III
PHỤ LỤC
bởi
Jeffrey Hopkins
Tánh
Không
Tsongkapa
nói rằng chỉ có Phật pháp là lối vào cho những người
muốn giải thoát khỏi vòng sanh tử và trong Phật giáo chỉ
qua việc hiểu thấu sự trình bày của Prasangika-Madhyamika (Hệ
quả Trung Đạo) về tánh Không mà khả năng nhổ sạch khổ
đau mới có thể đạt được.(17) Tánh Không như các nhà Prasangika
giải thích được xem là tinh vi hơn cái mà các hệ thống
khác diễn bày. Những hệ thống khác là những giúp đỡ,
hỗ trợ, và dù một người đặc biệt có thể tiến xa hơn
khi đảm đương một hệ thống đó thay vì đi vào Prasangika,
tánh Không vi tế cuối cùng cũng phải được thấu hiểu.
Mọi thực hành đều dẫn đến trung tâm bằng cách tạo ra
khả năng thực hành một con đường nó thực sự đi đến
trung tâm. Đích đến thực sự và rốt ráo chỉ là trên một
con đường.
Dù
một con đường Tiểu thừa không phải là một rốt ráo, thì
đối với một người Tiểu thừa nó cũng là một phương
cách để đạt đến giác ngộ tối thượng, Phật tánh. Trong
bối cảnh ấy, ‘Tiểu thừa’ và ‘Đại thừa’ không để
chỉ bốn trường phái Phật giáo học thuyết khác nhau, hai
của Tiểu thừa – Vaibhashika và Sautrantika – và hai của Đại
thừa – Chittamatra và Madhya-mika – mà để chỉ những con
đường Tiểu thừa và Đại thừa mà bốn trường phái trình
bày (Xem bản đồ 1). Những con đường Tiểu thừa dành cho
người gánh vác dòng của Thanh Văn và Độc Giác, và những
con đường Đại thừa là dành cho người gánh vác dòng của
những Bồ tát. Trong bốn sự trình bày về những con đường
Tiểu thừa và Đại thừa, Tsongkapa minh giải ở đây sự trình
bày của hệ thống rốt ráo, Prasangika-Madhyamika.‘Đại thừa’
đôi khi để chỉ hai trường phái về học thuyết Chittamatra
(Duy Thức) và Madhyamika (Trung Đạo) và những khi khác để
chỉ con đường Bồ tát, như được trình bày bởi hoặc những
trường phái của Tiểu thừa hoặc Đại thừa, vì ngay cả
những trường phái Tiểu thừa cũng giải thích con đường
Bồ tát. Vaibhashika và Sautrantika – những trường phái Tiểu
thừa – chấp nhận sự thị hiện của đức Phật như một
Bồ tát trong Những Chuyện Đản Sanh (Jataka) và trong phần
giới luật (vinaya). Theo những trường phái Tiểu thừa, Phật
Thích Ca Mâu Ni là người độc nhất hoàn thành con đường
Bồ tát trong thời đại chúng ta.
Theo
Vaibhashika và Sautrantika, những A La Hán Thanh Văn và Độc Giác
thì thấp hơn một vị Phật. Cả ba đều thoát khỏi sanh tử
luân hồi và sẽ đều biến mất sau khi chết với sự cắt
đứt dòng tâm thức và sắc tướng của các ngài. Tuy nhiên,
khi các ngài còn tại thế, một Bồ tát ở giai đoạn quả
được gọi là một vị Phật trong khi những vị khác chỉ
được gọi là Người Hủy Diệt Kẻ Thù (A La Hán) – những
người đã tiêu diệt kẻ thù những phiền não, chủ yếu
là tham, sân, vô minh – bởi vì một vị Phật có hiểu biết
đặc biệt, thiên nhãn vi tế hơn, và một thân thể độc
đáo. Một Bồ tát thâu góp phước đức và trí huệ trong
ba vô số kiếp, như thế đạt được quả lớn hơn tức là
Phật tánh. Đối với Vaibhashika và Sautrantika, một người
đi con đường của Phật tánh thì rất hiếm.
Cả
hai hệ thống Tiểu thừa trình bày ba thừa, chúng nói rằng
ba thừa có thể mang hành giả đến kết quả họ mong ước.
Cả hai trình bày một tánh Không, nó phải được hiểu là
để đạt đến mục đích, và trong cả hai hệ thống thì
tánh Không này là sự không có chất thể của con người.
Chúng chứng minh rằng một con người là một thực thể không
tự túc và không hiện hữu một cách chất thể như là người
kiểm soát thân và tâm, như một chúa tể với các thuộc hạ.
Qua thấu hiểu và trở nên quen thuộc với tính không chất
thể này, những phiền não và do đó mọi khổ đau được
nói là bị hủy diệt. Theo những hệ thống Tiểu thừa con
đường của trí huệ là giống nhau đối với những nhà Tiểu
thừa – Thanh Văn và Độc Giác – và đối với Bồ tát.
Sự lâu dài mà những hành giả dùng để tích tập sức mạnh
công đức tạo nên sự khác biệt chủ yếu giữa các thừa.
Những
hệ thống Đại thừa – Chittamatra và Madhyamika, cái sau còn
chia thành Svatantrika và Prasangika – không chỉ diễn tả hay
tường trình những xác nhận của Vaibhashika và Sautrantika về
Tiểu thừa mà còn trình bày những con đường Tiểu thừa
của riêng hai phái đó. Chẳng hạn, theo hệ thống Prasangika,
người ta phải hiểu tánh Không vi tế – không có hiện hữu
nội tại, vô tự tánh – của những con người và của những
hiện tượng khác để từ bỏ được vòng sanh tử. Bởi thế
Thanh Văn và Độc Giác phải thấu hiểu tánh Không vi tế như
Bồ tát đã hiểu. Theo Prasangika, sự khác biệt giữa con đường
Tiểu thừa của Thanh Văn và Độc Giác và con đường Đại
thừa của Bồ tát là những nhà Đại thừa đã thành công
trong việc phát sanh một nguyện vọng vị tha hướng đến
giác ngộ tối thượng cho sự lợi lạc của tất cả chúng
sanh, nguyện vọng đó được khởi dẫn từ lòng từ và bi.
Khi nguyện vọng vị tha này khởi sanh một cách tự nhiên –
đi, đứng, nằm, ngồi cũng mạnh mẽ như khi thiền định
– bấy giờ người ta là một Bồ tát và một nhà Đại thừa
do con đường, không chỉ do học thuyết.
Một
nhà Prasangika do học thuyết chắc chắn muốn phát sanh từ,
bi, và nguyện vọng vị tha, nhưng trong khi đó nó chỉ đã
phát triển đến mức độ tự nhiên mong muốn lìa bỏ vòng
sanh tử. Trong trường hợp này, nó là một nhà Tiểu thừa
do con đường, dù cho là một nhà Đại thừa do học thuyết.
Nói cách khác, khi nó đã thực hành một thời gian dài đến
một điểm mà tư tưởng từ bỏ khởi lên một cách tự nhiên
suốt ngày đêm – hoặc đi, đứng, nằm, ngồi, không có lúc
nào bị mê hoặc bởi vòng sanh tử – bấy giờ nó hoàn thành
phần dưới của con đường Tiểu thừa, con đường tích tập.
Nó tạm thời bỏ qua một bên sự phát triển đầy đủ của
lòng vị tha, thay vào đó chỉ tìm cách giải tỏa tình huống
bị áp lực riêng của nó. Như là một nhà Prasangika, nó tập
trung vào tánh Không, vô tự tánh hơn là tánh Không thô hơn,
tánh không có chất thể của các nhà Vaibhashika và Sautrantika.
Lối Tiểu thừa này được xem là một con đường kéo dài
đến Phật tánh hơn là trực tiếp phổ biến sự thấu hiểu
của mình về hoàn cảnh khốn khó của vòng sanh tử cho những
người khác, phát triển từ và bi, và đi vào thiền định
về tánh Không để hoàn thành sự lợi lạc cho những người
khác bằng cách trở thành một vị Phật.
Theo
Prasangika, nền tảng của sự thực hành của một Bồ tát
là phát sanh một nguyện vọng vị tha hướng đến giác ngộ
tối thượng vì lợi lạc của tất cả chúng sanh. Một Bồ
tát dấn thân vào sáu hoàn thiện – bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ – trong những cách
thức vô biên với ít nhất là ba vô số kiếp để tăng cường
năng lực cho tâm thức vị ấy hầu có thể vượt thắng những
ngăn chướng với toàn giác. Vị ấy đạt được giải thoát
khỏi vòng sanh tử vào lúc bắt đầu địa thứ tám của mười
địa Bồ tát sau hai vô số kiếp thực hành, dành khoảng thời
gian lâu dài này tích tập năng lực công đức để tăng cường
năng lực cho tâm thức hầu chống lại sự hiện tướng của
các đối tượng như thể chúng bao phủ phần riêng của chúng,
hay là những căn cứ cho danh tướng.
Giáo
lý dạy một thời gian lâu dài kinh khủng như vậy để phá
hủy những ngăn chướng này khiến cho một thiền giả phải
phát triển một ý chí thực hành lâu xa ; nó nghĩ đến những
đời tương lai vô biên bao hàm sự thực hành sáu hoàn thiện.
Một Bồ tát trở nên như một bà mẹ ôm đứa con mình, nó
đá bà, giật tóc bà và thọc ngón tay vào mắt bà. Bà mẹ
nhẫn nhục, biết bao lâu công việc mình mới hoàn thành. Cũng
cách ấy, một Bồ tát sẵn sàng dùng một kiếp để hoàn
thành một tiến bộ nhỏ nơi một chúng sanh.
Dù
một Bồ tát phải thực hành trong hai vô số kiếp trước
khi vị ấy đạt đến giải thoát khỏi vòng sanh tử trong
khi một Thanh Văn có thể từ bỏ vòng sanh tử chỉ trong ba
đời, một Bồ tát dấn thân vào một con đường nó sẽ làm
cho sự cuối cùng đạt đến Phật tánh nhanh hơn nhiều (Xem
bản đồ 2). Khi một Thanh Văn đầu tư thời gian cho lợi lạc
của riêng mình, vị ấy đã làm ô nhiễm tâm mình bằng sự
tự quý trọng mình làm cho con đường đến Phật tánh dài
hơn thêm. Cuối cùng rồi Thanh văn và Độc Giác cũng đều
tiến trên con đường Bồ tát. Sau đôi khi tiêu dùng những
kiếp trong xuất thần đơn độc, họ được kích động bởi
chư Phật làm cho họ ý thức rằng họ còn chưa hoàn thành
ngay cả tự lợi, chưa kể là lợi lạc cho người khác, và
cuối cùng họ đi vào Bồ tát thừa. Như thế, dù có ba thừa,
cũng chỉ có một thừa tối hậu.
Theo
hệ thống Prasangika, Thanh văn và Độc Giác có trí huệ vi
tế nhất, nhận biết vô ngã vi tế của cả con người (nhân)
và của hiện tượng (pháp), trong khi theo hai hệ thống Chittamatra
và Svatantrika, Thanh Văn và Độc Giác không nhận biết vô ngã
vi tế của những hiện tượng và như thế không có trí huệ
vi tế nhất. Vaibhashika, Sautrantika, Chittamatra và Svatantrika đều
xác nhận rằng Thanh Văn và Độc Giác được giải thoát khỏi
vòng sanh tử nhờ nhận biết và quen thuộc với chỉ vô ngã
vi tế của con người. Chúng ta hãy xem xét điều này.
Vô
ngã được chia thành hai loại : của những con người và của
những hiện tượng. Vô ngã của những con người cũng chia
thành hai : thô kệch và vi tế (Xem bản đồ 3). Vaibhashika và
Sautrantika không chấp nhận một vô ngã của những hiện tượng
bởi vì theo họ hiện tượng thật sự hiện hữu và là một
thực thể khác với một tâm thức tri giác.
Về
vô ngã của con người cá thể, mọi hệ thống đều trình
bày cả hai hình thức thô và tế. Theo những hệ thống không
phải Prasangika, cái thô là tánh Không của một cá thể con
người (thường còn), không có phần tử, độc lập. Sự tưởng
lầm về một cái ngã như thế chỉ là giả tạo, không bẩm
sinh – nó chỉ được căn cứ trên giả định của một hệ
thống không phải Phật giáo. Nói cách khác, chúng ta không
tự nhiên lầm tưởng rằng con người có ba đặc tính thường
còn, không có phần tử và độc lập.
Theo
mọi hệ thống trừ Prasangika, vô ngã của con người là tánh
Không của một con người tự túc hay hiện hữu một cách
chất thể. Ở đây thiền giả nhận biết rằng một người
không hiện hữu một cách chất thể hay hiện hữu như một
thực thể tự túc theo nghĩa là người kiểm soát tâm và thân.
Tâm và thân được thấy một cách sai lầm là nương dựa
vào con người cá thể trong khi con người cá thể hình như
không nương dựa vào tâm và thân. Con người hình như giống
như một ông chủ, và tâm và thân là những tôi tớ của nó
; cái lầm tưởng này có hai loại ; giả tạo và bẩm sinh,
cái trước là một ý niệm về hiện hữu chất thể được
làm mạnh thêm bởi một hệ thống tư tưởng, và cái sau là
một ý niệm do thói quen không do dạy dỗ. Hầu hết tôn giáo,
triết học và hệ thống tâm lý học đã củng cố những
lầm tưởng bẩm sinh này, do đó chồng chất thêm cho sai lầm
căn bản hơn nữa.
Hệ
thống Chittamatra xác nhận vô ngã vi tế của con người theo
cùng cách như Vaibhashika và Sautrantika nhưng họ cũng xác nhận
một vô ngã của hiện tượng sâu xa và vi tế hơn ; đó là
một tánh Không của sự khác biệt trong thực thể giữa chủ
thể và đối tượng. Chủ thể và đối tượng – người
biết và cái được biết – xuất hiện như có khoảng cách
với nhau và tách lìa nhau nhưng không phải thế trong thực
tế. Một thiền giả cố gắng bằng lý trí phán đoán và
những tỷ dụ, như tương đồng với những giấc mộng, để
chiến thắng sự chấp thuận theo xuất hiện sai lầm này và
cuối cùng loại trừ hẳn phương diện sai lầm nơi tất cả
mọi sự xuất hiện hình tướng.
Trong
Madhyamika, vô ngã của hiện tượng là tánh Không của một
cách thức tồn tại không do tâm thức ấn định (như trong
Chittmatra). Những sự vật hình như có cách hiện hữu độc
lập riêng của chúng – cách thức hiện hữu riêng của chúng
mà không bị sự ấn định của tâm thức đặt để cho –
trong khi chúng được ấn định là có thật chỉ qua sự xuất
hiện với tâm thức, như trò huyễn hóa của một nhà huyễn
thuật được giả định cho là thật qua sự xuất hiện với
tâm thức bị mê hoặc của khán giả. Phân phái Prasangika của
Madhyamika tinh lọc hơn nữa cái vô ngã này như là một tánh
Không của hiện hữu nội tại, có nghĩa là sự vật không
là ngay cả tập hợp của những phần tử của chúng và chúng
chỉ là những cái được định danh cho tập hợp đó. Dù
những hiện tượng có vẻ hiện hữu cụ thể, khi tìm kiếm
theo phân tích triệt để, chúng không thể nào được tìm
ra. Cũng như trong hệ thống Chittamatra, thiền giả thiền định
để chiến thắng sự chấp thuận với những xuất hiện sai
lầm này về tính cụ thể có thực và cuối cùng tăng cường
năng lực cho tâm thức đến độ yếu tố sai lầm phải biến
mất hoàn toàn.
Trong
những hệ thống không phải Prasangika, Thanh Văn và Độc Giác
chỉ nhận biết vô ngã của những con người. Những hệ thống
ấy nói rằng một người dường như có một tính cách khác
với tính cách của tâm và thân mà họ ví như một ông chủ
với những tôi tớ của ông ta, người trước kiểm soát những
người sau, điều này là sai lầm. Còn những nhà Prasangika,
như đại diện bởi Jamyangshayba, một học giả Gelukpa cuối
thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, nói rằng tâm và thân giống
như những người bán hàng và con người giống như một người
bán hàng trưởng. Sự khác biệt là một người bán hàng trưởng
cũng là một người bán hàng, nhưng một ông chủ thì không
phải là một tôi tớ. Con người được hình dung một cách
sai lầm là ông trùm, có vẻ kiểm soát tâm và thân, nhưng
không nhất thiết là một thực thể riêng biệt. Như thế,
theo hệ thống Prasangika, không có ý niệm bẩm sinh về một
cái ngã của những con người – thô hay tế – trong đó con
người được tưởng là một thực thể khác với tâm và
thân.
Cái
mà những hệ thống không phải Prasangika xem là vô ngã vi tế
của con người, những nhà Prasangika xem là vô ngã thô của
con người, và hơn nữa cái mà những nhà không phải Prasangika
diễn tả như là ý niệm bẩm sinh vi tế của một cái ngã
của con người, thì những nhà Prasangika xem là giả tạo và
thô. Điều này nghĩa là theo những nhà Prasangika việc chúng
ta nghĩ tưởng con người có một tính cách hay một thực thể
khác với tâm và thân chỉ đặt nền trên những triết thuyết
sai lầm. Bởi thế, theo cái cao nhất trong những hệ thống
này, chúng ta không thể thoát bỏ vòng sanh tử qua sự nhận
biết vô ngã của con người theo như các hệ thống khác diễn
tả. Không chỉ thế, những hệ thống khác còn không minh họa
chính xác cái gì cần phải bác bỏ trong vô ngã thô của con
người.
Theo
Chittamatra và Svatantrika, những Bồ tát thì trí huệ sắc bén
hơn Thanh Văn và Độc Giác và như thế thấy biết một tánh
Không sâu xa hơn, nền tảng hơn – vô ngã của các hiện tượng
– nhờ đó trừ diệt một vấn đề căn bản hơn. Trái lại,
Prasangika xem cái mà những phân phái khác diễn tả như là
vô ngã vi tế của con người chỉ là vô ngã thô phác của
con người ; bấy giờ vô ngã vi tế của các phái khác được
thay thế bằng tánh Không của một con người hiện hữu nội
tại. Prasangika cũng thay thế ‘sự khác biệt về thực thể
giữa chủ thể và đối tượng’ bằng ‘hiện hữu nội
tại’. Như thế, trong hệ thống này, cái bị phủ định
trong lý thuyết tánh Không là như nhau trong cả hai vô ngã của
con người và vô ngã của hiện tượng – hiện hữu nội
tại trong cả hai trường hợp. Ở đây không có sự khác biệt
trong chiều sâu hay tính vi tế giữa vô ngã của con người
và của hiện tượng.
Những
nhà Chittamatra xác nhận rằng sự không có khác biệt trong
thực thể giữa chủ thể và đối tượng là vô ngã vi tế
của hiện tượng. Những nhà Svatantrika nói rằng không có
hiện hữu và hiện hữu này không phải được ấn định
qua sự xuất hiện của đối tượng với tâm thức là vô
ngã vi tế của hiện tượng, và trong cả hai phái Chittamatra
và Svatantrika vô ngã vi tế của hiện tượng thì vi tế hơn
vô ngã của con người. Người ta phải sáng suốt hơn, sắc
bén hơn để hiểu điều đó, và những Bồ tát thì sắc bén
hơn. Tuy nhiên, khi những nhà Prasangika xác nhận sự không hiện
hữu nội tại (vô tự tánh) của con người như là vô ngã
vi tế thuộc về con người và sự không hiện hữu nội tại
(vô tự tánh) của những hiện tượng khác như là vô ngã
vi tế của hiện tượng, thì không có sự khác biệt về vi
tế trong hai cái ấy. Một khi cái này đã được nhận biết,
cái kia cũng được nhận biết.
Bởi
thế, theo Prasangika – hệ thống tối hậu ở Tây Tạng –
không thể giải thoát khỏi vòng sanh tử nếu không thấu hiểu
tánh Không của cả hai thứ con người và những hiện tượng
khác. Trong hệ thống này, cả hai Thanh Văn và Độc Giác đều
nhận biết một vô ngã vi tế hơn cái mà những hệ thống
khác gọi là vi tế ; những vị đại A la hán của Tiểu thừa
trong quá khứ đã nhận biết tánh Không sâu xa nhất này, và
những Bồ tát không nhận biết thực tại nào khác sâu xa
hơn dù cho các vị là thông tỏ hơn. Các vị chỉ đạt đến
cùng một tánh Không này qua nhiều hơn những đại lộ của
trí phán đoán.
Prasangika
là hệ thống Đại thừa duy nhất chấp nhận chỉ có một
chứng ngộ chung cho cả Ba thừa. Hai hệ thống Tiểu thừa,
Vaibhashika và Sautrantika, chấp nhận cả ba thừa nhận biết
cùng một vô ngã vi tế nhưng cái này chỉ là sự không hiện
hữu của con người như là một thực thể tự túc hay hiện
hữu một cách chất thể. Chittamatra và Svatantrika xác nhận
rằng những Bồ tát thấu hiểu một tánh Không sâu xa, vô
ngã của những hiện tượng, hơn Thanh Văn và Độc Giác, họ
chỉ thấu hiểu vô ngã vi tế của con người. Hơn nữa, trong
hai bộ phái của Svatantrika, Yogachara-Svatantrika và Sautrantika-Svatantrika,
cái trước xác nhận một vô ngã thô của hiện tượng nó
như nhau với vô ngã vi tế của hiện tượng của các nhà
Chitta-matra – sự không có khác biệt trong thực thể giữa
chủ thể và đối tượng. Như những nhà Madhyamika, họ cũng
thừa nhận một vô ngã vi tế của hiện tượng nó là một
tánh Không của hiện hữu thực sự – hiện hữu không cần
phải qua sự thừa nhận của tâm thức về đối tượng xuất
hiện với mình. Họ nói rằng Độc Giác thiền định về
vô ngã thô của những hiện tượng – sự không khác biệt
trong thực thể giữa chủ thể và đối tượng ; Bồ tát thì
thiền định về vô ngã vi tế của những hiện tượng –
không hiện hữu thật sự của mọi hiện tượng ; và Thanh
Văn thiền định về vô ngã vi tế của con người – sự
không hiện hữu như là một thực thể chất thể hay tự túc.
Như thế, trong Yogachara-Svatantrika có ba loại chứng ngộ thấu
biết.
Những
nhà Svatantrika nói rằng mỗi đối tượng có cách thức tồn
tại riêng của nó nhưng không phải là một cách không được
ấn định qua sự xuất xuất hiện của nó với tâm thức.
Ví dụ, khi một nhà huyễn thuật tạo ra một kỳ công hấp
dẫn, nó có cách thức tồn tại được ấn định qua tâm
thức lầm lẫn của khán giả. Năng lực của một thần chú
đã ảnh hưởng đến ý thức của mỗi người, kể cả ý
thức của nhà huyễn thuật. Khán giả cho là có một kỳ công
bao phủ chỗ trình diễn hay tư thế độc lập riêng của nó,
và dù cho nó cũng xuất hiện như vậy với nhà huyễn thuật,
ông ta cũng không tin vào nó. Ông ta biết bản chất của nó,
và không ấn định nó là một thực thể độc lập. Theo cùng
cách đó, những hiện tượng xuất hiện với những thức
không lầm lẫn của những chúng sanh – mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý thức – và qua sự xuất hiện với tâm thức, cách
thức tồn tại riêng biệt của chúng được ấn định, sự
sai lầm là những đối tượng được gán cho một cách thức
tồn tại độc lập với sự xuất hiện cho tâm thức. Cái
phải được bác bỏ, phủ nhận trong cái thấy có ngã là
một thực thể độc lập của những đối tượng.
Đối
với những nhà Prasangika, nếu cái gì có cách thức tồn tại
đặc biệt riêng của nó, nó không cần được ấn định
bởi tâm thức ; hai cái này mâu thuẫn nhau. Những nhà Prasangika
chấp nhận rằng mọi thứ – hoặc người hoặc hiện tượng
– thì giống như trò huyễn hóa của một nhà huyễn thuật
trong sự việc chúng có vẻ hiện hữu nội tại tự chúng
nhưng thật không phải thế. Họ trình bày một đối tượng
để phủ nhận sâu xa hơn và vi tế hơn những hệ thống khác,
mà những hệ thống này ở Tây Tạng được xem là những
phương cách để chiến thắng, vượt qua các vọng tưởng
thô. Lý do tại sao đức Phật tuyên thuyết những hệ thống
khác chưa rốt ráo được cho là bởi vì những người nản
chí do không thể xâm nhập vào giáo lý sâu hơn thì được
dạy cho một vô ngã không sâu xa lắm nhưng được nói là
cái sâu xa nhất.
Ý
nghĩa thô về ngã thì dễ nhận ra hơn. Ví dụ, khi chúng ta
nói, ‘Tóc bạn thì rất rực rỡ hôm nay,’ lúc ấy có một
ý nghĩ về một cái ‘tôi’ kiểm soát và sở hữu mái tóc.
Hoặc là đôi khi chúng ta bị buộc tội hay ca ngợi, có một
cái gì rất chặt cứng và vững chải, không thể chối bỏ
được, không lầm lẫn được, hầu như có thể sờ nắm,
có thể thấy, trong trung tâm của ngực – cái ‘tôi’ bị
xúc chạm, bị tổn thương, được ca ngợi hay được phục
vụ. Đôi khi chúng ta khảo sát cái ‘tôi’ này với một
tâm thức vi tế không can thiệp khi nó đang hoạt động, nó
có vẻ như là một thực thể khác. Đôi khi nó giống với
một chúa tể với những bề tôi của nó hơn là một người
bán hàng trưởng với những người bán hàng của nó. Đây
là ý niệm giả tạo, thô phác của một cái ngã của con người,
và chúng ta có thể tiến bộ do tập trung vào nó hơn là chuyển
sang hình thức bẩm sinh thô.
Lấy
trường hợp một người mộ đạo thực hành và tầm thường
của bất kỳ tôn giáo nào và anh ta không thể thành công với
giáo lý vi tế nhất vào lúc này. Để giúp tránh vấn đề
này, ngay cả những vị thầy ngày nay cũng làm ra vẻ họ đang
trình bày tri kiến vô tự tánh nhưng thật ra thay vào đó họ
trình bày tri kiến không có hiện hữu chất thể. Như thế,
không có khó khăn để tưởng tượng ra rằng đức Phật đã
trình bày một hệ thống khác và nói nó là hệ thống rốt
ráo.
Sự
tạm thời như vậy cần một sự phân biệt những kinh điển
Phật giáo thành hai loại, loại xác định và loại đòi hỏi
sự giải thích. Sự phân biệt giữa hai cái này được căn
cứ trên mục tiêu chính của bài thuyết pháp là tánh Không
hay không. Nếu là tánh Không, thì cách thức hiện hữu của
những hiện tượng được bàn đến trong kinh ấy là xác định
đúng như điều được nói trong kinh và không đòi hỏi sự
giải thích. Những kinh điển không trình bày rõ ràng tánh
Không như là mục tiêu chính của bài thuyết pháp đòi hỏi
giải thích để biết cách thức hiện hữu tối hậu của
những hiện tượng được bàn đến trong những kinh ấy. Ví
dụ, đức Phật nói rằng có năm hợp thể : sắc, thọ, tưởng,
hành và thức. Giáo lý này là nghĩa đen, xác định và có
thể tin cậy vì sự kiện hiện hữu của những uẩn thì được
chứng thực bởi sự hiểu biết vững chắc ; tuy nhiên, giáo
lý đòi hỏi giải thích để biết cách thức hiện hữu tối
hậu của những hợp thể – tánh Không không có hiện hữu
nội tại của chúng.
Trong
những kinh điển đòi hỏi giải thích, có hai loại nghĩa đen
– như trong ví dụ những hợp thể ở trên – và không phải
nghĩa đen. Những giáo lý không phải nghĩa đen thì không được
sự hiểu biết vững chắc nâng đỡ và phải được giải
thích theo nhu cầu của một người tu hành riêng biệt cho giáo
lý như thế. Ví dụ, đức Phật dạy rằng giải thoát có
thể hoàn thành nhờ nhận biết và quen thuộc với bốn chân
lý cao cả : những khổ đau thật sự, những nguồn gốc thực
sự, những dừng tắt thực sự và những con đường thực
sự. Có mười sáu thuộc tính của bốn chân lý ấy, ngắn
gọn là :
những
khổ đau thực sự
1
vô thường
2
khổ
3
không
4
vô ngã
những
nguồn gốc thực sự
1
nguyên nhân
2
nguồn gốc
3
sự sinh sản mạnh mẽ
4
điều kiện, nhân duyên
những
dừng tắt thực sự
1
dừng tắt
2
sự an bình
3
sự tốt lành
4
sự sinh khởi xác thực
những
con đường thực sự
1
con đường
2
hiểu biết
3
thành tựu
4
giải thoát
Mọi
hệ thống Phật giáo do vậy đều chủ trương rằng những
khổ đau thực sự, những hiện tượng bên trong và bên ngoài
của vòng sanh tử, đều vô thường, khổ, không và vô ngã.
Các
thứ có sanh ra đều vô thường theo nghĩa chúng không đòi
hỏi nguyên nhân nào khác nữa cho sự hủy hoại của chúng
hơn là chính sự sanh ra của chúng, các cái có sanh đều có
một bản chất tan rã. Điều này không bao hàm sự mơ hồ,
rối loạn, vì giống như một ngọn lửa có thể đứng vững
trong một phòng kín gió, nếu định (samatha) được phát triển,
tâm thức có thể được tập trung vững chắc vào bất kỳ
đối tượng nào. Tuy nhiên ngọn lửa của một khoảnh khắc
không phải là ngọn lửa của khoảnh khắc kế tiếp.
Những
khổ đau thật sự là khốn khổ theo nghĩa chúng nằm trong
chính sự đau khổ hiện thực thuộc về thân tâm, hay nếu
chúng tỏ ra đáng ưa thích, chúng cũng dễ dàng biến thành
đau khổ. Chúng trống không theo nghĩa chúng không là một con
người thường hằng, toàn thể, độc lập hay là những đồ
vật để sử dụng của một con người như thế. Chúng vô
ngã vì chúng không phải là một con người hiện hữu một
cách chất thể hay là những đồ vật để sử dụng của
một con người như thế. Dharma-kirti nói rằng biết tánh Không
và vô ngã là mục tiêu của những phương diện khác và rằng
hai phương diện này là những con đường của sự giải thoát
khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Theo
hệ thống Prasangika, tuy nhiên đấy chỉ là những con đường
thô phác, chỉ dùng để huấn luyện tâm thức chứ không giải
thoát nó. Những thấu hiểu như thế không thể dùng như những
đối trị lại ý niệm bẩm sinh rằng những con người hiện
hữu một cách tự nhiên hay nội tại. Chúng sẽ dẫn đến
giải thoát nhưng sẽ không giải thoát cho.
Bởi
thế, theo Prasangika, những con đường Tiểu thừa như được
trình bày bởi Svatantrika, Chittamatra, Sautrantika và Vaibhashika,
thì thích hợp cho đa số Thanh Văn và Độc Giác, họ trong
lúc này không có khả năng thực hành một con đường giải
thoát và cần những giúp đỡ để phát triển khả năng ấy.
Bởi vì những người tu hành thuộc nhóm phụ của Tiểu thừa
thì lớn hơn con số những người tu hành đặc biệt, những
hệ thống riêng biệt thích hợp với họ là cần thiết. Khi
tiến trình của những hệ thống được hiểu, những tiếp
cận khác biệt nhau không chỉ không mâu thuẫn mà còn rất
thích hợp, khơi dẫn sự tin tưởng vào khả năng chỉ dạy
phi thường của đức Phật.
Chuyển
hóa
Tôn
giáo đòi hỏi sự phân tích nhưng không phải là sự phân
chia bè phái. Để thâm nhập thực tại, một thiền giả cần
một tâm thức nhạy bén ; sẽ khiến tâm thức trì độn khi
tuyên bố rằng những tôn giáo là một trong mọi phương diện,
cho rằng những khác biệt nơi những người tu hành và trong
những thực hành là không quan trọng. Tuyên bố rằng mọi
tôn giáo đều là một khiến cho sự thực hành ấy thành vô
hiệu.
Sự
nhận định của Tsongkapa nói rằng chỉ có đức Phật dạy
con đường rốt ráo của giải thoát lôi cuốn chúng ta vào
sự phân tích để xác định con đường này có thực sự
là con đường rốt ráo duy nhất không. Thật vậy, một quyết
định tích cực sẽ thúc đẩy cho mọi cố gắng lớn lao ;
một sự ban bố có tầm quan trọng lớn lao, ảnh hưởng không
chỉ cuộc đời ngắn ngủi này mà còn nhiều đời trong tương
lai, đang được nhắm đến. Tsongkapa ban bố một lời kêu
gọi phân tích để thấy xem con đường Phật giáo là chân
thực hay không.
Tiến
trình đi từ một ý niệm sai lầm đến một hiểu biết rõ
ràng về chân lý được nói là trải qua bảy bước (đọc
từ dưới lên đầu)(18) :
7 tri
giác trực tiếp
6
nhận biết do suy luận
5
thừa nhận đúng
4
nghi ngờ hướng đến sự thực
3
nghi ngờ ngang nhau
2
nghi ngờ hướng đến sự không thật
1
tri kiến sai
Chúng
ta hãy bắt đầu với một tri kiến sai như : đức Phật, giáo
lý của ngài, và những người thực sự tu hành trong giáo
lý của ngài không phải là bậc thầy của giải thoát, con
đường đưa đến giải thoát, và những người bạn trên
hành trình đến giải thoát ; hay một ví dụ khác : Tôi hiện
hữu nội tại một cách dứt khoát.
Qua
tiếp xúc với giáo lý Phật giáo, tri kiến sai có thể chuyển
thành nghi ngờ hướng về sự không đúng thật : đức Phật,
giáo lý của ngài, và những người thật sự tu hành trong
con đường của ngài rất có thể không là bậc thầy, con
đường, và bạn trên hành trình đến giải thoát ; hay : Tôi
rất có thể hiện hữu nội tại. Nghi ngờ đã nổi lên ;
sự quả quyết của tri kiến sai đã ra đi. Đấy là lúc tra
vấn, dẫn đến sự nghi ngờ ngang nhau : Có thể đức Phật
là bậc thầy của giải thoát và có thể là không phải ;
hay : có thể tôi hiện hữu nội tại và có thể không phải
thế.
Trên
căn bản của sự nghiên cứu, tiếp xúc với những vị hướng
đạo tâm linh và kinh nghiệm cá nhân, nghi ngờ hướng đến
sự thật phát sanh : đức Phật rất có thể là bậc thầy
của giải thoát ; hay : Tôi rất có thể không hiện hữu nội
tại. Qua sự làm quen với những chứng cớ luận lý cho toàn
trí và sự hiệu lực của con đường cũng như với kinh điển,
thừa nhận đúng được phát sanh : Đức Phật là bậc thầy
của con đường giải thoát, giáo lý của ngài là con đường,
và những người tu hành theo đó là những người bạn trên
hành trình đến giải thoát ; hay : Tôi không hiện hữu nội
tại.
Hơn
nữa, thừa nhận không phải là không có thể bị bác bỏ
; khi một phán định đã đưa ra, nó không thuyết phục bởi
niềm tin rành mạch. Bởi thế, một thừa nhận đúng về Tam
Bảo – Phật, Giáo Pháp của ngài và Cộng Đồng Tâm Linh
– thì chưa đủ ; một sự hiểu biết không thể lay chuyển
do suy luận là cần thiết.
Suy
luận là cái thấu hiểu không thể bị bác bỏ căn cứ trên
lý trí phán đoán : đức Phật, giáo lý của ngài, và những
người tu hành thực sự trong con đường của ngài có những
phẩm tính như toàn giác, dừng tắt hoàn toàn những phiền
não, và khả năng giúp đỡ trên con đường, chúng có thể
được chứng minh qua lý luận. Tương tự, có thể chứng tỏ
rằng cái ‘tôi’ không hiện hữu một cách nội tại qua
việc thấu hiểu rằng bất kỳ thứ gì là một duyên sanh
đều không hiện hữu một cách nội tại và rằng cái ‘tôi’
là một duyên sanh. Sau khi tra vấn được lập đi lập lại,
niềm tin không lay chuyển được phát sanh ; qua sự quen thuộc,
điều này có thể đưa tới chỗ nhận biết trực tiếp, như
là biết trực tiếp sự dừng tắt thực sự một phần phiền
não nào đó nhờ vào con đường của Phật hay biết trực
tiếp tánh Không – vô tự tánh – của cái ‘tôi’.
Tiến
trình chuyển từ những tri kiến sai lầm đến hiểu biết
không thể phản bác của nhận biết, dù đó là suy luận hay
trực tiếp, dựa vào nghiên cứu, phân tích, thiền định và
liên hệ với một thiện tri thức dẫn đường. Cái hiểu
biết do suy luận không phải là một nghiền ngẫm lan man về
những ý tưởng và ý niệm ; nó là kết luận của một tiến
trình phân tích trong một sự thấu hiểu đích thực. Trong
trường hợp tánh Không, một hình ảnh của một cái trống
không đơn thuần xuất hiện với tâm thức nó xác minh một
phủ định của hiện hữu nội tại. Sự thấu hiểu này được
gọi chỉ là suy luận và ý niệm bởi vì hình ảnh của một
cái trống không đơn thuần của hiện hữu nội tại xuất
hiện, hơn là chính cái trống không đơn thuần. Tâm thức
được tĩnh lặng ; nó đã hiểu rằng cái ‘tôi’ là một
duyên sanh và bất cứ cái gì duyên sanh đều không hiện hữu
nội tại ; bây giờ, nó biết rằng cái ‘tôi’ không hiện
hữu nội tại. Tác động của sự đạt đến dù chỉ một
thừa nhận đúng về tánh Không của cái ‘tôi’, nghĩa là
không thể tìm thấy nó nơi những căn cứ cho sự định danh
của nó – tâm và thân – được nói giống như bị sét chớp
đánh. Như thế, cái hiểu biết do suy luận, rất khác với
một ngọn sóng xáo trộn với những ý niệm, thì đầy ấn
tượng.
Khi
sự xác minh về vô tự tánh yếu đi, thiền giả ôn lại tiến
trình phán đoán, nhưng nếu không, anh ta ở yên trong kết quả
của tiến trình phán đoán – với tư cách là sự xuất hiện,
đó là một trống không đơn thuần của hiện hữu nội tại
và với tư cách là xác minh, đó là hiểu biết dứt khoát
một sự vắng mặt của hiện hữu nội tại. Bằng cách trụ
vững nơi cái Không đơn thuần này và thỉnh thoảng nâng cấp
sự thấu hiểu bằng phân tích thêm, một thiền giả đưa
cái hiểu biết có tính cách ý niệm hay hình tượng này đến
chỗ thấy biết trực tiếp. Cảm giác về đối tượng –
tánh Không – và về chủ thể – tâm thức trí huệ – dần
dần biến mất, để lại một hòa tan của đối tượng và
chủ thể, như nước sạch đổ vào trong nước sạch.
Cái
biết có được từ đó thì không hai nhưng không phải là
không đặc biệt. Như nhiều màu sắc và hình dáng có thể
được biết một cách dứt khoát và trực tiếp bởi nhãn
thức, cũng thế ý thức có thể biết tánh Không một cách
dứt khoát và trực tiếp. Sự vắng mặt của hiện hữu nội
tại được biết một cách trực tiếp, đặt nền trên sự
quen thuộc trước đó với một lý giải chứng minh tánh Không.
Như thế, không phải chống lại với tiến trình lý giải,
sự thực hành này được xây dựng trên lý luận phán đoán.
Tuy nhiên, những người không thể bỏ tư tưởng lan man thì
không thể đi đến kết luận của lý giải, giống như thấy
khói, suy nghĩ rằng chỗ nào có khói thì phải có lửa và
đi qua tiến trình này lập đi lập lại mà không bao giờ kết
luận rằng lửa hiện diện.
Cũng
như người ta có thể biết rõ ràng sự hiện diện của lửa
khi thấy những đám khói và có thể tác động đến sự hiểu
biết ấy, cũng thế người ta có thể thâm nhập vào bản
tánh của những hiện tượng qua một tiến trình tương tự
của lý luận phán đoán và sống theo nó. Lại nữa, như người
ta cuối cùng có thể đi ra ngoài và thấy ngọn lửa một cách
trực tiếp, cũng thế nhờ quen thuộc với định như hư không,
người ta có thể thấy biết tánh Không một cách trực tiếp,
không cần trung gian của một hình ảnh tâm thức.
Dù
một tánh Không là một phủ định đơn thuần của hiện hữu
nội tại, nó có thể thuận theo tư duy và cuối cùng có thể
được thấy biết một cách không có ý niệm. Kinh Chương
Kashyapa nói, “Kashyapa, cách thức này là như vầy : Ví như
lửa sanh ra khi gió làm cọ xát hai cành cây với nhau. Khi lửa
đã sanh, hai cành cây đều cháy. Y như vậy, Kashyapa, nếu ông
có trí phân tích đúng, khả năng trí huệ của một bậc Thánh
được phát sanh. Qua sự phát sanh của trí huệ đó, trí phân
tích đúng được thiêu hủy.’ Tư tưởng đúng vượt qua
tư tưởng sai dẫn đến hiểu biết trực tiếp ; như thế,
sự phân biện căn cứ trên lý luận đúng là phương tiện
sơ khởi, rồi kết hợp với một tâm an tĩnh, để phát triển
sự quán thấy trực tiếp. Ngay cả những thức giác quan không
ý niệm cũng có một yếu tố phân biệt, nó là một sự không
nhầm lẫn về các đối tượng được tri giác ; không có
nó, mọi sự chỉ là một khối trộn lẫn. Khả năng này có
thể được phát triển, ban đầu một cách có ý niệm và
rồi không có ý niệm, nhằm vào bản tánh của những hiện
tượng. Tư tưởng phải được dùng để phát triển sự hiểu
biết gián tiếp về bản tánh của những hiện tượng, và,
qua sự quen thuộc, hiểu biết gián tiếp này dần dần chuyển
hóa thành hiểu biết trực tiếp. Cũng như nhãn thức có thể
có hiểu biết dứt khoát và chắc chắn và có nội dung về
một màu sắc, cũng thế ý thức có thể biết vô thường,
khổ, không, tâm của người khác v.v… mà không cần trung
gian của ý niệm hay hình ảnh.
Bác
bỏ : Sự tiến bộ này ngầm chứa rằng có một cái gì
mới lạ để biết. Nagarjuna nói rằng không có một chút xíu
khác biệt nào giữa vòng sanh tử (samsara) và niết bàn (nirvana).
Trả
lời : Nguyện vọng vị tha hướng đến giác ngộ tối
thượng vì tất cả chúng sanh là nền tảng của sự thực
hành của một Bồ tát trong cả hai Thừa Hoàn Thiện và Kim
Cương thừa. Nguyện vọng vị tha được khởi dẫn từ tình
thương và bi mẫn, chúng là kết quả của việc nhìn thấy
sự khổ đau của vòng sanh tử, phát sanh ý muốn từ bỏ nó,
và rồi áp dụng cái hiểu biết này cho những người khác.
Nếu người ta không muốn thoát khỏi vòng sanh tử, thì không
thể nào mong muốn cho những người khác thoát khỏi nó. Ý
muốn từ bỏ vòng sanh tử này là chung cho cả Tiểu thừa
lẫn Đại thừa và trong Đại thừa thì chung cho cả Thừa
Hoàn Thiện và Kim Cương thừa.
Chữ
Sanskrit nirvara được dịch qua tiếng Tây Tạng là ‘vượt
qua lo buồn’, với ‘lo buồn’ được hiểu là những phiền
não, mà cái chính của chúng là ý niệm về hiện hữu nội
tại. Vòng sanh tử là một tiến trình không có kiểm soát
của sanh, già, bệnh, chết được chuyển động bởi những
phiền não. Rõ ràng khi Nagarjuna nói rằng hiện hữu sanh tử
là niết bàn, ngài không xác nhận rằng vòng sanh tử là trạng
thái đã vượt qua lo buồn. Hơn nữa, trong mạch văn này ‘vòng
sanh tử’ hay samsara ám chỉ đến những chân lý quy ước
tức là mọi sự vật ngoại trừ tánh Không ; từ ‘niết
bàn’ ám chỉ một niết bàn tự nhiên, không phải cái niết
bàn mà sự dừng tắt thực sự mọi khổ đau. Một niết bàn
tự nhiên không hiện tiền nhờ vào con đường mà chỉ là
tánh Không, vô tự tánh mà mỗi sự vật có một cách tự
nhiên.
Một
tánh Không không được tạo ra bằng cách chứng ngộ nó ;
một thiền giả chứng ngộ, thấu hiểu cái luôn luôn đã
là như vậy. ‘Niết bàn tự nhiên’ (svabhavanirvana) cũng có
thể được dịch như ‘niết bàn nội tại’ dù, dĩ nhiên,
‘nội tại’ ở đây không có nghĩa là ‘hiện hữu nội
tại’. Truyền thống bình giải của Tây Tạng chỉ ra rằng
một niết bàn tự nhiên không phải là một niết bàn hiện
thực vì một niết bàn hiện thực là một sự dừng tắt
thực sự của tất cả phiền não.(19)
Như
thế, lời phát biểu rằng sanh tử rốt ráo không khác với
niết bàn không có nghĩa là tiến trình không kiểm soát của
vòng sanh tử tạo nên căn cứ cho khổ đau chính là sự dừng
tắt của mọi khổ đau. Hơn nữa, nó ám chỉ đến mối tương
quan giữa những chân lý quy ước và những chân lý tối hậu.
Ý
nghĩa lời phát biểu của Nagarjuna là không có một sự khác
biệt nhỏ nhất trong thực thể giữa một chân lý quy ước,
một sanh tử, và tánh Không của nó, một niết bàn tự nhiên.
Chúng khác nhau trong bối cảnh được bao hàm trong một thực
thể duy nhất.
Vì
những chân lý quy ước – mọi sự vật ngoại trừ tánh Không
– không phải là những chân lý tối hậu – tánh Không –,
hai chân lý không chỉ là hai cách nhìn cùng một sự vật,
và như thế không thể nói rằng một chân lý quy ước, như
một cái bàn hay một thân thể, và tánh Không của nó, sự
không có hiện hữu nội tại của nó, là một. Chúng cũng
không đồng nghĩa ; một chân lý tối hậu không là một chân
lý quy ước và một chân lý quy ước không là một chân lý
tối hậu. Lại nữa, hai chân lý là một sự tách biệt làm
hai bởi vì nếu một cái gì hiện hữu và không phải là một
chân lý tối hậu thì nó phải là một chân lý quy ước, và
nếu một cái gì hiện hữu mà không phải là một chân lý
quy ước thì nó phải là một chân lý tối hậu ; một phân
hai bao gồm mọi hiện thể, và không có cái gì có thể là
cả hai.
Nếu
một hiện tượng, như một thân thể, và tánh Không của nó
đích thật như nhau, thì chúng ta thấy thân thể, chúng ta cũng
thấy tánh Không của nó, trong trường hợp này chúng ta được
giải thoát. Tuy nhiên, chúng ta không được giải thoát, chúng
ta tưởng ra theo thói quen cái đối nghịch với tánh Không
và do đó bị kéo vào những phiền não. Bởi thế, những chân
lý tối hậu và quy ước không nhất thiết như nhau, nhưng
chúng cũng không phải là những thực thể khác nhau bởi vì
khi người ta hiểu tánh Không của thân thể, chẳng hạn như
vậy, điều này giúp vượt thắng được vọng tưởng về
hiện hữu nội tại của thân thể. Nói cách khác, bởi vì
một tánh Không, vô tự tánh là bản tánh của thân thể, nhận
biết nó giúp cho vượt thắng được vọng tưởng về thân
thể. Nếu một tánh Không là một thực thể và thân thể
là một thực thể khác, thì sự nhận biết triệt để tánh
Không sẽ không ảnh hưởng gì đến vọng tưởng về những
hiện tượng như là có hiện hữu nội tại. Một chân lý
quy ước, như là một thân thể, và một chân lý tối hậu,
tánh Không của hiện hữu khách quan hay nội tại, là tương
hợp với nhau trong một thực thể nhưng là khác biệt nhau.
Những
chân lý tối hậu không mâu thuẫn với những chân lý quy ước
; tánh Không của thân thể không chống đối với thân thể
hiện hữu một cách quy ước và vững chắc ; nó chống lại
với hiện hữu nội tại của thân thể mà thôi. Bởi thế,
‘quy ước’ không có nghĩa là ‘thông thường’, bởi vì
mọi hiện tượng xuất hiện một cách thông thường với
những thức giác quan không có ý niệm như thể chúng bao phủ
khu vực của chúng, như thể chúng hiện hữu trong và bởi
chính chúng trong khi chúng không phải như vậy. Chúng ta biết
những ‘chân lý quy ước’ như những ngôi nhà, những thân
và những tâm, nhưng chúng ta không biết những chân lý quy
ước như là những chân lý quy ước. Để biết điều ấy,
chúng ta phải biết tánh Không, sự không hiện hữu nội tại
của những sự vật ; bấy giờ chúng ta có thể hiểu rằng
những sự vật chỉ hiện hữu một cách danh xưng.
Trừ
tánh Không, mọi sự vật đều là những chân lý quy ước,
hay là ‘những chân lý đối với một tâm thức bị che tối’.
Chúng có vẻ hiện hữu theo cách chúng xuất hiện chỉ với
một tâm thức bị che tối bởi vô minh. Mỗi sự vật đều
có một niết bàn tự nhiên, là sự không hiện hữu của nó
trong cách nó xuất hiện, là tánh Không không có hiện hữu
nội tại của nó. Khi điều này được hiểu biết một cách
triệt để, những phiền não dần dần được vượt thắng
đến một mức độ nơi đó mọi phiền não bất kỳ đều
bị loại bỏ vĩnh viễn. Bấy giờ có một niết bàn, một
tánh Không của tâm trong dòng tương tục của người đã vượt
thắng mọi phiền não.
Để
thực hiện cuộc chuyển hóa này, một thiền giả trau dồi
một tâm thức là một tương tự với Pháp thân của một
vị Phật. Dùng một trí phán đoán phân tích cái tối hậu,
người ấy thẩm xét hoặc tâm, thân hay cái ‘tôi’ hiện
hữu như chúng xuất hiện – hiện hữu ngay nơi những căn
cứ để định danh của chúng, những căn cứ đó với tâm
là những khoảnh khắc của thức, với thân là bốn chi và
một thân và với cái ‘tôi’ là tâm và thân. Tìm kiếm một
cách chủ định để khám phá sự xuất hiện của hiện hữu
nội tại có thể chịu đựng nổi sự phân tích hay không,
thiền giả dần dần khám phá ra rằng nó không thể ; một
cái Không nó là một phủ định hiện hữu nội tại xuất
hiện và với nó thiền giả nấu chảy tâm thức y, ở yên
trong định như hư không càng lâu càng tốt. Đây là con đường
của trí huệ của Thừa Hoàn Thiện, một con đường chuyển
hóa nhờ trau dồi trước khi giai đoạn quả một tương tự
của định bất nhị mà một vị Phật không bao giờ lìa khỏi.
Kim
Cương thừa có đặc trưng hơn nữa trong việc trau dồi khi
còn ở trên con đường một tương tự của Sắc thân một
vị Phật. Những tương tự của những Sắc thân Phật được
trau dồi để chuyển hóa không những tâm thức mà còn tiến
trình hình tướng vật chất. Mục đích vẫn là Phật tánh
được dùng như nền tảng cho lợi lạc của tất cả chúng
sanh, những phương tiện để diệt trừ tham, sân và vô minh,
những phương tiện đó bao gồm sự sử dụng những cái này
trong con đường trong bối cảnh của tánh Không và những yoga
hóa thần. Như đạo sư Sakya, Sošnamtsemo (1142-1182) nói trong
Trình Bày Tổng quát về những Bộ Tantra của ngài :
Nếu
người ta có phương tiện, những sự vật (ham thích) dùng
như những sự trợ giúp cho giải thoát, như thuốc độc (được
dùng trong y khoa), lửa (được dùng trong thuật luyện vàng),
v.v… Bởi thế, những sự vật không phải là những ràng
buộc bẩm sinh ; chính những tư tưởng hư hỏng căn cứ trên
chúng đã tác động như những ràng buộc. Nhờ từ bỏ những
thực thể của những nguyên nhân ràng buộc, người ta được
giải thoát ; như thế, những sự vật được dùng như những
nguyên nhân phụ của giải thoát. Tantra Hevajra nói :
Người
ta được giải thoát khỏi những ràng buộc
Của
vòng sanh tử bằng những thứ chúng trói buộc,
Khi
chúng được đi kèm bởi phương tiện.
Về
câu ‘đi kèm bởi phương tiện’, cái gì là phương tiện
để từ bỏ những nguyên nhân của sự trói buộc ?… Biết
bất kỳ đối tượng gì và chủ thể gì xuất hiện như chính
hóa thần bổn tôn của mình, người ta thọ hưởng chúng.
Tantra Guhyasamaja nói :
Dùng
như con muốn
Tất
cả tài nguyên được ham thích
Với
yoga về hóa thần bổn tôn của con
Dâng
cúng chúng cho chính con và những người khác.
Đạo
sư Nyingma Longchenrapjam (1308-1363) nói trong Kho Tàng Giáo lý của
ngài
Câu
hỏi : Nếu Mật thừa cùng chia xẻ một con đường tịnh hóa
những nhiễm ô, có nghĩa gì khi nó dùng Quả như là con đường
? Bởi vì thừa Nhân được phát sanh để tịnh hóa những
nhiễm ô, nó cũng tương tự thế thôi.
Trả
lời : Dù Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa giống nhau trong
việc cùng tẩy trừ những nhiễm ô của ba cõi và thành tựu
Phật tánh, có một sự khác biệt về sự gần gũi và khoảng
cách theo thời gian. Cũng như, chỉ sức nóng của con đường
(nỗn địa) mà Thừa Hoàn Thiện đã cố gắng cho nó một
thời gian dài thì được nắm lấy như con đường trong một
khoảnh khắc của Mật thừa. Hơn nữa, nhờ trau dồi trong
thiền định một tương tự của trạng thái trong mạn đà
la của cảnh giới, ngay những sự vật để từ bỏ cũng sáng
chiếu như những giúp đỡ. Theo cách này quả được lấy
dùng như con đường ; tuy nhiên quả rốt ráo đích thực thì
không thực sự được lấy làm con đường. Bởi thế, cần
phải trau dồi cái sâu xa và cái rộng lớn trong thiền định.
Chỉ
sự rút tâm thức khỏi những ý niệm về hiện hữu nội
tại hay ngay cả yoga hóa thần mà không có trí huệ về tánh
Không thì sẽ không đủ làm một đối trị với phiền não.
Phương tiện tối cao là trau dồi yoga hóa thần trong bối cảnh
thấu hiểu tánh Không của hiện hữu nội tại. Tâm trí huệ
thấu hiểu tánh Không và tan hòa với tánh Không xuất hiện
như một hóa thần, và trong trạng thái này cái trước kia
ràng buộc người ta vào vòng sanh tử có thể được dùng
như những giúp đỡ đến giải thoát.
Yoga
hóa thần đòi hỏi trí tưởng tượng sáng tạo ; một thiền
giả thừa nhận rằng những thấy biết hiện giờ của nó
được nhuộm màu bởi những tập khí tạo thành từ những
hành động trước kia và để có được sự kiểm soát trên
tiến trình xuất hiện hình tướng, nó đi vào thực hành những
cái thay thế lý tưởng. Qua việc quán tưởng mọi thứ xuất
hiện hợp nhất với tánh Không và yoga hóa thần, nó làm sạch
những tập khí bẩm sinh tạo ra những thấy biết và ý niệm
sai lầm. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa tưởng tượng và sự
kiện vẫn còn, và Phật tánh không phải là tưởng tượng.
Longchenrapjam nói :
Khi
người ta thành Phật, thoát khỏi những nhiễm ô, những đặc
trưng của một quốc độ xuất hiện hoàn toàn được trang
nghiêm trong bối cảnh không phải kết cấu cũng không phải
tách lìa giữa thân thể và trí huệ (chúng đã hòa tan không
thể phân chia). Điều ấy được hiện thực hóa (trong Mật
thừa) qua sức mạnh trừ sạch những nhiễm ô hiện hữu trong
pháp giới bằng cách thiền định về một tương tự với
một quốc độ như vậy. Bởi thế, nó được gọi là Thừa
Quả. Tantra Padmashekara nói :
Khi
bản chất cảnh giới không dấu vết nhiễm ô
Có
Ba Thân, trí huệ và quốc độ
Được
tịnh hóa, nó xuất hiện rõ ràng
Trong
sự sáng chiếu. Điều này dùng lấy
Một
tương tự làm con đường là đúng đắn
Được
gọi là Thừa của Quả.
Trong
Mật thừa hiểu biết về bản tánh thường trụ một cách
uyên nguyên trong quả nội tại tuyệt hảo của pháp giới
được dùng như là nền tảng và được thực hành. Bởi thế,
nó được gọi là Thừa Quả. Hơn nữa, về sự tẩy sạch
những cấu uế nhiễm ô, giai đoạn phát sanh và thành tựu
được
trau dồi, và qua tu hành tánh Như, những nhiễm ô ngoại lai
được tịnh hóa. Những hóa thần bổn tôn, mạn đà la v.v…
chúng được thiền định bằng tâm thức là những tạo tác
của tự tâm mình ; như thế, đây không phải là thiền định
lấy quả – pháp giới với những hóa thần và mạn đà la
– như là con đường thực sự. Tuy nhiên, bởi vì nó gần
gũi với ý nghĩa của pháp giới, nó được xem như một con
đường sâu xa, không đánh lừa. Dù Mật thừa tương tự Thừa
Nhân trong việc không thể lấy pháp giới như là con đường
thực sự, cũng có một khác biệt lớn trong sự gần gũi thân
thiết của những con đường (đến quả) nhờ vào sự khác
biệt là có một tương tự trong đặc trưng (với quả).
Nhờ
tính tương tự của nó với quả và tốc độ của nó trong
việc phát sanh quả, Kim Cương thừa được gọi là Thừa Quả.
Tiến trình chuyển hóa thân và tâm được đắp khuôn theo
những đặc trưng của quả đang được hướng đến. Trong
khi Thừa Hoàn Thiện chỉ có sự trau dồi một tương tự với
Pháp thân và dựa vào những nguyên nhân khác để phát triển
một Sắc thân, Kim Cương thừa có sự trau dồi những tương
tự với cả hai thân. Đây là đặc trưng riêng biệt và nâng
cao của nó, mà đời sống cốt lõi của nó là nhận biết
những ý niệm sai lầm về bản tánh của những hiện tượng
và dần dần khám phá ý nghĩa của tánh Không. Bởi vì cái
tâm thức nhận biết tánh Không này chính nó xuất hiện như
là thân thể của một hóa thần.
Mục
đích của Bốn Tantra
Những
tantra được chia thành bốn bộ, Hoạt Động, Thực Hiện,
Yoga và Yoga Tối Thượng, theo những khả năng khác nhau của
người tu hành khi sử dụng tham muốn trong con đường. Khi
tham muốn khởi từ nhìn ngắm, cười cợt, nắm tay hay ôm
ấp, và kết hợp được dùng trong con đường cộng với tánh
Không và những yoga hóa thần, tham muốn chính nó bị tiêu
tan. Panchen Lama Đệ Nhất, Losangchoškigyeltsen (1569-1662) nói
:
Một
côn trùng sanh từ gỗ nhưng tiêu hủy gỗ trọn vẹn. Cũng
cách ấy, một đại lạc được phát sanh nhờ vào một động
cơ nguyên nhân, nó là sự tham muốn nhìn, cười, nắm tay hay
ôm ấp, hay hợp nhất hai bộ phận. Trí huệ của đại lạc
và tánh Không không thể phân chia – nó là đại lạc này
phát sanh không thể phân chia với một tâm thức nhận biết
tánh Không trong cùng thời gian – đốt tiêu hoàn toàn những
phiền não, tham muốn, vô minh v.v…
Bốn
Tantra được phân chia trên căn bản khả năng của những người
tu hành chủ yếu của chúng, khi họ sử dụng trong con đường
bốn hình thức này của tham muốn, chúng tùy thuộc vào bốn
loại thỏa mãn tìm thấy trong những mức độ khác nhau của
cõi dục. Những vị thiên của cõi Trời thứ Ba Mươi Ba và
mọi chúng sanh dưới cõi Trời ấy, gồm cả con người, có
được thỏa mãn qua kết hợp tình dục. Những vị thiên của
cõi Trời Không Chiến Đấu có được thỏa mãn qua ôm ấp
; những vị của cõi Hoan Hỷ qua sự cầm nắm tay ; những
vị của cõi Trời Thích Hóa Hiện qua sự cười ; và những
vị của cõi Trời Kiểm Soát sự Hóa Hiện của Những Người
Khác qua cái nhìn. Abhayakara khi giải thích tantra, dùng những
vị thiên này như những thí dụ kiểu mẫu, và Tsongkapa nhấn
mạnh rằng Abhayakara không muốn nói rằng chư thiên là những
người tu hành chủ yếu để bốn tantra được thuyết giảng
vì họ. Bốn bộ tantra được phô bày để thích hợp với
những khả năng của bốn loại người dùng tham muốn trong
con đường.
Tuy
nhiên Alamkakalasha dạy rằng bốn tantra được diễn giải để
thích hợp với bốn đẳng cấp. Ngài giải thích :
Những
Tantra Hoạt Động được dạy để thích hợp với những Bà
la môn vì họ thích tắm rửa và sự sạch sẽ, chủ trương
quan điểm rằng người ta được giải thoát qua khổ hạnh,
xem đẳng cấp họ là quan trọng, và chủ trương người ta
được giải thoát nhờ trì tụng và đốt đồ cúng… Những
Tantra Thực Hiện, dạy vừa yoga bên trong với trí huệ và
phương tiện vừa những hoạt động bên ngoài, được nêu
lên để thích hợp với đẳng cấp buôn bán bởi vì họ không
thể đi vào khổ hạnh nghiêm ngặt, không muốn đi vào những
hoạt động thấp, và xem nhẹ sự sạch sẽ bên ngoài và v.v…
Những Tantra Yoga (trong đó những vị thiên và thiên nữ của
những mạn đà la tương đương với một nhà vua và quần
thần) được dạy để thích hợp cho những người của đẳng
cấp vua chúa bởi vì họ không thể đi vào khổ hạnh mà thọ
hưởng những lạc thú của năm thuộc tính của cõi dục…
Những Tantra Yoga Tối Thượng, nó dạy sự sử dụng không
có ý niệm năm loại thịt…, cũng như những hoạt động
thấp, được dạy cho những người đẳng cấp tôi tớ họ
không có chút ý thức nào về sự sạch sẽ, ăn mọi thứ,
đi vào mọi hoạt động, và có ít ý niệm.
Tsongkapa
chỉ ra những khuyết điểm trong sự giải thích này, Panchen
Lama đệ Nhất còn nói thêm :
Thật
sai lầm, khi xác định bốn bộ tantra từ quan điểm bốn đẳng
cấp. Nếu điều này nghĩa là những người của bốn đẳng
cấp là những người tu hành đặc biệt của bốn tantra, thì
điều này kéo theo cái lỗi là quá rộng lớn (vì không phải
tất cả những thành viên của các đẳng cấp đều thực
hành tantra). Nếu nó nghĩa là thành viên của bốn đẳng cấp
cần thiết cho những người tu hành chủ yếu của bốn tantra,
bấy giờ điều này kéo theo cái lỗi quá chật hẹp (vì những
người tu hành chủ yếu của bốn tantra đến từ bất cứ
thành phần nào của xã hội, chứ không từ một đẳng cấp
đặc biệt). Nếu nó có nghĩa là có những trường hợp bốn
tantra thuần hóa những thành viên của bốn đẳng cấp, bấy
giờ điều này kéo theo cái lỗi bất định (bởi vì có những
trường hợp cả bốn tantra thuần hóa những thành viên của
cả bốn đẳng cấp ; bởi thế điều này không thể dùng
để phân biệt những tantra).
Tsongkapa
nhấn mạnh rằng không có ngay cả phần lớn trường hợp
những người tu hành của những tantra riêng biệt đến từ
một thành phần riêng biệt của xã hội. Ngài chế nhạo ý
kiến chính vì những Tantra Yoga dùng những mạn đà la phỏng
khuôn theo triều đình, mà những người tu hành chủ yếu của
chúng phải là những thành viên của đẳng cấp vua chúa.
Có
vẻ giống hơn là ý kiến cho rằng giáo lý này áp dụng bốn
tantra cho bốn đẳng cấp khởi từ sự dùng những thành viên
của đẳng cấp như là ví dụ kiểu mẫu. Chẳng hạn một
vị thầy khuyến khích những đệ tử sơ học rằng để thiền
định về chính họ như là những nhân vật chủ yếu trong
một mạn đà la Tantra Yoga, họ phải xem chính họ như những
vị vua ; hay để thực hành sự sạch sẽ nghiêm ngặt đi cùng
với vài nghi thức của Tantra Hoạt Động, họ phải giống
như những Bà la môn, những người có tiếng là tắm nhiều
lần trong một ngày ; hay để thực hành sự không phân biệt
những tư tưởng sạch sẽ và không sạch sẽ trong Tantra Yoga
Tối Thượng, họ phải giống như những thành viên của đẳng
cấp thấp nhất.
Lý
giải khác về bốn tantra, kể lại bởi cả Sošnamtsemo và
Butošn (1290-1364) là bốn nghi lễ phát sanh hóa thần bổn tôn
được dạy để thích hợp với những người theo bốn trường
phái học thuyết. Truyền thống là :
1.
Chính vì những nhà Vatsiputriya và Aparantaka-Vaibha-shika thừa
nhận những sự vật bên ngoài thực có hiện hữu và một
cái ngã không thể diễn tả được, nên nghi lễ phát sanh
hóa thần trong những Tantra Hoạt Động gồm việc bố trí
một bức vẽ hóa thần trước mặt mình, sắp xếp những
đồ dâng cúng, tắm, tuân thủ sự sạch sẽ, thỉnh mời một
sinh thể trí huệ (một hóa thần hiện thực) đến trước
mặt mình – tương đương với một đối tượng bên ngoài
– thấm nhuần thần chú vào trong lòng, và dấn thân vào trì
tụng trong bối cảnh thấy vị hóa thần giống như một đạo
sư và chính mình như người tôi tớ phục vụ. Chính vì những
trường phái này thừa nhận một cái ngã không thể diễn
tả, nên sinh thể trí huệ không phải là bức vẽ cũng không
phải là chính mình.
2.
Sự giải thích này về Tantra Hoạt Động căn cứ trên lời
dạy trong Toát Yếu những Kim Cương Trí Huệ, một Tantra Yoga
Tối Thượng, rằng trong những Tantra Hoạt Động không có
sự kiêu hãnh chính mình là một hóa thần cũng không có sự
đi vào của một sinh thể trí huệ vào chính mình (tưởng
tượng chính mình như một hóa thần và rồi khiến hóa thần
hiện thực, sinh thể trí huệ, đi vào). Tuy nhiên, Tsongkapa
giải thích trong diễn giải của ngài về Tantra Hoạt Động
rằng đoạn này ám chỉ đến những người tu hành cấp thấp
nhất của những Tantra Hoạt Động, họ sợ hãi phải thiền
định chính họ như một hóa thần, chứ không đến những
người tu hành chủ yếu của Tantra Hoạt Động là những người
hoàn toàn có khả năng thực hành yoga hóa thần.
3.
Những Tantra Thực Hiện gồm sự phát sanh chính mình như một
sinh thể tượng trưng và sự phát sanh một hóa thần trước
mặt như một sinh thể trí huệ được dạy cho những người
Kashmiri Vaibhashika và Sautrantika. Trì tụng được thực hiện
trong bối cảnh thấy hóa thần – sinh thể trí huệ trước
mặt – và chính mình – sinh thể tượng trưng (được tưởng
tượng như một hóa thần) – như hai người đồng hành. Điều
này giống như sự thừa nhận của các phái này về chủ thể
và khách thể hiện hữu một cách tối hậu.
Sự
giống nhau bề ngoài này không được tìm thấy bởi vì Kim
Cương thừa là một phần của Đại thừa từ những quan điểm
về cả giáo lý lẫn con đường. Bởi vì yoga tánh Không là
một phần không thể thiếu của sự phát sanh yoga hóa thần,
những người theo giáo lý Tiểu thừa không thể là những
người tu hành chủ yếu của tantra nào cả, cũng không có
hệ thống tantra nào trình bày sự hiện hữu tối hậu của
chủ thể và đối tượng, điều ngược lại với tánh Không.
4.
Những Tantra Yoga bao gồm sự phát sanh chính mình như là một
sinh thể tượng trưng và rồi khiến sinh thể trí huệ đi
vào chính mình được dạy cho Độc Giác. Nghi lễ này về
phát sanh hóa thần thì tương tự với sự thừa nhận của
Độc Giác về đối tượng và chủ thể hiện hữu một cách
quy ước.
Sự
giải thích này về Tantra Yoga được căn cứ trên thừa nhận
của những nhà Yogachana-Svatantrika rằng Độc Giác nhận biết
sự không thật của những đối tượng – sự không khác
biệt trong thực thể giữa chủ thể và đối tượng. Tuy nhiên,
‘Độc Giác’ không phải là một trường phái học thuyết
mà là một loại hành giả mà con đường của vị ấy được
cả bốn phái Vaibhashika, Sautrantika, Chittamatra và Madhyamika trình
bày.
5.
Những Tantra Yoga Tối Thượng được dạy cho những nhà Chittamatra
và Madhyamika của Đại thừa, họ thừa nhận rằng chủ thể
và đối tượng cả hai đều không hiện hữu một cách tối
hậu mà chỉ hiện hữu một cách quy ước. Những tantra này
gồm sự phát sanh chính mình như một sinh thể tượng trưng
và sự đi vào của một sinh thể trí huệ – tương đương
với sự thừa nhận chủ thể và đối tượng một cách quy
ước – nhưng không bao gồm sự thỉnh cầu hóa thần rời
bỏ – tương đương với việc không thừa nhận cả chủ
thể và đối tượng hiện hữu một cách tối hậu.
Lần
nữa, sự giống nhau là nhỏ bé và gợi ý rằng trong quá khứ
một vị thầy chỉ chỉ ra những khác biệt trong nghi lễ về
sự phát sanh hóa thần qua so sánh với những khác biệt giữa
các trường phái học thuyết, và điều này bị hiểu sai là
những tantra được dạy cho người theo những trường phái
học thuyết này.
Butošn,
sau khi thuật lại truyền thống này, nói, ‘Những lama Tây
Tạng đã nói điều này, nhưng tôi không thấy một nguồn
gốc nào cho nó.’ Đạo sư Kagyu Padmakarpo (1527-1592) nói :
Một
vài vị thầy Tây Tạng đã giải thích rằng (những tantra)
được phân chia thành bốn loại căn cứ trên những phù hợp
với (bốn loại) những nhà Tirthika hay căn cứ trên bốn trường
phái học thuyết Phật giáo. Bởi vì những nguồn gốc họ
trích dẫn không xuất hiện trong bản văn nào, những giải
thích này chỉ là ý nghĩ riêng của họ.
Đạo
sư Sakya Sošnamtsemo kể rằng truyền thống này tuyên bố là
theo Nagarjuna, và như đạo sư Geluk, Panchen Lama đệ Nhất nói,
‘Không đúng rằng nó được thừa nhận bởi Nagarjuna và
Jnanapada bởi vì một trình bày như thế không được nêu ra
trong bất kỳ tác phẩm nào của hai vị.’
Bởi
vì tantra có việc dùng tham, sân và si (vô minh) trong con đường
để chinh phục những phiền não và bởi vì những thực hành
được thích ứng cho những người có một hay phiền não nào
khác trổi vượt, nhiều người đã cho rằng bốn tantra được
dạy cho bốn loại người bị những phiền não khác nhau thống
trị. Dù một phiền não nào đó trong hành giả tantra có thể
trổi vượt theo nghĩa nó mạnh hơn các phiền não khác, một
nhà Mật thừa thì không bị những phiền não thống trị ;
hơn nữa, nó sống dưới ảnh hưởng của lòng đại bi và
tìm kiếm những phương cách nhanh nhất để đạt đến một
trạng thái nơi đó nó có thể giúp đỡ hiệu quả chúng sanh
khổ đau. Trong Giải thích Nghi Thức của Mạn đà la Guhyasamaja
của mình, Dalai Lama thứ Bảy nói đến những người tu hành
của Tantra Yoga Tối Thượng :
Một
số người thấy rằng nếu người ta dựa vào Thừa Hoàn Thiện
v.v…, người ta phải tích tập những tạng (công đức và
trí huệ) trong ba vô số đại kiếp, và như thế phải có
thời gian dài và có khó khăn lớn lao. Họ không thể chịu
đựng khó nhọc như vậy và tìm kiếm cách đạt đến Phật
tánh trong một thời gian ngắn bằng một con đường ít khó
khăn. Những người này tuyên bố rằng bởi thế họ đi vào
con đường ngắn của Mật Chú thừa nhưng thật ra họ ở
ngoài lãnh vực của những người tu hành Mật thừa. Bởi
vì để được gọi là một nhà Đại thừa tổng quát, người
ta không thể tìm kiếm thanh bình chỉ cho riêng mình mà từ
quan điểm xem những người khác thì thân thiết hơn chính
mình, phải có thể vì sự lợi lạc cho những người khác,
chịu đựng bất cứ khó khăn hay khổ đau nào có thể có.
Bởi vì những nhà Mantrika Bí Mật là những người có những
khả năng cực kỳ sắc bén trong Đại thừa, nên những người
đã quay lưng với lợi lạc của những người khác và muốn
ít khó khăn cho chính họ thì không gần gũi nổi một góc
của Tantra Yoga Tối Thượng… Người ta phải đi vào Tantra
Yoga Tối Thượng, con đường ngắn bí mật, với động lực
của sự phát sanh tâm vị tha, không thể chịu đựng nổi
sự việc chúng sanh sẽ bị phiền não trong một thời gian
dài bởi vòng sanh tử nói chung và bởi những khổ đau mãnh
liệt nói riêng và nghĩ, ‘Tốt đẹp biết bao nếu tôi có
thể hoàn thành ngay bây giờ một phương cách để giải thoát
họ !’
Như
Jangkya (1717-86) nói trong Trình Bày những Giáo Lý của ngài
:
Có
nói trong những tantra quý báu và trong nhiều bình giải rằng
ngay cả những người tu hành của Mật thừa có những khả
năng thấp cũng phải có rất nhiều đại bi, những khả năng
sắc bén, và một cuộc đời cao cả hơn những người tu hành
có khả năng sắc bén nhất trong Thừa Hoàn Thiện. Bởi thế,
người nào nghĩ và nói rằng Mật thừa được dạy cho những
người nản lòng trước sự thành tựu giác ngộ trải qua
một thời gian dài và với nhiều khó khăn cho thấy rõ họ
đã không thâm nhập ý nghĩa của tantra. Hơn nữa, phát biểu
rằng Mật thừa thì nhanh chóng hơn Thừa Hoàn Thiện là liên
hệ đến những người tu hành họ là những pháp khí thích
hợp ; chứ không phải cho bất cứ ai. Bởi thế, giáo lý là
Mật thừa thì chưa đủ ; con người phải thực sự dấn thân
vào Mật thừa.
Không
dạy cho những người không thể tiến trên Thừa Hoàn Thiện,
bốn tantra được trình bày cho những người có lòng đại
bi đặc biệt lớn lao họ có những khả năng khác nhau để
dùng cái thường vốn là những nguyên nhân của vòng sanh tử
như là những phương tiện để vượt khỏi nó.
Những
truyền thống mật truyền về tantra đã được loan truyền
rộng rãi ở Tây phương trong khi ở Tây Tạng nhiều truyền
thống về những lý do có bốn tantra được phân biệt thực
hư bởi những thiền giả học giả để tìm ra vị trí đích
thật tối hậu của chúng. Panchen Lama đệ Nhất nói :(20)
Hệ
thống riêng của chúng ta nói rằng lý do cho sự ấn định
bốn cổng vào khác biệt (để thực hành Mật thừa) từ quan
điểm của bốn tantra là những người tu hành chủ yếu được
dành cho Kim Cương thừa thì có bốn loại. Bốn loại này được
đặt ra vì có bốn cách dùng tham muốn đối với những thuộc
tính của cõi dục trong con đường và bốn loại khả năng
cao hơn và thấp hơn để nâng cấp yoga, nó là sự hợp nhất
của trí huệ nhận biết tánh Không và yoga hóa thần dùng
bốn cách thức này trong con đường.
Panchen
Lama đề cập đến sự hiểu lầm khác về tantra cũng đang
được biết đến rộng rãi ở Tây phương.(20) ‘Những người
này của Thừa Hoàn Thiện nhận biết bản tánh của những
hiện tượng bằng những ví dụ và lý luận trong khi ở đây
(trong Mật thừa) tánh Không được nhận biết một cách trực
tiếp…’ Lại nữa, ‘Những người của Thừa Hoàn Thiện
tin và nghĩ, “Tất cả các hiện tượng là thoát khỏi những
tạo tác ý niệm”, nhưng không nhận biết chúng trong cách
ấy. Ở đây (trong Mật thừa) tánh Không được nhận biết
một cách trực tiếp qua nhiều phương tiện…’ Tuy nhiên,
trí huệ bất nhị là đời sống của cả hai con đường Kinh
và Tantra, và trong cả hai con đường sự nhờ cậy ban đầu
vào lý luận phán đoán để mở bày bản tánh của những
hiện tượng, vốn che dấu với kinh nghiệm trực tiếp của
chúng ta, là cần thiết. Qua sự trau dồi lập đi lập lại,
cái hiểu biết có ý niệm về tánh Như trở thành trí huệ
không ý niệm. Những người không xem những đại luận nêu
ra con đường lý luận của trung đạo, như Trung Đạo Luận
của Nagarjuna, như là những nguyên tắc cho sự thực hành sẽ
chủ trương lầm lẫn tantra chỉ là một kỹ thuật khác để
nhận biết tánh Không. Đã bỏ đi con đường cho sự thấu
hiểu tánh Không, họ – qua sự hiểu sai ý nghĩa của tantra
– cũng bỏ đi phương pháp đặc biệt của tantra cho sự phát
triển Sắc thân của một vị Phật, là yoga hóa thần.
Những
điểm tinh yếu về sự khác biệt
giữa
Tiểu thừa và Đại thừa
và
hai Đại thừa*
1 Dalai
Lama dạy rằng người ta cần phối hợp sự học hỏi, áp
dụng thực hành và một tâm thức tốt. Bởi thế, chỉ sự
học về sự khác biệt giữa các thừa thì không đủ.
2 Phát
sanh một tâm tốt là mục tiêu chính yếu để phân biệt các
thừa ; mục tiêu trực tiếp là biết được sự khác biệt
giữa các thừa để khuyến khích thực hành.
Tiểu
thừa và Đại thừa
3 Người
ta có thể phân biệt danh từ ‘Tiểu thừa’ và ‘Đại thừa’
từ quan điểm trường phái học thuyết và từ quan điểm
con đường.
4 Người
ta có thể là một nhà Đại thừa do học thuyết và một nhà
Tiểu thừa do con đường, như trong trường hợp những Đại
A la hán ngày xưa. Như thế, có một số người có khả năng
thừa nhận một hệ thống học thuyết Đại thừa nhưng họ
tạm thời không có khả năng phát sanh một con đường Đại
thừa.
5 Hai
hệ thống học thuyết Tiểu thừa (Vaibhashika và Sautrantika)
và hai hệ thống học thuyết Đại thừa (Chitta-matra và Madhyamika)
mỗi cái đều trình bày một con đường Tiểu thừa (con đường
Thanh Văn và Độc Giác) và một con đường Đại thừa (con
đường Bồ tát).
6 Lý
do có bốn trường phái học thuyết là khả năng khác biệt
của con người, bao gồm cả sự kiêu hãnh muốn cái tối cao
mặc dù không có khả năng với nó ; như thế, những hệ thống
thấp, không rốt ráo được dạy như thể chúng là cái rốt
ráo.
7 Sự
khác biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa và giữa hai thừa
Đại thừa phải được tìm thấy trong ý nghĩa của thừa
như là cái mà người ta tiến đến (quả) và / hay như là
cái mà nhờ nó người ta tiến bộ (phương tiện, trí huệ
hay cả hai).
8 Nền
tảng vững chắc của tính chất tùy duyên của tâm thức làm
cho sự phát triển không giới hạn của phương tiện và trí
huệ là có thể được.
9 Sự
khác biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa nằm trong ý nghĩa
của thừa như là cái mà người ta tiến đến (A la hán và
Phật mang lấy, như một thừa, sự lợi lạc của chỉ riêng
mình hay của tất cả chúng sanh) và như những thực hành nhờ
chúng mà người ta tiến bước (đặc biệt về phương tiện,
không về trí huệ).
10
Từ quan điểm của Prasangika-Madhyamika, trí huệ của cả hai
thừa là như nhau bởi vì gốc rễ của vòng sanh tử chính
là ý niệm về con người và về các hiện tượng khác như
chúng là hiện hữu nội tại, tự thân, và A la hán (những
vị đạt được quả của những con đường Tiểu thừa) đã
giải thoát khỏi vòng sanh tử, đã hủy diệt kẻ thù vô minh
gây phiền não.
11
Bởi thế, cả hai con đường Tiểu thừa và Đại thừa đều
bao gồm sự chứng ngộ tánh Không vi tế, nó là sự không
có hiện hữu nội tại (vô tự tánh) của con người và các
hiện tượng khác.
12
Bởi thế, sự khác biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa theo
nghĩa thừa như là cái nhờ đó người ta tiến bộ không nằm
trong trí huệ mà nằm trong phương tiện – động lực và
những công hạnh kèm theo. Động lực Tiểu thừa là ý muốn
đạt đến giải thoát khỏi vòng sanh tử cho chính mình trong
khi Đại thừa động lực Đại thừa là ý muốn đạt đến
Phật tánh để cứu giúp tất cả chúng sanh.
13
Có hai loại ngăn chướng : những ngăn chướng thuộc về phiền
não (ngăn chặn sự giải thoát khỏi vòng sanh tử) và những
ngăn chướng đối với toàn giác (ngăn chặn sự nhận biết
đồng thời hai chân lý – những chân lý tối hậu và những
chân lý quy ước, hay tánh Không và những sự vật có bản
chất là tánh Không).
14
Những ngăn chướng về phiền não là (1) vô minh vọng tưởng
ra hiện hữu nội tại, tự thân của những con người và
các hiện tượng khác (2) những phiền não khác mà vô minh
này khởi dẫn ra, và (3) những hột giống của chúng.
15
Những ngăn chướng với toàn giác là những tập khí được
tập nên bởi ý niệm hiện hữu nội tại nhưng chúng tạo
ra sự xuất hiện, hình tướng của hiện hữu nội tại cũng
như sự không thể nhận biết hai chân lý một cách trực tiếp
và đồng thời.
16
Nếu mục đích của người ta là chỉ bỏ những ngăn chướng
phiền não, thì đi đến tánh Không qua chỉ một số hình thức
lý luận phán đoán là đã đủ. Nếu mục đích của người
ta là nhổ tận gốc những ngăn chướng với toàn giác và
nhờ đó đạt đến Phật tánh, cần thiết đi đến tánh Không
qua vô số hình thức lý luận phán đoán.
17
Như thế, dù không có khác biệt về loại của trí huệ giữa
Tiểu thừa và Đại thừa, nhưng có sự khác biệt về cách
thức trau dồi và kết quả cuối cùng.
Thừa
Hoàn Thiện và Mật thừa
18
Hai Đại thừa, Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa, có cùng quả
và cùng trí huệ ; bởi thế sự khác biệt nằm trong phương
tiện, nó là đặc trưng đặc biệt yoga hóa thần của tantra.
19
Một hành giả tantra phải đặc biệt có lòng bi mãnh liệt,
gấp gáp thành Phật để giúp đỡ những người khác.
20
Phương tiện trong Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa là như nhau
về nền tảng của thực hành, đó là tâm vị tha của giác
ngộ, và những công hạnh của thực hành, chúng là sáu hoàn
thiện. Bởi thế, Mật thừa không bỏ rơi hay siêu vượt khỏi
tâm quy ước của giác ngộ (nguyện vọng vị tha đạt đến
Phật tánh cho những người khác và những công hạnh Bồ tát)
hay tâm tối hậu của giác ngộ (sự chứng ngộ thấu hiểu
tánh Không bởi một Bồ tát). Tuy nhiên, Mật thừa có đặc
trưng phụ trội là yoga hóa thần.
21
Sự khác biệt trong tốc độ giữa hai Đại thừa là do một
sự tích tập công đức nhanh hơn trong Mật thừa (nếu người
ta có thể thực hành nó), có từ sự trau dồi yoga hóa thần.
Cái này bao gồm thiền định trau dồi một tương tự với
Sắc thân, chỗ ở, những tài nguyên, và những hoạt động
của một vị Phật.
22
Yoga tánh Không là đặc trưng chung của yoga hóa thần Phật
giáo, phân biệt với yoga hóa thần không-phải-Phật-giáo.
23
Trong yoga tánh Không người ta phải an trụ hoàn toàn vào cái
Không, nó là một phủ định của hiện hữu nội tại được
tìm thấy sau khi tìm kiếm cái ngã hiện hữu cụ thể. Cái
Không này phải xuất hiện rõ ràng với chúng ta.
24
Yoga hóa thần gồm khiến cho tâm thức thấu hiểu tánh Không
và hòa lẫn với tánh Không này để tự xuất hiện như một
hóa thần, từ lòng đại bi, để giúp đỡ những người khác.
25
‘Kim Cương’ nghĩa là một kết hợp không thể phân chia
của trí huệ chứng ngộ tánh Không và đại bi.
26
Thừa Hoàn Thiện không có yoga hóa thần dù cho nó có thiền
định trau dồi một tương tự của Pháp thân, tức là định
như hư không về tánh Không.
27
Mọi thực hành tantra là yoga hóa thần và yoga tánh Không, hoặc
những cái nâng cấp, thúc đẩy hai cái này.
28
Chỉ Thừa Hoàn Thiện thôi thì không đủ cho sự đạt được
Phật tánh, và chỉ ba tantra cấp thấp cũng không đủ. Tantra
Yoga Tối Thượng được đòi hỏi để vượt thắng những
ngăn chướng vi tế cùng cực đối với toàn giác.
29
Đối với tantra nói chung, sự khác biệt trong tốc độ nhanh
hơn so với Thừa Hoàn Thiện là đoạn đường từ lúc bắt
đầu con đường tích tập đến con đường thấy thì nhanh
hơn một vô số kiếp đòi hỏi trong Thừa Hoàn Thiện.
30
Sự đạt được Phật tánh trong một đời là một đặc trưng
riêng biệt của Tantra Yoga Tối Thượng. Như thế, tốc độ
nhanh hơn của Mật thừa so với Thừa Hoàn Thiện không nhất
thiết là sự đạt đến Phật tánh trong chỉ một đời trong
thời đại suy thoái.
31
Bởi vì những thực hành của Thừa Hoàn Thiện là cần thiết
cho và là rất bản chất của Mật thừa, chúng ta cần xem
ngay cả những thực hành phụ thuộc của nó, chẳng hạn thực
hành vô thường dẫn đến chứng ngộ tánh Không, như là những
đóng góp bản chất cho con đường Mật thừa.
Chú
thích
1.
Những kinh mạch là những đường đi qua đó các hạt – những
tinh chất của sự sống – lưu chuyển, được thúc đẩy
bởi các khí, hay dòng năng lực.
2.
Một cuộc đời như một Chuyển Luân Vương được đạt đến
qua những hành động đạo đức đặc biệt (xem Tràng Hoa Quý
Giá của Nagarjuna, câu kệ 198-9), chứ không qua thiền định
quán tưởng tự mình như có thân thể v.v… của một Chuyển
Luân Vương.
3.
Tri Thức Nữ (Vidya) được gọi thế vì đó là những phụ
nữ mà nhờ vào họ một tâm thức phúc lạc bổn nguyên bẩm
sinh nhận biết tánh Như được phát sanh. Tri Thức Trí Huệ
Nữ (Jnanavidya) là những phối ngẫu được thiền định hay
‘tự lưu xuất’, họ được quán tưởng trong thiền định,
trong khi những Tri Thức Nữ bên ngoài là những phối ngẫu
vật chất hiện thực. Những Tri Thức Nữ cũng được gọi
là những Ấn (Mudra) bởi vì khi nhờ vào họ một tâm thức
phúc lạc nhận biết tánh Không được phát sanh, những hiện
tượng xuất hiện như trò chơi của tâm thức này và như
thế được ghi dấu (hay đóng dấu) bởi nó. Phối ngẫu hiện
thực được gọi là những Cam Kết Ấn (Samayamudra) nếu đầy
đủ phẩm cách do (a) có dòng dõi, tuổi tác, v.v… thích hợp,
(b) đã làm trưởng thành (làm chín muồi) dòng tâm thức của
họ bằng sự thực hành con đường chung và (c) giữ gìn những
cam kết của tantra. Nếu không đầy đủ phẩm chất, những
phối ngẫu hiện thực được gọi là những Hoạt Động Ấn
(Karmamudra), dù những Cam Kết Ấn cũng có thể được gọi
là Hoạt Động Ấn theo quan điểm có đi vào một cách thực
sự những hoạt động hay hành vi của tham muốn. Những phối
ngẫu được thiền định được gọi là những Trí Huệ Ấn
(Jnanamudra) là những biểu lộ, trong yoga hóa thần, của một
tâm thức trí huệ nhận biết tánh Không. Đại Ấn (Mahamudra)
mà Tritipakamala nói đến trong chương Một Mục Tiêu của phần
II là một sự bất khả phân của trí huệ và phương tiện
và không phải là một phụ nữ do thiền định hay hiện thực.
Trong hệ thống của ngài, có sự sai lầm, những người tu
hành bậc thấp dựa vào những Ấn Hoạt Động, Cam Kết và
Trí Huệ để tăng cường năng lực cho tâm thức trong một
cách như thế mà Đại Ấn có thể thành tựu. Như thế, theo
ngài những người tốt nhất của những người tu hành cấp
cao không có tham muốn đối với và không dùng những Ấn Hoạt
Động, Cam Kết hay Trí Huệ.
4.
Vajradhara. Những thần chú của hiểu biết là những thần
chú để bỏ đi vô minh và phát sanh hiểu biết cũng như để
đạt đến thấu thị và v.v…
5.
Xem trang 32 – 34.
6.
Được trích dẫn bởi Chandrakirti trong Những Lời Sáng Tỏ
của ngài, bình giải trong chương XVIII.5.
7.
Trong Những Lời Sáng Tỏ. ‘Hiện hữu’ ám chỉ hiện hữu
nội tại ; ‘không hiện hữu’ ám chỉ không hiện hữu ngay
cả một cách quy ước.
8.
Sáu nhánh trong Tantra Kalachakra là rút lui, tập trung, khí lực
và sử dụng, giữ lại, chánh niệm và đại định (pratya-hara,
dhyana, pranayama, dharana, anusmrti, samadhi).
9.
Những tâm Bồ đề trắng và đỏ là những tinh chất khí
lực của nam và nữ.
10.
Như Tsongkapa nói trong đoạn sau, cả Tripitakamala lẫn Jnanakirti
không chỉ rõ sự khác biệt giữa những Ấn Cam Kết và Hoạt
Động. Phần thêm trong ngoặc ở đây đến từ Lati Rinpochay.
11.
Tâm Bồ đề trắng và đỏ, hay là những tinh chất khí lực
của nam và nữ. Mỗi người nam hay nữ đều có trong bản
thân mình đầy đủ cả hai loại Bồ đề tâm trắng và đỏ
này.
12.
Hưởng thụ trọn vẹn, hợp nhất, đại lạc, vô tự tánh,
đại bi, tương tục không gián đoạn và không ngừng.
13.
Trong văn mạch này một ấn là một dấu hiệu của tay, nó
giống như một dấu ấn của một người trên một tài liệu
trong đó nó bảo đảm điều mà nó tưởng tượng, ở đây
bảo đảm khả năng của Tara ban cho Phật tánh.
14.
Yoga của bất nhị của cái sâu xa (tánh Không) và cái biểu
lộ (hình tướng như một hóa thần).
15.
Những thần chú duy trì là những thần chú giữ lại những
lời và nghĩa không cho quên chúng cũng như giữ gìn người
ta khỏi rơi vào những cảnh giới lưu lạc xấu.
16.
Tsongkapa hiểu ‘thần chú’ ở đây như sự ban cho ban đầu
một quán đảnh bảo vệ cho tâm thức khỏi khổ đau của
những cảnh giới lưu lạc xấu và v.v…
17.
Những nguồn gốc bản văn tổng quát để cho hai chủ đề
đầu tiên của Phụ lục là Đại Diễn Giải về những Học
thuyết của Jam-yang-shay-ba (Musoorie, Dalama, 1962) và phần rút
gọn của nó của Košn-chok-jig-may-wang-po trong tác phẩm Tràng
Hoa Quý báu về những Học thuyết (Dharamsala, Shes-rig-par-khang,
1969) của ngài. Xem Thiền định về tánh Không của Hopkins
cho phần giảng rộng và những nguồn gốc trong chi tiết. Ở
dưới, nguồn gốc cho sự diễn dịch theo Tiểu thừa về con
đường Bồ tát là Một Giải Thích về ‘Tự do khỏi những
Cực Đoan’ trong ‘Phát Giác mọi Học thuyết’, Một Đại
Dương Hùng Biện của Tak-tsang.
18.
Đoạn này đặc biệt dựa vào những giáo huấn truyền miệng
của Kensur Lekden (1900-1971) cũng như hai nguồn được nói trong
chú thích trên.
19.
Jam-yang-shay-ba. Đại Diễn Giải về Trung Đạo (Buxaduor, Gomang,
1967), 192b.2.
20.
Trình bày giáo lý tổng quát và Bốn Bộ Tantra. Tuyển tập,
bộ IV (New Delhi, Gurudeva, 1973).
Thuật
ngữ
Việt
- Sanskrit - Tây Tạng
An
định shamatha zhi gnas
Ấn
mudra phyag rgya
Ba
Quy Y trisharana skyabs gsum bi karuna snying rje
Báo
thân Sambhogakaya longs spyod rdzogs pa’i sku
bố
thí dana sbyin pa
bẩm
sinh sahaja lhan skyes
cái
được tạo ra samskrta ’dus byas
cái
tốt rốt ráo nihshreyasa nges legs
chân