hạnh, trí tuệ
và sự tối thắng, vô thượng của ngài nữa, tâu đại vương!
- Trẫm
cũng hy vọng như vậy! Nhưng đại đức chớ nên mắng xéo
trẫm như thế.
- Không
dám đâu, tâu đại vương !
* *
*
53.
Khi chết ngũ uẩn diệt theo
Đức
vua hỏi:
- Khi
một chúng sanh chết ở đây, tái sanh chỗ khác thì thức của
chúng sanh ấy có lìa khỏi ngũ uẩn này để tái sanh chăng?
- Chúng
sanh chết thì ngũ uẩn diệt và thức cũng diệt theo, tâu đại
vương .
- Thế
tại sao Đức Thế Tôn có thuyết rằng, chúng sanh hằng đi
theo nghiệp của mình và thức sẽ đi tìm cảnh thú tái sanh
theo nghiệp ấy.
- Đúng
là như thế.
- Xin
đại đức giảng cho nghe.
- Thức
tái sanh ấy được gọi là kết sanh thức, tức là thức nối
liền từ kiếp này sang kiếp kia. Khi chết, thức diệt, không
đi theo, nhưng nó tác động, chuyển hướng trong nháy mắt
là kết sanh thức đi sang cảnh giới khác liền. Ví như người
ta mồi lửa từ cây đèn này sang cây đèn khác. Lửa từ cây
đèn bên này không đi sang cây đèn bên kia như thế nào, thì
thức cũng không đi theo như thế ấy, tâu đại vương .
- Xin
cho nghe thêm ví dụ.
- Thuở
nhỏ đại vương có học toán số, văn phạm, sử truyện với
các thầy phụ đạo phải chăng?
- Đúng
thế.
- Thế
thì toán số, văn phạm, sử truyện... ấy nó có chạy ra từ
miệng, từ óc của thầy phụ đạo sang miệng và óc của
đại vương chăng?
- Không
có chạy qua.
- Và
khi đại vương học giỏi, thì kiến thức, hiểu biết của
các thầy phụ đạo chắc là cạn hết vì đã truyền sang
tất thảy cho đại vương rồi?
- Không
phải như thế. Kiến thức và hiểu biết của các vị ấy
còn y nguyên.
- Vậy
là không có cái gì đi qua cả sao?
- Không
có.
- Tái
sanh cũng y cũng như thế. Khi chết ngũ uẩn diệt, thức cũng
diệt, chẳng có thức đi theo, nhưng thức ấy tác động, hướng
tâm, trong một niệm là duyên theo cảnh giới tái sanh liền,
tâu đại vương .
- Trẫm
đã rõ.
* *
*
54.
Vedagù?
- Có
một chữ mà các bậc trí thức trong thời đại này thường
dùng là Vedagù, nghĩa đen là bậc thông hiểu, thâm đạt Phệ
đà; nghĩa bóng là người thông đạt thế gian. Từ ấy có
hàm nghĩa là người đã thông hiểu, thâm đạt hữu vi pháp
và vô vi pháp không, đại đức?
- Theo
Phật giáo thì Vedagù ấy chẳng có ý nghĩa thâm diệu gì cả,
chẳng diễn đạt được gì về giáo pháp cao siêu cả, tâu
đại vương! Tuy nhiên, vì Vedagù là thuật ngữ của đạo
bà-la-môn, đã trở thành phổ thông, nên thỉnh thoảng Đức
Thế Tôn cũng dùng từ ấy để chỉ những bậc đã thâm đạt
pháp.
- À
ra thế!
* *
*
55.
Nếu chết mà diệt hết thì thoát khỏi nghiệp
Đức
vua hỏi:
- Cho
trẫm trở lại câu hỏi trước. Đại đức nói là khi chết,
ngũ uẩn diệt, nghĩa là cả thân tâm này diệt hết, không
còn gì?
- Đúng
vậy.
- Chẳng
có bất cứ cái gì ở thân này đi sang cảnh giới tái sanh
cả?
- Tạm
thời có thể nói như vậy.
- Vậy
thì tiện lắm, khỏe lắm rồi. Nếu trên đời này mà trẫm
có làm ác, giết người vô số; khi chết, tất cả nghiệp
cũng diệt theo; sang cảnh giới mới, trẫm sẽ không bị trả
quả do ác nghiệp của mình đã tạo!
- Chẳng
phải thế đâu, đại vương! Chỉ có người chấm dứt mọi
nguyên nhân sanh tử, kẻ ấy mới chấm dứt được nghiệp;
còn tất cả mọi chúng sanh, không ai thoát được nghiệp đã
gieo!
- Thế
tại sao đại đức bảo là diệt hết!
- Đại
vương có nhớ chuyện xử phạt người trộm xoài không?
- Có
nhớ.
- Kẻ
trộm xoài ấy đã ngụy biện ra sao?
- Y
nói rằng, tôi hái trái ở trên cành còn xoài của người
trồng ở trong đất đã bị diệt mất tiêu.
- Rồi
đại vương phán tội ra sao?
- Trái
dưới đất nó diệt nhưng nó nảy mầm, lớn lên, ra hoa ra
trái. Trái mà ngươi hái cũng do từ trái dưới đất mà sanh
ra.
- Nghiệp
cũng như thế, tâu đại vương! Thân tâm tuy diệt, nhưng nghiệp
đã tạo giống như mầm cây, nó sẽ ra hoa kết trái ở thân
tâm mới. Người hái trộm xoài không thoát khỏi tội như
thế nào thì chúng sanh cũng chẳng thể tránh khỏi nghiệp
khi nó đã trổ quả, tâu đại vương !
- Hay
thay! Đại đức đúng là bậc Đại trí tuệ.
- Dạ
không dám!
* *
*
56.
Nghiệp trú ở đâu?
Đức
vua hỏi:
- Thế
thì các nghiệp thiện, ác ấy nó trú ở đâu?
- Trú
ở chỗ nào thì rất khó nói, nhưng nghiệp hằng đi theo chúng
sanh từ cảnh giới này sang cảnh giới kia như bóng với hình
vậy.
- Không
thể chỉ rõ thiện ở chỗ này hay ác ở chỗ kia sao?
- Thưa
không.
- Đại
đức có ví dụ nào về điều ấy không?
- Ví
dụ một cái cây lớn sẽ có trái, đại vương có thể nào
chỉ cho bần tăng rõ là trái nó sẽ nằm tại chỗ này, tại
chỗ kia ở trên cành hay chăng?
- Không
thể.
- Cũng
như thế ấy là các nghiệp mà chúng sanh hằng gánh chịu,
nó luân lưu từ đời này sang kiếp kia, chẳng biết thời
gian nào, chẳng biết không gian nào nó sẽ trổ quả, nhưng
chắc chắn nó sẽ trổ quả. Thiện thì an vui mà ác thì đau
khổ, tâu đại vương !
- Thật
là tuyệt!
* *
*
57.
Biết còn tái sanh?
- Người
còn tái sanh có biết chắc là mình còn tái sanh chăng, đại
đức ?
- Biết
rõ chứ.
- Làm
sao mà biết?
- Một
người làm ruộng lo cày bừa, gieo hạt, cấy mạ, bỏ phân,
chăm sóc chu đáo lại gặp mưa thuận, gió hòa nữa; thì người
ấy có biết chắc mình gặt được lúa, sẽ có cơm ăn không,
đại vương ?
- Vâng,
biết chắc.
- Người
còn tạo nghiệp thiện ác biết chắc là còn tái sanh cũng
y như thế đó, tâu đại vương !
* *
*
58.
Phật ở đâu?
- Đại
đức có nói là Phật có thật?
- Đúng
thế!
- Vậy
hiện giờ Phật ở đâu?
- Tâu
đại vương , hiện giờ Đức Thế Tôn đã tịch diệt Niết
bàn rồi, bần tăng không thể nói cho đại vương rõ là ngài
ở đâu được.
- Tại
sao?
- Ví
dụ ngọn lửa đã tắt, Đại vương có thể chỉ cho bần
tăng rõ ngọn lửa ấy đi đâu chăng?
- Không
thể.
- Đức
Thế Tôn tịch diệt Niết bàn cũng y như thế. Tuy nhiên, giáo
pháp mà Đức Thế Tôn đã thuyết, pháp ấy bần tăng có thể
chỉ cho đại vương được.
- Trẫm
hiểu rồi.
* *
*
59.
Thương yêu cái thân?
Đức
vua hỏi tiếp:
- Các
vị tỷ kheo dường như là nâng niu, chăm sóc, thương yêu cái
thân của mình quá lắm, tại sao lại như thế?
- Đại
vương nhận xét như vậy là không đúng rồi!
- Các
vị tỳ kheo từ chối khổ hạnh, không nhịn ăn, không mặc
y bó tử thi, không còn ở trong nghĩa địa, không còn ngủ
trên đất; họ ăn ngày một bữa đầy đủ do thí chủ mời
thỉnh, mặc y do thí chủ dâng cúng nên phước tướng đẹp
đẽ, da thịt hồng hào. Lại nữa, họ cạo râu tóc sạch
sẽ, móng tay, móng chân cắt sạch sẽ, ngủ có điều độ,
tắm rửa điều độ, giữ gìn từng bước đi, giữ gìn tay
chân, thân khẩu. Một đời sống như vậy không phải là bảo
trọng, thương yêu cái thân là gì?
- Đại
vương trước đây đã từng cầm quân ra trận nhiều lần,
phải chăng?
- Đúng
thế.
- Và
quân lính của đại vương có rất nhiều người bị thương,
phải chăng?
- Đúng
thế.
- Đại
vương đã làm gì với những người lính bị thương ấy?
- Dĩ
nhiên là cho họ lui tuyến sau, cử thầy thuốc chăm sóc vết
thương.
- Họ
thường chăm sóc ra sao?
- Họ
chùi rửa vết thương cẩn thận, lấy thuốc đắp lên, lấy
vải nhuyễn mịn băng bó lại.
- Người
ta làm như thế có bảo trọng, nâng niu, thương yêu vết thương
quá chăng?
- Không
phải thế, chỉ mong cho vết thương chóng lành.
- Cũng
như thế đó, các vị sa môn trong giáo pháp của Đức Thế
Tôn chăm sóc cái thân không phải là vì thương yêu, nâng niu,
bảo trọng cái thân - mà vì muốn dùng cái thân ấy để tu
tập, phát triển giới hạnh. Cho nên, có ba việc mà thế gian
lấy làm trọng là ăn, mặc, ngủ - thì các vị sa môn chỉ
cần vừa đủ, biết đủ mà thôi. Ngoài ra, các vị sa môn
còn quán tưởng khi ăn, khi mặc, chỗ ở và thuốc men. Lại
còn quán tưởng cái thân là vật bất tịnh, gồm có cửu
khiếu ngày đêm tuôn chảy các mùi hôi thối dơ uế, luôn
quán tưởng cái thân là đáng nhờm gớm v.v... Như vậy thì
có phải vì thương yêu, bảo trọng, nâng niu cái thân không
đại vương ?
- Nếu
vậy thì quá hay, cao thượng lắm!
* *
*
60.
Bậc toàn giác biết tất cả?
- Thưa
đại đức ! Đức Phật là bậc Toàn giác (Sabbannù), tức
là ngài biết tất cả (Sabbadassàvì) phải không?
- Đúng
thế, ngài là bậc Toàn giác nên ngài có tuệ biết tất cả
(Sabbannutannàna), tâu đại vương!
- Đức
Thế Tôn có tuệ biết tất cả, tại sao ngài không chế định
giới luật trước mà đợi đến khi các vị tỳ khưu có giới
phạm mới cấm chế sau?
- Đại
vương biết trên thế gian này có nhiều thầy thuốc tài giỏi
chứ?
- Có
biết, rất nhiều thầy giỏi.
- Họ
làm như thế nào? Họ chế thuốc trước cho người vô bệnh
uống hay đợi đến khi có bệnh, tùy bệnh nặng nhẹ, cân
đo liều lượng mới chế thuốc cho uống sau?
- Dĩ
nhiên pha chế thuốc phải sau chứ.
-Cũng
như thế đó, có giới phạm của chư tỳ kheo, mới chế định
giới luật, như trị bệnh cho thuốc vậy, tâu đại vương
!
- Dễ
hiểu quá, cảm ơn đại đức.
* *
*
61.
Tại sao Phật không giống cha mẹ ngài?
Đức
vua lại hỏi:
- Thưa
đại đức ! phải chăng Đức Thế Tôn có ba hai quý tướng
và tám mươi vẻ đẹp của bậc đại nhân? Ví dụ như nước
da của ngài tươi sáng như vàng ròng, có hào quang tỏa chiếu
xung quanh kim thân ngài chừng độ một sải tay?
- Đúng
như thế, tâu đại vương .
- Thế
phụ hoàng và mẫu hậu ngài có phước tướng sang cả như
vậy chăng?
- Thưa
không.
- Thật
kỳ lạ. Con không giống cha thì giống mẹ, đấy là lẽ thường
tình. Ở đây, Đức Thế Tôn có đầy đủ các phước tướng
mà phụ hoàng và mẫu hậu thì không, như vậy chứng tỏ rằng
người ta nói hơi quá chăng? Đức Phật chắc gì có các phước
tướng ấy?
Na-tiên
tỳ khưu chợt hỏi:
- Đại
vương thấy hoa sen chưa?
- Thấy
rồi.
- Hoa
sen được sanh ra từ đâu?
- Thưa,
từ bùn.
- Hoa
sen sinh ra trong bùn, lớn lên trong nước, khi trổ hoa thì sắc
hương nó giống bùn, giống nước không, đại vương ?
- Thưa
không.
- Đức
Phật cũng thế. Ngài sinh ra do phụ hoàng và mẫu hậu mà không
giống phụ hoàng và mẫu hậu vì trong tự thân ngài có mầm
mống giống khác, đó là Phật chủng. Hạt mầm Phật chủng
này được tựu thành do công năng ba la mật mà ngài đã tích
lũy trong vô lượng kiếp nên phước tướng vượt trội và
khác hẳn bất cứ ai trong thế gian, tâu đại vương!
- Cái
ví dụ về sen mọc trong bùn của đại đức thì không tương
hợp lắm nhưng mà cái "hạt mầm Phật chủng" thì thật là
hay! Cảm ơn đại đức, trẫm đã hiểu.
* *
*
62.
Thực hành phạm hạnh (Brahmacàri)
- Đức
Thế Tôn thường thực hành phạm hạnh giống như các vị
phạm thiên phải không, đại đức?
- Đúng
vậy.
- Nếu
thế thì Phật là học trò của phạm thiên rồi.
- Theo
ý của đại vương , sự giống nhau ấy là thầy trò của
nhau sao?
- Đúng
vậy.
- Bần
tăng nghe rằng đại vương có một con voi chúa mà đại vương
đặt tên là "con voi hạnh phúc" phải chăng?
- Đúng
vậy.
- Và
người ta nói rằng tiếng rống của con voi ấy giống như
tiếng kêu của loài chim Thứu trên Tuyết sơn?
- Đúng
như vậy.
- Như
thế có lẽ con voi hạnh phúc của đại vương là học trò
của loài chim Thứu kia rồi!
- Thưa,
không phải thế.
- Thế
phạm hạnh của Đức Phật sao đại vương bảo là học trò
của phạm thiên? Lại nữa, Đức Phật tự mình giác ngộ
Chánh pháp, phạm thiên không tự mình giác ngộ Chánh pháp
mà học hỏi Chánh pháp từ Đức Thế Tôn. Lẽ ra, ai thầy
ai trò đại vương phải tự biết chứ?
- Phải
! Trẫm đã đặt câu hỏi lẩm cẩm mất rồi!
- Không
phải lẩm cẩm đâu mà vì quá sắc bén đó thôi, tâu đại
vương!
Đức
vua chợt cười vui:
- Không
dám đâu, thưa đại đức !
* *
*
63.
Ai truyền cụ túc giới cho Đức Phật?
Đức
vua hỏi:
- Phải
cần có những điều kiện nào để cho những người tu lên
bậc trên được gọi là thành tựu cụ túc giới, thưa đại
đức?
- Phải
cần có đủ thầy yết ma, thầy hòa thượng tế độ và số
Tăng hội chứng minh, tâu đại vương .
- Đức
Thế Tôn có cụ túc giới không?
- Ngài
là bậc có cụ túc giới viên mãn nhất.
Đức
vua hỏi tiếp:
- Vậy
ai là thầy yết ma, thầy hòa thượng tế độ cho Đức Phật?
Và tăng chúng chứng minh có bao nhiêu vị, không thấy đâu
nói tới?
- Tâu
đại vương! Đức Thế Tôn cụ túc giới viên mãn nhất, nhưng
ngài không có ai là thầy, lấy đâu ra Tăng hội!
Đức
vua quay qua mọi người:
- Xin
chư vị có mặt đây làm chứng cho câu nói của đại đức
Na-tiên! Khi trẫm hỏi những điều kiện tựu thành cụ túc
giới, đại đức bảo là phải có đủ thầy yết ma, thầy
hòa thượng tế độ cùng số Tăng hội chứng minh. Trẫm hỏi
là Đức Thế Tôn có cụ túc giới không, đại đức bảo
là Đức Phật cụ túc giới viên mãn nhất, thế nhưng lại
bảo là cụ túc giới của Đức Phật không có yết ma, hòa
thượng, không có Tăng hội! Một vị sa môn như đại đức
tại sao trước sau bất nhất, lời nói sau phủ nhận lời
nói trước là thế nào?
Na-tiên
tỳ khưu im lặng.
Đức
vua tấn công tiếp:
- Như
thế, rõ ràng Đức Phật chưa có cụ túc giới, đang tu bậc
thấp, chưa tu lên bậc cao!
Đại
đức Na-tiên bây giờ mới hỏi:
- Đại
vương, bần tăng thấy đại vương có khí độ trầm tĩnh,
ăn nói trầm tĩnh; những cách nói thô tháo, cộc cằn, phùng
mang, trợn mắt không có nơi đại vương; đại vương cũng
không vung tay, múa chân như những kẻ say rượu... Bần tăng
không rõ tại sao đại vương lại được như thế?
- Có
gì đâu, vì trẫm thấy những điều ấy là xấu, là biểu
hiện một nhân cách tầm thường, nông nổi... nên tự chế
và bỏ dần những tính xấu ấy đi.
- Có
nhiều người cũng tự chế, cũng biết đấy là xấu nhưng
sao không bỏ được?
- Có
lẽ họ huân tập quá sâu dày, và có những tính xấu không
phải chỉ một vài kiếp mà bỏ xong!
- Đại
vương hãy nghe cho rõ đây! Giới luật, ban đầu là để ngăn
ngừa những vọng động thô tháo của thân và khẩu rồi dần
dần đi sâu vào ý. Đức Thế Tôn sở dĩ cụ túc giới viên
mãn bởi vì ngài đã rèn luyện thân khẩu ý từ vô lượng
kiếp; bởi ngài đã huân tập các công hạnh, nhất là ba mươi
ba la mật rốt ráo và viên mãn nhất. Lại nữa, ngài là bậc
Toàn Giác, có tuệ biết tất cả thế gian pháp; biết rõ cái
nào xấu cần phải ngăn ngừa, loại bỏ; biết rõ cái nào
là tốt cần phải phát huy, tăng trưởng. Mọi giới luật
cũng từ đấy mà ra. Nói cách khác, Đức Phật giác ngộ giới
luật, sống với giới luật ở trong tâm, nên những biểu
hiện ra bên ngoài của ngài về đi, đứng, nằm, ngồi, mặc
y, thọ thực, đối nhân, xử thế... đều mẫu mực, đoan
nghiêm, từ hòa, chín chắn, mô phạm... một cách tuyệt hảo
và toàn bích.
Sở
dĩ Đức Thế Tôn cụ túc giới viên mãn, không có ai là thầy,
vì ngài đã cùng với cụ túc giới ấy là một; ngài giác
ngộ cụ túc giới, đem ra giáo giới Tăng chúng, rồi Tăng
chúng y cứ vào giới luật ấy để tu tập, để đi đến
chỗ không còn lỗi lầm, không còn cả một tính xấu nhỏ.
Các tầng Thánh quả là các cấp độ tu tập dần dần đến
chỗ hoàn mỹ là vậy đó, tâu đại vương. Ví như đại vương
biết những tính xấu để tự chế... là đại vương cũng
bắt đầu đi theo con đường như Đức Phật đã đi; nhưng
lộ trình của Đức Phật sâu dày hơn, lâu xa hơn, đã vô
lượng kiếp rồi, thế thôi!
- Trẫm
đã có hiểu được chút ít, mong đại đức giảng thêm: tại
sao cụ túc giới của Đức Phật là không ai hơn được?
- Điều
này bần tăng nói rồi - là ba mươi pháp ba la mật của ngài
như bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn
nại, chơn thật, quyết định, tâm từ, tâm xả của Đức
Phật đã trọn vẹn và toàn hảo trên thế gian không ai bằng
được; nên ngài đã tự thành tựu cụ túc, nghĩa là pháp
chưa từng sanh được sanh lên, là pháp phi thường mà thế
gian chưa từng có. Không ai có đủ đức để ở trên, ở
cao hơn cụ túc giới của Đức Phật, tâu đại vương .
- Cho
xin nghe ví dụ được chăng?
- Đại
vương là bậc tối thượng trong một nước, có ai trong nước
này oai lực hơn đại vương chăng?
- Không
có.
- Nếu
có kẻ đòi ngồi lên đầu lên cổ của đại vương thì đại
vương làm sao?
- Trẫm
sẽ chém đầu.
- Cũng
như thế đó là cụ túc giới của Đức Thế Tôn. Cụ túc
giới của Đức Thế Tôn là có oai lực nhất. Ai có ý nghĩ
truyền cụ túc giới cho Đức Phật, thì kẻ đó, vì thiếu
giới đức, định đức, tuệ đức nên đầu của y sẽ bị
vỡ thành bảy mảnh.
- Vậy
là trẫm hiểu rồi, trên thế gian này chẳng có nhóm Tăng
hội nào có đủ uy đức, oai lực để truyền giới cho Đức
Thế Tôn cả.
- Không
phải vậy đâu, đại vương !
Đức
vua ngạc nhiên:
- Tại
sao?
- Có
cả thảy ba nhóm Tăng, tâu đại vương! Chính có ba nhóm Tăng
này cu hội mà truyền giới cụ túc đến cho Đức Thế Tôn
, đó là:
1.
Nhóm ba-la-mật Tăng (Paramì sangha)
2.
Nhóm thiện Tăng (Kusala sangha)
3.
Nhóm quả Tăng (Phala sangha)
Cho
nên Đức Thế Tôn có thuyết rằng: "Người nào có tâm chơn
chánh, trực hạnh, thực hiện giới, định, tuệ, đi trên
con đường bốn đạo và thành tựu bốn quả - người ấy
được Như lai gọi là Tăng"
- Hay
lắm vậy!
* *
*
64.
Nước mắt nào là thuốc? Nước mắt nào là độc dược?
- Thưa
đại đức, trẫm có nghe các bậc hiền trí nói rằng, trên
thế gian này có hai loại nước mắt. Một loại nước mắt
có khả năng trị bệnh như một liều thần dược vì nó làm
cho mát mẻ và sảng khoái tinh thần. Một loại nước mắt
khác thì như độc dược, nguy hiểm vô cùng. Việc ấy có
không, và nếu có, thì tại sao lại có chuyện lạ lùng như
thế?
- Chuyện
có đấy, tâu đại vương !
- Xin
đại đức giảng cho nghe.
- Nước
mắt do uất ức, hận thù, do sầu bi khổ ưu não...; là loại
nước mắt được xúc cảm, bị thiêu đốt bởi tham luyến,
sân hận và si mê... mà tiết ra, trào vọt ra; nước mắt ấy
chẳng khác gì độc được. Nhưng nước mắt ứa ra được
xúc cảm bởi các trạng thái tâm cao thượng, như nghe pháp,
như phỉ lạc trong thiền định, niềm hỷ hoan tinh thần, tâm
bi mẫn đối với đau khổ của chúng sanh...; thì đó là loại
nước mắt mát mẻ do hỷ, phỉ, bi mà có, nên nó đúng là
liều thần dược, tâu đại vương!
- Thật
là hay, thật là bổ ích.
* *
*
65.
Tham luyến và dứt tham luyến
- Thưa
đại đức , người còn tham luyến và người đã dứt trừ
tham luyến, hai hạng người ấy khác nhau ở chỗ nào?
- Người
còn tham luyến là người còn dính mắc, người không còn tham
luyến là người không còn dính mắc, tâu đại vương!
- Trẫm
nghĩ rằng sống trên đời này ai cũng ưa ăn sung, mặc sướng;
ai cũng muốn thọ dụng ngũ dục khả ái, khả ý; thế thì
chuyện dính mắc hoặc không dính mắc làm sao biết được,
làm sao phân biệt được?
- Đúng
là cả hai bên đều thọ dụng giống nhau, đều phải ăn,
mặc giống nhau. Nhưng với kẻ còn tham luyến thì họ đắm
say, hưởng thụ, tìm thỏa mãn trong ngũ dục, lại còn suốt
đời miệt mài đeo đuổi ngũ dục nữa. Trái lại, người
không còn tham luyến, họ ăn, mặc, ngủ rất chừng mực, điều
độ. Ăn, mặc, ngủ đối với họ chỉ để nuôi mạng sống,
duy trì thân thể để tu tập, để hành phạm hạnh. Như vậy
được gọi là dính mắc và không dính mắc, tâu đại vương
.
- Trẫm
đã lãnh hội được điều ấy.
* *
*
66.
Trí tuệ ở đâu?
- Thưa
đại đức , trí tuệ nó nằm ở đâu?
- Nó
không có trú xứ làm sao mà chỉ nó ở đâu, đại vương!
- Ngài
nói vậy e rằng không có trí tuệ rồi.
Tỳ
khưu Na-tiên bèn hỏi lại:
- Thế
gió nó ở đâu, tâu đại vương ?
- Không
thể chỉ được.
- Đại
vương nói vậy thì e rằng không có gió rồi!
Đức
vua Mi-lan-đà chợt cười ha hả:
- Đại
đức lanh trí lắm!
* *
*
67.
Luân hồi (Samsara)
- Luân
hồi là thế nào, thưa đại đức?
- Luân
hồi sinh tử là sự sống chết lui tới quẩn quanh của chúng
sanh. Nghĩa là chúng sanh sanh ra trong thế gian, rồi lại chết
trong thế gian. Chết trong thế gian, cấu sanh trở lại cũng
trong thế gian, rồi sẽ chết lại trong thế gian nữa. Và cứ
thế, tử sanh sanh tử mãi mãi đến vô cùng, chẳng bao giờ
ra khỏi thế gian được. Luân hồi tử sanh là vậy, tâu đại
vương!
- Xin
cho nghe ví dụ.
- Người
ta ăn trái xoài, lấy hạt gieo, mọc lên thành cây, có hoa,
có trái. Lấy trái ăn rồi gieo nữa, mọc lên cây khác, trái
khác. Lại ăn nữa, lại gieo nữa. Như thế, trái xoài đầu
tiên không biết đâu tìm, mà trái xoài cuối cùng cũng kéo
dài đến vô tận, không có điểm cuối. Sự sống chết, chết
sống của chúng sanh trong vòng luân hồi cũng như thế đó,
tâu đại vương!
- Trẫm
đã hiểu rồi!
* *
*
68.
Trí nhớ
- Thưa
đại đức, nếu mình nhớ lại được một việc làm từ
lâu xưa, không biết là do gì?
- Do
trí nhớ, tâu đại vương .
- Thế
mà trẫm nghĩ, nhớ được là do tâm.
- Nếu
đại vương nghĩ là do tâm, vậy có việc gì trong quá khứ
mà đại vương quên chăng?
- Có
rất nhiều chuyện đã quên.
- Đã
nhớ là do tâm mà sao lại quên? Hay khi làm những việc ấy,
đại vương làm với vô tâm ?
- Không
phải vậy, làm với hữu tâm.
- Đã
"có tâm" mà sao tâm lại không nhớ ?
Suy
nghĩ một hồi, đức vua nói:
- Hay
là ký ức chăng?
- Đúng
thế, trí nhớ là do ký ức, ký ức chính là nơi ghi chép chuyện
quá khứ giúp cho trí nhớ làm việc. Chức năng của trí nhớ
là làm công việc nhớ lại các việc trong quá khứ; còn tâm
có chức năng nhận thức, suy nghĩ, nhận biết, chụp bắt,
gom thâu mà thôi, tâu đại vương !
- Rõ
ràng lắm rồi!
* *
*
69.
Ai cũng có trí nhớ
Đức
vua hỏi tiếp :
- Trí
nhớ này chỉ có đối với người trí thức, người có học,
hay nó phổ cập cho mọi hạng người, kể cả người lao động
chân tay?
- Tất
cả mọi người trên thế gian đều có trí nhớ cả. Có trí
nhớ mới có thể học các môn học, tu tập các đề mục
thiền định, học hỏi các công nghệ hoặc sống và làm việc
trên đời này, tâu đại vương !
* *
*
70.
Có bao nhiêu loại trí nhớ
- Vậy
có bao nhiêu loại trí nhớ, thưa đại đức ?
- Có
tất cả mười bảy loại trí nhớ, tâu đại vương .
- Xin
cho nghe?
- Vâng,
xin đại vương hãy nghe:
Một
là trí nhớ phi thường.
Hai
là trí nhớ do cất đặt của cải, tài sản.
Ba
là trí nhớ các ngày trọng đại hay hạnh phúc lớn.
Thứ
tư, trí nhớ do kỷ niệm vui.
Thứ
năm, trí nhớ do từng bị khổ đau.
Thứ
sáu, trí nhớ do những hình ảnh quen thuộc.
Bảy
là trí nhớ được tái hiện do mùi vị, âm thanh v.v...
Tám,
trí nhớ do được nhắc lại.
Chín,
trí nhớ do làm dấu, dấu hiệu.
Mười,
trí nhớ do nhắc nhở nguyên nhân.
Mười
một, trí nhớ do nhìn mặt chữ.
Mười
hai, trí nhớ do ghi chép.
Mười
ba, trí nhớ lâu xa do đắc túc mạng minh.
Mười
bốn, trí nhớ do từ kinh sách, sử sách.
Mười
lăm, trí nhớ do nhớ ý nghĩa.
Mười
sáu, trí nhớ do huân tập, thói quen
Mười
bảy, trí nhớ do nhờ học thuộc lòng.
Đức
vua hỏi tiếp:
- Thế
nào là trí nhớ phi thường?
- Đây
là loại trí nhớ của ngài Ànada, chỉ nghe Đức Thế Tôn
thuyết một lần là có thể thuyết lại giống y như thế;
như sao y nguyên văn các kệ ngôn, đoản ngôn, ví dụ, so sánh
v.v... Lại còn nhớ lâu, không quên. Đây cũng là trí nhớ
của cận sự nữ Khujjutarà, chỉ nghe Đức Đạo Sư thuyết
một lần là thuyết lại được, tâu đại vương .
- Thế
nào là loại trí nhớ do cất đặt của cải tài sản?
- Đây
là loại trí nhớ của những người giàu có quen chu đáo,
cẩn thận; họ chôn dấu, cất đặt tài sản, vật quý chỗ
này chỗ kia, nhưng khi cần lấy để sử dụng, họ nhớ ngay,
tâu đại vương!
- Thế
nào là trí nhớ bởi những ngày trọng đại, hạnh phúc lớn?
- Ví
dụ như đức vua nhớ ngày đăng quang của mình, người xuất
gia nhớ ngày thọ đại giới, bậc thánh nhớ lại hạnh phúc
đầu tiên khi đắc quả Tu-đà-hườn v.v...
- Tức
là những kỷ niệm trọng đại ở trong đời, bất kể xuất
gia hay tại gia?
- Đúng
vậy.
- Nó
khác gì với loại trí nhớ thứ tư: tức là do kỷ niệm vui?
- Loại
thứ ba là kỷ niệm trọng đại, loại thứ tư là niềm vui
bình thường với huynh đệ, gia đình, bè bạn; do gặp lại
những niềm vui đã từng có trước đây mà nhớ lại.
- Còn
trí nhớ do từng bị đau khổ ?
- Là
những người từng bị đau khổ, lao lung, hoạn nạn trong khoảng
đời nào đó đã hằn sâu trong tâm khảm, bây giờ dễ dàng
nhớ lại mỗi lần hồi ức, hồi tưởng.
- Thế
nào là trí nhớ do hình ảnh quen thuộc?
- Đây
là do những người mình đã từng quen mặt như cha mẹ, anh
em, nay thấy lại hình ảnh những người hao hao như vậy nên
sực nhớ. Thảng hoặc là thấy nhà cửa, cây cối, súc vật
tương tự, nó gợi lại hình ảnh quá khứ đã từng quen biết,
tâu đại vương !
- Trẫm
đã hiểu! Ví dụ như hồi còn nhỏ, ở quê, trẫm hay thấy
loài ngựa cao thồ chở hàng, sang đây mỗi lần thấy ngựa
chở hàng liền nhớ lại quê cũ, có phải thế không?
- Đúng
vậy.
- Thế
thì trí nhớ do tái hiện mùi vị, âm thanh?
- Không
những mùi vị, âm thanh mà cả màu sắc nữa, nói rộng ra
là cả ngũ trần; nếu ta đã từng cảm xúc, thích thú từ
quá khứ, nay gặp lại màu sắc ấy, mùi vị ấy, âm thanh
ấy... thì cả một trời liên tưởng lại hiện ra mà phát
sanh trí nhớ, tâu đại vương .
- Vâng,
còn trí nhớ được nhắc lại?
- Dễ
hiểu thôi, ví dụ một bài toán mà đại vương đã quên,
sau đó nhờ người khác nhắc, đại vương làm được bài
toán ấy...
- Loại
trí nhớ thứ chín, thưa đại đức ?
- Có
những người buôn bán nhỏ, họ không biết chữ, biết viết
nhưng họ lại làm dấu bằng son, bằng than nơi tường nhà.
Nhờ làm dấu, họ biết rõ ai còn nợ bao nhiêu, ai đã trả
bao nhiêu v.v... Ví dụ những tỷ kheo làm dấu trên y của mình,
ví dụ những chủ trâu bò thường làm dấu nơi trâu, nơi
bò của mình để khỏi lẫn lộn với đàn trâu bò khác, v.v...
- Loại
trí nhớ do nhắc nhở nguyên nhân là gì?
- Đây
là trường hợp những người có trí nhưng hay quên. Khi được
nhắc nhở, không cần nhắc nhở toàn bộ sự việc, chỉ nhắc
nhở nguyên nhân là họ có thể biết, tâu đại vương!
- Cho
xin nghe ví dụ.
- Ví
dụ, người kia cầm bó đuốc trên tay đi qua một xóm nhà
lá, có người thấy vậy nói rằng: "Coi chừng bó đuốc trên
tay kìa!". Chỉ cần nghe vậy là người kia sực nhớ rằng:
"Ông A vì sơ ý nhen lửa mà làm cháy cả cánh đồng. Ông B
vì đốt đèn sơ ý mà cháy nhà, cháy lan cả xóm v.v...". Đây
là loại trí nhớ nhắc nhở nguyên nhân, tâu đại vương!
- Còn
trí nhớ do nhìn mặt chữ là vì viết hoài nên quen tay, quen
mặt chữ, sau này chỉ nhìn mặt chữ là biết viết, biết
luôn cả nghĩa của nó, phải thế chăng, đại đức?
- Đúng
vậy.
- Trí
nhớ do ghi chép là của người làm thư ký, làm sổ sách kế
toán với những con số nhỏ, con số lớn. Nhờ ghi chép vào
sổ sách cụ thể, rõ ràng mới nhớ được, phải không đại
đức? Còn trí nhớ lâu xa do đắc túc mạng minh là thế nào?
- Đây
là trí nhớ do đắc túc mạng: nhớ được một kiếp, hai
kiếp... cho đến trăm ngàn kiếp trước của mình, tâu đại
vương!
- Còn
trí nhớ có từ kinh sách, sử sách là trí nhớ do đọc kinh
sử của nhiều đời, nhiều thời đại trước viết lại,
chép lại ở trong kinh sử ấy?
- Đúng
thế, tâu đại vương!
- Còn
trí nhớ do ý nghĩa?
- Đây
là loại trí nhớ của người thông minh, sáng láng, đọc kinh
sách họ có thể quên hết câu, chữ mà chỉ nhớ ý nghĩa
của câu, chữ ấy. Khi cần viết lại câu, chữ họ sẽ từ
ý nghĩa ấy mà viết ra theo cách diễn đạt của mình.
- Thế
trí nhớ do huân tập, thói quen là gì?
- Bất
cứ môn học nào, dù trí thức hay chân tay, mà chúng ta học
mãi, làm hoài; lâu nó sẽ huân tập thành thói quen - là loại
trí nhớ này, tâu đại vương!
- Vâng,
còn trí nhớ do học thuộc lòng thì trẫm biết rồi. Vậy
là có tất cả mười bảy loại trí nhớ!
- Thật
ra, nó còn nhiều loại nữa, tâu đại vương! Nhưng mười
bảy loại trí nhớ này đủ để tóm thâu tất cả mọi loại
trí nhớ trên đời này.
- Trẫm
hiểu rồi. Vậy là quá đầy đủ. Tri ân đại đức nhiều
lắm.
* *
*
71.
Tương quan phước và tội
Đức
vua hỏi:
- Trong
hàng ngũ sa môn của Đại đức, có người thuyết rằng, có
kẻ trọn đời làm ác nhưng đến khi lâm tử, họ tưởng
nghĩ đến Phật, ân đức hoặc tướng hảo quang minh sáng
chói của ngài thì có thể sanh lên cõi trời. Điều ấy thật
khó tin! Lại nữa, các vị ấy còn thuyết rằng, người nào
đã lỡ tạo nghiệp sát sanh, không cần phải nhiều lần,
dù chỉ một lần, người ấy phải bị đọa địa ngục chẳng
sai. Điều ấy lại càng không thể tin được!
- Tâu
Đại vương! Đại vương nghĩ thế nào, nếu có người ném
một viên đá nhỏ độ bằng hột bắp hay hột tiêu xuống
mặt nước, viên đá ấy sẽ nổi hay chìm?
- Chắc
chắn phải chìm.
- Nếu
có một người chất vài trăm viên đá lớn vào một chiếc
ghe rất to, có sức chở rất lớn - thì vài trăm viên đá
ấy có chìm không, Đại vương?
- Thưa
không.
- Cũng
vậy là tội và phước cùng sự tương quan giữa phước và
tội, tâu Đại vương! Một viên đá dù bé như hạt tiêu nó
vẫn bị chìm xuống nước. Tương tự vậy, có người làm
việc ác, dù chỉ một lần, như giết sanh mạng loài hữu
tình; thì ác nghiệp ấy có sức nặng đưa chúng sanh đầu
thai vào các cảnh giới đau khổ như địa ngục, ngạ quỉ,
súc sanh, a-tu-la. Vài trăm viên đá lớn mà không chìm là nhờ
có ghe lớn chở. Cũng giống thế, một người làm việc ác
trọn đời nhưng nhờ tưởng nghĩ đến ân đức của Phật,
tâm người ấy trú vững chắc và hoan hỉ ở trong ân đức
ấy; nhờ vậy, chính nhờ thiện tâm nâng đỡ - như chiếc
ghe lớn - người ấy được sanh thiên cũng là điều hiển
nhiên thôi.
- Trẫm
đã hiểu.
- Lại
nữa, ác nghiệp nặng thường đưa chúng sanh đi xuống, thiện
nghiệp nhẹ thường đưa chúng sanh đi lên. Tuy nhiên, nếu
đã lỡ tạo ác nghiệp rồi thì phải siêng năng, tinh tấn
làm việc lành; chính nhờ việc lành, nhờ thiện nghiệp, nó
có khả năng nâng đỡ cho tất cả chúng sanh. Tuy nhiên, Đức
Thế Tôn còn dạy rằng: " Ghe, thuyền hằng chuyên chở đồ
đạc qua sông lớn, qua biển lớn; nhưng nếu ghe, thuyền ấy
chở quá mức độ cho phép, ghe thuyền ấy sẽ bị chìm. Cũng
vậy, thiện nghiệp nâng đỡ ác nghiệp, nhưng nếu ác nghiệp
quá nặng, thiện nghiệp cũng sẽ bị chìm theo! Lại nữa,
ghe thuyền ấy phải được vững chắc, kiên cố không bị
rò rỉ; nếu bị rò rỉ, thấm nước thì phải tát cạn, phải
bịt chặt các lỗ rò rỉ đi. Cũng vậy, đừng để ác nghiệp
xen vào, nếu ác nghiệp đã rò rỉ vào tâm thì phải bịt
chặt lại, tát cạn lần hồi ác nghiệp ấy đi. Nhờ vậy
ghe, thuyền thiện pháp kia sẽ đến được bến bờ an vui
nhất định."
- Trẫm
không còn nghi ngờ gì điều ấy nữa.
* *
*
72.
Diệt khổ chưa đến?
(Tương
tự câu 43)
Đức
vua hỏi:
- Thưa
đại đức, những vị sa môn của đại đức tu hành tinh tấn
là để nhằm diệt trừ những nỗi thống khổ, phải chăng?
- Đúng
thế!
- Những
cái khổ ấy từ quá khứ chăng?
- Có
thể từ quá khứ nhưng quá khứ thì đã qua rồi.
- Vị
lai chăng?
- Có
thể là vị lai nhưng vị lai cũng chưa đến.
- Thế
thì hiện tại chăng?
- Có
thể là hiện tại nhưng hiện tại không có điểm dừng, luôn
chảy trôi.
Đức
vua Mi-lan-đà nhíu mày:
- Thế
thì cái khổ ấy nó nằm ở đâu?
- Nơi
nào tương quan phát sanh, nơi nào lục căn tiếp xúc với lục
trần, nơi ấy xem chừng đau khổ sẽ hiện khởi.
- Vậy
là đau khổ ấy sẽ có mặt từ thời hiện tại đến thời
tương lai?
- Cả
quá khứ nữa, thưa đại vương!
- Như
đại đức nói là quá khứ đã qua rồi!
- Đúng
thế, nhưng nếu chúng ta hồi ức, hồi tưởng, nó sẽ có
mặt ngay tức khắc. Lại nữa, do chúng ta cố ý lưu giữ ở
trong tâm.
- Vậy
muốn nói cho chính xác thì đau khổ luôn luôn là có, sẽ có,
sẽ tới khi lục căn tiếp xúc với lục trần?
- Có
thể nói như vậy.
- Cũng
có thể nói là diệt cái khổ nhưng mà cái khổ ấy sẽ có,
sẽ đến?
- Đúng
thế.
Đức
vua Mi-lan-đà mỉm cười:
- Thế
là đại đức tu hành tinh tấn là nhằm tiêu diệt những cái
khổ chưa đến, chưa có? Thật là kỳ lạ! Cái khổ chưa phát
sanh thì làm sao mà diệt nó được.
Đại
đức Na-tiên cũng mỉm cười:
- Hiện
nay, đức vua là đấng chí tôn của một quốc gia; có khi nào
đức vua nghĩ đến trường hợp một nước cừu địch nào
đó sẽ lăm le xâm chiếm lãnh thổ của đại vương chăng?
- Có
chứ.
- Vậy
thì đức vua sẽ chờ đến lúc quân giặc công phá thành trì
mới lo tập luyện binh mã, rèn đúc khí giới hay sao?
- Không,
trẫm lo toan dự phòng những công việc ấy từ trước.
- Dự
phòng khi quân giặc chưa đến hay sao?
- Đúng
thế.
- Giặc
chưa đến mà đã lo việc diệt giặc nhỉ?
- Đúng
thế! Bởi không biết giặc sẽ đến lúc nào nên phải luôn
luôn phòng vệ, phòng thủ.
- Cũng
như thế đó, tâu đại vương! Đau khổ chưa đến nhưng thình
lình đau khổ sẽ đến như quân giặc kia vậy, đợi đến
khi đau khổ đến mới tìm cách diệt là đã muộn rồi. Các
sa môn Thích tử tu hành tinh tấn, phòng hộ các căn, giữ gìn
thu thúc thân khẩu ý, giới luật nghiêm cẩn là để phòng
thủ thành trì như thế đó, tâu đại vương!
- Trẫm
đã hiểu, nhưng cho nghe thêm ví dụ.
- Đại
vương đợi đến khi khát nước mới bảo quân binh đào giếng,
đào hồ hay sao?
- Đợi
đến khi khát mới đào giếng thì đâu có kịp.
- Cũng
thế, đợi đau khổ đến mới tìm cách diệt thì đâu còn
kịp nữa!
- Đúng
vậy, xin cho nghe ví dụ nữa.
- Đại
vương đợi đến khi đói bụng mới cho người cày ruộng,
bừa rồi gieo hạt lúa hay sao?
- Ai
lại làm thế bao giờ.
- Vậy
thì đại vương nghĩ rằng các sa môn Thích tử tu hành tinh
tấn nhằm diệt cái khổ chưa đến là chuyện không đúng
chăng?
- Hoàn
toàn chính xác.
Đại
đức Na-tiên chợt hỏi:
- Đại
vương hỏi câu này đến hai lần, tại sao vậy?
- Trẫm
muốn thử sự thấy biết nhất quán của đại đức vậy
thôi!
- Cảm
ơn đại vương!