II. NỘI
DUNG MI-TIÊN VẤN ĐÁP
(gồm
244 câu hỏi)
1.
Danh
Đức
vua Mi-lan-đà sau khi đảnh lễ Tăng chúng tám mươi ngàn vị
cùng với đại đức Na-tiên, ngồi một nơi phải lẽ, đức
vua khởi chuyện:
- Bạch
đại đức, Trẫm muốn đàm luận với ngài vài điều được
chăng?
Tỳ
kheo Na-tiên đã quan sát vị vua hữu danh đã từng làm cho các
tôn giáo điên đảo từ bấy lâu nay. Quả thật là không hư
truyền, vì ngài chưa từng gặp một người có tướng mạo
phi phàm như thế. Nhưng với thắng dũng, thắng trí và thắng
tuệ, ngài cảm thấy không khó khăn gì khi nhiếp phục đức
vua này.
Khi
nghe hỏi, Na-tiên tỳ kheo mỉm cười đáp:
- Tâu
đại vương, ngài cứ hỏi, bần tăng sẽ nghe.
- Bạch
đại đức, trẫm hỏi rồi, ngài hãy nghe đi.
- Tâu
đại vương, bần tăng nghe rồi, ngài hãy nói đi!
- Bạch
đại đức, Trẫm hỏi rồi.
- Tâu
đại vương, bần tăng đáp rồi.
- Ngài
đáp như thế nào?
- Đại
vương hỏi như thế nào?
Chỉ
vài câu vấn đáp khởi đầu, cử tọa thính chúng gồm tám
mươi ngàn Tăng chúng, năm trăm tùy tùng của đức vua cùng
với cận sự nam nữ đông đặc bên ngoài giảng đường...
đều cảm thấy thú vị, họ cất tiếng hô "lành thay" vang
rền như sấm dội.
Đợi
cho không khí yên lặng, nhà vua hỏi tiếp:
- Bạch
đại đức, ngài tên gì?
- Tâu
đại vương! Bần tăng tên là Na-tiên! Thầy tổ, huynh đệ,
pháp hữu của bần tăng cũng gọi tên bần tăng như thế.
Còn cha mẹ của bần tăng không những gọi tên bần tăng là
Na-tiên, mà đôi khi kêu là Viranasena, Surasena hoặc Sihasena!
Tuy nhiên, dù gọi tên gì đi nữa thì nó cũng chỉ là cái
tên, cái tên suông, chẳng liên hệ gì đến bần tăng cả.
Cái tên ấy chỉ để mà phân biệt giữa người này và người
kia, thế thôi, chẳng có gì là "tôi" là "của tôi" như ngã
chấp và tà kiến thế gian thường nhận lầm, tâu đại vương
được rõ!
Đức
vua Mi-lan-đà ngạc nhiên, đưa tay lên, phân bua với mọi người
xung quanh:
- Xin
tất cả các vị hãy làm chứng cho trẫm. Đại đức Na-tiên
vừa nói rằng, cái tên Na-tiên là tên do cha mẹ đặt, các
vị đồng phạm hạnh cũng gọi như thế, nhưng chẳng có cái
gì là Na-tiên ở đấy, chẳng có gì là "tôi" và "của tôi"
cả. Mọi người nghe rõ rồi đấy chứ?
Rồi
quay sang tỳ kheo Na-tiên , đức vua phản vấn:
- Bạch
đại đức! Nếu không có cái gọi là "ta" và "của ta" thì
những người bố thí cúng dường y bát, vật thực, thất
liêu, chỗ ở, thuốc ngừa bệnh, vật dụng v.v... thì ai là
người thọ nhận tứ sự ấy? Ai trì giới? Ai tham thiền?
Ai chứng ngộ đạo quả và Niết bàn? Từ đó suy ra, những
tội ác như sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói lời hư dối,
uống rượu; cho chí những ngũ nghịch đại tội vô gián địa
ngục, cũng chẳng có ai làm gì cả! Và như vậy thì nghiệp
lành, nghiệp ác cũng không, chẳng có ai tạo tội cả, lành
dữ đều không có quả báo. Nếu thế có kẻ giết chết đại
đức họ cũng không phạm tội giết người. Và thầy tiếp
dẫn, thầy giáo thọ, hòa thượng tế độ cho đại đức
cũng không có. Các vị đồng phạm hạnh gọi tên đại đức
Na-tiên là gì đó cũng không có luôn. Vậy cái gọi là Na-tiên
đó là ai? Mong đại đức giảng giải cho trẫm. Đại đức
nghe rõ rồi đấy chứ.
- Tâu
đại vương! Bần tăng nghe rõ rồi!
- Người
nghe đó có phải là Na-tiên chăng?
- Tâu,
không phải.
- Chẳng
có gì là Na-tiên cả sao?
- Vâng,
chính thế!
- Tóc,
lông, móng, răng da... kia là Na-tiên sao?
- Tâu,
đại vương, không phải.
- Thịt,
tủy, gân, xương là Na-tiên chăng?
- Thưa,
không phải!
- Sắc,
thọ, tưởng, hành, thức là Na-tiên chăng?
- Tâu,
Đại vương, không phải.
- Hay
lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý là Na-tiên?
- Tâu,
không phải thế.
- Vậy
ngũ uẩn họp lại là Na-tiên?
- Tâu,
cũng chưa chắc là vậy.
Đến
ngang đây chợt đức vua Mi-lan-đà cất giọng nói lớn:
- Bạch
đại đức! Hồi nãy giờ trẫm đã cặn kẽ hỏi về ba mươi
hai thể trược, lục căn, ngũ uẩn v.v... có phải là Na-tiên
chăng, tất thảy đều bị đại đức phủ nhận. Và quả
thật, trẫm cũng công nhận như thế. Vì khi quán tưởng một
cách tận tường từng phần được nêu ra trong câu hỏi, thì
chẳng có cái gì được gọi là Na-tiên cả. Thế tại sao,
trước đây khi trẫm hỏi, đại đức bảo đại đức là
Na-tiên? Té ra là đại đức nói dối! Này, năm trăm tùy tùng
thân tín của trẫm và tám mươi ngàn Tăng chúng tỳ kheo, xin
quý vị hãy làm chứng cho trẫm đấy nhé!
Đại
đức Na-tiên là một Thánh nhân A-la- hán đắc thần thông
và đắc cả 4 tuệ phân tích: tuệ về nhân, tuệ về quả,
tuệ văn tự, ngữ nghĩa, tuệ biện tài, biện luận. Tâm ngài
như đỉnh núi chúa, trí ngài như mặt trời, mặt trăng, lòng
từ của ngài bao la như biển lớn. Do vậy, ngài độ lượng
với đức vua Mi-lan-đà như mẹ đối với con; với tâm nguyện
là phải nhiếp phục đức vua, tế độ đức vua, đặt đức
vua trong Chánh đạo; nên dù đức vua có nói gì ngài cũng chỉ
ngồi làm thinh và mở rộng lòng từ.
Để
cho ngạo khí và sự xao động trong tâm trí đức vua yên lắng
lại một chút, đại đức Na-tiên mới chậm rãi nói:
- Tâu
đại vương! Ngài là một bậc đế vương nhiều phước báu
và nhiều an vui, tháng ngày sống trong hạnh phúc cao sang. Nhưng
vì tâm cầu đạo, ngài chẳng quản đường xa, đến đây
giữa cơn nắng nóng oi bức nên có lẽ ngọc thể cũng bất
an. Lại nữa, từ hoàng cung đến đây mà sao đại vương không
đi bằng xe mà lại đi bằng chân cho mệt?
- Bạch
đại đức! Trẫm đến chùa bằng xe chứ! Chỉ đi bộ từ
cổng, nhưng vào giảng đường mới đi bằng chân không!
- Thế
ra đại vương tới đây bằng xe.
- Vâng,
trẫm đến bằng xe.
Đại
đức Na-tiên giờ cũng làm như cách của vua Mi-lan-đà , phân
bua với mọi người:
- Năm
trăm tùy tùng quan chức, thị vệ của đức vua và tám mươi
ngàn chư tỳ kheo đại chúng hãy xác nhận cho: đức vua đã
nói rằng ngài đến đây bằng xe!
Rồi
quay sang đức vua, ngài Na-tiên hỏi lại:
- Đại
vương bảo rằng đạivương đến đây bằng xe, đấy là lời
nói thật chứ?
- Chắc
chắn là thật.
- Vậy
đại vương hãy nói cho rõ về cái xe ấy! Cái gì gọi là
xe? Cái gọng chăng?
- Không
phải.
- Hay
cái trục, cái bánh là xe?
- Cũng
không phải.
- Cái
thùng, cái mui là xe chăng?
- Chẳng
phải đâu.
- Hoặc
roi, dây cương là xe?
- Chẳng
phải.
- Thế
chắc cái ách, căm xe?
- Không
phải nốt.
- Vậy
cái gì là xe?
Đức
vua Mi-lan-đà im lặng.
Đại
đức Na-tiên cất giọng chậm rãi:
- Tâu
đại vương! Bần tăng đã đưa từng bộ phận một, và hỏi
rằng cái gì là xe thì đều bị đại vương phủ nhận. Mà
quả thật, bần tăng cũng thấy vậy, chẳng có cái gì được
gọi là xe trong tất cả các bộ phận chi tiết ấy. Tuy nhiên,
đại vương là vị hoàng đế cao cả, là đấng nhân chủ,
là bậc anh minh cai quản một quốc độ mênh mông; quả thật
là không thích đáng khi đạivương nói dối rằng, ngài đến
đây bằng xe! Xin tất cả chư vị và Chư Tăng đại chúng
ở đây hãy làm chứng cho!
Mọi
người không ngớt lời tán dương ca ngợi biện tài của đại
đức Na-tiên . Riêng năm trăm người tùy tùng thì cung thỉnh
đức vua tìm cách luận thắng đối phương.
Sau
một hồi làm thinh, đức vua Mi-lan-đà nói:
- Đại
đức biện luận hay lắm! Nhưng mà hãy nghe trẫm nói đây!
Tất cả những bộ phận chi tiết như thùng, mui, căm, bánh,
trục v.v... nếu nằm riêng lẻ thì không thể gọi là xe, nhưng
chúng kết hợp toàn bộ lại thì giả danh gọi là xe, có phải
thế chăng? Vậy trẫm bảo rằng, trẫm đến đây bằng xe
đâu phải lời nói dối?
- Tâu
đại vương! Cũng thế, tất cả những cái gọi là tóc, lông,
móng, răng, da, ngũ uẩn, lục căn... nếu chúng nằm riêng lẻ
thì làm sao được gọi là Na-tiên? Nhưng nếu được kết
hợp lại thì giả danh gọi là Na-tiên! Bần tăng nói rằng,
bần tăng tên là Na-tiên thì đâu phải lời nói dối?
Nghe
đến đây, đức vua Mi-lan-đà vô cùng thích thú, hết lòng
tán thán đại đức Na-tiên:
- Hay
lắm! Hôm nay, lần đầu tiên trong đời cái lỗ tai của trẫm
rất là hoan hỷ, đại đức có biết thế chăng?
Cả
đại giảng đường vang lên tiếng "lành thay, lành thay" làm
chấn động cả kinh đô Sàgala.
* *
*
2.
Con số hạ lạp
Để
cho không khí im lắng lại một lúc, đức vua hỏi tiếp:
- Đại
đức năm nay được bao nhiêu hạ lạp rồi?
- Thưa,
bần tăng tu mới được bảy hạ.
- Con
số 7 ấy là đếm luôn cả đại đức vào trong, hay là chỉ
đếm cái hạ không thôi? Con số 7 ấy là con số của đại
đức hay con số của hạ?
Khi
ấy, đức vua đang mặc y phục vương giả với những đồ
trang sức quý báu, cái bóng sáng rỡ của ngài rọi vào trong
chai đựng nước ai cũng trông thấy rõ ràng. Đại đức Na-tiên
đưa tay chỉ, rồi hỏi ngược lại rằng:
- Tâu
đại vương! Cái bóng với đồ trang sức rực rỡ trong chai
nước kia là đại vương, hay người đang đối thoại với
bần tăng đây là đại vương?
- Trẫm
đây mới thật là trẫm, còn cái bóng kia nương nơi trẫm
mà có. Nó có là bởi trẫm.
- Cũng
thế, tâu đại vương! Số 7 kia là số hạ lạp chứ không
phải bần tăng, nhưng nó có được là do nương gá nơi bần
tăng. Nó có là bởi bần tăng.
- Hay
lắm! Quả thật đúng như vậy! Cục đá quăng qua thì cục
chì ném lại. Thật thú vị làm sao!
* *
*
3.
Đàm thoại như một Trí giả hay như một Vương giả?
Sau
hai câu hỏi mở đầu, đức vua biết là gặp được bậc
trí tuệ, nên ngài muốn đi sâu vào giáo pháp, bèn ướm lời:
- Bạch
đại đức! Trẫm rất thích đàm đạo với đại đức về
nhiều vấn đề khác nữa, nhưng không rõ đại đức có hoan
hỷ không?
- Tâu
đại vương! Cái đó còn tùy thuộc nơi đại vương! Nếu
đại vương đàm thoại mà lấy tư cách một Trí giả (Panditavàda),
thì bần tăng sẵn sàng hầu đáp. Nhưng nếu đại vương đứng
trên tư cách mình là bậc Vương giả (Ràjavàda), thì xin thưa
thẳng, bần tăng sẽ không thể hầu đối được.
- Tư
cách một Trí giả là như thế nào?
- Tâu
đại vương! Phàm là Trí giả nói chuyện với nhau, bao giờ
cũng nói lời ngay thật, muốn trao đổi hiểu biết, soi sáng
hiểu biết cho nhau. Trong câu chuyện, nếu có những lý lẽ
đưa ra, dù đúng, dù sai, dù cao, dù thấp, dù phải, dù trái
v.v... các bậc Trí giả không bao giờ vì thế mà phiền lòng
hay nóng giận. Họ tôn trọng nhau, dù ý kiến, tư tưởng có
bất đồng chăng nữa. Thắng, bại không hề làm cho họ chau
mày, mà chính chân lý, sự thật mới thuyết phục được
họ. Nếu gặp phải đối phương là tay lợi trí, lợi khẩu,
hùng biện đại tài, bậc Trí giả không vì thế mà tìm cách
cản ngăn, áp chế, bắt ngừng nói, đuổi ra khỏi chỗ ngồi;
hoặc lươn lẹo dùng những xảo thuật miệng lưỡi, ngụy
biện nhằm tranh thắng cho kỳ được! Đấy là cốt cách,
phong thái đầy hiểu biết của bậc Trí giả, tâu đại vương!
Đức
vua gật đầu mỉm cười:
- Đúng
bậc Trí giả là vậy! Còn tư cách của bậc Vương giả là
thế nào, thưa đại đức?
- Tâu
đại vương! Bậc Vương giả vì quen sống trong quyền lực,
nhất hô bá ứng, nên khi đối thoại thường quen áp đảo,
bắt buộc kẻ khác chấp thuận quan điểm của mình. Nếu
có ai đó nói một câu không vừa ý, hoặc đối nghịch với
tư kiến của mình; bậc vương giả sẽ không hài lòng, sẵn
sàng dùng quyền uy của mình mà bắt tội, chẳng dựa vào
lẽ phải và công bằng. Những cuộc nói chuyện như thế rồi
chẳng đi đến đâu, vì thái độ và lối xử sự của các
bậc Vương giả đã tự ngăn chặn con đường về với sự
thật, đốt cháy mối cảm thông và cắt đứt sự hiểu biết.
Đối thoại trong tư thế bậc Vương giả thường rơi vào
một chiều, phiến diện và ngõ cụt như vậy đấy, tâu đại
vương!
Đức
vua Mi-lan-đà lại gật đầu nữa:
- Hay
lắm, thưa đại đức, trẫm đã hiểu rõ rồi. Trẫm chẳng
thích cách nói chuyện của người Vương giả, trái lại, trẫm
sẽ cố gắng xem mình là người Trí giả để hầu chuyện
với đại đức. Khi đối thoại, đại đức hãy quên cái
hào nhoáng cao sang bên ngoài của trẫm đi, mà hãy tiếp xúc
với chính con người của trẫm thôi. Đại đức cứ nói chuyện
một cách tự nhiên, bình thường như đại đức nói chuyện
với chư tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sa di ni, cận sự nam, nữ
v.v...; thậm chí như nói chuyện với người hộ tự, người
quét rác, người nấu ăn trong ngôi chùa này cũng được vậy,
trẫm không bắt lỗi gì đâu!
- Tâu
đại vương! Ngài đã phán những lời rất cao quý, rất hay,
rất đúng đắn, đúng là lời của một bậc minh quân vĩ
đại nhất trên thế gian. Bần tăng rất khâm phục, và bần
tăng sẽ rất hoan hỷ, thoải mái để hầu chuyện với Đại
vương như là một bậc Trí giả
- Vậy
đại đức hãy nghe Trẫm hỏi.
- Tâu,
xin ngài cứ hỏi đi?
- Bạch,
trẫm đã hỏi xong rồi.
- Thưa,
bần tăng đã đáp rồi.
- Đại
đức đáp như thế nào?
- Đại
vương hỏi như thế nào?
Đức
vua Mi-lan-đà vì vui thích mà thử trí tuệ của đại đức
Na-tiên đó thôi, các câu hỏi này chỉ lặp lại, nhưng giảng
đường thì mọi người hoan hô, tán thán vang rân.
* *
*
4.
Thỉnh mời vào Hoàng cung
Lúc
ấy, đức vua nghĩ rằng: "Vị tỳ kheo này trí tuệ bất khả
tư nghì, lại hoàn toàn tự chủ, tự tin. Hiếm có được
một người như thế trên thế gian này. Ôi! Ta còn biết bao
nhiêu là câu hỏi về lẽ tử sinh, về niềm vui, nỗi khổ,
về bí mật đằng sau kiếp sống, nó hằng gậm nhấm ta ngày
đêm không nguôi, không dứt. Nhưng hôm nay hỏi thế là vừa
đủ, ngày mai ta sẽ thỉnh ngài vào hoàng cung, thì giờ rộng
rãi, tha hồ mà đàm đạo."
Nghĩ
thế, đức vua bảo viên đại thần Devamantiya đến đảnh
lễ đại đức Na-tiên và xin mời ngài vào hoàng cung ngày
mai. Đại đức Na-tiên mỉm cười bằng lòng. Đức vua cúi
đầu, chấp tay chào đại chúng và ngài Na-tiên rồi, rời
khỏi chỗ ngồi, theo phái đoàn tùy tùng hộ giá, từ giã.
Ngồi trên long xa mà tâm trí đức vua như để đâu đâu, cứ
vẩn vơ tưởng đến hình bóng của ngài Na-tiên , chẳng khác
gì một ám ảnh! Bất chợt, đức vua thốt thành lời: "Na-tiên
... trí tuệ vô song"!
Sáng
hôm sau, trời vừa hửng sáng, 4 viên đại thần Nemittiya, Antakàya,
Mankura và Sappadinna cùng nhau vào hầu đức vua, đồng tâu rằng:
- Chúng
hạ thần nên thỉnh đại đức Na-tiên như thế nào?
- Thỉnh
vào thọ thực và giảng đạo.
- Tâu,
cùng bao nhiêu vị tỳ kheo tháp tùng?
- Bao
nhiêu vị cũng được, tùy ý đại đức Na-tiên.
Vị
đại thần Sappadinna vốn là vị quan thủ khố, muốn tiết
kiệm cho hoàng gia, nên tâu rằng:
- Xin
đại vương cho phép mời đại đức Na-tiên với cùng mười
vị tỳ khưu nữa là lẽ phải.
- Khanh
chớ nhiều lời, trẫm đã bảo là hãy để đại đức Na-tiên
tùy nghi.
- Tâu
đại vương, nếu lỡ đại đức Na-tiên dẫn theo cả trăm
ngàn vị thì vật thực tiêu tốn hằng trăm xe và cả hằng
ngàn người phục dịch cũng lo không xuể!
Đức
vua chợt nghiêm mặt lại:
- Nhà
ngươi thật là bủn xỉn, keo kiệt! Của tiền, vật thực
là của hoàng gia chứ không phải là của ngươi mà tính toán,
so đo như thế! Trẫm là bậc Đế vương, giàu sang bốn biển;
lẽ nào trẫm không lo nổi một bữa ăn cho Tăng chúng chùa
Sankheyya hay sao? Các ngươi hãy đi đi, ai lo việc nấy, nếu
công việc không chu toàn sẽ bị tội "khi quân" đấy!
Bốn
vị đại thần sợ hãi, khấu đầu rút lui. Rồi một vị
chuẩn bị xuất kho, vị lo lương thực, vị đi huy động người;
còn viên đại thần Antakàya tức tốc lên ngựa đi mời thỉnh
đại đức Na-tiên.
Đại
đức Na-tiên hỏi:
- Mỹ
ý của Đức vua muốn bần tăng cùng đến với bao nhiêu vị?
Đại
thần Antakàya cúi đầu:
- Thưa,
hoàng cung rộng rãi, của tiền như biển, vật thực như rừng;
đức vua bảo rằng, hoàng gia hân hạnh được cung nghinh, cúng
dường Tăng chúng đông chừng nào tốt chừng ấy!
Lúc
bấy giờ, đại đức Na-tiên đã chuẩn bị đâu đấy xong,
với y bát chỉnh tề, ngài cùng với tám mươi ngàn vị tỳ
khưu trang nghiêm khởi hành. Thế rồi, cả rừng mây vàng như
sóng cuộn tràn qua kinh đô Sàgala, lần lượt tuôn đổ về
cung điện. Dân chúng đông nghẹt các ngả đường, nô nức
chen lấn nhau để xem một hiện tượng hy hữu: thời của
một Tăng chúng huy hòang và cực thịnh chưa từng thấy ở
châu Diêm phù đề!
Viên
đại thần Atakàya trao ngựa cho quân hầu, đi bên cạnh đại
đức Na-tiên, với lòng vô cùng ngưỡng mộ, y lân la hỏi
chuyện:
- Bạch
đại đức! Cuộc vấn đáp hôm qua hay quá chừng nhưng tiếc
là đệ tử không nắm được nghĩa lý sâu xa, nên còn lắm
điều thắc mắc. Trước ngài bảo rằng tên ngài là Na-tiên,
sau đó ngài lại phủ nhận Na-tiên ấy, và bảo rằng không
hề có Na-tiên?
Đại
đức Na-tiên mỉm cười, nói nhỏ:
- Vậy
theo ngài, cái gì là Na-tiên?
- Thưa,
hơi thở còn là sanh mạng còn, hơi thở duy trì sự sống.
Chẳng hay hơi thở ấy có phải là Na-tiên không?
- Thế
hơi thở kia có ra mà không có vô thì sao?
- Tâu,
sẽ chết ạ!
- Những
người thổi kèn, thổi sáo, thổi ống tiêu... họ chỉ thổi
ra, mà không thổi vô, là sao nhỉ?
Viên
đại thần im lặng.
- Có
những đạo sĩ bà-la-môn họ tu phép nhịn thở năm ngày, bảy
ngày ...., chẳng vô mà cũng chẳng ra thì phải giải thích
làm sao?
- Đệ
tử quả thật là không biết, mong đại đức chỉ giáo cho?
- Này
Atakàya! Đại đức Na-tiên chậm rãi thuyết giảng - Hơi thở
vào ra kia chỉ làm cái phần việc thở vô thở ra mà thôi,
tương tự như phận việc của con mắt, của lỗ tai, của
cái lưỡi ...vậy. Trong tất cả chúng chẳng có cái gì được
gọi là chúng sanh, là thức tánh ở đấy cả. Chúng chỉ là
"thân hành", ngài nên biết như vậy.
- "Thân
hành" ấy nó trú ở đâu, bạch ngài?
- Nó
trú trong ngũ uẩn, chính xác là trong "sắc uẩn"! Đi sâu vào
toàn bộ sắc uẩn ấy, chúng chỉ là rỗng không, chẳng có
gì được gọi là Na-tiên, ngài nên hiểu như thế! [*]
Đại
thần Atakàya nghe xong, tâm trí sáng suốt, vững niềm tin trong
sạch với giáo pháp, thành kính chấp tay nói:
- Bạch
đại đức, từ rày xin ngài cho phép đệ tử được làm một
cận sự nam trong Phật giáo!
[*]
Không những sắc uẩn mà thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng
trống rỗng như thế. Nhưng khi ngũ uẩn được kết hợp làm
một tiến trình, một "ảo tưởng", có một chúng sanh (một
linh hồn, một tự ngã) ra đời. Thật ra, tiến trình ngũ uẩn
ấy sinh diệt liên tục, thay đổi liên tục ...
* *
*
5.
Cứu cánh của Sa môn hạnh
Sau
buổi cúng dường trọng thể, đức vua thỉnh tất cả tỳ
khưu Tăng về chùa an nghỉ, chỉ xin lưu lại mười vị cùng
với đại đức Na-tiên dự buổi Pháp đàm.
Đức
vua thỉnh đại đức Na-tiên cùng mười vị tỳ khưu ngồi
cao phía trên, ngài ngồi bên dưới cùng với quần thần, rồi
bạch:
- Thưa,
trẫm đã sẵn sàng rồi.
- Tâu,
bần tăng cũng đã sẵn sàng rồi, đại vương hãy tùy nghi.
- Thế
thì trẫm xin hỏi đây: Sống đời xuất gia có gì là lợi
ích? Có gì là cao thượng?
- Tâu
đại vương! Người sống đời xuất gia thành tưụ được
bốn điều lợi ích:
Thứ
nhất là không còn sầu khổ khi một ngũ uẩn sanh, hay gọi
là "khổ sanh".
Thứ
hai, không còn sầu khổ khi ngũ uẩn héo mòn , tiều tụy, hay
gọi là "khổ già".
Thứ
ba, không còn sầu khổ khi ngũ uẩn đau đớn, nhức nhối,
khó chịu, hay gọi là "khổ bệnh".
Thứ
tư, không còn sầu khổ khi ngũ uẩn tàn hoại, diệt mất,
hay gọi là "khổ chết".
Sự
thay đổi, biến hoại, tiêu diệt của ngũ uẩn từ sanh, lão,
bệnh, đến tử - người xuất gia hằng suy niệm, hằng quán
tưởng nên sẽ thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối
- là những lợi ích thù thắng đấy, tâu đại vương!
- Đúng
thế! Quả thật là lợi ích to lớn giữa cõi nhân sinh này.
Còn có cái gì là cao thượng, thật sự cao thượng của người
xuất gia, thưa đại đức?
- Thưa,
khi người xuất gia không còn bị sinh lão bệnh tử của ngũ
uẩn ma vương ấy chi phối nữa, vị ấy thân chứng một trạng
thái quân bình tuyệt hảo, hạnh phúc tuyệt hảo; vượt cao,
vượt trên tất cả hạnh phúc của trần thế, siêu việt
ý niệm, ngữ ngôn: cái ấy giả danh là Niết bàn; nơi không
còn sanh tử, khổ đau và phiền não nữa! Đấy là sự cao
thượng trên tất cả mọi sự cao thượng, tâu đại vương!
Đức
vua rất hoan hỷ hỏi tiếp:
- Tất
cả sa môn đều có nguyện vọng như thế sao?
- Tâu
đại vương! Cứu cánh sa môn hạnh thì như thế, nhưng trong
hàng Tăng lữ hiện có bảy hạng người xuất gia vì lý do
khác nhau:
1.
Có người xuất gia vì muốn trốn luật vua, phép nước.
2.
Có người xuất gia là để được thân cận giới quyền quý
cao sang.
3.
Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi
chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
4.
Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm
manh áo.
5.
Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
6.
Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
7.
Có người xuất gia vì sợ sanh tử luân hồi, muốn chấm dứt
khổ đau, phiền não.
Thấy
đại đức Na-tiên trả lời đâu ra đó rất rõ ràng, minh
bạch, lại tự nhiên như hít thở khí trời; ngài phục lắm,
thử ướm hỏi:
- Vậy
chắc chắn đại đức vì mục đích cao thượng của hạng
người thứ bảy mà xuất gia làm sa môn?
Đại
đức Na-tiên mỉm cười gật đầu:
- Thưa,
không phải thế! Bần tăng rời khỏi gia đình lúc bảy tuổi,
còn rất nhỏ thì nào biết gì! Sau dần lớn lên, nhờ Thầy
tổ, nhờ các vị trưởng lão dày công giáo hóa, trí óc mới
khơi mở được chút ít. Hiện giờ thì có thể nói rằng,
bần tăng tu là cốt ý để diệt khổ, đấy không còn là
lời nói dối nữa!
Đức
vua Mi-lan-đà nghe cách trả lời, cách nói đầy khiêm tốn
của đại đức Na-tiên, ngài kính trọng quá, quỳ xuống vập
đầu và nói lớn:
- Ôi
lành thay! Cao quý thay!
* *
*
6.
Tái sanh - Vô sanh
Nghỉ
ngơi một lát, vua lại hỏi:
- Có
ai chết rồi mà không sanh trở lại chăng?
- Thưa,
có kẻ sanh trở lại và có người không sanh trở lại.
- Điều
kiện nào để một người bị tái sanh? Và điều kiện nào
để một người được vô sanh?
- Tâu,
người nào còn tham sân si, phiền não, người ấy còn tái
sanh; người nào tiêu diệt được tham sân si, phiền não, người
ấy sẽ vô sanh.
Nghe
trả lời vậy, đức vua lại đâm ra tò mò:
- Vậy
đại đức đã vô sanh chưa?
- Tâu,
nếu bần tăng còn phiền não, còn ham muốn sự sống thì bần
tăng còn tái sanh; ngược lại, bần tăng sẽ vô sanh!
Đức
vua lại tán thán:
- Tuyệt
vời thay là cách trả lời của bậc trí tuệ!
* *
*
7.
Chú tâm
- Bạch
đại đức, tâm niệm đúng, chú tâm đúng thì có thể nào
thành bậc vô sanh được chăng?
- Tâu
đại vương, không phải đơn giản như thế! Bậc vô sanh phải
thành tựu đầy đủ 3 pháp sau đây:
1)
Chú tâm đúng.
2)
Trí tuệ.
3)
Thiện pháp đầy đủ.
Thiếu
một trong ba chẳng thể vô sanh được đâu.
- Vậy
chú tâm đúng không phải là trí tuệ sao?
- Thưa,
chú tâm đúng chỉ mới đưa đến chánh định! Chú tâm thì
trâu, bò, heo, ngựa ... các loài súc sanh đều có khả năng
đó, nhưng trí tuệ thì nhơn, thiên mới có!
- Kỳ
lạ vậy thay!
* *
*
8.
Hành tướng [*] của chú tâm và trí tuệ cùng sự khác
nhau giữa chúng
[*]
Lakkhana: có thể dịch là tướng trạng, tính chất v.v...
Đức
vua hỏi tiếp:
- Xin
đại đức cho biết hành tướng của chú tâm ra sao?
- Thưa,
muốn chú tâm phải cần có hai yếu tố: một là phải có
một sự cố gắng, một nỗ lực ở bên trong (ussàhalakkh--ana);
hai là phải nắm bắt, chụp bắt, bắt dính được đối tượng
(gaharalakkhana).
- Thế
còn trí tuệ (panna)? Hành tướng của trí tuệ ra sao?
- Ở
đây, tâu đại vương, hành tướng của trí tuệ là sự cắt
đứt, sự tiêu diệt, sự phá hoại, sự đốn bỏ; như cắt
đứt tham, sân, si, tiêu diệt phiền não v.v...
- Đại
đức làm thế nào đưa ra một ví dụ thực tiễn, cụ thể
về chú tâm (manasikàra) và trí tuệ (panna) để cho trẫm dễ
lãnh hội, được chăng?
- Có
thể được, tâu đại vương! Đại vương đã từng có khi
nào quan sát người nông dân cắt lúa chưa?
- Thưa,
trẫm biết rõ lắm.
- Họ
làm như thế nào hở đại vương?
- Thưa,
thợ cắt bước xuống ruộng, tay trái gom lúa lại, tay phải
cầm lưỡi hái rồi cắt!
- Cũng
thế, tâu đại vương! Bước xuống ruộng là một nỗ lực,
một cố gắng (ussàha); tay trái gom lúa lại là nắm bắt,
bắt dính (gahara). Bắt dính gì? Bắt dính tham sân si,tùy miên
kiết sử. Còn trí tuệ thì cắt lìa, đọan lìa tất thảy
phiền não ấy. Như vậy được gọi là chấm dứt luân hồi,
được vô sanh, Niết bàn, tâu đại vương!
Đức
vua lại cảm thán thốt lên:
- Hay
quá! Chẳng có ví dụ nào mà sống động, dễ nghe, dễ thấy,
dễ hiểu đến vậy!
* *
*
9.
Tất cả Pháp lành lấy Giới làm sở y
Đức
vua Mi-lan-đà hỏi:
- Trước
đây đại đức có nói, muốn thành tựu Niết bàn, vô sanh,
phải đầy đủ 3 pháp: chú tâm đúng, trí tuệ và thiện pháp.
Chú tâm và trí tuệ thì trẫm đã hiểu rồi, nhưng còn thiện
pháp, những gì được gọi là thiện pháp?
- Thiện
pháp thì rất nhiều, nhưng Giới mới chính là nền tảng cho
các thiện pháp nảy nở, tăng trưởng, tâu đại vương!
- Xin
đại đức hãy giảng cho rộng ra!
- Vâng,
Giới là nơi vững trú, nảy nở, tăng trưởng của những
thiện pháp sau: ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, tứ niệm
xứ, tứ chánh cần, tứ thần túc, bốn thiền, tám pháp giải
thoát, một pháp định, ba pháp nhập định ...
- Đại
đức hãy cho ví dụ.
- Vâng,
ví dụ như đất là nơi mà các hột giống nảy mầm và lớn
lên; đất là nơi mà các loại củ có thể nứt mộng đâm
nhánh, đâm cây. Cũng như thế ấy, GIỚI là nơi nảy mầm,
tăng trưởng của ngũ căn là tín, tấn, niệm, định, tuệ
... cùng những thiện pháp khác, tâu đại vương!
- Đại
đức có thể cho thêm ví dụ nữa được chăng?
- Thưa,
có thể được! Đại vương hãy đưa mắt quan sát đời sống
của người nông phu trên thửa ruộng của họ! Phải chăng
những người nông phu ấy, họ cày, họ bừa, họ gieo mạ,
cấy lúa, gặt hái, ... ở trênđất! Rồi họ có cơm ăn, áo
mặc, cưới vợ, sinh con cũng nhờ đất! Đất đã nuôi sống
họ, đất đã cho họ đời sống có phải chăng?
Lại
nữa, đại vương hãy quan sát những khách thương buôn bán
lộ trình xa với một trăm cỗ xe hàng hóa, năm trăm cỗ xe
hàng hóa. Họ phải qua sông, qua biển, qua sa mạc, qua rừng
núi, thị trấn, làng mạc ... Như vậy, rõ ràng là đất đã
chuyên chở họ, đất đã nuôi sống họ. Nếu không có đất
không biết hàng hóa di chuyển ở đâu.
Cũng
vậy, một hành giả lên đường, đầu tiên là phải biết
nương tựa Giới, lấy Giới làm sở y, phát triển Giới cho
sung mãn, thanh tịnh thì các thiện pháp mới có cơ hội tựu
thành. Xin tâu đại vương rõ!
- Cũng
chưa rõ lắm đâu, thưa đại đức! Trẫm muốn nghe nhiều
ví dụ nữa.
- Được
thôi, đại vương hãy nghe đây! Đại vương chắc đã từng
thấy người ta tập luyện, biểu diễn các môn thể thao, các
trò vui chơi công cộng chứ?
- Trẫm
có thấy!
- Muốn
tập luyện hay biểu diễn những nơi lộ thiên công cộng như
thế, đầu tiên người ta phải làm sao?
- Đầu
tiên người ta tìm một bãi đất trống, rồi sau đó người
ta phát sạch lùm bụi, dẫy cỏ, dọn sạch gai góc, miểng
sành, miểng chén, đá sỏi v.v..
- Cũng
thế, tâu đại vương! Đất làm nơi nương tựa nhưng cũng
phải dọn sạch sẽ, bằng phẳng, phong quang thì các trò thể
thao, du hý, vui chơi mới biểu diễn được, ý nghĩa này như
thế nào thì Giới cũng phải được hiểu như vậy.
- Hay
lắm - Đức vua gật - nhưng trẫm muốn nghe ví dụ nhiều cách,
nhiều kiểu khác nhau.
- Bần
tăng sẽ cố gắng làm cho đại vương vừa lòng, nhưng đại
vương cũng cho phép bần tăng được hỏi vài câu.
- Rất
hoan hỷ - Đức vua nói - Đại đức cứ hỏi đi!
- Quốc
độ của đại vương rộng lớn và đẹp đẽ, rất nhiều
nơi xứng đáng để xây dựng kinh đô, sao đại vương chọn
xứ Sàgala này?
- Vì
nó là thượng nguồn của năm con sông lớn nhất Ấn độ.
Nơi đây rừng núi bao quanh, sông xanh uốn khúc, quả thật
là một nơi sơn thủy hữu tình.
- Đại
vương trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, lại còn
là một nhà chiến lược quân sự nữa; vậy khi xây dựng
kinh đô, ngài bắt đầu công việc như thế nào?
- Đầu
tiên, trẫm cho vời một số các vị kiến trúc, dưới sự
hướng dẫn của trẫm, họ lên một bản vẽ tổng quát toàn
bộ hoàng thành: la thành, tường, hào, các lối đi, chính điện,
bảo điện, nơi ngự triều, ngọ môn quan, các kho đụn, nơi
khánh tiết, lễ hội, hý trường, sân thể thao, hội trường
v.v.. và v.v..
- Rồi
sau đó, lúc bắt đầu xây dựng, phải làm sao?
- Dĩ
nhiên, phải san phẳng tòan bộ mặt bằng, dọn dẹp mặt bằng
mới xây dựng được.
- Cũng
thế ấy, tâu đại vương! Toàn bộ lâu đài, cung điện, thành
quách... của đại vương đều được xây dựng trên đất
sau khi đất ấy được làm cho sạch sẽ, phong quang như thế
nào thì Giới cũng như thế ấy, phải được làm cho thanh
tịnh thì các lâu đài Thiện pháp mới xây dựng ở trên đó
được. Tứ thanh tịnh giới là chỗ trú mình, chỗ sở y của
người xuất gia để thành tựu tín, tấn, niệm, định, tuệ
cùng các thiện pháp tối thắng khác.
Đức
vua gật đầu:
- Tuyệt
vời thay là cách dẫn chuyện của đại đức, nhưng chưa đâu,
trẫm muốn nghe thêm một ví dụ nữa.
- Xin
vâng, thế thì cho phép bần tăng được hỏi.
- Đại
đức cứ hỏi tự do.
- Trước
đây, đại vương từng là một đại tướng lãnh bách chiến
bách thắng, ngài đã từng chỉ huy bốn loại quân binh một
cách thiện xảo, thiên tài, ngài đã từng chiến thắng những
"trận địa chiến" rất lớn. Bần tăng xin được hỏi là
đại vương thường thiết lập, bố trí "trận địa chiến"
ấy ra sao?
- Không
dấu gì đại đức, chuyện ấy đối với trẫm thì dễ dàng
như mặc áo, ăn cơm vậy. Đầu tiên trẫm quan sát các thế
núi, sông, rừng, sa mạc, đồng ruộng, thôn làng. Rồi dự
định chỗ tấn, chỗ thoái, chỗ lập đồn lũy, chỗ hư binh,
chỗ phục binh v.v.. sau đó, lập sa bàn, tập trận giả, rồi
tập trận thật trên địa thế núi sông tương tự ...; rồi
còn chiến thuật, tâm lý ... và nhiều lãnh vực chuyên môn
khác nữa.
- Chừng
đó là bần tăng hiểu rồi, tâu đại vương! Muốn chiến
thắng, bách chiến bách thắng, đại vương phải thiết lập
vững vàng trận địa, nơi thế đất này, thế núi kia ...
tất cả đều được chuẩn bị, dự phòng sẵn. Dường thế
ấy, từ Giới lập trận thế, từ Giới lập chiến thuật,
chiến lược; từ Giới lập sa bàn; từ Giới mà tiêu diệt
đối phương ... thì mười đội binh ma quân phiền não sẽ
cởi giáo quy hàng. Nhờ Giới mà tín sẽ vững chắc không
xao động. Nhờ Giới mà tấn không thối thất. Nhờ Giới
mà niệm không buông lơi. Nhờ Giới mà định tâm thêm kiên
cố. Nhờ Giới mà tuệ càng thêm sáng tỏ.
Tâu
đại vương! Đức Phật tổ cũng hằng giáo giới chư tỳ
khưu như vậy. Giới năng sanh thiện pháp. Giới năng sanh định,
định năng sanh tuệ. Có Giới là có tất cả. Nơi nào có
Giới thì nơi ấy có tuệ. Nơi nào có tuệ thì nơi ấy có
Giới.
Quả
địa cầu là nơi sanh của các loài thảo mộc, động vật,
long vương, dạ xoa, đại bàng, muôn thú, người ... như thế
nào - thì Giới là nơi sanh trưởng của ngũ căn, ngũ lực
... các cõi trời, phạm thiên, các tầng Thánh quả; cho chí
quả vị tối thượng Chánh đẳng giác ... cũng từ Giới mà
sở y, nương tựa, tâu đại vương được rõ!
- Hay
lắm! Trẫm không còn có lý do gì mà nghi ngờ về Giới nữa.
Thật là tuyệt hảo!
* *
*
10.
Hành tướng của Tín
Đức
vua lại hỏi tiếp:
- Các
thiện pháp đầu tiên lấy GIỚI làm nơi nương tựa, đại
đức có nhắc đến ngũ căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ.
Vậy hành tướng của Tín là thế nào? Nhờ đại đức giảng
rõ.
- Thứ
nhất là, Tín có công năng làm cho tâm yên lặng, trong sạch
(Sampasàdanalakkhana); thứ hai là, Tín có công năng làm cho tâm
luôn có khuynh hướng tiến về phía trước (Sampakkhamdanalakkhana),
tâu đại vương!
- Công
năng thứ nhất ấy lợi ích như thế nào?
- Tâu
đại vương, Tín phát sanh trong tâm rồi thì nó như cái màng
chắn các bụi bặm phiền não, không cho lan vào. Các bụi bặm
phiền não ấy thường dấy sinh từ năm pháp cái; tức là
năm pháp che lấp, ấy là hôn trầm thụy miên, buông lung phóng
đật, sân, dục và nghi. Nhờ vậy, tâm được yên lặng, trong
sạch.
- Xin
đại đức hãy cho ví dụ để trẫm được sáng tỏ về lợi
ích ấy.
- Ví
như đại vương dẫn 4 loại quân binh vượt qua một con rạch,
nước bị quấy lên đục ngầu. Lúc bấy giờ đại vương
muốn uống nước, bèn sai quân hầu lấy lên bình lọc nước
đặt xuống lòng rạch. Bình lọc nước ấy có công năng gạn
lọc tất cả bùn dơ đục vẩn, chỉ còn lại nước trong
sạch như thế nào thì Tín cũng có công năng lọc sạch uế
trược phiền não như thế ấy, tâu đại vương.
- Trẫm
hiểu điều đó rồi, vậy còn công năng thứ hai, tại sao
lại có khuynh hướng tiến về phía trước?
- Ây
là vì người có Tín luôn luôn hướng theo thiện pháp mà đi
tới, tự sách tấn mà vượt qua, vượt lên mãi. Như thấy
người đắc quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A-na-hàm, A-la-hán
... người có Tín thường nhắc nhở tâm mình làm sao để
chạy theo các đạo quả ấy, cố gắng cho đến lúc giác ngộ,
giải thoát mới thôi.
- Đại
đức có ví dụ nào chăng?
- Thưa,
có chứ! Ví như trận mưa lớn ngập lụt tất cả đường
sá, sông hồ. Một đoàn bộ hành dừng chân, e ngại chẳng
dám vượt qua vì không biết mực nước nông sâu. Chợt một
người đàn ông có vẻ thành thạo ngắm nhìn con rạch, đưa
mắt nhìn thế nước, ước lượng dòng chảy, chỗ cạn, chỗ
sâu, rồi xắn quần, vén áo thản nhiên lội qua. Bắt chước
người đàn ông, theo dấu người đàn ông, đoàn bộ hành
nhờ vậy mới tiếp tục được lộ trình. Người có Tín
cũng như thế ấy, thấy người đi trước mình lội qua được
dòng sông sinh tử, thì theo dấu người ấy để lội theo.
Thấy người trước mình xắn quần,vén áo lội qua "bờ kia",
y cũng cố gắng xắn quần, vén áo quyết bỏ "bờ mê" bên
này cho bằng được . Những quả vị Thánh nhân đều là mục
đích cho người có Tín hằng nỗ lực để vươn tới, lướt
tới cho thành tựu hẳn thôi, tâu đại vương!
- Cảm
ơn đại đức! Trẫm hiểu rõ Tín là gì rồi.
* *
*
11.
Hành tướng của Tấn
Đức
vua Mi-lan-đà lại hỏi:
- Đại
đức có nói thiện pháp thứ hai là Tấn, vậy hành tướng
của nó thế nào?
- Tấn
có công năng hộ trì, nâng đỡ các thiện pháp cho được
vững chắc, tăng trưởng; không để cho thiện pháp hư mòn,
tiêu hoại hoặc sụp đổ, tâu đại vương!
- Xin
đại đức lấy ví dụ cho rõ nghĩa.
- Ví
dụ một ngôi nhà muốn được vững bền, lâu năm không bị
xiêu ngã thì các cột, kèo, đòn tay... cần phải được chắc
chắn. Ngôi nhà chính là thiện pháp; cột, kèo, đòn tay chống
đỡ là Tấn, tâu đại vương!
- Trẫm
muốn nghe thêm ví dụ.
- Ví
như đức vua ra trận mà quân giặc quá mạnh, phải phái thêm
viện binh mới thắng địch được. Quân giặc mạnh ví như
ác pháp mà viện binh chính là Tấn. Như vậy, Tấn có hai công
năng, thứ nhất là hộ trì thiện pháp (ví dụ đầu) và thứ
hai là tiêu trừ ác pháp (ví dụ sau), đúng như kệ ngôn Đức
Thế Tôn đã thuyết:
"Này
các thầy tỳ khưu! Tấn là sức mạnh của bậc Thinh Văn,
nó hộ trì thiện pháp và tiêu trừ ác pháp; làm cho tội lỗi
tiêu hoại và phước đức phát triển. Có Tấn thì chẳng
bao giờ lìa xa Chánh pháp."
- Thế
là trẫm đã sáng tỏ!
* *
*
12.
Hành tướng của Niệm
- Còn
Niệm là thế nào, thưa đại đức?
- Niệm
cũng có hai chức năng. Thứ nhất là nhắc nhở tâm, thứ hai
là giúp tâm cầm nắm.
- Nhắc
nhở tâm như thế nào?
- Thưa,
bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc
nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách
quan. Chức năng thứ nhất của Niệm là như vậy đó, tâu
đại vương!
- Xin
đại đức cho thí dụ.
- Vâng!
Ví như người canh cửa của đức vua, y phải tự nhắc nhở
mình thường xuyên là đừng có lơ đễnh nhiệm vụ, người
nào đi vô đi ra phải biết. Như vị quan giữ kho của đức
vua, y phải biết rõ đây là kho lương thực, đây là kho vàng
bạc, vải vóc, quân nhu, khí giới v.v... Như vậy, Niệm như
là người canh cửa, như vị quan giữ kho - đấy là chức năng
thứ nhất, tâu đại vương!
- Vậy
là trẫm đã hiểu. Còn "cầm nắm" là thế nào hở đại đức?
- Tâu
đại vương! Một pháp phát sanh lên, niệm không những nhắc
nhở
tâm ghi nhận pháp ấy mà còn "cầm nắm" trọn vẹn cái thiện,
cái ác ấy nữa. Các pháp như tứ niệm xứ, tứ chánh cần,
ngũ căn, ngũ lực... nghĩa là ba bảy trợ đạo phẩm, tứ
vô lượng tâm cũng phải được hiểu như vậy.
- Trẫm
muốn nghe ví dụ để hiểu rõ vấn đề hơn.
- Được
thôi, tâu đại vương! Ví như người canh cửa của đức vua,
sau khi không lơ đễnh nhiệm vụ thấy rõ người nào đi vô
đi ra, mà còn biết đây là quan, đây là dân, đây là người
được phép vào, đây là người không được phép vào. Ví
như quan giữ kho của đức vua sau khi biết đây là kho vàng,
kho bạc, kho lương thực mà còn nắm vững tình trạng của
kho ấy, biết kho vàng, kho bạc nhiều hay ít, biết kho lương
thực đầy hay vơi, v.v... Để khi vua cần hỏi, vị quan giữ
kho có thể cho đức vua nắm rõ tài sản, kim ngân trong cung
khố của mình. Chức năng thứ hai của Niệm là có thể trình
cho biết các pháp lui tới tâm như thế nào, nó thiện hay ác,
tốt hay xấu như vị quan giữ kho trình lên đức vua vậy tâu
đại vương .
- Cảm
ơn đại đức. Ví dụ vậy là tuyệt hảo, trẫm "nắm giữ"
được pháp và nghĩa của Niệm rồi.
* *
*
13.
Hành tướng của Định
- Thế
nào là Định? Đức vua hỏi tiếp - hành tướng của Định
là như thế nào, thưa đại đức?
Đại
đức Na-tiên đáp:
- Tâu
đại vương! Định là quy tâm về một mối, là cột tâm,
là tập trung tâm lại không cho loạn động. Trong tất cả
thiện pháp, Định là chủ trì, Định là nguyên đỉnh, Định
là tối thắng, Định là chỗ hướng về, Định là nơi tụ
họp, Định là chỗ tiến tới, Định là chỗ chảy xuống...!
- Đại
đức hãy cho ví dụ.
- Ví
như đại vương dẫn 4 loại quân binh ra trận mạc. Bốn loại
quân binh ấy sẽ y cứ nơi đức vua, họ xem đức vua là lớn,
là bậc thống lĩnh tối cao, đức vua là chủ trì, là nguyên
đỉnh, là tối thắng, là chỗ hướng về, là nơi tụ họp,
là
chỗ tiến tới, là nơi chảy xuống... tâu đại vương! Ví
dụ này như thế nào thì các thiện pháp sẽ y cứ Định là
bậc chủ trì như vậy, do Định mà phát sanh y như thế ấy;
đúng như câu Phật ngôn mà Đức Thế Tôn đã thuyết:
"Này
các thầy tỳ khưu! các thầy hãy tinh cần tiến tu thiền định.
Người nào có thiền định rồi, người ấy sẽ dễ dàng
chứng đắc đạo quả, giác ngộ ba minh."
- Tâu
đại vương! Vậy đại vương có thắc mắc gì về Định
nữa chăng?
- Không.
Đức vua đáp - trẫm đã thông suốt lắm rồi.
* *
*
14.
Hành tướng của Tuệ
- Xin
đại đức giảng giải cho trẫm nghe về Tuệ?
- Tuệ
cũng có hai chức năng, tâu đại vương! Chức năng thứ nhất
là cắt lìa, cắt đứt, đốn bỏ, diệt tận, hủy diệt như
bần tăng đã trình bày. Còn chức năng thứ hai là soi sáng,
là chiếu soi, là tự chiếu..., tâu đại vương!
- Chức
năng thứ nhất thì trẫm đã lãnh hội rồi,vậy hãy cho nghe
chức năng thứ hai? Cái gọi là soi sáng tỏ tường ấy là
gì?
- Tâu
đại vương! Khi Tuệ tâm sở phát sanh lên rồi thì nó có
công năng soi tỏ cho ta thấy rõ đâu là mê si, đâu là vô
minh, đâu là khổ, đâu là nguyên nhân khổ, đâu là vô thường,
đâu là vô ngã, đâu là con đường thoát khổ ... một cách
rõ ràng minh bạch.
- Xin
cho nghe ví dụ?
- Ví
như người cầm cây đèn sáng đi vào căn nhà tối tăm; nhờ
ngọn đèn soi sáng họ thấy rõ đường đi lối lại, thấy
rõ đây là bàn, ghế, tủ, giường v.v... Ngọn đèn sáng là
Trí tuệ mà các vật dụng trong nhà là các thiện pháp, ác
pháp ở trong tâm đấy, tâu đại vương!
- Trẫm
đã rõ. Nhờ đèn sáng mà bóng tối tự lui, cũng vậy, nhờ
Tuệ mà vô minh tự diệt. Hay thay!
* *
*
15.
Ngũ căn - riêng và chung
Đức
vua Mi-lan-đà lại hỏi tiếp:
- Đại
đức vừa trình bày xong ngũ căn: tín, tấn, niệm, định,
tuệ và gọi đó là những thiện pháp. Những thiện pháp ấy
có tên gọi, chức năng, công dụng khác nhau. Thế chúng đứng
độc lập, riêng biệt; chẳng có cái "chung" gì cả sao?
- Có
chứ, tâu đại vương!
- Cái
"chung" ấy là gì?
- Cái
chung ấy là cùng hướng về một mục đích, cùng thành tựu
một lợi ích, tâu đại vương.
- Mục
đích ấy là gì? Lợi ích ấy là gì?
- Mục
đích và lợi ích ấy chính là ngăn tất cả các điều dữ,
diệt tất cả các phiền não, tâu đại vương!
- Xin
đại đức cho ví dụ.
- Ví
như đại vương dẫn bốn loại quân binh: bộ binh, tượng
binh, mã binh, xa binh ra trận. Bốn loại binh ấy có tên gọi
khác nhau, hình tướng, chức năng, công dụng khác nhau nhưng
đều thành tựu chung một lợi ích, một mục đích: ấy là
đem về vinh quang và chiến thắng cho đại vương!
- Đúng
thế! Trẫm rất hài lòng về ví dụ ấy.
* *
*
16.
Tương quan thân trước và sau
- Trẫm
có điều thắc mắc. Chúng sanh trong thế gian này có nhiều
loài, nhiều loại; như đàn ông, đàn bà, bàng sanh, noãn sanh,
thấp sanh v.v... Khi chúng chết đi, thác sanh trở lại, thì
đàn ông vẫn làm đàn ông, đàn bà vẫn làm đàn bà; loài
hai chân thành loài hai chân, loài bốn chân thành loài bốn
chân... hay sao, thưa đại đức?
- Ý
đại vương nói rằng, thân trước thân sau vẫn mang hình tướng
ấy? Con người cũ ấy?
- Đúng
là trẫm muốn hỏi như thế!
- Nói
con người cũ là không phải, mà nói chẳng phải con người
cũ cũng không phải, tâu đại vương!
- Xin
đại đức cho nghe rõ hơn?
- Ngay
trong kiếp sống này thôi mà lập ngôn như thế cũng đã sai
rồi. Khi chúng ta sanh ra trên đời này, kể từ khi thai nhi
nằm trong bụng mẹ, hài nhi nằm trong nôi, lớn lên biết bò,
biết đi rồi khôn lớn trưởng thành, trung niên, già lão.
Này đại vương! Vậy đứa bé và ông lão ấy cùng là một
con người hay là hai con người?
- Một
cũng trật, hai cũng chẳng nhằm!
- Bệ
hạ lúc còn là hài nhi, còn ẵm ngữa trong lòng quốc mẫu
với bệ hạ bây giờ có khác gì nhau không?
- Khác
chứ sao không! Hồi đó nhỏ dại mà bây giờ lớn khôn. Thân
thể đã khác mà hiểu biết cũng khác nữa.
- Nếu
đại vương nói thế thì không những bệ hạ khác mà mẫu
hoàng, phụ hoàng, thầy dạy học của bệ hạ cũng khác nữa.
Bần tăng nghi ngờ lắm. Nghi ngờ rằng, cha mẹ của bệ hạ
bây giờ không phải là cha mẹ thuở xưa của bệ hạ. Phụ
hoàng và thầy dạy học của bệ hạ cũng là người khác
rồi. Một kẻ tội đồ, gây ác nghiệp cách đây mấy năm
là một người khác, bây giờ bị cắt tay, cắt chân lại
là một người khác nữa hay sao?
- Không
phải thế! Ý trẫm không phải là vậy. Nếu là đại đức
thì đại đức trả lời sao?
- Tâu
đại vương! Bần tăng sẽ trả lời rằng, lúc còn bé nhỏ
là bần tăng, mà lúc lớn lên cũng là bần tăng chứ không
phải người khác. Cái thân có thay đổi từ bé, trung niên
đến già lão, nhưng vẫn tồn tục một sinh mạng ấy thôi.
- Xin
cho ví dụ.
- Ví
như cây đèn đốt cháy đầu hôm cho đến sáng, đầu hôm
thì đầy dầu, sáng thì cạn dầu. Tâu đại vương! Vậy thì
đầu hôm, giữa khuya và sáng là ba cây đèn khác nhau chăng?
- Chẳng
phải thế. Nó chỉ là một cây đèn ấy được cháy đỏ
liên tục đầu hôm đến sáng.
- Tất
cả chúng sanh cũng y như thế đó, tâu đại vương. Danh và
sắc đầu tiên kết hợp thành thân và tâm này tạo nên một
sanh mạng, một đời sống hữu tình; tuy thân và tâm đều
vô thường, thay đổi nhưng nó vẫn duy trì tồn tục sanh mạng
cho đến lúc chấm dứt tuổi thọ. Già lão có thay đổi nhưng
vẫn là một con người ấy mà thôi
- Cho
xin ví dụ nữa.
- Ví
như sữa tươi, để lâu thành sữa chua, thành sữa đặc, thành
sữa trong v.v... Nói sữa tươi là sữa chua thì hẳn không đúng,
nhưng nếu nói sữa chua không do sữa tươi mà ra thì sai. Tương
quan thân lão và thân hài nhi là vậy, cho chí kiếp này qua
kiếp kia cũng y như thế, tâu đại vương!
Đức
vua gục gặc đầu:
- Chí
lý! Sanh trở lại, bảo là con người cũ là sai, không phải
con người cũ cũng sai nốt. Hay lắm! Chí lý lắm!
* *
*
17.
Tái sanh và Vô sanh
Đức
vua hỏi:
- Thế
người không còn tái sanh, có thể tự mình xác tín, biết
rõ điều đó chăng hở đại đức?
- Có
thể được, tâu đại vương!
- Bằng
cách như thế nào?
- Thưa,
ai thấy mình không còn gây nhân phiền não, cấu sanh; nghĩa
là không còn vô minh và ái dục thì người đó biết chắc
mình không còn sanh lại trong ba cõi, sáu đường nữa.
- Trẫm
muốn nghe ví dụ.
- Ví
như người làm ruộng, đầu mùa lo cày bừa, gieo mạ thì cuối
vụ ông ta gặt lúa, cất lúa vào bồ. Năm sau, vì một lý
do nào đó, người làm ruộng kia không còn cày bừa, gieo mạ
nữa - thì ông ta có còn gặt lúa, cất lúa vào bồ chăng,
tâu đại vương?
- Có
lúa đâu mà gặt, mà cất!
- Tại
sao đại vương biết?
- Vì
ông ta có cày bừa và gieo mạ đâu!
- Đúng
thế! Cày bừa, gieo mạ là nhân; gặt lúa cất vào bồ là
quả. Cũng thế, chúng sanh có gây nhân cấu sanh, ái dục nên
còn quả tái sanh; người tu hành đắc đạo tự biết mình
không gây nhân cấu sanh, ái dục nên biết chắc rằng không
còn tái sanh nữa, tâu đại vương!
- Rất
dễ hiểu, thưa đại đức .
* *
*
18.
Trí và Tuệ (nana-panna)
- Trí
và Tuệ khác nhau như thế nào, thưa đại đức?
- Trí
thuộc về nhận thức, kiến thức, hiểu biết; còn Tuệ là
thấy rõ vô thường, khổ não, vô ngã. Trí là thông minh mà
Tuệ là sáng suốt, vậy nó khác nhau, tâu đại vương!
- Thông
minh và sáng suốt khác nhau sao?
- Thông
minh là học nhanh, hiểu nhanh, học một biết hai, có thể có
kiến thức sâu rộng, nhưng nếu không biết tu tập có thể
đi đến tà trí. Còn người sáng suốt thì tự biết tâm mình,
có tu tập, thấy rõ pháp; nó cũng được gọi là chánh trí
hay chánh tuệ, tâu đại vương!
- Người
có được Tuệ có thể biết mọi sự, mọi vật không, thưa
đại đức?
- Có
điều biết, có điều không biết.
- Tại
sao?
- Những
gì có học thì biết, những gì không học thì không biết.
Đơn giản có vậy. Trí thuộc phạm trù hiểu và biết, Tuệ
thuộc về cái thấy không còn lầm lẫn như: vô thường cho
là thường, vô ngã cho là ngã, khổ cho là lạc!
- Vậy
người có Trí còn si mê, lầm lẫn; người có Tuệ thì hết
si mê, lầm lẫn?
- Đúng
vậy!
- Thế
khi Tuệ phát sanh thì si mê, lầm lẫn ấy đi đâu?
- Nó
diệt mất.
- Đại
đức hãy cho ví dụ.
- Ví
như cầm cây đèn rọi vào hóc tối, ánh sáng hiện thì bóng
tối tự tiêu, tâu đại vương.
- Còn
Tuệ, nó mất chăng?
- Nó
cũng diệt mất, nhưng công việc mà Tuệ đã làm, như cho ta
thấy biết chân tướng của cuộc đời, cho ta thấy rõ lý
vô thường, khổ và vô ngã của pháp thì vẫn còn, tâu đại
vương!
- Sao
lạ vậy? Điều đó trẫm ngờ lắm. Hãy cho trẫm nghe ví dụ
xem nào?
- Vâng,
ví như một người thắp đèn để viết sách, viết xong, tắt
đèn; đèn tuy tắt nhưng chữ vẫn còn lưu lại trên giấy,
tâu đại vương .
- Xin
cho một ví dụ nữa.
- Một
người đề phòng hỏa hoạn, sắm sẵn năm chum đầy nước.
Khi hỏa tai, người ấy lấy nước trong năm chum đem ra sử
dụng, dập tắt được lửa. Tai qua nạn khỏi, người ấy
chẳng cần dùng năm chum nước ấy nữa, phải thế chăng?
Cũng như thế, năm chum nước được ví cho ngũ căn: tín, tấn,
niệm, định, tuệ; khi rưới tắt được lửa tham sân si,
phiền não rồi, xong phận sự rồi nó sẽ tự diệt; nhưng
không, vô tướng và giải thoát thì vẫn còn, tâu đại vương!
- Trẫm
muốn nghe ví dụ nữa.
- Ví
như vị lương y dùng năm loại dược thảo, bào chế ra phương
thuốc trị bệnh cho bệnh nhân. Uống xong, lành bệnh, vị
lương y có còn dùng lại năm loại dược thảo kia để cho
bệnh nhân uống nữa không, tâu đại vương?
- Không
cần thiết nữa.
- Đúng
thế, bệnh lành rồi không cần thuốc như thế nào, các tùy
miên kiết sử phiền não đã diệt rồi thì ngũ căn tín, tấn,
niệm, định, tuệ cũng không dùng nữa y như thế ấy. Chỉ
còn lại niềm hạnh phúc chân thật thôi, tâu đại vương!
- Đã
rõ lắm rồi nhưng đại đức còn có thể cho thêm ví dụ
nữa chăng?
- Có
thể được chứ! Ví như đại vương có lần cầm quân xuất
trận. Cứ mỗi lần đại vương bắn một mũi tên lửa là
dấu hiệu tấn công, bắn năm mũi tên lửa là năm đợt tấn
công, quân địch bại trận. Thế thì sau khi chiến thắng,
đại vương có cần bắn năm mũi tên nữa hay chăng?
- Bắn
làm gì nữa, đại đức.
- Đúng
thế! Năm mũi tên chính là năm đội quân thiện pháp, quân
giặc bại trận ví như ác pháp, vô minh, ái dục. Người giác
ngộ sẽ không còn sử dụng binh khí gì nữa mà chỉ thọ
hưởng an lạc siêu thế thôi, tâu đại vương!
- Hay
lắm! Trẫm không còn ngờ gì nữa.
* *
*
19.
Bậc vô sanh có còn đau khổ không?
Đức
vua hỏi:
- Bậc
Vô sanh, nghĩa là người đã Niết bàn, có còn đau khổ chút
ít nào không, thưa đại đức?
- Một
chút ít thọ khổ ấy cũng không có, tâu đại vương!
- Vậy
thì trong đời này, các ngài chứng ngộ lý Vô sanh rồi có
còn thọ khổ chút ít không?
- Thọ
khổ nơi thân thì còn mà thọ khổ trong tâm thì không, tâu
đại vương!
- Tại
sao thế?
- Thân
còn thọ khổ vì thân còn bị già, bị bệnh, còn bị sự
biến hoại đổi khác do các định luật tự nhiên chi phối
như định luật sinh học, định luật khí hậu, thời tiết,
nắng mưa v.v... Tâm không còn thọ khổ nữa là do tâm ấy
đã dập tắt tất cả mọi nguyên nhân tạo tác đau khổ:
ấy là vô minh, ái dục!
- Giác
ngộ, giải thoát rồi mà còn đau khổ nơi thân, thế sao các
ngài không Niết bàn đi?
- Tâu
đại vương! Các ngài chưa Niết bàn vì các ngài chẳng tham
cầu sự sống mà cũng chẳng bất bình, chán ghét sự sống.
Các bậc A-la-hán ấy họ sống an nhiên, tự tại giữa cuộc
đời, còn duyên thì đến, hết duyên thì đi. Trái cây kia
chưa đúng thời, chưa chín thì họ chẳng mong chín mau, chín
vội bao giờ! Cho nên tôn giả Xá-lợi-phất thuở còn sinh
tiền, có câu kệ ngôn sau:
" -
Tịch diệt chẳng ưa thích
Mà
sự sống cũng không
Chẳng
hy cầu tham luyến
Chẳng
trái ý nghịch lòng
Còn
duyên, thời thì ở
Hết
duyên, thời thì đi
Không,
vô tướng, vô tác
Tùy
hữu vi, vô vi!"
Đức
vua Mi-lan-đà cảm thán thốt lên:
- Hay
thay! Tuyệt vời thay! trẫm đã hiểu.
* *
*
20.
Cảm Thọ
Đức
vua lại hỏi tiếp:
- Thưa
đại đức! Khi một người cảm thấy vui thì cái ấy là thiện
chăng? Và khi cảm thấy khổ thì cái ấy là ác chăng?
- Cũng
tùy trường hợp, tâu đại vương! Thọ vui thiện cũng có,
ác cũng có, mà vô ký cũng có, ngược lại thọ khổ cũng
y như thế.
- Sao
lạ vậy? Vui sao có thể là ác? Khổ sao có thể là thiện?
Thiện và khổ có lẽ nào lại tương hợp, đi chung đường?
- Khó
nói lắm! Tâu đại vương! Trên thế gian này biết bao người
đắm đuối trong ngũ dục, trong ác pháp, trược pháp mà họ
cứ vẫn nghĩ là vui, là hạnh phúc? Biết bao người làm việc
lành, cố gắng lìa xa ngũ dục mà họ cứ vẫn nghĩ là khổ,
và họ bảo rằng đấy là khổ thanh cao? Các quan niệm vui
khổ quả thật tương đối lắm thay! Nếu như đại vương
hiểu rõ về tất cả mọi cảm thọ thì đại vương sẽ không
đặt những câu hỏi tương tự.
- Trẫm
vẫn chưa hiểu ra điều ấy.
Đại
đức Na-tiên hỏi:
- Có
người tay mặt nắm lấy một cục sắt nóng, tay trái nắm
một phiến băng lạnh! Bần tăng hỏi thử đại vương; hai
tay người ấy thọ nhận cảm giác gì? Cả hai tay đều run
rẫy chăng?
- Không
phải.
- Cả
hai tay đều bị nóng đốt chăng?
- Cũng
không phải.
- Một
tay nóng, một tay lạnh chăng?
- Trong
một lúc làm sao có hai cảm giác?
- Vậy
thì nóng lạnh giao hòa, đã hòa nhau thì nóng lạnh triệt tiêu?
- Cũng
chẳng phải thế!
Đại
đức Na-tiên bèn giảng giải:
- Tâu
đại vương! Ngay chính những cảm giác nóng lạnh thô tháo
ở nơi thân mà chúng ta cũng khó nhận biết, huống hồ là
những cảm thọ vi tế thuộc vui, thuộc khổ ở nơi tâm! Vui
khổ, thật ra, rất tương đối vậy!
- Xin
đại đức giảng rộng ra cho trẫm được lãm tường.
- Thưa
vâng, có sáu lạc thọ nương sáu trần cảnh của người thỏa
thích trong ngũ dục, đấy gọi là sáu lạc thọ thô trược
của thế gian. Có sáu lạc thọ hành trình trong sáu trần cảnh
của người xuất ly thế gian, có minh sát tuệ, đấy gọi
là sáu lạc thọ thanh cao. Có sáu thọ khổ nương sáu trần
cảnh của người đắm say ngũ dục, đấy là sáu khổ thọ
thô trược của thế gian. Có sáu khổ thọ hành trình trong
sáu trần cảnh của người xuất ly thế gian, có minh-sát-tuệ,
đấy gọi là sáu khổ thọ thanh cao. Có sáu xả thọ của
người thỏa thích trong ngũ dục, đấy gọi là sáu xả thọ
thô trược của thế gian. Có sáu xả thọ hành trình trong
sáu trần cảnh của người xuất ly thế gian, có hành minh
sát tuệ, được gọi là sáu xả thọ thanh cao. Tất cả mười
hai thọ lạc , mười hai thọ khổ, mười hai thọ xả ấy
nhân với ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, tổng cọng
có một trăm lẻ tám cảm thọ, tâu đại vương! Vậy thì
những cảm thọ ấy, ta có thể xác định được rằng, cảm
thọ này là thiện, cảm thọ kia là ác được chăng?
- Khó
nói lắm, thưa đại đức .
- Thảng
hoặc, có thể xác định được rằng, thọ khổ chính là
ác và thọ lạc chính là thiện chăng?
- Cũng
khó nói vậy thay!
Trầm
ngâm một lát, đại đức Na-tiên hỏi tiếp:
- Thế
đại vương còn thắc mắc gì về cảm thọ nữa chăng?
- Còn
đấy, thưa đại đức! Tại sao một tay cầm cục sắt nóng,
một tay cầm phiến băng lạnh, ta khó cảm nhận được nóng
hay lạnh?
- Tâu
đại vương! Vì khi xúc phát sanh thọ, thì thọ ấy chỉ có
một tâm. Một tâm thì trong một lúc không thể nhận hai trần
cảnh được!
- Trường
hợp ấy có thể ví, là nếu đã thọ khổ thì không thể
thọ lạc, đã thọ lạc thì không thể thọ khổ, phải thế
không thưa đại đức?
- Vâng!
- Vậy
thì trẫm đã hoàn toàn lãnh hội rồi!