Miền
Bắc giáp Bangladesh, Ấn Độ, Trung Hoa. Miền đông giáp Lào,
Thái Lan. Miền Nam giáp Mã Lai Á và miền Tây giáp với biển
Ấn Độ. Một dãi giang sơn trãi dài qua các đồng bằng, núi
non và biển cả. Miến Điện có lịch sử hơn 3000 năm tồn
tại và phát triển. Ngày xưa Miến Điện được gọi là Bumua
và ngày nay là Myanmar.
Đến
thế kỷ thứ 12 Phật Giáo đã trở thành quốc giáo cho đến
thế kỷ thứ 19. Từ khi Phật Giáo được du nhập vào cho
đến nay đã gần 2,500 năm lịch sử và chùa chiền, tháp thờ
xá lợi, tu viện v.v… đã có đến 13,000 ngôi. Đến năm 1287
khi Mông Cổ xâm chiếm nước này, những ngôi chùa nổi tiếng
đã bị đập phá và hiện nay chỉ còn độ 2,000 ngôi chùa
danh tiếng và dĩ nhiên những chùa viện khác còn tồn tại
cũng không phải là ít.
Kinh
đô của Miến Điện là Yangoon hay Rangon. Tiếng Hoa gọi là
Ngưỡng Quang. Đây là cách đọc và dịch theo âm của người
Hoa. Ví dụ như Bangkok viết là Vọng Các. Vientane viết là
Vạn Tượng. Thật sự ra cách phiên âm như thế cốt cho dễ
đọc, chứ không có một ý nghĩa gì cả. Nếu có, chẳng qua
là sự trùng hợp mà thôi. Cũng như người Lào tin rằng chữ
Vientane dịch ra Vạn Tượng là đúng. Vì đây ám chỉ cho một
xứ sở có đến hơn 10,000 con voi.
Đã
từ lâu, tôi có ý muốn đi viếng thăm xứ Miến Điện một
chuyến. Vì khi đến đảnh lễ Kim Cương tòa nơi đức Phật
Thích Ca thành đạo có nhiều sự kiện làm cho tâm tôi tự
dưng se lại; trong đó có liên hệ với Miến Điện và Trung
Hoa.
Khi
khách hành hương rời khỏi gốc cây Bồ đề nơi Bồ Đề
Đạo Tràng đi về hướng đông cách đó không xa, sẽ gặp
một trụ đá lớn, trên đó có khắc những giòng chữ bằng
tiếng Sanskrit và tiếng Anh như sau “sau tuần lễ thiền định
thứ ba, sau khi đức Phật thành đạo, Ngài đã gặp 2 người
thương nhân Miến Điện đến đây cúng dường bánh làm bằng
gạo và mật ong. Tiếp đến họ xin quy y Phật và quy y Pháp
(vì lúc đó Tăng già chưa thành lập)”.
Đã
bao lần tôi đến chốn này và mơ ước được sang xứ Miến
Điện để đảnh lễ mười sợi tóc mà Ngài đã tặng cho
2 người thương nhân này và kể từ đó, sau khi về lại nước,
họ dâng lên vua chúa đương thời và được thờ tự rất
trang nghiêm tại 2 chùa ở Miến Điện. 8 sợi tóc của đức
Phật được thờ tại chùa Vàng Schwedagon gần Rangoon và 2
sợi tóc khác thờ tại một hòn đá thiêng ở Kyaitiyo, cách
Rangon chừng 200 cây số về hướng nam.
Phái
đoàn của Thượng Tọa Tiến sĩ Seelawansa gồm các vị học
giả, bộ trưởng giáo dục Phật Giáo tại Tích Lan hướng
dẫn và chúng tôi tháp tùng cùng phái đoàn này đi từ Bangkok
đến Yangoon bằng Bangkok Airways. Có ai đó đến xứ Thái Lan,
Tích Lan, Lào và Miến Điện rồi, mới thấy Phật Giáo tại
các xứ này là quốc giáo. Vì lẽ trên từ vua quan, dưới
cho đến thứ dân ai ai cũng tôn sùng đạo Phật. Ngày nay tại
phi trường mới của Thái Lan những hình ảnh hội họa của
Phật Giáo được trưng bày nhan nhãn đó đây. Ví dụ như
những bức họa danh tiếng khi Thái Tử Tất Đạt Đa xuất
gia có Tứ Thiên Vương nâng tay đỡ bốn chân của ngựa Kiền
Trắc, hình hoa sen, tượng Hộ Pháp, các chùa tháp v.v… một
phi trường mới hiện đại nhất Á Châu ở đầu thế kỷ
thứ 21 này mà Phật Giáo vẫn được vinh danh như thế. Quả
là một dân tộc rất hài hòa theo tinh thần Từ bi và Trí
tuệ của đạo Phật.
Khi
chư Tăng đến phi trường, dẫu cho đó là Nam tông hay Bắc
tông (nếu mặc hậu vàng), sẽ có những nhân viên làm việc
tại đó đến đón, quí Thầy đến cổng diplomatic dành riêng
cho những nhân viên ngoại giao, gần như quốc khách để được
đóng dấu nhập nội Thái Lan và khi đi ra khỏi Thái Lan cũng
như thế.
Hôm
đó là ngày 13 tháng 11 năm 2006, chuyến bay Bangkok Airways đã
để cho hành khách Âu Mỹ đi một chiếc xe bus lớn ra máy
bay. Còn chúng tôi được đưa ra sân bay bằng một chiếc xe
du lịch khác để lên máy bay trước. Những tiếp viên du lịch
rất lịch sự, nhã nhặn và cung kính chào bằng đóa sen búp,
tặng cho người đối diện. sau khi an vị chỗ ngồi, nữ tiếp
viên đến cung kính hỏi thăm và dâng nước uống qua trung
gian là cái khay, chứ không trực tiếp đưa từ tay này qua
tay khác đến chư Tăng. Đây là lối tiếp cận theo giới luật
mà chư Tăng các xứ Nam Tông bao đời đã gìn giữ. Thật quý
hóa và đáng trân trọng biết là bao.
Khi
đến phi trường Rangoon chúng tôi được bà tham vụ Đại
Sứ của Tích Lan ra lo Visa và đi vào hướng của những nhân
viên ngoại giao đoàn để nhận hành lý. Lúc ấy Đại Diện
bên Bộ Giáo Dục của Miến Điện cũng đã đến chào phái
đoàn. Sau khi ra khỏi quan thuế, chúng tôi gặp Thầy Hạnh
Bảo đã có mặt sẵn tại đó và đoàn chia ra làm 3 nhóm nhỏ.
Một nhóm đi về khách sạn, nhóm khác đi về Sứ Quán Tích
Lan và nhóm kia đi về Bộ Giáo Dục.
Ngày
hôm sau (14.11.2006) chúng tôi được đi xem ngôi chùa lịch sử
Schwedagon ở thủ đô Yangoon. Ngôi chùa này đang thờ 8 sợi
tóc của đức Phật và đây cũng có thể gọi là một kỳ
quan của thế giới và của Phật Giáo cũng không hổ thẹn
chút nào. Có 4 lối đi vào chùa và mỗi lối đi đều được
che chắn bởi những mái chùa. Đồng thời những trụ cột
cũng được chạm trổ rất tinh vi. Càng đi càng tiến lên
cao và ở một độ cao trung bình thì đã thấy được chân
của tháp. Tháp chính cao 58 mét và đường kính chừng 300 mét.
Toàn thân tháp đều lợp ngói vàng. Nghĩa là những tấm vàng
lá được thay thế ngói để lợp lên mái tháp để chống
chọi với gió sương hơn 2000 năm lịch sử như vậy. Chùa
này chính thức được sửa lại vào năm 1755 và đến năm
1823 mới hoàn thành. Hiện nay trên tháp có trang trí 5,400 viên
kim cương loại 76 carat và 2,300 viên cẩm thạch qúy, cùng với
pha lê, bảo châu hợp thành, gần giống trong kinh A Di Đà diễn
tả về thế giới Cực Lạc như vậy. Ai đến đây cũng với
tâm thành kính, nên những thùng tiền cúng dường để đầy
khắp các chùa mà vẫn không bị mất cắp. Mặc dầu dân của
họ rất nghèo, nhiều người tự nghĩ: tại sao chùa vàng có
chạm ngọc, kim cương như thế mà không bị mất cắp? Dĩ
nhiền ở đâu lại chẳng có người tham lam và ích kỷ. Tuy
nhiên không phải họ sợ luật pháp, mà họ sợ nhân quả;
nên họ đã không giở ngói chùa. Nếu ở một nước kém đạo
đức và lòng tin Phật không cao, thì chắc chắn những mái
ngói bằng vàng ấy và những viên kim cương kia chưa chắc
còn tồn tại mãi cho đến ngày nay. Người ta có lẽ tin rằng,
luật pháp của thế gian họ có thể qua mặt được, nhưng
nhân quả theo đạo Phật thì không bỏ sót một ai và vì họ
hiểu rõ nhân quả nên họ đã chế ngự lòng tham. Đó là
một kết quả tốt của một đất nước theo Phật giáo và
họ đã ứng dụng đời sống tâm linh của Phật giáo trong
cuộc sống hằng ngày như vậy.
Đến
mỗi nơi Thầy trò chúng tôi đều đảnh lễ và cúng dường
như bao nhiêu người Miến khác. Họ thấy chúng tôi lạ và
có hỏi đến từ đâu. Tôi trả lời rằng, chúng tôi là người
Việt Nam, nhưng đang sinh sống tại Âu Châu. Những cái nhoẻn
miệng cười là những cái đáp lễ của người đối diện.
Có một nơi thờ Phật như bao nhiêu điện Phật khác; nhưng
lại có rất nhiều người đang đứng sắp hàng quạt Phật
để tạo ra công đức. Tôi không biết tích này từ đâu ra
nhưng đại khái như thế này. Mỗi người khi vào đây lễ
Phật xong, họ cầm sợi dây kéo dài từ trên trần xuống
đất và trên trần nhà ấy chính là trên đầu của đức
Phật có làm một tấm chắn bằng vải chiều ngang độ 5 tấc
và chiều dài độ 3 thước. Ở hai đầu họ cột hai sợi
dây buông dài xuống đất và cứ như thế mỗi lần 2 người
kéo dây thì bên trên tấm trướng ấy sẽ quạt cho Phật.
Việc này không biết ai nghĩ ra, nhưng đây cũng là một hình
ảnh đẹp khi Phật tử đến cầu nguyện ở chùa này.
Sau
đó chúng tôi vào viện bảo tàng của chùa, nơi đây tập
trung rất nhiều đồ cổ từ nhiều đời và đặc biệt đã
biết rõ được cách lợp ngói vàng lên tháp như thế nào;
những ai đã cúng và những gì đã được lưu trữ cả mấy
ngàn năm nay. Tự dưng tôi dừng lại trước một khung cửa
kiếng trong ấy có để 3 tấm sơn mài Việt Nam. Một tấm
với kích thước nhỏ có hình chùa một cột. Một tấm khác
phong cảnh vịnh Hạ Long và một đĩa sơn mài khác để trên
giá. Dẫu sao cũng có được một chút an ủi như là “tha
hương ngộ cố tri” vậy.
Bước
ra khỏi viện bảo tàng chúng tôi gặp dân chúng đang lễ bái
và ném tiền vào tượng Phật bằng ngọc thạch xanh rất nổi
tiếng. Tượng cao cở đầu người thường và rất linh thiêng.
Nơi đây được rào cản nghiêm ngặt để phòng ngừa những
kẻ tiểu tâm. Khi đoàn đến một nơi khác lễ bái được
người hướng dẫn kể rằng: “Dầu Thầy đứng ở bất
cứ nơi nào và hướng nào, tượng Phật ấy vẫn dõi mắt
theo Ngài đấy. Đó là do lời cầu nguyện của Ngài được
tương ứng. Nếu không, tượng ấy sẽ không nhìn Ngài. Đây
có thể là một lối giải thích chung chung, có tính cách đại
chúng, chứ không phải nơi giáo lý của Phật đà. Đã là
Phật và Bồ Tát thì làm sao có thể phân biệt chúng sanh như
thế được. Khi chúng sanh khổ đau mới đến trước chân
Phật để nguyện cầu. Trong khi đó Phật lánh mặt làm ngơ
thì làm sao thể hiện hết lòng từ bi lân mẫn để cứu độ
chúng sanh khi còn ở trong cõi đời ngũ trược ác thế này
nữa…
Lý
do thứ hai mà cá nhân chúng tôi muốn đến viếng thăm xứ
Miến Điện này. Vì lẽ khi dịch Đại Đường Tây Vức Ký
được chính Ngài Huyền Trang biên khảo vào năm Trinh Quán
thứ 19 và năm Ngài 51 tuổi, tức nhằm năm 646 tại Ngọc Hoa
cung và may mắn cách đây 3 năm tôi đã chuyển dịch tác phẩm
này từ tiếng Hán sang tiếng Việt có những đoạn viết cũng
như mô tả rất rõ ràng về đoạn của 2 người thương nhân
Miến Điện này. Ngài Huyền Trang thuật lại như sau:
“Có
2 người thương nhân Miến Điện bị đắm thuyền ở phía
Nam Ấn Độ và họ đã cầu cứu với những đấng thiêng
liêng. Sau đó họ thấy một vùng ánh sáng chói lòa ở cách
xa họ và thế là họ nương theo ánh sáng ấy để đi tìm.
Khi đến họ gặp đấng Điều Ngự và sau khi cúng dường
bánh làm bằng gạo cũng như mật ong, họ đã xin quy y với
Ngài và sau khi quy y họ xin Ngài có vật gì kỷ niệm cho họ
để họ mang về quê hương của họ. Đức Phật đã đưa
tay lên đầu và vuốt xuống một nắm tóc trao cho 2 thương
nhân người Miến và họ đã đem về quê hương họ để tôn
thờ…
Đại
để nội dung của chương nói về xứ Ma Kiệt Đà có dẫn
dụ như vậy. Khi Ngài Huyền Trang đến đây thì Ngài đã cảm
động rơi nước mắt và thán lên rằng:
“Phật
tại thế thời ngã trầm luân
Kim
đắc nhân thân Phật diệt độ
Áo
não tự thân đa nghiệp chướng
Bất
kiến Như Lai kim sắc thân”
Dịch
“Lúc
Phật ở đời con trầm luân
Nay
được thân người, Phật diệt độ
Đau
xót thân mình nhiều nghiệp chướng
Chẳng
thấy thân vàng của Như Lai”
Ở
đây chúng ta có thể hiểu được tâm trạng của Ngài, của
2 người thương nhân Miến Điện và ngay cả của chính mình
nữa. Nơi đây được gọi là Thánh địa (holy place) hay động
tâm. Tâm của chúng ta xúc động, khi chúng ta đến trước
kim cương tòa và đúng là chúng ta là những người có phước
báu lắm mới có được những phước duyên như vậy. Ngoài
ra ánh hào quang của Đức Phật thưở ấy phải nói là sáng
chói lắm. Vì từ bờ biển phía Nam xứ Ấn Độ, hướng đến
Bồ Đề Đạo Tràng ước chừng hơn 500km, mà 2 người thương
nhân Ấn Độ còn trông thấy và cảm nhận được từ lực
của Phật mà đến để xin quy y thì quả rằng cái trí tuệ
siêu việt, cái hào quang sáng chói ấy đã soi khắp thế gian
cho tới hang cùng ngõ hẻm và các cõi khổ đau khác trong chốn
đọa đày này.
Trong
Kinh Đại Bát Niết Bàn tập một, đức Phật có huyền ký
rằng: “Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có kẻ thiện nam, người
thiện nữ nào đi đến được bốn nơi mà Như Lai đã thị
hiện Đản sanh, Thành đạo, thuyết pháp lần đầu tiên và
nơi ta nhập Đại Bát Niết Bàn thì cũng giống như là gặp
Như Lai khi còn tại thế…”
Rõ
ràng là báo thân Phật ngày nay không còn nữa, nhưng pháp thân
và hóa thân của Phật thì vô khứ vô lai, không còn không
mất và bất cứ nơi đâu chư Phật và chư Bồ tát cũng có
thể thị hiện cả để cứu độ quần sanh. Thật là bất
khả tư nghì và bất khả thuyết.
Trong
kinh Đại Bát Niết Bàn tập hai Phật khẳng định rằng những
kẻ nhứt xiển đề và những kẻ phạm tội ngũ nghịch cũng
có khả năng thành Phật mà điều này trong kinh A Di Đà, hay
lời nguyện thứ 18 của đức Phật A Di Đà cũng như trong
kinh Báo Ân Phụ Mẫu chưa chuyên chở được nội dung cao cả
như thế. Vì sao vậy? Vì đức Phật lập luận rằng: Tất
cả các pháp đều bất định, cho nên Nhứt xiển đề và
những người phạm tội ngũ nghịch cũng có tính không nhứt
định. Nhứt xiển đề cũng có khả năng thành Phật. Vì nhứt
xiển đề nếu có lòng tin Tam Bảo và chơn như Phật tánh
ấy sẽ hiện về và sẽ trở thành Phật. Vì cái đúng của
ngày hôm qua cũng có thể là cái sai của ngày hôm nay và cái
sai của ngày nay cũng có thể là cái đúng của ngày mai. Đó
là lối định nghĩa về các pháp bất định trong kinh Đại
Bát Niết Bàn tập hai.
Khi
đọc, tụng và hành trì mỗi chữ mỗi lạy trong Kinh Đại
Bát Niết Bàn tâm tôi đã xúc động, toát mồ hôi. Vì lẽ
tâm Đại Từ Bi của chư Phật rộng rãi quá mà tâm niệm
của chúng sanh thì hẹp hòi quá, cứ khư khư cố chấp cho
mình là phải, kẻ khác là trái và nhất là không tin kính
Tam Bảo cho nên mới bị lưu xuất vào chốn Tam đồ. Do sự
ngưỡng mộ này mà tôi đã tìm đến các xứ có thờ xá lợi
của Phật để đãnh lễ. Đây cũng là lý do của chuyến đi
này.
Nếu
ai đó có đọc quyển “giữa chốn cung vàng” thì đã rõ
về Xá lợi răng của đức Phật đang thờ tại Kandy Tích
Lan và ai đó đã đọc “Lòng Từ Đức Phật” thì đã rõ
về Tứ Động Tâm nơi đức Phật đã trãi qua 80 năm lịch
sử của đời Ngài. Ngoài ra chúng tôi cũng đã đi hành hương
về Trung Quốc nơi các bậc Tổ sư thị hiện qua các cuốn:
“Theo dấu chân xưa” và “Vọng cố nhân lầu” mà chúng
tôi đã sưu tập biên khảo lại, nhằm giới thiệu cho các
Phật tử khắp năm châu, trong cũng như ngoài nước, chia sẻ
với chúng tôi về những thể nghiệm của bản thân sau khi
đi chiêm bái những thánh tích ấy về.
Ngày
15 tháng 11 năm 2006, phái đoàn chúng tôi đã rời Miến Điện
về lại Thái Lan và đổi máy bay để tiếp tục cuộc hành
trình sang xứ Úc. Đến chùa Pháp Bảo vào rạng sáng ngày
16 tháng 11. Ngồi nơi thư phòng này tôi ghi vội lại những
ý tưởng nơi đây sau khi đi thăm Miến Điện về để đăng
trên đặc san Pháp Bảo số Xuân Đinh Hợi 2007 như là một
sự tạ ơn Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và chư Tăng Ni chúng
của chùa Pháp Bảo đã cưu mang Thầy trò chúng tôi trong 3
mùa nhập thất vừa qua, đã dịch và viết được một số
tác phẩm để lại cho đời. Năm nay tôi ở lại Úc hơn 2
tháng rưỡi để hoàn thành tác phẩm thứ 48 với tựa đề
là: Tịnh Độ Tông Nhật Bản. Đây là một dịch
phẩm khó và tôi sẽ cố gắng hoàn thành
việc dịch thuật cũng như chuyển ngữ từ tiếng Nhật sang
tiếng Việt để độc giả khắp nơi có những tư liệu tham
cứu và tu học.
Ơn
nghĩa thì nghìn trùng mà khả năng lại giới hạn, nên tôi
mong rằng quí vị đọc văn tôi, hãy nhớ ý quên lời và xin
cảm thông cho những sự vụng về của tôi khi muốn diễn
tả một ý gì mà không rõ ràng, khiến cho quí vị nheo mày
thì lỗi ấy do tôi vậy.
Xin
chắp cánh cùng bay về một phương trời đã định sẵn. Nơi
ấy đang có những thiện hữu tri thức, chư vị Bồ Tát và
chư Phật đang chờ đợi chúng ta từ bao nhiêu kiếp rồi.
Hãy nhanh chân lên, đừng chậm trể nữa, hỡi những hành
giả đang phát nguyện tu tập.
Viết
xong vào chiều ngày 17 tháng 11 năm 2006 tại thư phòng chùa
Pháp Bảo
vào
một ngày đầu hạ của xứ Nam Bán cầu.
Thích
Như Điển
(Tu
Viện Quảng đức)
Người
gửi bài: Tâm Minh
Vài
nét về Miến Điện
Miến
điện có thể gọi là Burma, hay Union Myanmar, còn gọi tắt
là Myanmar, hay gọi chung là Burmese Myanmar. Đầy đủ hơn nữa
là Pyidaungzu Myanmar Naingngandaw, tức là xứ sở nằm dọc theo
bờ Đông Tây của vịnh Bengal và biển Andaman thuộc Đông
Nam Châu Á.
Miến
điện với dân số 45 triệu người trên một diện tích 676.552
kí lô mét vuông (261,218 spuare miles) bao gồm nhiều sắc tộc:
65% là người Miến điện, 10% người Chan, 7% người Karen,
và 4% gồm người Rakhine, Chin, Kachin, Mon, Chinese, Indian, Assam.
Các ngôn ngữ thường được sử dụng ở Miến gồm có: tiếng
Burmese, Karen, Chin, Shan và Kachin. Miến điện là xứ sở Phật
giáo theo truyền thống Theravàda với tỷ lệ 87% dân số theo
Phật giáo, 5% theo Thiên chúa giáo, 4% là Hồi giáo, và 3% thuộc
tín ngưỡng khác. Đa số dân chúng là Phật tử thuần thành
và số lượng tu sĩ khá đông đảo nên Miến điện mệnh
danh xứ quốc giáo với hai đường lối rõ rệt cho chư Tăng
Ni: PHÁP HỌC (Pariyattidhamma) và PHÁP HÀNH (Patipattidhamma).
Chư
Tăng hay Ni chọn theo PHÁP HÀNH tức là hành trì theo Giới-Định-Tuệ
(Patipatti), các vị sẽ tu tập nghiêm mật trong các trung tâm
thiền với sự tổ chức khá chặt chẻ và rất phong phú ở
Miến điện. Hằng ngày theo thời khóa hành Thiền từ 3.50
sáng đến 9.30 tối (có nhiều trung tâm hành thiền nhiều giờ
hơn nữa). Trung tâm Thiền đón nhận tất cả mọi yogi (người
hành thiền) có tinh thần tu tập không phân biệt tuổi tác,
quốc gia, Tăng hay Ni, tu sĩ hay cư sĩ. Tuy nhiên mỗi thành phần
có khu cư trú riêng biệt. Tức là có khu giành cho chư tăng,
khu riêng cho chư Ni, khu của cư sĩ nam và khu cho cư sĩ nữ.
Chư Tăng và nam cư sĩ hành thiền chung trong một thiền đường
và có một Thiền đường khác dành riêng cho chư Ni và nữ
cư sĩ. Mỗi trung tâm Thiền do một vị Thiền sư đảm nhiệm
để hướng dẫn những yogi theo đường lối Thiền mà vị
ấy đã thành tựu. Tùy theo sự sắp xếp của mỗi Thiền
viện, lần lượt các yogi đều có giờ trình Thiền với các
vị Thầy, hoặc mỗi ngày, hoặc 2 ngày, hoặc 1 tuần một
lần. Các yogi trình lên sự thực hành và nêu lên những thắc
mắc của mình trong khi hành trì để vị Thầy trả lời và
dạy thêm phương pháp để yogi dần dần đạt được kết
quả. Hằng ngày đến giờ điểm tâm và cơm trưa, sau khi nghe
tiếng kẻng, tất cả yogi đều sắp hàng, mang bát đến nơi
nhận thức ăn giống như hình thức đi khất thực. Các trung
tâm Thiền thường được xây dựng chắc chắn bằng bê tông
đúc với những dãy nhà san sát nhau. Trái lại, Rừng Thiền
với những cốc gỗ đơn sơ xây rải rác trong khu rừng thưa
tạo nên một bầu không khí thoải mái thích hợp cho những
vị thích phong cảnh thiên nhiên. Chủ trương chung của các
Thiền viện là dành mọi ưu tiên cho người ngoại quốc vì
các Thiền sư muốn truyền bá các phương pháp Thiền Samatha
và Vipassana đến các nước trên thế giới ngõ hầu đem an
lạc, thanh tịnh đến chúng sinh khắp toàn cầu.
Chư
Tăng theo PHÁP HỌC, tức là chuyên học Tam Tạng Kinh điển
Pàli. Có những tu viện tổ chức đào tạo chư tăng từ lúc
còn nhỏ. Các vị không học một môn nào khác ngoài Tam Tạng
Kinh điển. Cứ như vậy các vị bắt đầu học thuộc lòng
từ Tạng Kinh qua đến Tạng Luật và Tạng Luận. Có những
khóa thi tổ chức hàng năm để chọn xem vị nào đã thuộc
nằm lòng Tam Tạng Kinh điển trước ban giám khảo. Nơi thi
diễn ra trong một tòa nhà rất rộng lớn trông như một lâu
đài, nơi ngồi của giám khảo được bố trí rất uy nghiêm
nên thí sinh vào đó như vào trước bệ rồng của Vua vậy.
Nếu ai không đủ nghị lực, bình tĩnh và không thuộc nằm
lòng kỷ càng thì bài vở dễ chạy tán loạn lắm. Một lần
thi vị thí sinh sẽ đọc một Tạng Kinh, sau đó một thời
gian sẽ thi đọc Tạng Luật, rồi vài năm sau đó sẽ thi tiếp
Tạng Luận. Hiện nay tại Miến điện đã có 7 vị được
công nhận thuộc nằm lòng Tam Tạng, các vị nầy được cả
nước kính nể và được mọi ưu ái của nhà nước cũng
như hàng Phật tử về mọi phương diện. Một vị Tăng hay
Ni Miến điện theo pháp học, được gọi là có căn bản phải
đậu được bằng Dhammacariya, và thường phải học từ 10
đến 12 năm mới thi nổi. Nghĩa là cũng trải qua từng cấp
như cơ bản, trung cấp rồi cao cấp nhưng chỉ chuyên về Tam
Tạng Pàli do vậy bằng nầy được các trường đại học
công nhận tương đương với bằng B. A. Phật học.
Miến
điện là quốc gia được vinh dự tổ chức đại hội kiết
tập Kinh điển hai lần liên tiếp: Lần thứ 5 ở Mandalay,
và lần thứ 6 tại Yangon.
Đại
hội kiết tập Kinh điển lần thứ 5được tổ chức tại
Mandalay vào năm 1871 hay Phật lịch 2414 dưới thời Vua Mindon.
Hòa Thượng Jàgara chủ tọa buổi kiết tập với sự tham
gia của 2400 Tăng sĩ Miến trí thức. Sau khi tụng đọc Tam
Tạng bằng Pàli, toàn bộ Tam Tạng được ghi chép ra mẫu
tự Pàli Miến trên 729 phiến đá cẩm thạch trong 5 tháng.
Sự ghi chép nầy dưới sự chủ đạo rất thận trọng của
những vị Hòa Thượng học giả Miến điện. Mỗi phiến đá
Tam Tạng được tôn trí trong một tháp được bảo vệ cẩn
thận tại chân đồi Mandalay (Mandalay Hills). Hiện nay công trình
nầy trở thành một tuyệt tác, được xem như một thư viện
thiên nhiên to nhất thế giới và nếu ráp lại toàn bộ, những
phiến đá nầy sẽ trở thành quyển sách lớn nhất thế giới.
Đại
hội kiết tập Kinh điển lần thứ 6 diễn ra tại Yangon vào
năm 1954 dưới sự chủ tọa của Thượng tọa Revata, đặc
biệt lần nầy đại hội được tổ chức với sự tham dự
của 2500 chư tăng các nước: India, Sri lanka, Nepal, Campodia,
Thailand, Laos, Pakistan, Tibet, Korea, China, Japan, và một số nước
thuộc châu Á cũng được mời tham dự.
Miến
điện là xứ sở với số lượng đền đài chùa tháp đồ
sộ và rộng lớn khắp nơi đầy tích cách thiêng liêng huyền
bí. Như Tháp Kyaktiyo, nơi đây có một khối đá to nằm chồng
lên một hòn đá nhỏ hơn nhưng không hề dính sát nhau, có
thể kéo một sợi dây xuyên qua dễ dàng, và khi khách hành
hương đưa tay vào khoảng cách giữa hai khối đá, họ cảm
nhận khối đá ấy đang lung lay. Truyền thuyết cho rằng khi
xưa có một vị Tăng may mắn giữ được một sợi tóc xá
lợi Phật, vị ấy vô cùng trân quý. Khi biết mình sắp mệnh
chung, vị ấy lo sợ khi mình mất đi không ai gìn giữ xá lợi
quý báu ấy, Đế Thích biết tâm vị ấy như vậy nên cho
khối đá hiện ra và an trí xá lợi tóc vào đó để bảo
vệ. Ngày nay, khối đá ấy được phủ toàn vàng ròng vẫn
an nhiên đứng trong trời đất như chứng tỏ sự linh thiêng
huyền bí làm cho khách hành hương không khỏi ngạc nhiên và
kính ngưỡng.
Miến
điện lại có thành phố cổ Bagan với hàng ngàn ngôi tháp
đủ kiểu đủ dạng rất sắc xảo về nghệ thuật, có nhiều
Chùa Tháp to lớn như: Chùa Shwezigon, tháp Manuha, tháp Thatbyinnyu,
… Nhưng bây giờ, thành phố nầy hoàn toàn hoang vắng vì
không còn dân chúng cư ngụ nơi đó. Thỉnh thoảng vài đoàn
hành hương đến thăm viếng vào ban ngày rồi lại ra đi. Thật
ngạc nhiên với một thành phố đầy kiến trúc công phu như
thế chắc chắn là đã trải qua một thời sung túc phồn thịnh
mà ngày nay trở nên tuyệt nhiên vắng lặng không dân cư.
Lại
có một nơi gần Mandalay, có một khu đất được an trí 9,000
tượng Phật ngồi dưới nhiều cội cây bồ đề. Ngoài ra
còn một số tượng Phật to hơn so với những tượng bên
trong được đặt thành một dãy dài hai bên trước khi vào
cổng. Và ở vùng đồi Sagaing Hills có hơn 900 ngôi Chùa với
hơn 9.000 Tăng Ni, nơi đây số lượng tu sĩ đông hơn so với
dân chúng sống xung quanh.
Hang
động ở Miến không thể kể xiết: Hang Badalin với những
bức họa lớn về câu chuyện tiền thân của Đức Phật ở
Taungyi, hang kiết tập Kinh điển lần thứ 6 ở Yangon, hang
Kawgun với những tượng Phật trong các hộc tường ở Hpa-an,
hang Leidy Sayadaw ở gần Mandalay… và nhiều hơn nữa những
hang động của các Thiền sư ẩn sâu trong rừng hay vút tận
trên những núi đồi cao.
Có
Thánh Tăng ẩn dật giữa rừng sâu
Có
Thánh Tăng được van vái cúng cầu
Và
cũng có những Thánh Tăng
Được
dệt thêu từ u linh huyền thoại. (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)
Khắp
Miến điện, chúng ta luôn gặp Đền Đài, Chùa Tháp và tuợng
Phật hai bên đường như hằng nhắc nhở dân chúng sống an
lạc thiện lành trong ánh từ bi của chư Phật. Ngay trước
cổng Chùa hay Tháp, thường có hai tượng sư tử đặt hai
bên trông rất bệ vệ. Tương truyền rằng, Vua Sihabhahu vốn
là con của một con sư tử và một công chúa. Khi biết rõ
cha mình là sư tử, tức là một con thú, nhà Vua vô cùng xấu
hổ. Một lần nọ khi sư tử cha về lại kinh đô thăm vợ
và con. Nhà Vua đã bắn tên giết cha nhưng bao nhiêu mũi tên
đi ngang qua mặt sư tử đều biến thành những đóa hoa vì
lòng thương con vô bờ bến của sư tử. Tuy vậy, nhà Vua vẫn
cố ý bắn liên tục cho đến lúc sư tử cha bỗng trở nên
giận dữ tức thời sư tử liền trúng tên và gục chết.
Sau đó nhà Vua hối hận vì đã giết cha nhưng vì sự xấu
hổ có người cha là thú nên không hề dám nói với một ai.
Ngài cho đặt tượng sư tử trước Chùa để thờ cha, nhưng
mọi người nghĩ rằng nhà Vua muốn đặt tượng cúng dường
trước ngôi Tam Bảo. Từ đó tượng Sư tử luôn xuất hiện
truớc cổng các Chùa là vậy. Ngoài ra sư tử cũng là biểu
tượng của sức mạnh, oai nghiêm và hùng dũng. Như đức Phật
thường khuyên nhắc các đệ tử Ngài nên rống lên tiếng
rống sư tử, vì Sư tử là vua các loài thú, tiếng rống của
sư tử làm khiếp vía các loài sinh thú. Cũng vậy, lời thuyết
giảng giáo pháp của Như Lai và các đệ tử Ngài có khả
năng hàng phục trời, người và ngoại đạo. Tượng Phật
ở Miến thường được đúc rất to điển hình tại Yangon
có ngôi chùa tên Chaukhtatkyee (Relining Buddha) bên trong đúc một
tượng Phật nằm với kích thước như sau: dài 54,88m, cao 16m,
chiều dài của gương mặt 6,86m, tai 4,57m, mắt 1,14m, chân mày
2,29m, lông mi 2,29m, mĩu 2,29m, cổ 2,29m, chiều dài từ vai đến
ngực 14,48m, từ ngực đến đầu gối 14,48m, từ đầu gối
đến chân 14,48m, từ khuỷu tay đến ngón tay 13,71m, ngón tay
út 3,05m, lòng bàn chân 7,77m, ngón chân cái 1,83m, lòng bàn tay
6,71m. Ở Mandalay lại có Kyauktawgyi là tượng Phật to lớn
được khắc từ một khối đá thạch cao tuyết hoa. Đến
tượng Phật ngồi của Umin Thonze ở Sagaing Hills. Đặc biệt
tượng Phật ngồi ở Bago vốn dĩ?to rồi mà dân chúng cứ
hàng ngày đem vàng vào dát vào khắp tượng chỉ chừa gương
mặt mà thôi nên toàn thân tượng bây giờ nhìn như đang bị
thổi phình ra giống bong bóng vàng vậy.Và cũng tại Yangon
có tượng Phật đang được đúc từ một khối đá cẩm thạch
trắng to, có thể xem đây là tượng Phật to nhất nước Miến
về tính chất thiên nhiên của khối đá quý ấy.
Yangon
là thủ đô của Miến điện, cũng được gọi là Rangoon có
nghĩa là ‘chấm dứt sự xung đột’ do Vua Alaungpaya đặt
tên sau khi tiến vào miền Nam Myanmar vào giữa năm 1750. Bắt
đầu từ năm 1989, chính phủ Miến điện đổi lại là Yangon
cho phù hợp trong việc phát âm của ngôn ngữ Miến. Yangon,
với dân số 2.513.023 người trên một diện tích 199 kí lô
mét vuông (77 square miles), thuộc miền nam của Miến điện,
nằm về phía tây hay bên trái sông Yangoon hay sông Hlaing chảy
dài 25 miles (40 km) là sông lớn nhất nước Miến.
Tại
Yangon có nhiều chùa tháp nổi tiếng như: Tháp Shwedagon, Tháp
Kaba Aye (World Peace), Tháp Sule, Tháp Botataung, Nga Htat Kyee, Chaukhtatkyee,
Shwe Daw (Tháp xá lợi răng), …
Nổi
bật hơn hết là Tháp Shwedagon được phủ toàn vàng ròng từ
đỉnh đến chân, với chiều cao 326 feet (99 mét) trên một
ngọn đồi cao 168 feet (51 mét). Tháp luôn sửng sửng giữa
thủ đô Yangon, ban ngày dưới ánh mặt trời toàn Tháp phản
chiếu màu óng ả của vàng ròng như trả lời những ai hỏi
tại sao Miến điện còn có tên là Suvannabhumi (đất vàng).
Về đêm, Tháp lại lóng lánh màu bạc dưới ánh trăng làm
mát dịu những tấm lòng thành tín đang hướng về Tháp nguyện
cầu.
Tháp
Shwedagon là trái tim của nước Miến, là biểu tượng tiêu
biểu khi nói về Miến điện và đã trở thành điểm hành
hương từ bao thế kỷ vì nơi đây tôn thờ 8 sợi tóc xá
lợi Phật. Trước khi Tháp nầy được những vị Vua người
tộc Mon xây dựng vào thế kỷ 15, xá lợi tóc được thờ
tại Shwebotataung (Buddha First Sacred Hair Relic temple), sau khi được
hoàn thành, xá lợi tóc được rước về Tháp Shwedagon cho
đến ngày nay. Khuôn viên Tháp rất rộng lớn, có 4 lối vào
Tháp với bốn cổng và 4 dãy cầu thang rất lớn có cùng một
kiến trúc cho nên đến đây lần đầu khách hành hương rất
dễ bị lạc lối ra vì sự rộng lớn của Tháp. Nếu ai không
thể đi bộ lên cầu thang, thì có thể đi bằng thang máy đưa
lên đến tận Tháp.
Tháp
Shwedagon được bố trí ngay chính giữa đồi, chung quanh dưới
chân Tháp là nhiều Tháp nhỏ hơn bao quanh. Bên trong các Tháp
được tôn trí nhiều tượng Phật dát vàng, sơn nâu, bằng
gỗ, bằng thạch cao, bằng đá cẩm thạch… Có những Tháp
chạm rồng, Tháp phết vàng, Tháp bằng đá quý... Lại có
những Tháp trang trí toàn bằng những mảnh gương nhỏ được
xếp đủ kiểu, nhiều màu phản chiếu lấp lánh dưới ánh
sáng trông nguy nga tráng lệ tựa các cung điện cõi trời như
để giới thiệu khách hành hương nghệ thuật chạm khắc
gương của người Miến. Bước vào mỗi cổng Tháp, khách
hành hương có thể hài lòng với những cửa hàng Phật cụ
và quà kỷ niệm cho chuyến hành hương Miến điện. Lại có
một bảo tàng viện nằm vào một góc của khuôn viên Tháp.
Bên trong trưng bày đủ loại tượng Phật, tiền tệ các nước,
đồ mỹ nghệ cổ, trang sức, đồ dùng cá nhân của Vua chúa…,
đặc biệt là nguyên đỉnh Tháp cũ còn lưu giữ nơi đây
như nòng sắt cũ của Tháp, vô số trang sức ngọc ngà đã
được dâng cúng trên đỉnh Tháp cũ nầy.
Viếng
thăm Tháp vào mỗi buổi trong ngày khách hành hương sẽ có
những cảm nhận khác nhau. Vào Tháp buổi trưa có thể ngắm
được màu vàng nguyên thủy của Tháp dưới ánh mặt trời
và thăm được bảo tàng viện vì giờ mở cửa từ 10.30 đến
17 giờ nhưng khách hành hương sẽ bị nóng chân vì theo thông
lệ chung ở Miến điện khi bước vào cổng bất cứ Chùa
Tháp nào đều phải đi chân để tỏ lòng tôn kính, và cũng
không được mang vớ. Nếu hành hương vào mùa nóng, chắc
chắn một số vị chưa quen với việc đi chân trần trên nền
đá nóng sẽ phải vừa đi vừa nhảy nai do vậy cũng khó mà
chiêm ngưỡng hay thưởng thức cảnh trí chung quanh.
Viếng
Tháp vào buổi chiều thật là thú vị với những luồng gió
thổi lồng lộng xung quanh vì Tháp được tọa lạc trên một
ngọn đồi. Vào giờ nầy thì đông đảo khách hành hương
bản xứ và ngoại quốc. Hương trầm, khói nhang, bông hoa,
đèn nến được bày biện khắp các Tháp, người vào kẻ
ra tấp nập thay nhau gõ chuông, tụng kinh, lễ bái, cầu nguyện…
Có người vào Tháp để chiêm ngưỡng và đảnh lễ xá lợi.
Cũng có người vào tháp như khách du lịch viếng thăm cảnh
lạ. Và có người vào đây đi quanh Tháp như phương tiện
tập thể dục. Đặc biệt là cảnh ‘dập dìu tài tử giai
nhân’, các nam thanh nữ tú cũng hẹn hò nhau nơi đây để
khấn nguyện vái van… Tháp như là điểm để mọi người
hướng về trong cuộc sống tâm linh; buồn, vui, thi cử, bệnh
hoạn, làm ăn buôn bán, tình duyên, cưới gả, ma chay, xây
nhà, mua đất; … bất cứ việc gì mọi người bản xứ đều
đặt vào Tháp niềm tin để được thành tựu. Do vậy có
một nhà thơ đã viết như sau:
Nơi
đây,
Tám
sợi tóc Phật gần ba ngàn năm
Chưa
cỗi
Vẫn
biếc chồi non
Vẫn
cháy rực trầm hương
Thắp
sáng điện đài linh thiêng
Với
vô lượng niềm tin
Vừa
cao sang, vừa thánh thần mông muội! (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)
Vào
Tháp buổi rạng đông là thời điểm an tịnh vắng lặng để
có thể chiêm ngưỡng sự trang nghiêm, hùng vĩ và nên thơ
của ngôi Tháp. Khi mặt trời chưa lên, khách hành hương vẫn
còn được trông thấy màu bạc lấp lánh dìu dịu tỏa ra
từ ngôi Tháp cùng với bầu không khí tinh sương dễ đưa
đến trạng thái tâm lắng dịu, do vậy nhiều vị đã đến
hành Thiền quanh Tháp vào thời gian nầy vì rất ít người
qua lại và nếu có người đi ngang qua đi nữa, các yogi đều
được tôn trọng. Khi mặt trời lố dạng, Tháp từ màu bạc
trắng sáng chuyển sang ửng hồng và dần dần đổi màu vàng
cam từ nhạt đến sáng rực theo ánh sáng mặt trời trông
tuyệt đẹp. Khung cảnh ấy hòa với tiếng chuông vàng trên
đỉnh Tháp thỉnh thoảng rung rung theo gió với âm thanh trong
vắt vang xa. Thêm nữa, hương hoa lan, hoa sứ, hoa hồng và hoa
lài được dâng cúng trong các Tháp tỏa ra nhè nhẹ quyện
vào không khí tinh khiết buổi bình minh tạo nên cảm giác
lâng lâng khó tả. Ngoài cổng Tháp từng đàn bồ câu sà xuống
nhặt những hạt ngô được rải ra trên đất diễn ra cảnh
tượng trông thật tự do và thanh bình.
Nhìn
chung người dân Miến điện rất tín tâm, hiền hòa và đầy
chân chất qua sinh hoạt, trang phục và trang điểm. Tất cả
dân Miến dù nam giới hay nữ giới đều giữ truyền thống
quấn một miếng vải thay cho quần dài (có thể gọi là váy)
cho dù ở công sở hay các buổi lễ quan trọng. Phụ nữ Miến
thường quệt mặt như râu mèo bằng chất bột lấy ra từ
cây Tha Na Kha thay cho sự trang điểm bằng phấn thoa mặt trông
như các dân tộc rừng núi vậy. Được biết rằng chất bột
nầy rất tốt có thể bảo vệ da khỏi bị ảnh hưởng nắng
vào mùa nóng và giữ cho da không khô vào mùa lạnh. Quý bà
quý cô quệt hai bệt hai bên má và dửng dưng đi ngoài đường
phố khiến nhà thơ bất chợt thốt lên cảm giác của mình
như sau:
Ta
dạo bước giữa hư vô thời đại
Bắt
gặp những bộ lạc
Đã
mất tích từ thời khuyết sử
Hồn
nhiên bôi mặt vẻ mày
Hồn
nhiên cầu nguyện thần linh
Với
trái tim vô cùng tinh khiết! (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)
Lại
có vị đùa rằng nên thêm một câu nữa trong đoạn thơ trên
như sau: "Hồn nhiên váy tung xòe trước gió" để diễn tả
thêm sự mộc mạc của người dân Miến.
Tuy
bận rộn trong cuộc sống, Phật tử Miến điện vẫn giữ
thông lệ đến Chùa để được chư Tăng truyền dạy và tụng
đọc lại Tam Quy, Ngũ Giới mỗi nửa tháng do vậy luôn có
sự nhắc nhở và khuyến khích quý vị thực hiện bổn phận
người Phật tử tại gia trong sinh hoạt hàng ngày. Truyền
thống khất thực vẫn được chư tăng theo pháp học hành
trì nơi xứ sở nầy trong sự ủng hộ nhiệt tâm của hàng
Phật tử. Do vì theo truyền thống Theravada, Ni giới Miến điện
chỉ thọ 10 giới, không được thọ Bhikkhuni như Ni giới Mahayana
nên Ni giới ở đây không được kính trọng cúng dường như
chư Tăng. Thay vì chư Tăng đi khất thực hàng ngày để hóa
duyên, chư Ni theo pháp học hằng tháng 4 ngày phải cầm một
bát nhôm nhỏ đi xin tiền gọi là ‘sàn khan’ để có đủ
tiền đóng chi phí ăn ở cho Ni Viện hàng tháng. Phải nói
rằng chư Ni không có vị trí trong Tăng đoàn hay trong giáo
hội Phật giáo tại Miến điện. Ni giới Sri Lanka cũng thuộc
truyền thống Theravada nhưng đã phục hồi được Tỳ Kheo
Ni với sự hổ trợ của Ni giới Đại Hàn và giới đàn Tỳ
Kheo Ni nầy được tổ chức hàng năm tại Sri Lanka. Hy vọng
rằng, trong nhịp tiến của Ni giới trên thế giới hiện nay,
Ni giới Miến điện sẽ có cơ hội để phát triển hơn nữa
về trình độ, khả năng và kiến thức cùng phấn đấu thọ
nhận giới bổn Tỳ Kheo Ni để chứng tỏ sự hiện hữu và
sự hữu ích của mình đối với Tăng đoàn và xã hội ngõ
hầu xứng danh là Thích Tử Như lai.
Thích
nữ Liên Tường
(Tu
Viện Quảng đức)
Người
gửi bài: Tâm Minh
Trở
về Mục Lục: Miến Điện và Phật Giáo
09-29-2007
09:24:35