21.
Cái gì dẫn dắt đi tái sanh?
Đức
vua hỏi:
- Cái
gì dẫn dắt chúng sanh đi tái sanh, thưa đại đức?
- Là
danh, sắc, tâu đại vương!
- Nghĩa
là danh sắc của con người cũ này sanh trở lại?
- Không
phải vậy, tâu đại vương! Chính danh sắc này làm các việc
thiện ác; và chính do năng lực của nghiệp thiện ác ấy
mà một danh sắc khác kế tục được sanh ra để nhận lãnh
quả phước hoặc tội đã tạo tác.
- Nếu
danh sắc cũ mà không sanh trở lại, thì đời này làm ác,
đời sau đâu có chịu tội báo? Và như thế có nghĩa là mình
đã thoát khỏi luân hồi sinh tử sao?
- Không
phải vậy, tâu đại vương! Chỉ có người không còn gây
nhân thiện ác mới chấm dứt tái sanh, chứ nếu còn gây nhân
thiện ác thì sẽ sanh trở lại để thọ nhận quả báo, vòng
sinh tử vì thế sẽ tiếp nối mãi không ngừng. Danh sắc cũ
và danh sắc mới cũng chính là mình đấy chứ không phải
ai khác.
- Xin
đại đức hãy cho ví dụ.
- Ví
như kẻ trộm xoài, chủ nhà bắt được quả tang dẫn đến
đại vương nhờ xử trị. Bị cáo cãi rằng: "Hạ thần không
hái xoài của người ấy. Trái xoài của anh ta trồng hồi
trước chỉ là hạt mầm ở dưới gốc còn trái mà hạ thần
hái là trái to ở trên cành. Hạ thần không có ăn trộm."
Tâu đại vương! Với lý lẽ như thế, đại vương có xử
phạt y được không?
- Thưa
đại đức, dẫu có ngụy biện hay ho, trẫm vẫn xử phạt
tên ăn trộm kia như thường!
- Sao
lại thế được? Y đâu có hái cắp trái của người kia trồng
đâu mà xử tội, hở đại vương?
- Đành
rằng thế, nhưng mà trái cây y hái trộm ấy cũng do từ trái
kia sanh ra, nó nẩy mầm, tăng trưởng mà thành. Cho nên người
kia cũng không thoát khỏi tội.
Tỳ
khưu Na-tiên gật đầu:
- Cũng
như thế đó là danh sắc cũ và danh sắc mới, tâu đại vương
. Việc tái sanh từ đời này sang đời kia cũng vậy. Các nghiệp
thiện ác trong đời giống như đã gieo hạt giống, nẩy mầm,
tăng trưởng, mai sau tất có quả báo.
Đức
vua Mi-lan-đà cũng gật đầu:
- Trẫm
đã hiểu, nhưng xin Đại đức cho một ví dụ nữa.
- Có
thể được. Ví dụ có người đốt lửa sưởi ấm bên bờ
ruộng, lửa ấy cháy lan sang một đám ruộng, người chủ
ruộng bắt dẫn đến đại vương xử trị. Người đốt lửa
tâu rằng: "Lửa của hạ thần đốt lên là lửa khác, lửa
cháy ruộng ấy là lửa khác, không phải là lửa của hạ
thần." Người kia nói lý như vậy, đại vương có bắt tội
chăng?
- Dĩ
nhiên là bị tội rồi.
- Vì
cớ sao, tâu đại vương?
- Vì
lửa cháy ruộng ấy cũng do từ lửa anh ta sưởi ấm trên
bờ ruộng mà sanh ra, nên y không thể chạy tội được.
- Cũng
vậy, ngon lửa trước là danh sắc cũ, ngọn lửa cháy ruộng
tức là danh sắc mới, có được cũng từ danh sắc cũ mà
ra.
- Xin
cho nghe một ví dụ nữa.
- Ví
như người đốt đuốc ngoài sân để ăn cơm, vô ý để tàn
lửa bay sang đống rơm, lan sang nhà hàng xóm rồi thiêu rụi
cả làng. Dân làng bắt y dẫn đến cho đại vương xử tội.
Y cãi cố rằng, lửa cháy nhà là lửa khác còn lửa của y
là ở nơi bó đuốc dùng để ăn cơm mà thôi! Đại vương
có trị tội được y chăng?
- Trị
tội được chứ!
- Vì
cớ sao?
- Vì
lửa cháy nhà có được là do từ lửa nơi bó đuốc của
y.
- Cũng
như thế đó là ngũ uẩn cũ và ngũ uẩn mới, tâu đại vương!
Ngũ uẩn này (danh sắc cũ) tuy đã tắt nhưng cũng bởi nó
mà tạo nên ngũ uẩn mới (danh sắc mới).
- Cho
nghe một ví dụ nữa.
- Có
người đàn ông nạp lễ vật dạm hỏi một cô gái còn nhỏ,
đợi lớn lên hẳn cưới, nhưng sau đó ông ta đi làm ăn xa.
Cô gái lớn lên, có người đàn ông khác đem lễ vật hậu
hỉ đến cưới đem đi. Người đàn ông đi làm ăn xa trở
về vác đơn thưa kiện. Người kia cãi rằng: "Vợ cũ của
anh chỉ là một cô bé, còn vợ của tôi đây là một thiếu
nữ." Vậy thì trường hợp ấy, đại vương xử cho ai thắng?
- Dĩ
nhiên là cho người đàn ông trước thắng kiện.
- Tại
sao lại như thế?
- Vì
thiếu nữ kia cũng từ cô bé mà trưởng thành chứ có phải
là người khác đâu.
- Cũng
như thế đó là thân này và thân kia, danh sắc cũ và danh sắc
mới, tâu đại vương!
- Đại
đức còn có ví dụ nào nữa chăng?
- Có
thể được, tâu đại vương! Ví như có người đến một
chủ nuôi bò mua sữa. Mua xong, anh ta gởi bình sữa lại hẹn
lát sau đến lấy, nhưng vì bận việc, hôm sau mới tới lấy
sữa. Nhưng sữa đã chua, anh ta bảo rằng, anh không mua sữa
chua và yêu cầu chủ bò đổi bình sữa mới. Người chủ
bò không chịu, bảo rằng sữa chua là vì để cách đêm chứ
không phải là sữa khác. Thế rồi hai người cãi vả nhau.
Trường hợp đại vương thì đại vương xử cho ai được
kiện?
- Chủ
nuôi bò.
- Tại
sao?
- Sữa
để cách đêm thì nó chua chứ có phải là sữa khác đâu.
- Danh
sắc cũ tạo nghiệp thiện ác nên có được danh sắc mới
cũng y như thế, tâu đại vương .
- Trẫm
hoàn toàn lãnh hội rồi, cảm ơn đại đức!
* *
*
22.
Không nên hỏi lại câu đã hỏi
Đức
vua Mi-lan-đà chợt hỏi:
- Đại
đức hiện nay có còn tái sanh nữa chăng?
- Câu
này, đại vương đã hỏi rồi mà bần tăng cũng đã trả
lời rồi: rằng, nếu bần tăng còn tham sân si phiền não,
còn ham muốn sự sống thì bần tăng còn tái sanh, bằng ngược
lại, bần tăng sẽ vô sanh.
Tuy
nhiên, đại vương nghĩ như thế nào, nếu có kẻ hết lòng
trung thành với đại vương, lập nhiều chiến công cho đại
vương, đã được đại vương ban thưởng trọng hậu, thế
mà người ấy cứ than phiền với người khác rằng, đại
vương chẳng hề cho y cái gì cả! Lời nói của người ấy
là lời nói đáng hay không đáng nói, hở đại vương?
- Thật
không nên nói như thế.
- Cũng
vậy là câu hỏi của đại vương! Câu hỏi ấy thật không
đáng hỏi một tí nào.
Đức
vua Mi-lan-đà cười, nói nhũn nhặn:
- Trẫm
đã lĩnh ý, cảm ơn sự quở trách khéo léo của đại đức.
* *
*
23.
Danh sắc tương quan liên hệ
Vua
hỏi:
- Đại
đức đã nói đến danh sắc, vậy cái gì là danh, cái gì là
sắc?
- Thưa,
phàm vật gì mắt thấy được, sờ nắm được, xúc chạm
được, cái ấy được gọi là sắc pháp; cái gì có tính
trừu tượng như tâm vương, tâm sở... thuộc ý niệm, tư
tưởng... thì gọi là danh pháp.
- Tại
sao các danh pháp thì có tạo tác đến đời sau còn sắc pháp
thì không?
- Chẳng
phải thế đâu, tâu đại vương! Hai pháp danh sắc này tương
quan tương liên với nhau. Danh phải nương gá vào sắc, sắc
phải nhờ danh mới hiện hữu để cấu tạo thành một sanh
mạng. Chúng luôn luôn nương nhau, không từng lìa nhau bao giờ.
- Xin
cho nghe ví dụ.
- Ví
như một cái phôi trứng, ban đầu nó trong và ướt, sau đó
nó đặc sệt, dần dần tượng hình thành quả trứng rồi
nở thành chim, thành con gà. Cái phôi thai ban đầu ấy sở
dĩ có được là do nhờ thức tái sanh (danh) nương gá vào
sắc chất (sắc) của gà mà tạo nên mầm sống. Trong mầm
sống ấy đã có danh và sắc nương gá lẫn nhau, tương quan
tương liên với nhau, đồng sanh, đồng hiện hữu đã từ
vô thỉ đến nay rồi, trải qua thời gian dài vô tận.
- Hay
lắm!
* *
*
24.
Thời gian và không còn thời gian
Đức
vua lại hỏi tiếp:
- Đại
đức vừa nói đến thời gian, rồi lại còn nói thời gian
dài vô cùng tận, điều ấy được hiểu như thế nào?
- Thưa,
thời gian thường trải qua ba thì: quá khứ, hiện tại, vị
lai. Quá khứ thì vô thỉ (không có khởi đầu) vị lai thì
vô chung (không có chấm dứt), nên nói quá khứ, vị lai đều
vô cùng, vô tận; còn hiện tại thì chỉ là cái chớp mắt
thoáng trôi, đại vương nên có ý niệm về thời gian như
vậy.
- Cả
ba thì quá khứ, hiện tại, vị lai tức là thời gian; và thời
gian này luôn luôn hiện hữu và chi phối tất cả chúng hữu
tình, có phải vậy không thưa đại đức?
- Có
khi có, có khi không, tâu đại vương!
- Trường
hợp nào không có thời gian, không còn thời gian?
- Trường
hợp những người đã dập tắt tất cả pháp hành, tức là
pháp hữu vi, tạo tác, đã chấm dứt mọi nguyên nhân sanh
tử thì không còn diễn tiến trong thời gian, không còn bị
quy định trong thời gian, không còn bị chi phối bởi thời
gian. Nói cách khác, các vị Thánh nhân đắc đạo họ sống
không có thời gian. Họ vô sanh vậy.
- Trường
hợp nào là có?
- Trường
hợp tạo tác, còn pháp hành, còn gây nhân thiện ác; nghĩa
là còn thọ nhận quả báo từ đời này sang kiếp kia là còn
thời gian. Nói cách khác, thời gian đồng nghĩa với tử sinh
và luân hồi vô tận vậy.
- Rõ
ràng lắm, tri ân đại đức.
* *
*
25.
Nguyên nhân của thời gian
Đức
vua hỏi:
- Thưa
đại đức! Phàm cái gì có quả thì phải có nhân. Vậy nguyên
nhân đâu mà có thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai?
Na-tiên
tỳ khưu nói:
- Đại
vương đặt câu hỏi hay lắm! Trước khi trả lời, đại vương
cho phép bần tăng được hỏi lại ít câu.
- Đại
đức cứ hỏi!
- Muốn
chấm dứt thời gian thì phải làm sao?
- Là
phải chấm dứt pháp hành (Sankhàra), pháp hữu vi, pháp tạo
tác, pháp cấu sanh... như đại đức đã trả lời trong câu
hỏi trước.
- Đúng
thế. Vậy muốn chấm dứt pháp hành ấy thì phải làm sao
nữa?
- Thì
phải chấm dứt vô minh, vì "vô minh" sinh "hành" như Đức Thế
Tôn đã thuyết.
- Đúng
thế. Và như vậy, câu hỏi của đại vương đã được đại
vương tự trả lời rồi.
Đức
vua cười ha hả:
- Khéo
lắm, nhưng xin đại đức giảng giải cho rõ ràng hơn một
tí.
- Có
thể được, tâu đại vương! Có thời gian là vì còn bị
pháp hành chi phối, pháp hành là do vô minh mà có. Vậy muốn
chấm dứt thời gian thì phải chấm dứt vô minh. Từ vô minh,
chúng ta sẽ lần theo tiến trình sanh tử ấy như sau:
Vô
minh là tình trạng bất giác, thiếu tỉnh thức, thiếu sáng
suốt nên khởi tâm vọng động, tạo nên hành, và hành chính
là ái, thủ, hữu quá khứ. Do hành nghiệp mà phát sanh năng
lực đưa tâm nương gá nơi bào thai [kết sanh thức (danh) +
tinh trùng và noãn châu (sắc)]. Kết hợp danh sắc hiện rõ
chức năng sáu căn để nhận thức sáu trần (lục nhập).
Khi có sáu giác quan của một chúng sanh ra đời, tùy đối
tượng nhận thức mà phát sanh nhãn xúc, nhĩ xúc...ý xúc (xúc).
Từ đây có các cảm thọ khổ ưu, hỷ lạc và xả (thọ).
Có thọ liền có tham sân si (ái). Có ái, chấp thủ, tạo nên
các thủ (dục thủ, kiến thủ, ngã thủ và giới cấm thủ).
Thủ là sức mạnh tạo thành nghiệp (hữu) thiện, bất thiện
và bất động. Hữu là lực tạo tác để trở thành (bhava),
nghĩa là tạo năng lực để hiện hữu trong tương lai. Rồi
thức tái sanh kết hợp với sắc pháp (tinh trùng + noãn châu)
tạo tác nên một chúng sanh mới, chịu sự chi phối của già
chết và sầu bi khổ ưu não...; và tiến trình của mười
hai duyên khởi này chính là tiến trình sinh tử không đầu,
không đuôi kéo dài đến vô tận, chẳng thể phanh ra đầu
mối. Tìm kiếm nguồn gốc đầu tiên của chúng sanh, của
thời gian là một việc làm không thể được, tâu đại vương!
- Cảm
ơn đại đức đã giảng giải rất tận tường.
* *
*
26.
Thời gian tối sơ?
Đức
vua hỏi tiếp:
- Đại
đức vừa nói là không thể phanh ra nguồn gốc của thời
gian, tức là không thể tìm ra thời gian tối sơ. Điều ấy
trẫm hiểu, nhưng trẫm muốn nghe ví dụ.
- Ví
dụ như trái cây. Trái chín rụng, hạt rơi xuống thành cây
khác, trái khác; và cứ thế tiếp tục đến vô cùng, vô tận.
Đại vương có thể nào tìm ra gốc nguồn của trái cây kia
chăng?
- Không
thể được.
- Cũng
thế là thời gian tối sơ của chúng sanh, chẳng thể tìm được,
tâu đại vương.
- Cho
nghe ví dụ khác.
- Ví
dụ trứng gà ấp nở ra gà. Gà con thành gà mẹ, lại đẻ
trứng, ấp nở ra bầy gà con. Gà con lớn lên đẻ trứng,
ấp nở ra gà nữa và cứ thế tiếp tục đến vô cùng vô
tận. Đại vương có thể nào tìm ra gà sinh trứng hay trứng
sinh gà? Có thể tìm ra nguồn gốc của con gà kia chăng?
- Không
thể được.
- Cũng
thế là thời gian tối sơ của chúng sanh, chẳng thể phanh
tìm được, tâu đại vương.
- Cho
nghe ví dụ nữa.
Na-tiên
tỳ khưu vẽ theo cái hình bánh xe rồi nói:
- Đại
vương có thể chỉ cho bần tăng thấy chỗ nào là điểm khởi
đầu trên cái hình bánh xe này chăng?
- Thưa,
chẳng thể.
- Cũng
như thế đó là điểm bắt đầu của chúng sanh, chẳng thể
tìm ra, tâu đại vương! Trong vòng tử sanh, sanh tử ấy, giống
như bánh xe này, không đầu không đuôi; chúng sanh lui tới,
vần xoay mãi mãi không ngừng. Đức Thế Tôn đã giải thích
về điều ấy như sau:
"Khi
có mắt và có sắc thì có nhãn xúc. Có nhãn xúc liền có
các cảm thọ. Khổ, lạc và xả. Có các cảm thọ liền có
ái phát sanh. Có ái liền có thủ. Có thủ liền có hữu, tức
là tạo nghiệp. Có tạo nghiệp nên phải sanh trở lại để
nhận quả báo.
Khi
có tai và có âm thanh thì có nhĩ xúc. Có nhĩ xúc liền có
các cảm thọ. Có thọ liền có ái, có thủ, có hữu, tức
là tạo nghiệp thiện ác hoặc bất động. Có tạo nghiệp
nên phải sanh trở lại để thọ nhận quả báo. Cũng giống
như thế với mũi và hương, lưỡi và vị, thân và vật xúc
chạm, ý và pháp. Tất cả chúng là những tác động, là nhân,
là duyên đưa đến tái sanh, tương tục vần xoay không gián
đoạn, vô thỉ, vô chung".
Như
thế thì làm thế nào tìm ra được đầu mối của sinh tử,
thời gian tối sơ, nguyên nhân đầu tiên của chúng sanh được,
hở đại vương?
- Thưa,
quả vậy.
* *
*
27.
Có rồi không, Không rồi có!
Đức
vua hỏi:
- Thời
gian tối sơ không thể phăng tìm được, điều đó thì trẫm
lãnh hội rồi, nhưng thời gian tối sơ ấy có thể nào khi
có, khi không chăng, hở đại đức?
- Đúng
là như thế, tâu đại vương!
- Xin
đại đức nói cho rõ hơn.
- Ví
như có một giống cây, chưa mọc thì chưa có, đến khi người
ta đem giống ấy, trồng tỉa nên cây, hoa, lá, trái. Như thế
được hiểu trước đây là không mà bây giờ là có vậy,
tâu đại vương!
- Thế
còn từ có mà trở thành không?
- Cũng
tương tự thế, có một giống cây trước đây mọc đầy
rừng, đầy đất, không biết có mặt từ bao giờ nhưng bây
giờ thì hoàn toàn mất hẳn, diệt hẳn. Vậy là có mà trở
thành không đấy, tâu đại vương!
* *
*
28.
Pháp hành thì sao?
Đức
vua hỏi:
- Thế
còn pháp hành (Sankhàra) thì sao, hở đại đức?
- Pháp
hành, pháp hữu vi đã sanh rồi thì nó cứ sanh mãi, tương
tục mãi như thế.
- Xin
đại đức giảng cho rõ.
- Pháp
hành này phải được hiểu là những pháp cấu tạo ở trong
tâm. Đại vương đã từng hiểu mười hai duyên khởi rồi
thì cứ từ cái duyên khởi ấy mà suy ra. Khi có lục căn,
lục trần thì có lục xúc. Có xúc thì có thọ, ái, hữu,
sinh, lão tử, sầu bi khổ ưu não. Khi thọ mạng chấm dứt
thì nghiệp lực tạo sức mạnh cho thức tái sanh đi tìm cảnh
giới mới. Như thế thì pháp hành (Ai, thủ, hữu) đã sanh
rồi thì sanh sanh đến vô tận theo vòng luân hồi tử sanh
của chúng sanh vậy.
- Trẫm
hiểu. Nhưng đại đức có nói là có thể chấm dứt pháp
hành ấy, nghĩa là có thể từ có mà trở thành không?
- Đúng
thế.
- Xin
đại đức giảng giải.
- Điều
ấy đại vương hiểu rồi mà! Nghĩa là nếu không có vô minh
thì không có hành, chấm dứt hành thì không có thức đi tìm
cảnh thú tái sanh để cấu tạo nên danh sắc mới... cứ thế
mà suy diễn ra, nếu mười hai duyên khởi không còn tồn tục
được thì vòng luân hồi tử sanh ấy sẽ chấm dứt. Pháp
hành từ có mà trở thành không là vậy, tâu đại vương.
- Hay
vậy thay!
* *
*
29.
Tự nhiên sanh?
- Thế
có vật gì mà do tự nhiên sanh, hở đại đức?
- Không
có vật gì trên thế gian này mà do tự nhiên sanh cả, tâu
đại vương .
- Thế
sao đại đức bảo có vật từ không mà thành có?
Tỳ
khưu Na-tiên mỉm cười:
- Trước
đây khi dẫn quân đi chinh chiến, đại vương có ở trong cung
điện này chưa?
- Thuở
ấy chưa có cung điện này!
- Rồi
sau sao lại có?
- Khi
lập kinh đô, trẫm mới làm cung điện.
- Đại
vương làm như thế nào?
- Trẫm
cho người san bằng đất, chở đá sỏi từ nơi khác đến,
cho lấy gỗ trong rừng và để thợ mộc làm cột, kèo, đòn
tay, chạm trổ v.v... Sau đó làm thành quách, cửa ngõ, lối
đi, trồng cây, đào ao hồ, nuôi chim, thả ca v.v...
- Thế
thì cung điện này đâu phải do tự nhiên sanh mà do chính công
kiến tạo, tập kết vật liệu, sức người làm, đá, sỏi,
vôi, đường v.v... Tất cả chúng kết hợp lại mới thành
cung điện, phải thế chăng?
- Đúng
như thế.
- Cũng
thế, không có thể trở thành có, nhưng có ấy không phải
tự nhiên sanh mà do sự cấu tạo, kết hợp nhiều yếu tố,
nhiều phụ liệu khác mà thành, tâu đại vương .
- Xin
cho ví dụ.
- Ví
như hạt lúa có thể trở thành cây lúa không, hở đại vương,
nếu như nó không có đất, nước, ánh sáng, phân, công chăm
sóc, thời gian và ý niệm trồng lúa của người chủ ruộng?
- Không
thể thành cây lúa được nếu thiếu các yếu tố, điều
kiện đi sau.
- Cũng
như thế, chẳng có vật gì do tự nhiên sanh, do tự nó sanh
mà do sự kết hợp nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khác,
tâu đại vương .
- Xin
cho ví dụ nữa.
- Ví
như đất sét có thể trở thành đồ gốm không, hở đại
vương?
- Không
thể được. Đất sét mang về phải lấy nước nhồi cho nhuyễn,
xong rồi phải nặn thành cái nồi, niêu, chén, bát v.v...; kế
nữa phải có củi, lửa, bỏ vào lò nung cho chín v.v...Ây mới
thành đồ gốm dùng được.
- Thế
rõ ràng là nó chẳng do tự nhiên sanh mà do sự kết hợp của
nhiều yếu tố, nhiều điều kiện vậy.
- Đại
đức còn ví dụ nào nữa chăng?
- Có
thể được. Ví dụ như người gãy đàn. Nếu không có dây,
phím, da bịt, thùng gỗ v.v... thì âm thanh có thể vang tiếng
được không, tâu đại vương?
- Cây
đàn, âm thanh như thế cũng không phải tự nhiên sanh, nó cần
nhiều yếu tố và điều kiện vậy.
- Có
người muốn cưa cây lấy lửa, nhưng y không có hai thanh gỗ,
không có bùi nhùi, không có cả người cưa thì có thể tạo
ra lửa không hở đại vương?
- Thưa
không.
- Ví
như người có kính thủy tinh, có ánh nắng mặt trời, lại
có người cầm kính ấy chiếu lên đống cỏ khô, rơm khô...
thì có thể tạo ra lửa được chăng?
- Thưa
được.
- Ví
như có gương soi, có người đứng trước gương, có ánh sáng
thì có hình người hiện ra trong gương không, tâu đại vương?
- Thưa
có.
- Hết
thảy mọi sự mọi vật trong thế gian đều y như thế, chẳng
có cái gì do tự nhiên sanh, phải cần các yếu tố, điều
kiện, kết hợp lại mà thành. Nói cách khác, vạn pháp, muôn
loài đều do nhân duyên sanh vậy, tâu đại vương!
- Hay
lắm! Trẫm đã hoàn toàn lãnh hội.
* *
*
30.
Tự ngã trong thân?
Đức
vua hỏi:
- Tất
cả mọi nhận thức, hiểu biết dường như là do một tự
ngã ở trong thân, phải vậy không, đại đức?
- Đại
vương hiểu điều đó như thế nào, có thể nói rộng ra được
chăng?
- Trẫm
nhận thấy thế này. Tất cả chúng sanh có sanh mạng, phải
có một chủ thể nhận thức nương gá ở trong thân, nhờ
thế mới có thể thấy sắc bằng mắt, nghe tiếng bằng tai,
ngửi hương bằng mũi v.v...Nghĩa là tự ngã ấy có thể thấy
được ngoại cảnh bên ngoài qua sáu cửa sổ giác quan vậy.
Ví như chúng ta đang ngồi trong bảo điện này, nếu muốn
nhìn thấy cảnh phía đông, ta mở cửa phía đông, muốn nhìn
cảnh phía tây, phía nam, phía bắc thì ta mở cửa phía tây,
phía nam, phía bắc. Mở bốn cửa sổ ở bốn hướng ta nhìn
thấy ngoại vật như thế nào, thì tự ngã ở trong thân nhìn
thấy ngoại vật qua sáu giác quan cũng y như thế. Đấy là
ví dụ của trẫm, không biết có đúng chăng?
- Bần
tăng đã hiểu. Như bốn cửa sổ ở bốn hướng này, ta muốn
xem hướng nào thì mở hướng ấy?
- Đúng
thế.
- Nếu
tự ngã muốn thấy sắc thì nó mở nhãn môn để thấy sắc?
- Đúng
thế.
- Vậy
thì tự ngã ấy có thể thấy sắc bằng nhĩ, tỷ, thiệt,
thân và ý môn được chăng?
- Không
thể.
- Có
thể nghe âm thanh bằng mắt, mũi, lưỡi, thân và ý chăng?
- Không
thể.
- Có
thể ngửi được mùi hương bằng mắt, tai, lưỡi, thân và
ý chăng?
- Không
thể.
- Tương
tự như thế, nếm vị bằng mắt, tai, thân và ý? Xúc chạm
bằng mắt, tai, mũi, lưỡi và ý? Và suy nghĩ bằng mắt, tai,
mũi, lưỡi và thân?
- Không
thể.
- Vậy
tại sao đại vương lại bảo là muốn thấy hướng nào thì
mở cửa hướng ấy bằng ví dụ những cửa sổ? Sáu giác
quan mà ví dụ là sáu cửa sổ, ấy là thí dụ không thích
đáng, không tương hợp chút nào cả. Đại vương có thấy
như thế chăng?
- Trẫm
đã thấy.
- Các
cửa sổ ở cung điện này nếu được mở rộng ra thì ta
có thể thấy ngoại cảnh xa rộng hơn. Nhưng mắt mà được
khoét rộng ra thì có thể thấy ngoại cảnh xa rộng hơn chăng?
- Không
thể.
- Tương
tự như thế ấy. Nếu tai, mũi, lưỡi, thân, ý mở rộng ra
thì ta có thể nào nghe xa rộng , ngửi xa rộng, nếm xa rộng,
xúc xa rộng, suy nghĩ xa rộng được chăng?
- Thật
không thể được.
- Như
vậy chứng tỏ luận cứ của đại vương là không tương
hợp, không thích đáng. Lại nữa, ví dụ đại vương đứng
ở cổng thành bố thí cho dân nghèo, một người ở hướng
đông đến, nhận vật bố thí rồi đi, đại vương có thấy
chăng?
- Dĩ
nhiên là trẫm thấy.
- Một
người ở hướng tây lại, nhận của bố thí xong, người
ấy không đi mà đứng yên trước mặt đại vương, thế đại
vương có thấy chăng?
- Có
thấy.
- Tương
tự như vậy, khi lưỡi nếm vị, cái lưỡi biết rõ ấy là
vị chua, ngọt, béo, bùi chăng?
- Dĩ
nhiên là biết.
- Nhưng
nếu cái vị ấy chưa đến lưỡi, còn đứng ở ngoài lưỡi,
thì đại vương có thể nào biết nó là đắng, chát, ngọt,
bùi không?
- Không
thể biết được.
- Như
vậy, rõ ràng là lối ví dụ so sánh của đại vương là không
tương hợp, không thích đáng. Lại nữa, nếu ta đem mật ong
đổ đầy trong lu lớn, bắt một người nằm vào trong và
bịt kín miệng người đó lại, thì y có thể nào biết được
cái ngọt của mật chăng?
- Không
nếm thì làm sao biết được.
- Như
vậy, thêm một lần nữa, đại vương biết rõ đâu là không
tương hợp, không thích đáng.
Đức
vua Mi-lan-đà suy nghĩ hồi lâu:
- Bây
giờ trẫm đã thấy rõ sự kém cỏi, nông cạn của mình,
xin đại đức giảng giải cặn kẽ cho trẫm nghe thêm.
Na-tiên
tỳ khưu bèn thuyết như sau:
- Tâu
đại vương! Con mắt tiếp xúc với sắc nhưng chưa chắc con
mắt ấy biết rõ sắc ấy là xanh, đỏ, trắng, vàng đâu,
nếu không có nhãn thức. Và nhãn thức ấy cũng không phải
là một tự ngã, một chủ thể. Nhãn thức sanh lên khi căn
xúc với trần, nhưng nó không phải sanh khởi một mình, nó
có những tâm sở đồng sanh khác, gọi là biến hành tâm sở:
xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng căn.
-
xúc là xúc chạm trần cảnh,
-
tác ý là khởi ý đến trần cảnh,
-
thọ là cảm giác,
-
tưởng là tri giác, nhận biết,
-
tư là tư tác do tham sân hoặc bất động,
-
nhất tâm làm cho các tâm sở được liên tục
-
mạng căn duy trì mạng sống của một tiến trình tâm.
Và
nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức cũng
được hiểu như thế. Tất cả căn, trần, thức, và những
tâm sở đồng sanh ấy chúng tương quan tương duyên với nhau.
Như vậy thì thức, cái nhận biết, đâu phải là chủ thể,
đâu phải là cái độc lập, đâu phải là tự ngã thường
hằng nương gá ở trong thân? Đại vương có biết rằng luận
cứ của đại vương đã rơi vào thường kiến, một tà kiến
nguy hiểm cho những người học Phật chăng?
- Cảm
ơn đại đức, cái tự ngã ấy chỉ là ảo giác, ảo tưởng,
trẫm đã rõ rồi.
* *
*
31.
Nhãn thức và tâm thức (Cakkhu vinnana - Mano vinnana)
- Bạch
đại đức! Khi nhãn thức sanh khởi thì tâm thức có cùng
sanh khởi không?
- Thưa,
có.
- Vậy
cái nào trước, cái nào sau?
- Nhãn
thức sanh trước, tâm thức sanh sau, tâu đại vương!
- Điều
này trẫm nghi ngờ lắm! Phải chăng nhãn thức và tâm thức
quen biết nhau, hoặc giả nhãn thức có nói với tâm thức
rằng: "Nếu tôi sanh tại chỗ nào thì anh cũng sanh tại chỗ
ấy." Hoặc tâm thức nói với nhãn thức rằng: "Anh hãy sanh
trước đi, tôi sẽ nương theo anh mà sanh sau."
- Chúng
không giao hẹn với nhau như thế đâu, tâu đại vương.
- Nếu
không có sự kết ước của hai bên, sao anh thì đi trước,
anh thì đi sau luôn luôn như thế được?
- Ây
là bởi có bốn tính chất sau đây khiến chúng cùng sanh một
chỗ, đi liền nhau chứ không có ký kết, giao ước gì hết.
Một
là hành trình theo chỗ thấp, xuôi chiều.
Hai
là hành trình theo một hướng, một cửa.
Ba
là hành trình theo dấu cũ, đường cũ.
Bốn
là hành trình theo thói quen, theo huân tập, theo quán tính.
- Hành
trình theo chỗ thấp, xuôi chiều là như thế nào, hở đại
đức?
- Nước
mưa trên trời rơi xuống, nó chảy về đâu, hở đại vương?
- Chảy
vào chỗ đất thấp.
- Nếu
có đám mưa khác nữa?
- Cũng
chảy vào chỗ đất thấp ấy thôi.
- Thế
trận mưa trước có nói với trận mưa sau rằng: "Hễ tôi
chảy chỗ nào thì anh chảy chỗ đó." Hoặc đám mưa sau nói
với đám mưa trước: " Chỗ nào anh chảy xuống thì chỗ ấy
tôi sẽ chảy theo" không?
- Chúng
không hề giao ước như vậy. Nước chảy xuống chỗ thấp
là chuyện tự nhiên thôi.
- Nhãn
thức sanh khởi trước, tâm thức sanh khởi sau cũng y như thế,
chẳng giao ước gì cả, tâu đại vương .
- Trẫm
đã hiểu ví dụ ấy. Còn hành trình theo một hướng, một
cửa là thế nào?
- Ví
như có một tòa trấn thành tường cao, hào sâu nhưng vào ra
chỉ có một hướng, một cổng thành duy nhất. Vậy người
bên trong muốn đi ra bên ngoài phải làm thế nào, đại vương?
- Phải
đi ra bằng cổng lớn.
- Thế
người thứ hai, thứ ba?
- Cũng
từ cổng ấy mà ra.
- Những
người ấy có hò hẹn gì với nhau chăng mà họ đi ra cùng
một cửa?
- Thưa
không.
- Người
ra trước có nói với người ra sau, người ra sau có nói gì
với người ra trước mà họ lại cùng đi chung một hướng,
một cửa như thế?
- Thưa
không.
- Nhãn
thức đi trước và tâm thức đi sau cùng ra một hướng, một
cửa là thế đó, tâu đại vương .
- Thế
còn hành trình theo dấu cũ, đường cũ là sao?
- Ví
như có chiếc xe đi qua cánh rừng để lại một dấu vết,
chiếc xe theo sau có theo dấu vết đó mà đi hay tự mở con
đường mới?
- Dĩ
nhiên là theo dấu vết, theo đường cũ mà đi.
- Họ
có hẹn ước gì với nhau chăng?
- Thưa
không.
- Nhãn
thức và tâm thức cũng thường theo dấu vết cũ, đường
cũ mà sanh khởi y như thế đó, tâu đại vương .
- Tính
chất thứ tư của chúng là theo thói quen, huân tập, quán tính
là thế nào, đại đức?
- Ví
như các môn học tập viết, làm toán v.v... ban đầu ai cũng
vụng về, chậm chạp. Nhưng về sau do sự cố gắng, tập
luyện, làm nhiều, viết quen tay...; từ vụng về, chậm chạp
đã trở nên mau lẹ, nhậm lẹ, tính nhanh, viết thạo. Đấy
chính là thói quen, là huân tập, lâu ngày trở thành quán tính,
như phản xạ tự nhiên vậy. Nhãn thức và tâm thức cùng
sanh khởi trước sau cũng mau lẹ, theo thói quen, theo quán tính
như vậy đó, tâu đại vương!
- Trẫm
đã hiểu.
- Không
những nhãn thức mà cho chí nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức và ý thức cũng phải được hiểu như trên, cũng
có đầy đủ những tính chất nêu trên, tâu đại vương .
- Trẫm
đã hết nghi về điều ấy rồi.
* *
*
32.
Hành tướng của Xúc (Phassalakkhana)
Đức
vua Mi-lan-đà hỏi tiếp:
- Còn
xúc tâm sở thì thế nào? Khi nhãn thức sanh khởi thì xúc
tâm sở có cùng sanh khởi chăng?
- Cũng
cùng sanh khởi. Khi nhãn thức sanh, không phải chỉ có xúc
tâm sở cùng sanh mà những tâm sở khác cùng biến hành sanh
khởi: thọ, tưởng, tư, nhất tâm v.v... như bần tăng đã
trình bày cho đại vương nghe rồi.
- Đúng
vậy, trẫm có nghe rồi nhưng chưa nắm vững lắm. Đại đức
hãy giảng cho trẫm nghe về hành tướng của xúc ấy là thế
nào?
- Xúc
là đụng chạm, chạm nhau, giao nhau...
- Đại
đức cho xin ví dụ?
- Như
hai con dê đấu nhau, hai cái sừng của chúng đụng nhau. Cái
sừng của con này là nhãn căn, sừng của con kia là sắc trần;
và chỗ mà hai cái sừng của chúng chạm nhau chính là xúc.
Ví như hai bàn tay vỗ vào nhau, chỗ mà hai bàn tay chạm vào
nhau là xúc. Ví như cái nồi mới chồng lên cái nồi cũ, chỗ
tiếp giáp hai cái nồi là xúc.
Nói
tóm lại, con mắt giao tiếp với sắc thì có nhãn xúc. Lỗ
tai giao tiếp với âm thanh thì có nhĩ xúc. Cái mũi giao tiếp
với mùi hương thì có tỷ xúc. Cái lưỡi giao tiếp với vị
thì có thiệt xúc. Cái thân giao tiếp với vật trơn, nhám
thì có thân xúc. Cái ý giao tiếp với pháp thì có ý xúc.
Xúc là cái giao tiếp, là cái gạch nối, là cái va chạm, cái
đụng nhau giữa căn và trần, tâu đại vương .
- Hay
lắm. Thật rõ ràng.
* *
*
33.
Hành tướng của Thọ (Vedanalakkhana)
- Thế
Thọ tâm sở có hành tướng thế nào, ra sao, để dễ nhận
biết, thưa đại đức?
- Khi
nào có khổ, lạc, xả, thì đấy được gọi là Thọ tâm
sở, tâu đại vương .
- Xin
cho nghe ví dụ.
- Ví
như đại đức thuở mới lập quốc, đã ban thưởng trọng
hậu cho các bậc công thần, tức là những người đã từng
xông pha trận mạc lập được nhiều chiến công hiển hách
cho đại vương. Vị công thần ấy sau khi được đại vương
ban cho chức vị, phẩm hàm, bổng lộc nên y đã sống một
đời vinh hoa phú quý. Sống đời vinh hoa phú quý, được cảm
thọ rất nhiều lạc thú về ngũ dục - chính là Thọ đấy,
tâu đại vương!
Lại
nữa, ví như có người, thuở bình sanh ưa làm việc lành,
tích lũy điều hành, biết giữ giới, biết bố thí, sau khi
thân hoại mạng chung được sanh lên cõi trời, cảm thọ năm
loại dục lạc đó là thiên sắc, thiên thanh, thiên hương
v.v...Cảm thọ năm loại thiên lạc ấy là thọ đấy, tâu
đại vương!
- Cảm
ơn đại đức .
* *
*
34.
Hành tướng của Tưởng (Sannalakkhana)
- Vậy
thì Tưởng tâm sở? Đức vua hỏi.
- Là
ghi nhận, chụp bắt cái tướng tổng quát của vật, ấy là
Tưởng, tâu đại vương .
- Xin
cho ví dụ.
- Ví
như đại vương có một vị quan giữ kho siêng năng và cần
mẫn trong bổn phận của mình. Tất cả những tài sản quý
giá, ngọc ngà, châu báu... y đều nắm vững số lượng một
cách tổng quát... chính xác, rõ ràng và không bao giờ nhầm
lẫn. Nhận biết, chụp bắt, ghi nhận cái tổng quát ấy là
chức năng của Tưởng, tức là tri giác đấy, tâu đại vương!
* *
*
35.
Hành tướng của Tác Ý (Cetanalakkhana)
- Đại
đức cho biết luôn về Tác ý tâm sở?
- Tác
ý là khởi ý, khởi ý làm việc gì đó cho mình (tự tác)
hoặc cho người (tha tác).
- Trẫm
muốn nghe thí dụ.
- Ví
như có người chế tạo độc dược, tự mình uống rồi ép
người khác uống theo. Như vậy, không những tự làm khổ
mình mà còn làm khổ kẻ khác.
Trong
thế gian này, có một số người tác ý làm điều ác, xui
khiến kẻ khác làm điều ác; đến khi chấm dứt thọ mạng,
họ đọa vào bốn đường khổ và những người làm ác kia
cũng rơi vào bốn đường khổ giống nhau.
Lại
nữa, ví như có người chế tạo một loại nước ngọt, ngon
ngọt bổ dưỡng, tự mình uống rồi mời người khác cùng
uống. Uống xong, tự mình cảm nghe sảng khoái, thích thú mà
người được mời uống cũng cảm thấy thích thú, sảng khoái.
Cũng vậy, có người làm việc lành, khuyến hóa kẻ khác làm
việc lành; đến khi chấm dứt thọ mạng, cả mình và người
đều được hóa sanh đến cảnh trời an vui, sung sướng.
Như
vậy, Tác ý này chính là nghiệp đấy, tâu đại vương!
- Hay
lắm.
* *
*
36.
Hành tướng của Thức (Vinnanalakkhana)
- Còn
Thức? Đức vua hỏi - hành tướng và chức năng của nó là
thế nào, đại đức?
- Thức
có chức năng thứ nhất là nhận thức, chức năng thứ hai
là thu thập kinh nghiệm của lộ trình tâm, tâu đại vương!
- Xin
cho nghe ví dụ.
- Như
người lính đứng canh cổng thành của đại vương. Người
ấy thấy rõ những người đến cung điện từ hướng đông,
tây, nam, bắc; biết rõ người ra kẻ vào, biết rõ là vua,
quan hay dân, nam hay nữ, tâu đại vương. Ví dụ ấy như thế
nào thì thức biết rõ sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp cũng
như thế ấy.
- Còn
thu thập kinh nghiệm của lộ trình tâm?
- Ví
như người lính canh cổng thành ấy, nhờ thói quen, nhờ kinh
nghiệm mà biết rõ những người vào ra, đến đi, kẻ nào
gian kẻ nào ngay; biết rõ người nào đáng kính trọng, người
nào cần phải nghi ngờ, người nào mình thích và người nào
mình ghét v.v... Các cảm giác (thọ), tri giác (tưởng) tham
sân (hành) ở trong các tiến trình của tâm sở ấy; Thức
ghi nhận, thu thập, lưu giữ kinh nghiệm cũng y như thế, tâu
đại vương!
* *
*
37.
Hành tướng của Tầm (Vitakkalakkhana)
- Đại
đức giảng luôn cho nghe về Tầm tâm sơ?
- Tầm
chính là tìm kiếm. Đi tìm kiếm đối tượng là Tầm, tâu
đại vương .
- Xin
cho nghe ví dụ.
- Ví
như con ong bay đi tìm kiếm đóa hoa để hút mật, nó thấy
đóa hoa, bay quanh đóa hoa, tìm chỗ để đậu xuống trên đóa
hoa - Đấy là Tầm tâm sở, thưa đại vương .
- Rõ
lắm.
* *
*
38.
Hành tướng của Tứ (hay Sát) (Vicaralakkhana)
- Còn
Tứ tâm sở?
- Tứ
chính là quan sát, soát xét, kiểm soát và bắt dính đối tượng,
tâu đại vương!
- Xin
cho nghe thí dụ.
- Con
ong sau khi tìm kiếm được hoa (tầm), nó đậu trên đóa hoa,
quan sát đóa hoa, rà soát đóa hoa, ấy là Tứ. Như thế, Tứ
tâm sở luôn luôn đi theo tầm tâm sở, như con ong tìm hoa (tầm)
rồi đậu trên hoa (tứ); như vang và tiếng, tiếng đi trước
(tầm), vang đi sau (tứ); như bóng và hình, có hình (tầm) là
có bóng (tứ). Hai tâm sở ấy luôn luôn đi liền nhau, tâu
đại vương .
- Trẫm
đã hiểu.
* *
*
39.
Lại hỏi về "Chú tâm" (Manasikàra)
Đức
vua lại hỏi:
- Đại
đức đã có nói về manasikàra rồi! Nhưng khi thì nó có nghĩa
là tác ý đến đối tượng, khi được hiểu là Chú tâm,
khi được hiểu là quan sát đối tượng; vậy manasikara khác
nhau như thế nào với các tâm sở: tác ý, tầm và tứ tâm
sở? Nó có gần giống với nhất tâm chăng?
- Đại
vương hỏi rất hay. Manasikàra nó có nghĩa là khởi tâm đến,
hướng tâm đến - nên nó đồng nghĩa với tác ý. Nhưng khi
khởi tâm, hướng tâm đã thuần thục sẽ phát sanh chú tâm,
giai đọan này tương đương với tầm và tứ tâm sở. Nhưng
khi Chú tâm thuần thục, nó sẽ dẫn đến nhất tâm. Vậy
cho nên khi nói Manasikàra - là hàm nghĩa, nó đã tự tác ý,
qua tầm, qua tứ (Chú tâm) để đi đến nhất tâm. Như thế,
Chú tâm đưa đến nhất tâm, tâu đại vương .
- Thật
khó nhận biết vậy thay!
- Vâng,
rất khó, vì danh pháp là cái trừu tượng, lại nữa, nếu
không tu tập thiền quán thì không dễ gì mà thấy chúng một
cách rõ ràng được .
* *
*
40.
Những tâm sở đồng sanh
- Bạch
đại đức! Những tâm sở mà đại đức vừa trình bày như:
xúc, thọ, tưởng, tác ý... đều là những tâm sở đồng
sanh trong một lúc hay sao?
- Thật
ra, nó có trước có sau, nhưng vì tiến trình ấy diễn ra nhanh
quá nên trí tuệ ta không theo dõi được, không phân tích được.
Ví
dụ: Tiến trình của ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Khi thấy đóa hoa, biết đóa hoa ấy đẹp và thích đóa hoa
ấy thì nó đã đi suốt tiến trình ấy rồi. Mà khi thấy
đóa hoa ấy đẹp, thích đóa hoa ấy thì trong nhãn thức cũng
có bảy tâm sở khác đồng sanh: xúc, tác ý, thọ tưởng,
tư, nhất tâm, mạng căn... và khi thích đóa hoa ấy cũng là
tiến trình mười hai duyên khởi đã vận hành rồi. Nó nhanh
quá phải không đại vương!
- Vâng,
nhanh quá. Nhanh quá, nhưng ta cũng có thể phân tích được,
đây là xúc, thọ, tưởng v.v... được chứ?
- Không
thể được.
- Đại
đức có thể cho nghe thí dụ?
- Vâng,
ví như viên quan ngự trù dâng cho đại vương một món ăn
nhiều gia vị lạ lùng, rất ngon. Đại vương ăn món ấy,
biết ngon, nhưng đại vương có thể nào bảo viên quan ngự
trù rằng: ngươi hãy lấy ra cho trẫm xem từng mùi vị một
như mặn, ngọt, bùi, thơm, béo... được chăng?
- Không
thể được.
- Các
mùi vị ấy không thể lấy ra được một cách riêng rẽ như
thế nào thì các tâm sở đồng sanh cũng y như thế đó, tâu
đại vương rõ.
- Trẫm
chưa rõ đâu, đại đức hãy giảng thêm.
- Vâng,
khi đại vương biết vật kia là muối, đại vương biết bằng
gì?
- Bằng
mắt, trẫm có thể biết được?
- Có
chắc biết muối bằng mắt không, đại vương?
- Chắc
chắn chứ!
- Thế
nếu trước đây, đại vương chưa từng nếm muối, thì hiện
giờ đại vương có thể nào biết được muối mặn chăng?
- Đồng
ý là thế, nhưng giả dụ có một xe chở đầy muối đi qua
trước mặt, đại đức nhận biết xe muối ấy bằng mắt
hay bằng lưỡi? Nếu là bằng lưỡi thì số lượng muối
bằng sức mạnh của năm con bò kéo - thì lưỡi làm thế nào
nếm cho hết được đại đức?
- Chẳng
cần nếm hết cả xe muối mà cũng biết được đấy là muối,
tâu đại vương .
- Đại
đức biết bằng gì?
- Bần
tăng biết bằng mắt.
- Lời
nói của đại đức trước sau rất mâu thuẫn, trước thì
bác bỏ lời của trẫm, sau thì chấp nhận lời của trẫm.
Té ra chúng ta đều biết muối bằng mắt.
- Không
phải thế đâu, đại vương! Trước tiên phải dùng lưỡi
nếm muối, mới biết rõ vị mặn của muối; nhưng sau do kinh
nghiệm, do đã từng thấy muối có hình dáng như vậy, màu
sắc như vậy, nên khi thấy biết muối ngay, chẳng cần phải
nếm. Như thế chứng tỏ gì? Khi lưỡi nếm vị, khi mắt thấy
sắc, bên trong nó khởi lên biết bao kinh nghiệm trước đây,
biết bao nhiêu là tâm sở khởi sanh...; thì thử hỏi làm thế
nào để phân tích được đây là tâm sở gì, kia là tâm sở
gì? Có phải thế không, hở đại vương?
- Đúng
thế! Đại đức giảng điều ấy rất hay!
- Lại
nữa, đại vương hãy nghe tiếp đây: Người ta có thể dùng
cân để cân được vị mặn của muối chăng?
- Không
thể cân được!
- Ngay
chính những vị như ngọt, mặn, béo, bùi...; tức là chỉ
một cảm thọ, chúng ta cũng không thể đem ra mà phân tích,
mà cân đo được, huống hồ là hằng chuỗi tâm sở, hằng
chuỗi cái vi tế? Những danh pháp ấy biến đổi, sanh diệt
nhanh gấp mười bảy lần sắc pháp - thì chúng ta có thể
nào mang ra để biết rõ đây là thọ tâm sở, đây là tưởng
tâm sở... hở đại vương!
- Thật
là tuyệt vời, chẳng có gì rõ ràng hơn thế nữa!
* *
*
41.
Về năm giác quan
Đức
vua Mi-lan-đà lại hỏi:
- Thưa
đại đức! Ngũ căn tức là năm giác quan của con người,
phát sanh do nghiệp khác nhau hay là nghiệp chung nhau?
- Có
cái chung, có cái riêng, tâu đại vương .
- Xin
cho nghe thí dụ.
- Ví
như người ta trồng ngũ cốc trên một cánh đồng, khi các
loại giống nẩy mầm, lớn lên, tăng trưởng, ra hoa, kết
hạt, thì giống nào hiện ra giống ấy không thể lẫn lộn
nhau được. Như vậy, đất nước, ánh sáng, phân là cái chung
mà lúa, đậu, mè, bắp, kê lại là cái riêng. Cũng như thế,
thân tâm là cái chung nhau nhưng năm giác quan sanh ra từ đấy,
nó có những chức năng riêng biệt, khác nhau, tâu đại vương!
* *
*
42.
Bất bình đẳng sai khác của chúng sanh là do nghiệp
- Bạch
đại đức! Cái chung và cái riêng ấy trẫm đã hiểu rồi,
nhưng trong cái chung, riêng ấy dường như có chung, riêng khác
nữa, không hiểu tại sao? Ví như cùng là con người, ai cũng
đầy đủ thân tâm, ai cũng đủ ngũ quan, nhưng không hiểu
do đâu mà có sự sai khác, bất đồng như vậy.
Có
người trường thọ, ít bệnh tật, không mấy khi đau ốm,
lại có người chết yểu, nhiều bệnh tật? Có người sắc
thân đẹp đẽ, sáng sủa, ai cũng ưa nhìn; lại có người
sắc thân xấu xí, đen đúa, dị hợm, ai cũng muốn xa lánh?
Có
người phúc phận to lớn, quyền uy sang cả, ai cũng kính nể,
phục tùng; lại có người bần tiện, hạ liệt, ai cũng rẻ
rúng, coi khinh?
Có
người thông minh, mẫn tuệ, tài cao xuất chúng; lại có người
ngu dốt, si mê, đần độn?
Có
người luôn gặp may mắn, tài vận hanh thông; lại có người
suốt đời rủi ro, bế tắc, luôn luôn gặp tai ương, hoạn
nạn?
Có
người ăn nói hiền lành, dịu ngọt, từ hòa; lại có người
ăn nói cộc cằn, thô lỗ, ác khẩu?
Có
người thật thà, tốt bụng; lại có người chua ngoa xảo
trá, lươn lẹo?
Nói
ra sự sai khác nữa thì nó không cùng, nhưng tạm phân ra bảy
đôi tức mười bốn nhóm người như vậy, đại đức hãy
giảng giải lý do tại sao cho trẫm nghe?
- Dễ
dàng thôi, tâu đại vương: Bần tăng không rõ tại sao nơi
khu vườn thượng uyển của đại vương, cũng cùng chất đất
ấy, khí hậu, thời tiết ấy, mà cây cối, thảo mộc, muôn
hoa lại vô vàn sai khác? Cây lá đều xanh nhưng trái thì có
trái ngọt, trái chua, trái béo, trái bùi; hoa thì hoa to, hoa
nhỏ, màu sắc sai khác, hương thơm sai khác?
- Vì
chủng loại bất đồng, hạt giống khác nhau, thưa đại đức
.
- Vậy
thì sự sai khác giữa các loại chúng sanh, sự bất đồng
giữa con người là do chúng đã tạo trữ những hành nghiệp
khác nhau. Nghiệp khác nhau chính là những hạt giống khác
nhau, tâu đại vương .
- Xin
đại đức giảng rộng cho nghe.
- Vâng
, Đức Thế Tôn đã thuyết về nghiệp ấy như sau: "Này thiện
nam tử, tất cả chúng sanh đều được sanh ra bởi nghiệp,
nghiệp là của mình, phải thọ quả của nghiệp; nghiệp là
tạo tác, là chủ tể muôn loài, nghiệp là giống dòng tông
chủng, nghiệp tìm đến nhau, nghiệp dẫn dắt nhau đi."
Thế
nào là được sanh ra bởi nghiệp? Tất cả chúng sanh đời
trước làm những việc thiện, ác, tốt, xấu. Những việc
làm thiện, ác, tốt, xấu ấy huân tập thành nghiệp nhân;
tạo nên sức mạnh đưa chúng sanh đầu thai vào hiện tại
này để thọ nhận nghiệp quả của thiện, ác, tốt, xấu.
Như vậy là do nghiệp sanh chứ không phải Thượng đế sanh
hay tự nhiên sanh!
Thế
nào là nghiệp của mình? Khi chúng sanh đã tạo nghiệp rồi,
thì nghiệp ấy đi liền theo như bóng không lìa hình; nghiệp
ấy đưa ta lên thiên đường, đưa ta xuống địa ngục; nghiệp
ấy là tư lương, là hành trang của chúng sanh mang theo khắp
ba cõi, sáu đường; vui khổ cùng thọ nhận, họa phúc phải
chung phần, quý tiện cùng chia xẻ, vinh nhục đều chung ở
v.v... Vậy nghiệp dù tốt xấu cũng là của mình, chứ của
ai?
Thế
nào là phải thọ quả của nghiệp? Nghiệp mà chúng sanh đã
tạo tác rồi thì phải sanh ra để thọ nhận quả báu ấy.
Chẳng thể trốn trong động thẳm hang sâu, dưới đáy biển,
giữa hư không... hầu tránh thoát được nghiệp đã gieo.
Tại
sao nói nghiệp là tạo tác, là chủ tể? Tại sao thế? Vì
rằng trên đời này, nghiệp làm ra mọi sự, nghiệp tạo nên
hoàn cảnh, nghiệp xây dựng nên quốc độ, nghiệp tạo ra
cây lành trái ngọt, nghiệp tạo tác chiến tranh, nghiệp xây
dựng hòa bình, nghiệp làm ra sum la vạn tượng, nghiệp phá
hoại cho đổ nát điêu tàn v.v...Thế không gọi nghiệp là
tạo tác, là chủ tể là gì?
Nghiệp
là giống dòng tông chủng nghĩa là thế nào?
Phàm
chúng sanh đã sanh ra trên đời này đều có giống dòng, chủng
tộc, thân bằng, quyến thuộc, quốc độ, quê hương v.v...
Tự chúng sanh lựa chọn chăng? Ngẫu nhiên chăng? Không, tất
thảy do nghiệp đấy. Tại sao? Những người tâm ý giống
nhau thường tạo nghiệp giống nhau, tạo nghiệp giống nhau
thì cảnh giới giống nhau. Từ cảnh giới giống nhau, nếu
còn ưa thích, quyến luyến nhiều đời nên bây giờ trở thành
cha con, chồng vợ, họ hàng, quyến thuộc của nhau. Từ đó
suy ra, nghiệp không là giống dòng, tông chủng là gì?
Thế
nào là nghiệp tìm đến nhau, dẫn dắt nhau đi? Vì rằng chúng
sanh đã tạo nghiệp, khi trở thành thói quen, thì thói quen
thường đưa chúng sanh đi tìm thói quen ấy, dẫn dắt chúng
sanh đi theo nghiệp ấy. Lại nữa, người lành thường đi
tìm người lành, người ác thường đi tìm người ác; kẻ
xấu bạn với kẻ xấu, người tốt bạn với người tốt.
Như chúng ta thường nói: "đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu" là vậy. Đại vương còn thắc mắc, nghi nan gì
về sự sai khác dị đồng của chúng sanh trong thế gian này
nữa chăng?
- Trẫm
đã hoàn toàn lãnh hội , mắt trẫm đã sạch bớt một lớp
bụi mù. Cảm ơn đại đức nhiều lắm!
- Không
có gì!
* *
*
43.
Sớm ngăn ngừa điều ác
Đức
vua hỏi:
- Trẫm
có nghe rằng, người tu hành trong Phật giáo thường ngăn ngừa
điều ác, ngăn ngừa nguyên nhân sanh khổ, tại sao không đợi
nó đến để dập tắt luôn?
- Không
những ngăn ngừa điều ác, mà tất cả các thiện pháp cần
phải nên tu tập càng sớm càng tốt mới thu được nhiều
lợi ích, nếu để muộn thì thật là nguy hiểm, tâu đại
vương!
- Tại
sao thế?
- Ví
dụ đại vương đợi đến khi khát nước cháy cổ mới sửa
soạn sai người đào giếng? Việc làm ấy có thích đáng không,
có kịp có nước để uống không?
- Phải
đào giếng từ trước.
- Phàm
tu hành cũng vậy, nếu khi sự khổ đến mới lo tu thì muộn
rồi. Lại nữa, ví như đại vương đợi đến khi đói bụng
mới sai người cày ruộng, gieo mạ... thì đến lúc gặt lúa
có còn cứu kịp cơn đói của đại vương chăng?
- Chẳng
thể cứu kịp.
- Ví
như đại vương bảo vệ hoàng thành này, nhưng đại vương
lại suy nghĩ: "Đợi khi giặc đến ta sẽ luyện tập quân
sĩ, rèn đúc khí giới, huấn luyện ngựa voi v.v...". Sự suy
nghĩ ấy có đúng thời chăng?
- Thì
hoàng cung này giặc sẽ chiếm mất.
- Cũng
vậy, người tu hành phải biết lo toan từ trước, sớm làm
điều lành, sớm ngăn ngừa điều ác, đợi đến khi nước
đến chân thì không kịp nữa. Nên Đức Thế Tôn có dạy
rằng: "Người có trí tuệ hằng tìm lợi ích an vui cho mình,
đừng như kẻ buôn thóc kia, lối đi bằng phẳng, dễ dàng
thì không chịu đi; lại lựa chọn con đường gập ghềnh,
hiểm trở mà đánh xe đi, đến khi gãy trục, gãy vành, ngồi
khóc lóc, thở than! Kẻ ngu bỏ lành làm ác cũng y như thế,
có hối cũng đã muộn màng."
* *
*
44.
Lửa địa ngục
Đức
vua Mi-lan-đà lại hỏi:
- Có
nhiều vị tỳ kheo đã thuyết cho trẫm nghe rằng: lửa địa
ngục nóng hơn lửa thế gian hằng vạn lần. Lại còn đưa
ra ví dụ rằng, quăng một cục đá vào đống lửa thế gian,
lửa cháy trọn ngày đêm, cục đá vẫn trơ trơ. Nhưng nếu
quăng một tảng đá lớn vào lửa địa ngục, trong giây lát
tảng đá kia sẽ bị cháy tiêu mất. Đấy là điều khó tin
thứ nhất.
Lại
nữa, các vị ấy còn thuyết rằng: Những chúng sanh làm ác,
đọa vào địa ngục sẽ bị lửa địa ngục thiêu đốt cả
ngàn vạn năm mà vẫn không chết, vẫn không bị cháy thành
tro. Tảng đá thì bị lửa địa ngục đốt cháy, còn chúng
sanh thì vẫn sống nhăn răng! Đấy là điều khó tin thứ hai!
Tỳ
khưu Na-tiên lại đáp bằng cách hỏi:
- Tâu
đại vương! Đại vương học rộng biết nhiều, thế đại
vương biết con vật gì ăn được đá sỏi chăng?
- Các
con công, kỳ đà, rùa, gà... có ăn sạn sỏi hoặc thỉnh thoảng
có nuốt sạn, sỏi vào bụng.
- Còn
ở dưới nước? Các loài thủy tộc?
- Thì
cá sấu, trạnh, cua, thuồng luồng...Khi chúng có chửa, chúng
cũng thường ăn sạn, sỏi.
- Thế
sạn, sỏi có tiêu không?
- Thưa,
hẳn là phải tiêu chứ.
- Vậy
thì trứng trong bụng chúng có tiêu không?
- Thưa,
không.
- Đại
vương nói thế bần tăng nghi ngờ lắm. Tại sao sạn, sỏi
cứng thế mà lại tiêu, còn trứng dễ vỡ thế mà lại không
tiêu?
- Có
gì lạ đâu đại đức! Bởi chức năng của bao tử là co
bóp nên sạn, sỏi sẽ tiêu, còn chức năng của buồng trứng
là nuôi dưỡng nên trứng không tiêu. Một bên sinh, một bên
diệt, hai bên có hai sức mạnh khác nhau, công dụng khác nhau.
- Cũng
như thế ấy là lửa ở địa ngục, tâu đại vương! Tảng
đá thì cháy tiêu còn chúng sanh không cháy là do hai bên có
hai năng lực khác nhau, công dụng khác nhau, bị chi phối bởi
các định luật khác nhau.
- Xin
đại đức nói rõ hơn.
- Tảng
đá lớn bị lửa cháy tiêu là do định luật vật lý, chúng
sanh mà không bị cháy là bởi định luật của nghiệp duy
trì. Nghiệp ác tạo nên sức mạnh duy trì mạng sống chúng
sanh cho đến khi chúng sanh ấy trả hết quả đã gieo.
- Nếu
nghiệp chưa hết thì chưa bị cháy tiêu?
- Đúng
thế.
- Đại
đức cho nghe thêm ví dụ nữa.
- Bần
tăng có nghe rằng các loài vật như sư tử cái, cọp cái,
beo cái, chó sói cái...; lúc có chửa, chúng rất thích ăn xương
của các loài thú khác, nhưng không biết xương ấy có tiêu
không?
- Tiêu
chứ.
- Thế
tại sao cái thai của chúng lại không tiêu?
- Là
do sức mạnh của nghiệp duy trì.
- Hàng
phụ nữ quý phái, các vị mệnh phụ phu nhân, các công nương
sang trọng lúc có thai thường thích ăn cá thịt, sơn hào hải
vị để tẩm bổ thai nhi. Như vậy là làm tiêu hết cái này
để nuôi cái kia? Sao kỳ lạ vậy nhỉ?
- Chắn
hẳn do nghiệp, thưa đại đức .
- Chúng
sanh làm ác, đọa vào địa ngục, chúng sinh ra trong lửa thiêu,
già trong lửa thiêu nhưng sẽ không bị cháy tiêu. Như thế,
tất cả đều do nghiệp, tâu đại vương!
- Thật
là thỏa đáng vô cùng.
* *
*
45.
Nước dựa khí
Vua
hỏi:
- Các
vị sa môn trong hàng ngũ của đại đức thường thuyết lý
rằng: đất dựa nước, nước dựa khí, khí dựa hư không.
Điều ấy sao khó tin đến vậy?
Khi
ấy, đại đức Na-tiên có cái bình lược nước mang sẵn,
ngài đưa cái bình lược nước lên cao, nói rằng:
- Đại
vương! nước trong bình này không do khí duy trì, nâng đỡ
là gì! [*]
- Vâng,
đúng thế!
[*]
Ngày nay, các thể đặc, lỏng, hơi, chân không nương tựa
nhau là điều mà ai cũng có thể biết.
* *
*
46.
Niết bàn
- Thưa
đại đức! Tại sao Niết bàn thường được nói là diệt
(nirodha), là tịch diệt? Trẫm nghi ngờ điều đó lắm!
- Xin
thưa, Niết bàn chính là diệt, là tịch diệt, một trạng
thái ngưng nghỉ và vắng lặng, đại vương hãy nghe đây,
bần tăng sẽ nói.
Chúng
sanh hằng chịu thế lực của căn trần chi phối, mãi trôi
dạt giữa biển đời sanh tử, mãi quẩn quanh trong lục đạo
luân hồi, mãi chìm đắm giữa dòng ái dục; nên chẳng bao
giờ thoát ly được sự bủa vây của phiền não do sanh, già,
bệnh, chết, ưu sầu, bất bình, uất ức, thống khổ v.v...
Các bậc Thinh văn A-la- hán, do nhờ có tu tập, do nhờ có trí
tuệ nên các ngài đã thoát khỏi sự chi phối của căn trần;
đã liễu ngộ sinh tử, không còn trôi dạt trong ba cõi, sáu
đường, đã chấm dứt ái dục! Khi ái dục đã diệt tận
thì mọi chấp thủ tiêu vong [*]; thủ diệt thì ba hữu [**]
đâu có còn? Ba hữu không còn thì lấy đâu ra sanh, già, bệnh,
chết, sầu bi khổ ưu não? Như vậy, mọi nguyên nhân của
phiền não đau khổ thảy đều ngưng nghỉ, vắng lặng; nếu
không gọi là diệt, là tịch diệt thì gọi là gì hở đại
vương?
- Hay
lắm! Chính xác lắm!
[*]
Có bốn thủ: dục thủ, kiến thủ, ngã thủ và giới cấm
thủ.
[**]
Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
* *
*
47.
Ai sẽ đắc Niết bàn?
Đức
vua hỏi:
- Ai
tu hành đều đắc quả Niết bàn như nhau cả chứ?
- Không
chắc như vậy. Người nào thực hành đúng chánh pháp, giác
ngộ những pháp mà bậc trí tuệ đã giác ngộ, biết chắc
những pháp mà bậc trí tuệ đã biết chắc, dứt bỏ những
pháp mà bậc trí tuệ dứt bỏ, tiến hành những pháp mà bậc
trí tuệ tiến hành, thấy rõ những pháp mà những bậc trí
tuệ đã thấy rõ; người ấy mới đắc được Niết bàn,
tâu đại vương .
* *
*
48.
Làm sao biết Niết bàn là tối thượng lạc?
- Chưa
đắc Niết bàn thì làm sao biết được Niết bàn là tối
thượng lạc, đại đức ?
- Thưa,
biết chứ. Ví như một người chưa từng bị chặt tay, chặt
chân có biết rằng bị chặt tay chặt chân là khổ không?
- Thưa,
biết.
- Làm
sao mà biết được?
- Nghe
tiếng kêu la, than khóc quằn quại đau đớn của những nạn
nhân ấy nên biết.
- Cũng
như thế ấy, dầu chưa chứng đắc Niết bàn, nhưng nghe những
vị Thánh nhân A-la-hán nói lại và thấy đời sống thanh tịnh,
nhàn lạc, an vui của họ nên biết Niết bàn là tối thượng
lạc.
- Đúng
lắm.