II
ĐẠI DIỄN GIẢI VỀ MẬT THỪA
bởi
Tsongkapa
Những
giai đoạn của Con Đường đi đến một Đạo Sư Điều Ngự
và Tỏa Khắp, một Vajradhara Vĩ Đại: Phát Giác Tất Cả những
Chủ Đề Bí Mật
Phần
Một
Dịch
và biên tập bởi Jeffrey Hopkins
Đồng
biên tập Lati Rinpochay và Geshe Gedušn Lodroš
Những
Lý Do cho đức Tin
Con
đảnh lễ và quy y với lòng tôn kính lớn lao trong mọi đời
tái sanh của con dưới chân sen của những guru tuyệt vời
và đức Manjughosha (Manjushri).
Kính
lễ những vị Dẫn Đường tâm linh
Kính
lễ dưới chân những vị dẫn đường tuyệt vời,
Bằng
cách đặt đôi chân sen của các ngài lên đỉnh đầu mình,
Qua
nhân từ của các ngài, chỉ dạy sự chân thật,
Con
đường không tỳ vết loại bỏ những lỗi lầm của vòng
sanh tử và bình an thuần túy.
Kính
lễ Vajradhara
Mong
rằng con được che chở bởi đấng của những mạn đà la,
Ngài
như một cầu vồng mê hoặc trong bầu trời không tỳ vết
Bất
động từ trạng thái diệt mất hoàn toàn mọi tạo tác ý
niệm
Và
xuất sanh vô số các dakini qua sự hóa hiện của trò chơi
biểu
hiện.
Kính
lễ Vajrapani
Con
xin kính lễ vị bảo vệ đầy quyền năng,
Vị
đạo sư mang giữ những mật chú của hiểu biết, người
sưu tập tất cả
Những
chủ đề do Ngài nói ra,(4)
Những
quỷ thần bây giờ cũng cần lưu ý.
Kính
lễ Manjughosha
Hỡi
Manjughosha, vị cha độc nhất của tất cả các bậc Điều
Ngự,
Ngài
là một kho tàng trí huệ như đã được nghe
Rằng
ngài ban cho món quà tặêng tối cao của trí phân biện với
chỉ một cái nhìn hoan hỷ,
Đem
đến sự chứng ngộ tâm ý sâu xa của các bậc Điều Ngự,
Con
đã nương dựa nơi Ngài liên tục suốt một thời gian dài
Như
bổn tôn đặc biệt của con và sẽ không bao giờ lìa bỏ
chân sen của ngài.
Đối
với con không bao giờ có sự quy y nào khác.
Ôi
Manjughosha, xin hãy ban cho con quả của những ước nguyện của
con.
Những
lý do tạo luận
Tôi
đã cầu xin với nhiều ước mong để được thực hành
Đúng
đắn những tantra như chúng đã được dạy bởi bậc hiền
trí
Và
bởi người nói được hai thứ tiếng
Với
sự hiểu biết rộng rãi vô số kinh điển
Tôi
đã cực lực cầu xin lập đi lập lại một vị
Rạng
rỡ với nhiều công đức ở hàng đầu tất cả chúng sanh,
Một
vị tốt lành có tư tưởng phi thường mang giữ gánh nặng
của sự phổ biến
Kim
Cương thừa vinh quang trong mọi phương hướng.
Những
người nào thỏa mãn với chỉ một phần, không sử dụng
những hệ thống lớn như là những giáo huấn,
Những
người nào không thể phân tích với lý luận không lỗi lầm
điều kinh điển muốn nói,
Những
người đã học nhưng không cố gắng để thành tựu
Thì
không thể làm hài lòng các bậc Điều Ngự.
Hứa
tạo luận
Thấy
như thế và với tâm xúc động sâu xa
Bởi
những công hạnh của những vị trác tuyệt
Trong
quá khứ đã thực hành tốt đẹp giáo lý
Tôi
sẽ cố gắng làm sáng tỏ hệ thống của các ngài.
Để
cho cố gắng này, mong rằng chư Dakini –
Sanh
trong cõi phàm, bẩm sinh và sanh từ thần chú – xin hãy nhìn
đến tôi
Với
lòng từ ái như bà mẹ với con mình, ban cho mọi kỳ công
Và
lòng tốt gỡ bỏ mọi chướng ngại.
Có
những người mà khả năng trong Đại thừa không yếu, tâm
thức họ xúc động mạnh mẽ bởi đại bi qua việc đã tu
hành trong con đường chung được duy trì bởi một vị hướng
đạo tâm linh, một vị bảo vệ tuyệt hảo. Họ có sự cấp
bách lớn lao muốn giải thoát những chúng sanh là những người
mẹ tốt bụng đang lang thang trong vòng sanh tử. Họ nên đi
vào con đường ngắn, nhanh, Kim Cương thừa sâu xa, nó sẽ
nhanh chóng ban cho trạng thái của một vị Phật Chí Tôn, nơi
quy y độc nhất của tất cả chúng sanh. Bởi thế, tôi sẽ
giải thích ở đây những giai đoạn của con đường đi đến
(trạng thái của) một Vajradhara vĩ đại.
Sự
diễn giải có hai phần : chỉ ra rằng chỉ có giáo lý của
đức Điều Ngự là đường vào cho mọi người muốn giải
thoát, và diễn tả những cổng vào của những giai đoạn
khác nhau để đi vào giáo lý.
Chỉ
có giáo lý của đức Điều Ngự
là
đường vào cho những ai muốn giải thoát
Một
khi người ta bắt đầu phân tích những mục tiêu lớn lao
của chính mình và người khác, sẽ không có sự thoả mãn
với chỉ hệ thống do những bậc trưởng thượng của thế
giới phát hiện – sự thành tựu hạnh phúc và tránh được
khổ đau ngày nào người ta còn sống. Đường vào cho những
người tìm kiếm những tiêu chuẩn cao hơn của những đời
tương lai và hơn thế nữa (sự giải thoát khỏi sanh tử luân
hồi và đạt đến toàn giác) là độc nhất giáo lý của
đức Phật Chí Tôn mà ngọn cờ của ngài phất phới trên
ba cõi. Ngài là nền tảng vĩ đại của mọi lợi lạc của
tất cả chúng sanh ; chỉ sự chuyển động của hơi thở ra
và vào của ngài là một phương cách vĩ đại cung cấp sự
chữa lành bệnh cho chúng sanh. Ngài đã đạt đến trạng thái
vinh quang tối thượng qua sự thực hành nguyện vọng đạt
đến giác ngộ tối thượng vì lợi lạc cho tất cả chúng
sanh và qua những làn sóng to lớn những công hạnh của những
người con Phật, chúng được khởi nguồn từ tâm vị tha
của giác ngộ này. Tâm của giác ngộ (tâm Bồ đề) là sự
thương yêu những người khác hơn chính mình – đó là một
nguồn cảm hứng để nói nhưng nó không hoàn toàn phù hợp
với thế gian bởi vì nhiều người thấy khó khăn thích thú
với nó từ tận đáy lòng họ.
Ashvaghosha
và Dignana nói trong Lời Tán Thán được Dệt thành (Mishrakastotra)
rằng :
Tôi
ở trong một đại dương
Của
sanh tử luân hồi sâu không đáy.
Những
thủy quái đáng sợ của tham muốn
Và
các loại khác ăn thịt thân tôi.
Bây
giờ tôi sẽ nương nhờ vào đâu ?
Nếu
người ta có trí thông minh
Người
ta nương nhờ vào Ngài,
Bậc
không có chút khuyết điểm nào
Bậc
có tất cả mọi thuộc tính tốt lành
Trong
bất cứ phương diện nào.
Thật
là chí lý khi ca ngợi và tôn kính Ngài,
Và
an trú trong giáo lý Ngài.
Tuy
nhiên, Kapila và những vị khác – dù cho họ không biết đến
con đường giải thoát – đã điên rồ vì thuốc độc của
lòng kiêu mạn và tự nhận mình là những vị thầy. Muốn
dạy một tánh Như của các pháp theo một cách khác với những
Như Lai, họ viết nhiều sách làm như vẻ giống một con đường
đúng và khuyên bảo những ai muốn giải thoát. Tuy nhiên, chỉ
có Phật hoàn toàn viên mãn, giáo lý của ngài, và những người
học nó một cách thích đáng mới là thầy, con đường và
bạn đạo trên cuộc lữ hành đến giải thoát cho những ai
mong muốn sự tự do tối hậu. Còn những thầy, những giáo
lý và những đệ tử của họ khác với những cái trên thì
không phải.
Bạn
phải có được lòng tin không lay chuyển vào nguồn gốc của
sự quy y. Nhờ đó bạn sẽ thấu hiểu rằng chỉ có giáo
lý của bậc Chinh Phục mới là đường vào cho những ai muốn
giải thoát. Những người tâm lực yếu sẽ xác nhận điều
này chỉ qua một giả định, nhưng với người tâm lực mạnh
thì tìm kiếm đức tin được khởi dẫn từ hiểu biết vững
chắc. Nếu khác đi, nó chỉ là một khẳng định phiến diện.
Hơn
nữa, trong Tán Thán Siêu Phàm (Devatishayastotra) của Shamkarapati
nói :
Tôi
không phải là một tín đồ của Phật
Tôi
không ghét Kapila và những vị khác
Tôi
chỉ xem như một vị thầy
Vị
nào mà lời nói có lý lẽ.
Bạn
nên từ bỏ phe phái và sự căm ghét đối với những hệ
thống của những vị thầy của chính bạn và của những
người khác và phân tích cái nào trong chúng cung cấp những
giải thích tốt hay xấu. Rồi, bạn chỉ chấp nhận cái gì
bày tỏ phương cách để đạt hai mục đích của người tu
hành (địa vị cao ở trong vòng sanh tử và cái tốt rốt ráo
là giải thoát và toàn giác) và cung cấp những bằng chứng
đúng đắn. Những kinh văn của hai hệ thống là cái phải
phân tích để tìm xem cái nào mang giữ chân lý hay không ;
như thế, không nên trích dẫn chúng như là một bằng chứng
(của chân lý riêng của chúng). Chỉ có lý luận phán đoán
mới phân biệt được cái gì chân thật, cái gì không.
Cách
phán đoán là như vầy : Nếu quả thật là đúng thì khi chúng
được phát sanh trong dòng tâm thức của một người, người
ta phải trước hết thành tựu được những đạt được
tạm thời về địa vị và sau đó những cái tốt rốt ráo.
Tuy nhiên, khi những kinh văn chỉ bày hai mục đích của con
người được phân tích để tìm thấy chúng sai hay không,
trước hết người ta xác định bằng lý luận rằng một
hệ thống thì không sai lầm về mục đích chính yếu của
nó là cái gì tốt rốt ráo. Rồi người ta có thể suy luận
từ điều này rằng hệ thống không sai lầm đối với sự
đạt được cái phụ là địa vị cao. Đây là sự khẳng
định của các ông vua học giả. Bình luận về ‘Tóm Lược
sự Hiểu Biết Vững Chắc (của Dignana)’ của Dharmakirti nói
:
Bởi
vì ý nghĩa chính không thể phản bác,
(Cũng
như vậy) có thể suy luận về những cái khác.
Bốn
Trăm (Chatuhshataka) của Aryadeva nói :
Bất
cứ ai phát sanh nghi ngờ
Vào
lời Phật nói về cái không biểu lộ
Sẽ
tin rằng chỉ có đức Phật (là toàn giác)
Căn
cứ trên (lời dạy của Ngài về) tánh Không.
Người
ta phải xác minh một cách luận lý về sự hiện hữu của
vòng sanh tử – sự tiếp nối của các uẩn khổ đau có nguồn
gốc từ việc vọng tưởng ra cái ngã – và sự hiện hữu
của những cấp bậc đưa đến giải thoát – sự thành tựu
trạng thái tự do nhờ trí huệ nhận biết vô ngã. Những
cái này cần được chứng minh với lý trí như chúng ở trong
một hệ thống lý luận.
Nếu
người ta nói, ‘Bởi vì những cái ấy là cực kỳ khó hiểu
với một người bình thường, bằng chứng duy nhất là kinh
điển, và tôi đi đến quy y ngài, hỡi Thế Tôn, mà bỏ đi
những vị thầy khác,’ thì người ta tuyên bố những lỗi
lầm của chính sự quy y của mình. Cũng như nói, ‘Quy y là
ước mong duy nhất của tôi ; ngoài ra không có bằng chứng
đúng đắn nào.’ Vì trích dẫn kinh văn không thể xem như
là một bằng chứng, và bạn có thể khẳng định rằng không
có bằng chứng hợp lý.
Hơn
nữa, kinh văn được dạy bởi thầy bạn và những vị thầy
khác không đồng ý với nhau về việc có tái sanh hay không,
các uẩn thân tâm thường hay vô thường, cái ngã có hiện
hữu hay không v.v… Khi những trường phái lớn của chúng
ta và những trường phái khác tranh luận sự đúng đắn hay
khác biệt, chúng ta không thể chứng tỏ rằng những kinh văn
của thầy chúng ta là đúng (mà không dựa trên phán đoán).
Có
những kinh văn dạy những chủ đề rất kín đáo, chúng không
thể được chứng minh bằng sự nhận biết vững chắc sự
suy luận từ cái rõ ràng minh bạch ; chúng được chứng minh
không sai lầm theo nội dung của chúng bằng lý trí phán đoán
được tịnh hóa qua phân tích.(5) Sự xác minh những cách thức
của tiến trình được làm qua lý luận ; người ta không dựa
trên sự khẳng định kinh văn như là bằng chứng. Ở đây
tôi chỉ chạm đến đề tài mà tôi sẽ giải thích chi tiết
trong các sách khác.
Những
kinh văn của những trường phái khác giảng dạy những mục
tiêu chính của con người chỉ là mâu thuẫn. Ví dụ, họ
phát biểu rằng một yếu tố thường hằng, như là một cái
phổ quát (pradhana) hay Chúa Tể (Ishvara), là người sáng tạo
của vòng sanh tử luân hồi, và họ khẳng định rằng những
ai tìm kiếm giải thoát phải chinh phục hiện hữu sanh tử
này bằng cách tu hành con đường. Những điều này là mâu
thuẫn bởi vì không chinh phục nguyên nhân chánh của nó, vòng
sanh tử không thể được chinh phục, trong khi nguyên nhân ấy
không bao giờ có thể chinh phục được nếu nó là thường
hằng. Tương tự, thật mâu thuẫn khi bác bỏ cái thấy vô
ngã và lấy một mục đích đạt đến là một sự giải thoát
cắt đứt được những ràng buộc vào vòng sanh tử.
Như
đã giải thích ở trên, Ba Quy Y – Thầy của chúng ta và v.v…
– là để cho những người mong muốn giải thoát, và những
vị thầy và v.v… không thích hợp với những người ấy
thì không bao giờ là chỗ quy y (tối hậu). Nếu bạn không
sanh ra niềm tin vào điều ấy, bạn không thể có một tâm
vững chắc, nhất tâm với nguồn gốc quy y của chính bạn.
Sự sanh khởi của một tâm vững chắc như thế đặt nền
trên sự thấy rõ những lỗi lầm và những ưu điểm của
hai hệ thống qua lý luận phán đoán.
Bởi
thế, dù có hay không một người (không phải Phật giáo) Tirthika
đang có mặt ở đây (để bác bỏ trong tranh luận), điều
này chỉ là chuyện vụn vặt. Nếu những người có trí muốn
sanh khởi tâm quy y đặc biệt, họ phải làm như giải thích
ở trên (xác nhận qua lý luận rằng Tam Bảo là chỗ quy y
duy nhất). Như thế, cần biết rằng những bản luận với
lý luận xác thực như Bảy Khảo Luận của Dharmakirti là những
phương tiện tối ưu để phát sanh sự tôn kính lớn lao mà
không chỉ là ngôn ngữ, đối với vị thầy của chúng ta
là Phật, đối với giáo lý của ngài – vừa cả lời dạy
bằng ngôn từ và con đường tu chứng – và đối với sự
thực hành chân chính.
Những
con đường đi đến Phật tánh
Những
cổng vào của các giai đoạn khác nhau
để
thâm nhập giáo pháp
Phần
này có hai đoạn : phân chia các thừa về đại thể và của
riêng Đại thừa.
Phân
chia các thừa về đại thể
Đoạn
này có bốn phần : các thừa được phân chia như thế nào,
những lý do và bản chất của những phân chia riêng biệt,
và một lời dạy rằng tất cả chúng cuối cùng là những
nhánh của tiến trình đến giác ngộ viên mãn.
Các
thừa được phân chia như thế nào
Trong
Ngọn Đèn Toát Yếu của Thực Hành của Aryadeva, các thừa
được phân chia bởi sự sắp xếp những thực hành thành
ba loại từ quan điểm về sự quan tâm của ba loại người
tu hành. Những thực hành thoát khỏi tham muốn được dạy
cho những người cấp thấp ; những thực hành về các địa
và các hoàn thiện (ba la mật) cho những người thích cái rộng
lớn ; và những thực hành với tham muốn cho những người
đặc biệt quan tâm đến cái sâu xa. Tương tự, Ngọn Đèn
cho Ba Thể Thức của Tripita-kamala nói :
Ý
nghĩa cách thức của
Những
chân lý, của những hoàn thiện
Và
của thần chú đại bí mật
Qua
tóm tắt được dạy ở đây.
Như
thế, vị thầy Tripitakamala gồm tất cả vào trong ba cách thức
– cách thức yoga của bốn chân lý v.v… Jnanakirti cũng làm
như vậy trong Giải Thích Tóm Tắt về Mọi Lời Dạy.
Trang
Nghiêm cho Kinh Đại Thừa của Maitreya nói, ‘Bộ phận phân
chia kinh điển có hai hay ba.’ Như thế, chúng được nhìn
nhận là có hai bộ phận kinh điển, Đại thừa và Tiểu thừa
(hay ba, Luật, Luận và Kinh). Có thể dùng những giải thích
này quy chiếu vào những bộ phận của kinh điển hay những
bộ phận của con đường hay thừa.
Những
lý do phân chia
Chúng
ta hãy giải thích những lý do cho việc nói có hai phân chia
của kinh điển và thừa. Có những người tu hành cấp thấp
họ tìm kiếm một mục tiêu thấp trong ý định, nó là một
đạt được thấp chỉ cho riêng họ – trạng thái diệt mất
khổ đau của vòng sanh tử. Có những người tối cao họ tìm
kiếm một mục tiêu cao trong ý định, sự đạt được tối
cao – trạng thái của Phật tánh – cho tất cả chúng sanh.
Bởi vì có hai loại người tu hành, thấp và cao, những thừa
nhờ chúng họ đi đến mục tiêu của mình được gọi là
Tiểu thừa (Hinayana) và Đại thừa (Mahayana). Những giáo lý
được dạy phù hợp với những cái này được gọi là những
bộ phận kinh điển Tiểu thừa và Đại thừa.
Tiểu
thừa có hai loại người theo, Thanh Văn và Độc Giác, và những
con đường dẫn họ đến những trạng thái tương ứng được
chia thành Thừa Thanh văn và Thừa Độc Giác. Như vậy, có
ba thừa (Thanh Văn thừa, Độc Giác thừa và Đại thừa).
Bản
chất của những phân chia riêng biệt
Đoạn
này có hai phần, trình bày Tiểu thừa và Đại thừa.
Trình
bày Tiểu thừa
Có
nói trong Thực Tế những Cấp Độ (Bhumivastu) của Asanga (Vô
Trước) rằng dù những khả năng của quả của Thanh Văn và
Độc Giác khác nhau theo thấp cao, những trình bày những con
đường của họ hầu hết là giống nhau. Bởi vì tôi e rằng
những chi tiết tinh tế sẽ kéo thành nhiều lời, tôi sẽ
chỉ tổng lược những đặc trưng thô chung cho cả Thanh Văn
và Độc Giác.
Những
người theo dòng Thanh Văn và Độc Giác đã quay lưng từ chối
gánh nặng là sự lợi lạc của những người khác và chỉ
dấn thân vào sự giải thoát riêng của mình. Nguyên nhân chính
để đạt đến giải thoát là trí huệ nhận biết ý nghĩa
của vô ngã bởi vì nguyên nhân chính bị trói buộc vào vòng
sanh tử là ý niệm về ngã (hiện hữu nội tại) ; bởi thế,
(không chỉ Bồ tát mà cả) Thanh Văn và Độc Giác đều hiểu
sự kiện này, tìm kiếm trí huệ ấy. Họ đồng hành với
nó cùng với những con đường khác nhau như giới và định,
và qua trau dồi trí huệ ấy họ dập tắt tất cả phiền
não.
Những
nhà Sautrantika, Kashmiri Vaibhashika, Chitta-matra và Svatantrika Madhyamika
chủ trương (sai lầm) rằng Thanh Văn và Độc Giác không thấu
biết rằng một con người, dầu không có hiện hữu nội tại
theo nghĩa không có hiện hữu tự nhiên, xuất hiện như một
huyễn hóa có hiện hữu nội tại của một nhà huyễn thuật.
Họ nói (sai lầm) rằng một nhận biết vô ngã của con người
phải bao hàm sự thấu biết rằng những con người không có
một thực thể hiện hữu chất thể như những nhà không phải
Phật giáo gán ghép. Chandrakirti vinh quang nói rằng nếu như
vậy thì Thanh Văn và Độc Giác chẳng bao giờ chiến thắng
được ý niệm có hiện hữu thực về con người, và bởi
thế, như vậy nghĩa là không nhận biết triệt để vô ngã
của con người. Bởi vì bao giờ con người còn được tưởng
rằng có hiện hữu thật, thì ý niệm về một cái ngã của
con người chưa được chinh phục.
Lại
nữa, cũng như một nhận biết về một uẩn tâm hay thân không
hiện hữu nội tại phải được xem là ý nghĩa của sự nhận
biết vô ngã của các hiện tượng (các pháp, khác với con
người), thì sự nhận biết một con người như là không hiện
hữu nội tại phải có nghĩa là sự nhận biết về vô ngã
của con người. Khi nào các uẩn được vọng tưởng là hiện
hữu thật sự, thì ý niệm những con người thật sự hiện
hữu cũng vẫn hiện hành. Bao giờ vẫn còn như vậy, người
ta không thể chiến thắng mọi phiền não. Người ta phải
chấp nhận rằng bất kể Thanh Văn và Độc Giác cố gắng
bao nhiêu, các vị cũng không thể thoát khỏi vòng sanh tử,
và như thế là không hợp lý. Nghĩ đến điều này, Chan-drakirti
nói trong Bổ trợ cho Trung Đạo (Madhyamakavatara, VI. 131) :
Theo
bạn, một thiền giả đã thấy vô ngã
Lại
không chứng ngộ được tánh Như của sắc v.v…
Như
thế tham v.v… sẽ được phát sanh khi đi vào sắc
Với
cái hiểu (hiện hữu nội tại), vì ngài chưa thấu biết bản
tánh của chúng.
Lại
nữa, sự bình luận riêng của Chandrakirti nói, ‘Bởi vì người
ấy đã đi lạc khi hiểu một hiện hữu nội tại của sắc
v.v… người ấy không chứng được ngay cả vô ngã của con
người. Vì người ấy hiểu có sự hiện hữu nội tại của
các uẩn thân tâm, chúng là nguyên nhân của sự gán cho một
cái ngã.’
Đây
là tư tưởng của nhà bảo vệ pháp Nagarjuna. Tràng Hoa Quý
Giá (Ratnavali, 35) của ngài nói :
Khi
nào những uẩn còn được quan niệm,
Khi
ấy có ý niệm về một cái ‘tôi’.
Khi
quan niệm về một cái ‘tôi’ này hiện hữu.
Thì
có hành động đưa đến kết quả tái sanh.
Cũng
thế, Trung Đạo Luận (Madhyamakashastra, XVIII. 4-5) của Nagarjuna
nói :
Khi
những hành động và phiền não ngừng dứt, khi ấy có giải
thoát ;
Chúng
khởi từ vọng tưởng sai lầm, những cái này lại khởi ra
Từ
những tạo tác (các tà kiến về hiện hữu nội tại) ;
Những
tạo tác này ngừng dứt trong tánh Không.
Người
ta bị trói buộc vào vòng sanh tử vì tưởng rằng những uẩn
hiện hữu tự thân, và để giải thoát khỏi vòng sanh tử
này người ta phải chinh phục được gốc rễ của nó, những
tạo tác vọng tưởng về hiện hữu nội tại. Những tạo
tác này được chinh phục qua sự chứng ngộ ý nghĩa tánh
Không, sự không hiện hữu tự thân của các uẩn. Cũng thế,
Tán Thán Vô Niệm (Nirvikalpastava) của Nagarjuna nói :
Con
đường giải thoát mà chư Phật
Chư
Độc Giác, chư Thanh Văn dựa vào
Là
chỉ chính ngài, không gì khác hơn,
Điều
đó là khẳng định.
Như
thế, Nagarjuna nói rằng chỉ có mẹ – trí huệ không-ý-niệm
thấu biết rằng các pháp không hiện hữu nội tại – là
con đường giải thoát của cả ba thừa. Mẹ của các bậc
Điều Ngự (Kinh Tám Ngàn bài Kệ Trí Huệ Hoàn Thiện, Ashtasahasri-kaprajnaparamita)
nói, ‘Dù một người muốn tu hành trong những cấp bậc của
một vị Thanh Văn cũng phải tu hành chính sự hoàn thiện này
của trí huệ.’ Điều tương tự cũng được nói với con
đường của một Độc Giác và một vị Phật. Kinh Cô Đọng
về Trí Huệ Hoàn Thiện (Sanchayagathapranaparamita) ghi nhận :
Những
người muốn trở thành Thanh Văn của bậc
Thiện
Thệ và những người muốn
Trở
thành Độc Giác hay Vua của Pháp (Phật)
Không
thể thành tựu (mục đích của họ) nếu không
dựa
vào cái Nhẫn này.
Nagarjuna
đã kết tập ý nghĩa của những kinh này.
Một
kinh của Thanh Văn(6) nói :
Các
sắc như bọt nước.
Các
thọ giống như bong bóng.
Tưởng
phân biệt giống như ảo ảnh.
Các
yếu tố cấu thành (hành) giống như thân cây chuối.
Các
thức giống như huyễn hóa.
Đức
Phật đã nói như thế.
Chỉ
ra cùng một ý nghĩa, Trung Đạo Luận của Nagarjuna (XV. 7) nói
:
Trong
Chỉ Dạy cho Katyayana
‘Hiện
hữu’, ‘không hiện hữu’, và ‘cả hai’(7)
Đều
bị Thế Tôn bác bỏ, ngài biết
(Bản
tánh của) hữu và vô hữu.
Như
thế, không phải một vô ngã của các pháp ngoài con người
đã không được dạy trong kinh điển Tiểu thừa.
Tuy
nhiên, trong kinh điển Thanh Văn có nhiều giải thích rằng
qua tri kiến về mười sáu thuộc tính của bốn chân lý –
vô thường v.v… – người ta có thể đạt đến trạng thái
Tiêu Diệt Kẻ Thù (A la hán). Ngoài ra, trong Đại thừa, hai
cách thức để tiến bộ đã được dạy – một qua sự chứng
ngộ rằng các pháp không hiện hữu nội tại và một qua những
con đường về vô thường v.v… Hơn nữa, kinh điển Đại
thừa nói rằng người ta có thể đạt đến toàn giác qua
cả hai kiến giải Chittamatra (Duy thức) và Madhyamika (Trung đạo).
Tuy nhiên, đạo sư Nagarjuna Tối Thượng đã chỉ ra trong Những
Kết Tập Lý Luận rằng những kinh dạy về trung đạo không
nên được hiểu khác đi, và bởi thế, những kinh làm sáng
tỏ con đường Chittamitra phải được giải thích cách khác.
Cùng cách như vậy, ở đây một hệ thống như thế phải
được khẳng định.
Những
tantra cũng thường nói rằng Thanh Văn và Độc Giác đã không
nhận biết tánh Như của các pháp ; tuy nhiên, chúng cũng thường
nhận định rằng nếu không nhận biết tánh Như của các
pháp người ta không thể từ bỏ vòng sanh tử và rằng tư
tưởng tạo dựng ra sự hiện hữu thật sự của các pháp
trói buộc người ta vào vòng sanh tử. Như thế, bạn phải
biết làm thế nào giải thích những điều này mà không có
mâu thuẫn (qua việc chấp nhận không phải đúng theo nguyên
văn lời dạy rằng Thanh Văn và Độc Giác không thấu hiểu
tánh Như của các pháp).
Câu
hỏi : Nếu những lời dạy về những con đường vô thường
v.v… không giải thoát người ta khỏi sanh tử, thì đâu là
ý
định khi dạy chúng ?
Trả
lời : Sáu Mươi bài Kệ của Lý Luận của Nagarjuna nói
:
Những
con đường về sanh và diệt
Được
tuyên thuyết vì một ý định có ý nghĩa.
Qua
biết sự sanh ra người ta biết sự diệt mất,
Qua
biết sự diệt mất người ta biết sự vô thường.
Qua
biết vô thường
Người
ta biết giáo lý tuyệt hảo.
Những
ai biết làm sao xả bỏ toàn bộ
Cái
sanh và diệt của duyên sanh
Sẽ
vượt qua đại dương
Của
vòng sanh tử với cái thấy của mình.
Theo
đó bạn biết ý định giảng dạy vô thường, vì một tâm
thức hoàn toàn bị thu hút vào những hiện tượng có sanh
thì không muốn từ bỏ sanh tử. Như một đối trị, những
con đường về vô thường và khổ được dạy, và nhờ nó
mong muốn từ bỏ cuộc hiện hữu trong sanh tử này khởi sanh.
Bấy giờ nếu người ta nhận biết – do xét nghĩ về sanh
và diệt – giáo lý tuyệt hảo rằng duyên sanh không có hiện
hữu nội tại của sanh và diệt, người ta sẽ giải thoát
khỏi sanh tử luân hồi. Như thế, con đường giải thoát là
chỉ có sự thấu biết rằng con người và các pháp không
hiện hữu nội tại, tự thân. Những con đường về vô thường
v.v… là những phương cách để phát sanh sự thấu biết này
và cũng là những con đường để tu hành dòng tâm thức.
Những
vị thầy khác (Svatantrika, Chittamatra, Sautran-tika và Vaibhashika)
thật sự đã xác nhận rằng những con đường của tánh Không
và vô ngã là những cái giải thoát cho ta và rằng trau dồi
những con đường của những phương diện khác của bốn chân
lý, như vô thường, là tu hành dòng tâm thức để nhận ra
vô ngã. Tuy nhiên, họ xem sự thấu biết tánh Không và vô
ngã trong mười sáu phương diện của bốn chân lý chỉ là
một xác minh duy nhất rằng cái ngã mà những nhà không phải
là Phật giáo gán ghép một cách sai lầm thì không hiện hữu,
và một sự thấu biết như thế không phải là một đối
trị thích hợp cho ý niệm bẩm sinh rằng con người hiện
hữu một cách tự nhiên. Như thế, mọi con đường của mười
sáu phương diện là tương tự nhau, không phải là những con
đường giải thoát cũng như chúng chỉ là những kỹ thuật
để tu sửa dòng tâm thức.
Một
nhà Tiểu thừa có khả năng chậm lụt là một pháp khí thích
hợp đối với những con đường tu sửa dòng tâm thức, nhưng
không đối với một con đường để giải thoát. Một nhà
Tiểu thừa khả năng bén nhạy, tuy nhiên cũng là một pháp
khí của con đường giải thoát. Những nhà tu hành chủ yếu
hay đặc biệt mà vì họ kinh điển Tiểu thừa được thuyết
là loại sau ; còn loại trước chỉ là những nhà tu hành hạng
phụ.
Dù
cho những nhà Tiểu thừa chứng ngộ rằng những hiện tượng
(các pháp) không hiện hữu nội tại, không phải là không
có sự khác biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa. Bởi vì
giáo lý Đại thừa không chỉ làm sáng tỏ sự vô ngã của
các pháp ; nó cũng trình bày những địa, những hoàn thiện,
cầu nguyện, đại bi, hồi hướng, hai sự tích tập và bản
tánh không thể nghĩ tưởng, thoát khỏi mọi nhiễm ô (Thân
Tự Nhiên của Phật). Tràng Hoa Quý Giá của Nagarjuna nói :
Vì
mọi nguyện vọng, công hạnh và
Hồi
hướng của Bồ tát
Không
được giải thích trong Thanh Văn thừa, thì làm sao
Người
ta có thể trở thành Bồ tát qua con đường của nó ?
Những
chủ đề đặt nền trên những công hạnh của những Bồ
tát
Không
được đề cập đến trong kinh (Tiểu thừa),
Nhưng
được giải thích trong Đại thừa, như thế
Người
mắt sáng phải chấp nhận nó (như lời của Phật).
Tiểu
thừa và Đại thừa không khác nhau qua cái thấy hay tri kiến
(về tánh Không) của chúng ; Nagarjuna Tối Cao và các đệ tử
ngài khẳng định rằng hai thừa được phân biệt theo những
tác động của phương tiện thiện xảo. Chẳng hạn, một
người mẹ là nguyên nhân chung cho những đứa con bà, nhưng
những người cha là nguyên nhân để phân biệt dòng của những
đứa con của họ (Tây Tạng, Mông Cổ, Ấn Độ v.v…). Theo
cách ấy, người mẹ – trí huệ hoàn thiện – là nguyên
nhân chung của tất cả bốn đứa con (Thanh Văn, Độc Giác,
Bồ tát và Phật), nhưng những nguyên nhân để phân chia chúng
thành hai dòng riêng biệt Đại thừa và Tiểu thừa là những
phương tiện, như là sự phát sanh nguyện vọng đạt đến
giác ngộ tối thượng và lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
Trình
bày Đại thừa
Mong
muốn đạt đến giác ngộ tối thượng vì tất cả chúng
sanh và do đó tu hành những công hạnh của Bồ tát – sáu
hoàn thiện – là ý nghĩa tổng quát của một người theo
Đại thừa theo nghĩa thừa là phương cách nhờ nó người
ta tiến bộ. Có nói nhiều lần trong các tantra rằng trong Mật
thừa người ta tiến bộ bằng con đường này. Tuy nhiên, trong
bối cảnh này có nhiều thuộc tính phân biệt của nhiều
con đường khác nhau.
Con
đường của những người này là Đại thừa đưa đến toàn
giác, và phần chủ yếu tổng quát của con đường là dành
cho những nhà Đại thừa của Thừa Hoàn Thiện. Tuy nhiên,
khi các nhà Đại thừa của Thừa Hoàn Thiện được phân chia
theo tri kiến của họ về tánh Không, thì có những nhà Madhyamika
(Trung Đạo) và những nhà Chittamatra (Duy Thức). Dầu thế,
họ không được xem như những thừa khác biệt ; cả hai là
một thừa. Bởi vì có một khác biệt về sâu cạn trong thâm
nhập tánh Như, những nhà Madhyamika được nói là có khả
năng sắc bén và những nhà Chittamatra được nói là có khả
năng chậm lụt. Hơn nữa, các nhà Madhyamika là những nhà tu
hành chủ yếu và đặc biệt, vì họ mà Thừa Hoàn Thiện
được thuyết ; các nhà Chittamatra là những nhà tu hành phụ
hạng hai của Thừa này.
Những
thành viên của Thừa Hoàn Thiện được nói trong Kinh Dẫn
Vào những Hình Thức Tiến Bộ Xác Định và Không Xác Định
(Niyataniyatagatimudravatara) thì có năm loại tùy theo tốc độ
của họ trên con đường : hai loại Bồ tát tiến bộ được
chở trên một xe bò và một xe voi ; một loại Bồ tát sanh
ra bởi mặt trăng và mặt trời, và hai loại khác bởi sáng
tạo huyễn hóa của Thanh Văn và Độc Giác hay sáng tạo huyễn
hóa của Phật. Dù họ, giống như những ví dụ khác nhau rất
lớn về tốc độ tiến bộ trên con đường, họ cũng không
có những thừa riêng. Bởi thế, những thừa không thể được
phân chia chỉ bởi sắc bén hay chậm lụt về khả năng hay
bởi tiến bộ nhanh chậm.
Những
thừa cá biệt được ấn định (1) nếu có một sự khác
biệt lớn về hơn hay kém giữa chúng theo nghĩa một thừa
là một quả hay mục đích người ta tiến bộ đến ; hay (2)
nếu có những giai đoạn khác biệt của những con đường
chúng đem lại một phần chủ yếu khác biệt cho một thừa
theo nghĩa rằng một thừa là một nguyên nhân nhờ đó người
ta tiến bộ. Tuy nhiên, nếu những phần chủ yếu của những
con đường không có sự khác biệt lớn theo loại, thì một
số thừa không thể được ấn định chỉ vì những con đường
có nhiều sự phân chia bên trong hay vì những người tiến
bộ trong chúng khác nhau về hơn hay kém.
Mọi
phân chia đều rốt ráo là những Nhánh của
tiến
trình của giác ngộ viên mãn
Dù
những nhà Tiểu thừa không đi vào những con đường của
họ với một quan điểm đạt đến Phật tánh, thì những
con đường của họ là những phương tiện dẫn đến Phật
tánh. Bởi thế, không nên chủ trương một cách cứng nhắc
rằng những con đường Tiểu thừa là những chướng ngại
cho sự giác ngộ viên mãn. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika)
nói :
Để
cho họ có thể thành tựu trí huệ Phật
Ta
đã dạy những phương tiện này dựa trên chính ta.
Trước
kia, ta chưa từng nói với họ ‘Các ông sẽ thành Phật.’
Tại
sao ? Bậc Bảo Vệ thấy biết thời.
Cũng
như :
Để
cho họ có thể thành tựu trí huệ Phật
Bậc
Bảo vệ xuất hiện trong đời.
Chỉ
có một thừa, không có hai,
Chư
Phật không dẫn dắt với một thừa thấp.
Ta
đặt chúng sanh vào những thần lực,
Những
định, những giải thoát và sức mạnh,
Vào
những con đường giống như một vị Phật
Một
bậc độc lập, đã an trụ và chứng ngộ.
Nếu
đã thấu hiểu giác ngộ thanh tịnh đặc biệt,
Ta
lại đặt một số người trong một thừa thấp,
Ta
đã có lỗi ích kỷ, như thế là không tốt.
Chỉ
có một thừa, không có hai, không bao giờ có ba
Chỉ
trừ qua những phương tiện thiện xảo của chư Phật
Mà
những thừa khác nhau được dạy trong đời.
Ý
định của Phật đến trong thế giới là để cho chúng sanh
đạt được trí huệ mà Ngài đã thành tựu. Những con đường
Ngài dạy chỉ là những phương tiện dẫn đến Phật tánh
; Ngài không dẫn dắt chúng sanh bằng một thừa thấp không
phải là một phương tiện dẫn đến Phật tánh. Ngài an lập
chúng sanh trong những thần lực v.v… chúng lưu xuất từ trạng
thái riêng của Ngài.
Nếu
đã đạt đến giác ngộ, Ngài lại đặt để một số người
vào một thừa thấp không phải là phương tiện dẫn đến
Phật tánh, Ngài sẽ là ích kỷ đối với giáo lý. Bởi vì
chỉ có một thừa tối hậu, những người có một dòng thấp
cũng có thể được dẫn đến Phật tánh, và trong khi biết
những phương tiện để làm điều đó, Ngài đã che dấu họ
những giáo lý dẫn đến Phật tánh trong nghĩa Ngài chưa dạy
những giáo lý này cho họ.
Kinh
Chương về Cái Chân Thật (Satyakaparivarta) diễn tả điều
ấy rõ ràng :
Manjushri,
nếu Như Lai dạy Đại thừa cho một số người, Độc Giác
thừa cho một số, và Thanh Văn thừa cho những người khác,
thì tâm Như lai phải rất bất tịnh và không có bình đẳng,
với lỗi lầm vướng chấp, lòng bi thiên vị và phân biệt
khác nhau. Bấy giờ Ta cũng tham tiếc giáo lý.
Manjushri,
tất cả những giáo lý ta dạy cho chúng sanh là để cho họ
đạt đến trí huệ toàn giác. Chảy về giác ngộ đi vào
Đại thừa, chúng là những phương tiện để thành tựu toàn
giác, dẫn dắt tất cả đến một chỗ. Bởi thế, ta không
tạo ra những thừa khác nhau.
Ý
nghĩa của câu ‘Nếu Như Lai dạy Đại thừa cho một số
người…’ đã được giải thích ở trên.
Câu
hỏi : Trang Nghiêm cho Kinh Điển Đại thừa của Maitreya
nói :
Nếu
những người trí sống trong một địa ngục, nó không hề
cản trở
Cho
sự (tiến bộ đến) giác ngộ bao la và không tỳ vết.
Nhưng
với một tư tưởng thích thú trong các thừa khác
Người
ta tự phục vụ mình và sống trong hạnh phúc, nhưng điều
này gây cản trở.
Chúng
ta hiểu lời tuyên bố này như thế nào, khi nó nói rằng phát
sanh một thái độ Tiểu thừa sẽ làm cản trở (cho sự đạt
được giác ngộ Tối Thượng) trong khi sanh vào một địa
ngục thì không ?
Trả
lời : Không có lỗi lầm bởi vì đoạn này có nghĩa nếu
những người trí – là những Bồ tát – phát sanh một nguyện
vọng đối với Tiểu thừa, họ sẽ lìa khỏi Phật tánh,
nhưng họ không bị như thế nếu họ sống trong một địa
ngục. Không có mâu thuẫn trong sự kiện đối với một người
Đại thừa thì Tiểu thừa là một chướng ngại cho giác ngộ
viên mãn, nhưng với người trong dòng Tiểu thừa, nó là một
phương tiện cho giác ngộ viên mãn. Đoạn kệ này trước
hết dành cho những Đứa Con của bậc Điều Ngự (Bồ tát)
; bởi thế, bài kệ không phải là một nguồn gốc cho sự
tranh cãi (như nó có thể là thế nếu dành cho tất cả mọi
hành giả).
Kinh
Tóm Lược Mọi Chi Tiết (Sarvavaidalyasamgraha) nói rằng sẽ
là một sự chối bỏ giáo pháp nếu người ta phân chia lời
dạy của bậc Điều Ngự thành cái tốt và cái xấu, cái
thích hợp và cái không thích hợp, hay điều được dạy cho
Thanh Văn và Độc Giác và điều được dạy cho Bồ tát. Điều
này nói đến việc chủ trương một số lời (của Phật)
như là những phương tiện cho giác ngộ viên mãn và một số
như là những chướng ngại cho giác ngộ viên mãn.
Cũng
trong kinh ấy có giải thích rằng nếu một sự chối bỏ giáo
lý như vậy xảy ra qua một người hướng dẫn tội lỗi,
thì tội lỗi ấy có thể tẩy sạch bằng cách sám hối ba
lần một ngày trong bảy năm, nhưng để có lại sức nhẫn
(khả năng để tiến đến mức độ tiếp theo) người ta cần
phải mười kiếp. Như thế, nếu sự hiểu sai kéo dài, người
ta bị lỗi lầm lớn lao. Tuy nhiên, nếu sự hiểu biết không
sai lầm (về sự tương hợp của các thừa) được tìm ra,
qua việc chỉ tìm ra đó, những lỗi lầm (chối bỏ giáo lý)
không xảy ra được.
Bạn
phải biết rằng mọi giáo lý được đức Phật dạy, liên
hệ với những người tu hành vì họ mà chúng được dạy,
chỉ là những phương tiện dẫn đến Phật tánh. Trong cùng
một cách, Kinh Chương về Cái Chân Thật nói rằng cũng như
nhiều con sông chảy vào biển cả từ những chỗ tiếp cận
khác nhau, mọi nước của ba thừa đều chảy vào đại dương
Phật tánh. Dù vậy, đúng thực là những phương tiện này
khác nhau trong sự hoàn bị và không hoàn bị và trong tốc
độ của những con đường của chúng v.v… do ở sự hơn
hay kém của những người tu hành.
Vì
lẽ ấy, một con đường là một phần của tiến trình dẫn
đến Phật tánh và một con đường Đại thừa thì không giống
nhau. Thấy những hàm ý của điều này, cuốn Sự Bày Tỏ
những Danh Hiệu Tối Hậu của bậc Đại Trí Manjushri nói
:
Sự
giải thoát của ba thừa
Nằm
trong quả của một thừa.
Kim
Cương Thừa
Những
phân chia của Đại thừa
Đoạn
này có hai phần : sự phân chia của Đại thừa thành hai và
một giải thích chi tiết về những hình thức đi vào Kim Cương
thừa.
Sự
phân chia của Đại thừa thành hai
Đoạn
này có ba phần : số phân chia của Đại thừa, nghĩa của
chúng, và những lý do của chúng.
Số
phân chia của Đại thừa
Đưa
vào Ý Nghĩa của Những Tantra Yoga Tối Thượng của Shraddhakaravarma
nói, ‘Có hai loại Bồ tát thừa, một Thừa (Nhân) gồm những
địa và những hoàn thiện và một Thừa Quả của Mật Chú.’
Như thế, ‘Mật chú thừa’, ‘Quả thừa’ và ‘Kim Cương
thừa’ là đồng nghĩa với Mật thừa, cái này còn được
gọi là ‘Phương tiện thừa.’ Danh từ ‘Nhân-Quả thừa’
là một tên của hai thừa (Hoàn Thiện và Mật thừa). Kinh
Phát Hiện Bí Mật như được trích trong Trừ Diệt Hai Cực
Đoan trong Kim Cương thừa của Jnanashri nói :
Khi
bánh xe của những giáo lý nhân
Hoạt
động trên những nhân đã chuyển,
Thừa
Quả, con đường ngắn…
Trong
những cuốn sách của Kim Cương thừa, nó cũng được biết
như là ‘bộ phận kinh điển của những vị Mang Giữ Kiến
Thức’ và ‘những bộ tantra.’
Ý
nghĩa của những phân chia riêng biệt của Đại thừa
Về
‘Mật chú thừa’, nó là mật bởi vì nó được hoàn thành
một cách bí mật và dấu kín, không được dạy cho những
ai không phải là pháp khí thích hợp. Trong chữ ‘mantra’
(chú) man nghĩa là tâm và tra là sự bảo vệ giữ gìn. Phần
tiếp tục của Tantra Ghyasamaja (chương XVIII) nói :
Những
tâm thức duyên sanh
Dựa
trên một giác quan và một đối tượng
Được
gọi là man
Tra
nghĩa là bảo vệ, giữ gìn.
Bảo
vệ bằng tất cả kim cương
Của
những cam kết và thệ nguyện
Thoát
khỏi những cách thức thế gian
Được
gọi là ‘thực hành Mantra’.
Bạn
cần biết rằng theo một cách khác man là để gọi trí huệ
về Chân Như và traya là đại bi bảo vệ những di dân lang
thang trong sáu nẻo sanh tử.
Về
‘thừa’, có một thừa quả, nó là cái người ta đi đến
và một thừa nhân nó là cái nhờ vào đó người ta đi. Sự
đi đến, tiến bộ, người ta gọi là ‘thừa’. Về Quả
thừa, ‘Quả’ để chỉ bốn sự thanh tịnh triệt để :
nơi chốn, thân thể, tài nguyên và công hạnh, chúng là cung
điện, thân thể, tài sản và hoạt động của một vị Phật.
Để tương hợp với chúng, người ta thiền định chính mình
như một người hiện đang có một tòa nhà bất khả tư nghì,
những quyến thuộc thiêng liêng, những vật phẩm linh thánh
và những công hạnh, những cái này như là sự tịnh hóa tất
cả môi trường và chúng sanh chung quanh. Như thế, nó được
gọi là Quả thừa bởi vì người ta tiến bộ qua thiền định
tương ưng với những phương diện của kết quả (hay quả,
Phật tánh). Đưa vào Ý Nghĩa của những Tantra Yoga Tối Thượng
của Shrad-dhakaravarma nói, ‘Nó được gọi là ‘Quả’ bởi
vì người ta thể hiện những cách thức của thân thể, tài
nguyên, nơi ở và công hạnh hoàn toàn thanh tịnh.’
Về
‘Kim Cương thừa’, Ánh Sáng không Vết Mờ (Vima-laprabha)
(một bình giảng về Tantra Kalachakra của Rik-den-pad-ma-kar-po,
một Hóa thân của Quán Thế Âm) nói, ‘ “Vajra”, kim cương
là tính không thể phân chia và không thể hủy hoại. Đó là
Đại thừa ; Đại thừa này là Kim Cương thừa. Nó là sự
hợp thành một vị của cách thức Mật Chú có bản chất
kết quả và cách thức Hoàn Thiện (ba la mật) có bản chất
nguyên nhân.’ Ý nghĩa của Kim Cương thừa được tỏ rõ
qua Kim Cương như là sự bất phân của kết quả – cách thức
Mật Chú – và nguyên nhân – cách thức Hoàn Thiện. Ở đây,
‘nhân và quả’ ám chỉ tánh Không tối thượng toàn diện
và lạc tối thượng bất biến. Giải Thích Ngắn Gọn về
những Nhập Môn (Shekhoddesha) (nằm trong vòng Kalachakra) nói
:
Cái
mang hình thức của tánh Không là nguyên nhân,
Cái
mang tâm bi bất biến là kết quả.
Tánh
Không và đại bi không thể phân chia
Được
gọi là tâm giác ngộ.
Sự
không thể phân chia của hai cái này là một Thừa Nhân trong
nghĩa nó là phương tiện nhờ đó người ta đi đến, và một
Thừa Quả theo nghĩa nó là cái người ta đi đến. Một Kim
Cương thừa như vậy là chỉ đến Tantra Yoga Tối Thượng
và không thể có trong những tantra cấp thấp. Vì lạc tối
thượng bất biến chỉ có thể khởi sanh khi người ta đã
đạt đến nhánh đại định (trong hệ thống Kalachakra)(8)
và như thế những nhánh chánh niệm và các nhánh dưới phải
là phương tiện đề tựu thành nó. Ba tantra cấp thấp không
có mọi yếu tố gồm trong những nhánh làm nguyên nhân này.
Bởi
thế, sự giải thích về Kim Cương thừa mang chút liên hệ
với nghĩa tổng quát của nó, và điều tương tự áp dụng
cho sự giải thích của các thừa Nhân và Quả. Ở đây ý
nghĩa của Kim Cương thừa cần được hiểu phù hợp với
điều được nói trong Một Nắm Hoa, Sự Giải Thích về Tantra
Guhyasamaja của Ratnakarashanti : ‘Về việc nó được gọi là
Kim Cương thừa, những cái bao gồm tất cả Đại thừa là
sáu hoàn thiện. Những cái bao gồm sáu hoàn thiện là những
phương tiện và trí huệ, và cái bao gồm phương tiện và
trí huệ trong một vị là tâm giác ngộ. Cái ấy là định
Vajrasattva ; tức là một kim cương. Bởi vì nó vừa cả là
một kim cương và là một thừa, nó là Kim Cương thừa, Thần
Chú thừa.’ Như thế, thiền định Vajrasattva thống nhất
không thể phân chia phương tiện và trí huệ là Kim Cương
thừa. Nó có đồng thời cả con đường và quả.
Bởi
vì Kim Cương thừa có nhiều phương tiện thiện xảo hơn Thừa
Hoàn Thiện, nó được gọi là Phương Tiện thừa. Trừ Diệt
hai Cực Đoan trong Kim Cương thừa của Jnanashri nói, ‘Vì tính
không thể phân chia, nó là Kim Cương thừa. Bởi vì chính kết
quả trở thành con đường, nó là Quả thừa. Bởi vì sự
vĩ đại của những phương tiện của nó, nó là Phương Tiện
thừa. Bởi vì sự bí mật cực kỳ của nó, nó là Mật thừa.’
‘Bộ
phận kinh điển của những vị Mang Kiến Thức’ phải được
hiểu là nói đến sự chỉ dạy những chủ đề tu hành và
giáo lý của những vị mang giữ những thần chú hiểu biết.
Đúc Kết về Tantra Những Câu Hỏi của Subahu của Buddhaguhya
cũng giải thích theo cách này. Shraddhakaravarma giải thích nó
theo hai cách trong Đưa Vào Ý Nghĩa của Những Tantra Yoga Tối
Thượng : một cách trong đó bộ phận kinh điển của những
vị Mang Giữ Kiến Thức là bộ phận kinh điển thứ tư không
bao gồm trong ba bộ phận kinh điển (luật, luận và kinh) và
một cách trong đó nó bao gồm ba bộ phận kinh điển. Tuy nhiên,
Tantra Những Câu Hỏi của Subahu nói, ‘Hãy nghe, ta sẽ giải
thích điều này phù hợp với những bộ luận của Mật Chú.’
Cũng thế, trong nhiều tantra ‘kinh’ và ‘những bộ luận’
được đề cập (ám chỉ đến tantra). Bởi thế Ratnakarashanti
xác định đúng đắn rằng ‘bộ phận kinh điển’ này là
những ‘bộ luận’ (sutranta) bởi vì chúng dạy những giáo
lý sâu xa trong hình thức ngắn gọn. Tuy nhiên, nếu bộ phận
kinh điển của những vị Mang Giữ Kiến Thức được xét
xem theo những phần bên trong của nó, nó cũng dạy những ý
nghĩa của những bộ phận kinh điển khác (luật và kinh) ;
bởi thế sự xác nhận của Abhayakara rằng bộ phận kinh điển
của những vị Mang Giữ Kiến Thức bao bồm cả ba bộ phận
kinh điển là đúng.
Trong
phần tiếp theo của Tantra Guhyasamsaja ‘tantra’ có nghĩa là
‘dòng tương tục’ và có ba loại : một ‘dòng tương tục
nền tảng’ là nền tảng trên đó những con đường được
vận hành (để tịnh hóa nó khỏi các che chướng), một ‘dòng
tương tục con đường’ tịnh hóa nền tảng này, và một
‘dòng tương tục quả’ là quả của sự tịnh hóa. Cả
ba cái là tantra theo nghĩa là những mục tiêu để bàn luận
(trong các sách gọi là tantra). Một bản văn có cái nào trong
ba cái ấy như mục tiêu bàn luận của nó là một ‘dòng
tương tục sách’ (tantra) bàn luận (những chủ đề ấy).
Chữ
‘bộ’ trong ‘những bộ tantra’ (tantranta) có nghĩa là một
tổng tập hay tập hợp những tantra.
Thừa
Hoàn Thiện có sự phát sanh một nguyện vọng đạt đến giác
ngộ tối thượng và tất cả chúng sanh như là nền tảng
những thực hành của nó. Nó tiến hành nhờ những thực hành
của nó, sáu hoàn thiện, và không có những con đường khác
như hai giai đoạn (của Tantra Yoga Tối Thượng). Nếu Thừa
Hoàn Thiện được xem như là thừa bao hàm sự phát sanh một
nguyện vọng đạt đến giác ngộ tối thượng vì tất cả
chúng sanh và tiến hành nhờ sáu hoàn thiện (mà không có thêm
những đặc trưng là những con đường như hai giai đoạn),
thì Kim Cương thừa cũng là một Thừa Hoàn Thiện.
Thừa
Hoàn Thiện được gọi là Thừa Nhân bởi vì nó không bao
gồm sự trau dồi một con đường tương ưng về phương diện
với bốn quả được đề cập ở trên (nơi ở, thân thể,
tài nguyên và hoạt động của một vị Phật) mà chỉ có
thiền định về những nguyên nhân của chúng.
Những
lý do để chia Đại thừa thành
một
Thừa Hoàn Thiện và của một Kim Cương thừa
Đoạn
này có hai phần : phát biểu những điểm sanh nghi ngờ trong
sự phân biệt và một trả lời.
Phát
biểu những điểm sanh nghi ngờ trong sự phân biệt
Tại
sao Đại thừa lại chia thành hai thừa ? Không phải từ quan
điểm phát sanh nguyện vọng giác ngộ tối thượng vì tất
cả chúng sanh. Bởi vì những Bồ tát đều thực hành theo
Mật thừa và Thừa Hoàn Thiện để đạt đến Phật tánh
viên mãn cho tất cả chúng sanh. Cũng không có khác biệt cao
thấp trong giác ngộ mà họ tìm kiếm cho ý định này ; như
thế Đại thừa không thể chia thành hai thừa từ quan điểm
của sự tìm kiếm giác ngộ.
Sự
phân chia này không nằm ở chỗ có tri kiến nhận biết tánh
Như của các hiện tượng hay không, bởi vì không có tri kiến
nào cao hơn sự trình bày của Nagarjuna trong Trung Đạo Luận
về tư tưởng của những kinh điển rốt ráo, như những Kinh
Sự Hoàn Thiện của Trí Huệ (Kinh Bát Nhã Ba la mật). Ngay
như có một tri kiến cao hơn, nó cũng không thể lập nên những
thừa riêng biệt – tương tự, dẫu cho Thừa Hoàn Thiện có
Madhyamika và Chittamatra, hai phái này không là hai thừa riêng
biệt được.
Cũng
vậy, thực hành sáu hoàn thiện có trong hai thừa Hoàn Thiện
và Kim Cương. Như thế, không có sự khác biệt về những
con đường chính – phương tiện và trí huệ – để thành
tựu Sắc thân và Pháp thân của một vị Phật. Dù Kim Cương
thừa có vài đặc trưng của những con đường không hiện
hữu trong Thừa Hoàn Thiện, những cái ấy không phải là những
đặc trưng của những con đường chính ; bởi thế, những
khác biệt ấy không thể thiết lập nên sự phân chia các
thừa riêng biệt.
Lại
nữa, chỉ có một khác biệt sắc bén hay chậm lụt trong những
khả năng của con người (tu hành trong những con đường ấy)
hay trong tốc độ tiến bộ trên những con đường không thể
tạo thành các thừa riêng biệt, như Thừa Hoàn Thiện không
có những thừa riêng trong nó, dù nó có những sự khác biệt
như trên. Những khác biệt ấy cũng được tìm thấy trong
chính Mật thừa.
Trả
lời
Trả
lời có hai phần : những ý kiến bác bỏ của những người
khác và trình bày ý kiến đúng.
Những
ý kiến bác bỏ của những người khác về lý do phân chia
Đại thừa thành Thừa Hoàn Thiện và Kim Cương thừa
Có
người nói, ‘Mật thừa được thuyết để thuần hóa những
người tu hành nhiều tham muốn và Thừa Hoàn Thiện cho những
người tu hành thoát khỏi tham muốn. Bởi thế, trau dồi một
con đường không từ bỏ tham muốn hay một con đường từ
bỏ tham muốn là lý do để phân chia Đại thừa thành hai thừa.
Tôi
sẽ giải thích điều này. (Sai lầm khi nói rằng) Đại thừa
được chia thành hai thừa vì những người tu hành trau dồi
một con đường không từ bỏ tham muốn hay một con đường
từ bỏ tham muốn. Bởi vì cả hai thừa đều có cả hai con
đường ấy, nên đặc trưng này không thể phân biệt hai thừa.
Có nhiều Bồ tát chủ gia đình đi vào Thừa Hoàn Thiện mà
không từ bỏ những hạnh bất tịnh. Cũng có nhiều vị thiện
xảo trong phương tiện khởi từ lòng vị tha lớn lao hành
động một cách bất tịnh, như trường hợp Bà la môn Kyiu-kar-ma.
Cũng thế, trong những người tu hành Mật thừa, có nhiều
vị từ bỏ sự luyến ái vào những thứ của cõi dục. Ngoài
ra, sẽ là lầm lỗi nếu người ta không thoát khỏi những
tham muốn của cõi dục cho đến khi đạt được Phật tánh,
hay là đã đạt đến Phật tánh rồi mà còn chưa từ bỏ
những cái ấy.
Bác
bỏ : Điều này không được áp dụng cho một người hay
tất cả người tu hành của Mật thừa và Thừa Hoàn Thiện.
Nó phải được xem xét trong khuôn khổ những người tu hành
chủ yếu hay đặc biệt ban đầu đi vào những con đường
này. Hơn nữa, một người tu hành Mật thừa không phải là
người thích hợp để trau dồi những con đường của thừa
này nếu không có ý định từ bỏ tham muốn những thứ thuộc
cõi dục. Một người có là một người tu hành Mật thừa
hay không được xác định bởi có hay không thiện căn phước
đức (đã tích tập những nghiệp lành trước kia) đến nỗi
sự tham muốn ấy có thể trở thành một nguyên nhân của
giải thoát qua sự việc nó có thể hoạt động như một sự
giúp đỡ trong con đường.
Trả
lời : Như sẽ giải thích sau này, Tantra Samputa có nói :
Bốn
cách cười cợt nhìn ngắm,
Nắm
tay và ôm nhau
Hiện
hữu như bốn tantra
Theo
cách những côn trùng.
Bởi
thế, chúng ta phải xác định rằng những người tu hành mỗi
loại trong bốn tantra dùng tham muốn trong con đường tùy thuộc
vào bốn loại tham muốn những thứ của cõi dục (nhìn, cười,
cầm tay, và kết hợp. Sự có mặt hay không của một khả
năng dùng khoái lạc trong con đường) là thích hợp cho một
khác biệt giữa những con người ban đầu đi vào Mật thừa
hay Thừa Hoàn Thiện ; tuy nhiên, nó không thể phân chia các
thừa.
Tương
tự, Đại thừa không thể phân chia thành một Mật thừa và
một Thừa Hoàn Thiện qua việc những con đường của chúng
được trang hoàng hay không với lạc hay tập trung xảy ra trên
những điểm chính yếu trong thân và tâm. ‘Trang hoàng với
lạc’ có thể xem như có nghĩa là qua trau dồi con đường,
một lạc đặc biệt khởi sanh trong thân và một niềm vui
đặc biệt trong tâm, đến độ tâm an trụ vững chắc vào
đối tượng của nó. Tuy nhiên Asanga nói trong Những Khảo
Luận về những Cấp Bậc rằng đối với tất cả những
người ban đầu thành tựu an định, trước tiên một khí
của thân trở nên mềm dẻo linh hoạt nhờ đó một đại
lạc khởi lên trong thân, và lần lượt, một niềm vui đặc
biệt khởi lên trong tâm. Nhờ điều này tâm an trụ vào đối
tượng của nó. Bởi thế, lạc đặc biệt của thân và niềm
vui đặc biệt của tâm hiện hữu trong an định, dầu người
ấy có là Phật tử hay không. Vậy thì làm sao những cái này
có thể quyết định sự phân chia những con đường thành
Mật thừa và Thừa Hoàn Thiện ? Vì tôi đã giải thích điều
này rộng rãi trong Những Giai Đoạn của Con Đường Chung cho
các Thừa, tôi sẽ không làm việc đó ở đây nữa.
Bác
bỏ : ‘Trang hoàng với lạc’ ám chỉ một nhận biết
ý nghĩa của tánh Như dựa vào một lạc chảy lỏng, lạc
này lại dựa vào những giáo lý để thành tựu yếu tố cơ
bản đặc biệt là gặp gỡ và ở chung của chất Bồ đề
tâm trắng và đỏ.(9)
Trả
lời : Điều này không thích hợp cho sự thiết lập khác
biệt giữa Mật thừa tổng quát và Thừa Hoàn Thiện bởi
vì nó chỉ là một đặc trưng của Mật Chú Tối Thượng
(Tantra Yoga Tối Thượng). Vì cùng lý do ấy, không nên hiểu
rằng việc tập trung trên những điểm chính yếu trong tâm
và thân là thích hợp cho sự khác nhau giữa hai thừa.
Trình
bày ý kiến đúng về sự phân chia
Đại
thừa thành Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa
Đoạn
này có hai phần : lý do thực sự để phân chia Đại thừa
thành hai thừa và một lời dạy rằng dù những con đường
có những khác biệt thì quả của chúng không thể khác biệt
trong cao thấp, hơn kém.
Lý
do thực sự để phân chia Đại thừa
thành
Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa
Đoạn
này có ba phần : lý do phân chia, trích dẫn những nguồn bản
văn, và xua tan những bác bỏ.
Lý
do phân chia Đại thừa
thành
Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa
Về
‘thừa’ theo nghĩa là quả mà người tu hành đi đến, Mật
thừa và Thừa Hoàn Thiện không khác nhau như cao hay thấp.
Mục tiêu để đạt đến của cả hai thừa là Phật tánh,
nó là sự xóa bỏ mọi lỗi lầm và sự viên mãn của mọi
phẩm tính tốt đẹp. Bởi thế, hai cái ấy khác nhau về ý
nghĩa của chữ ‘thừa’ như là những nguyên nhân nhờ chúng
người tu hành đi đến.
Hơn
nữa, không có sự khác biệt trong sự chứng ngộ của chúng
(tri kiến tánh Không) ; tư tưởng của chúng (phát sanh một
nguyện vọng đạt đến Phật tánh vì tất cả chúng sanh),
hay thái độ của chúng (tu hành sáu hoàn thiện). Bởi thế,
những Thừa như là những nguyên nhân – không thể được
phân chia từ những quan điểm này.
Câu
hỏi : Từ quan điểm nào, chúng được phân chia ?
Trả
lời : Những mục tiêu chính được cả hai loại người
Đại thừa tìm kiếm là những mục tiêu của những người
khác, không phải giác ngộ là mục tiêu của sự chứng đắc
riêng mình. Bởi vì thấy Phật tánh như là một phương cách
để thành tựu cho những mục tiêu của những người khác,
họ tìm kiếm giác ngộ tối thượng như là một nhánh của
những mục tiêu của những người khác. Trang Hoàng cho những
Chứng Ngộ (Abhisamayalamkara) của Maitreya nói :
Sự
phát tâm là ước muốn thành tựu
Giác
ngộ viên mãn vì mọi người khác.
Phát
tâm vị tha thì tương tự nhau trong cả hai loại người Đại
thừa.
Một
vị Phật xuất hiện thật sự đối với những người tu
hành và hoàn thành những mục tiêu của họ không phải là
Pháp thân mà là hai phương diện của Sắc thân (Báo thân và
Hóa thân). Pháp thân được thành tựu qua trí huệ nhận biết
cái sâu xa (tánh Không) và những Sắc thân được thành tựu
qua những phương tiện rộng lớn. Cũng thế, Hai Thân không
thể đạt được với một trí huệ không có phương tiện
hay với một phương tiện không có trí huệ. Bởi thế, người
ta cần trí huệ và phương tiện không phân chia ; đây là một
nguyên lý của Đại thừa tổng quát.
Không
nhận biết cách thế hiện hữu của những hiện tượng, người
ta không thể làm diệt mất mọi phiền não và vượt qua bờ
bên kia của đại dương sanh tử luân hồi. Bởi thế, cái
trí huệ nhận biết cái sâu xa (tánh Không) thì chung với ngay
cả hai loại thấp hơn của những bậc Thánh (Thanh Văn và
Độc Giác).
Như
thế đặc trưng phân biệt chính của những con đường Đại
thừa phải được hiểu là những phương tiện dùng như những
nguyên nhân để trở thành một bậc Bảo Vệ và nơi quy y
cho chúng sanh khi nào vòng sanh tử còn tồn tại, qua sự xuất
hiện trong những Sắc thân với những người tu hành có phước
đức. Những người của Thừa Hoàn Thiện trau dồi những
con đường tương ưng với Pháp thân qua việc thiền định
về tánh Như thoát khỏi mọi tạo tác (về những quy ước
danh tướng, nhị nguyên và ý niệm hiện hữu nội tại tự
thân) của những hiện tượng. Tuy nhiên, họ không có những
con đường thiền định tương tự với một Sắc thân được
trang nghiêm với những tướng chánh và phụ trong khi Mật thừa
thì có. Như thế, có một sự khác biệt lớn trong những thành
phần của những con đường Hoàn Thiện và Mật liên quan đến
phương tiện để thành tựu những Sắc thân cốt hoàn thành
sự lợi lạc cho những người khác. Chính bởi phương tiện
này mà Đại thừa phân chia thành hai thừa.
Một
cách tổng quát, người ta phải phân chia Tiểu thừa và Đại
thừa không phải bởi trí huệ về tánh Không mà bởi phương
tiện, và một cách riêng biệt, sự phân chia Đại thừa thành
hai thừa được lập ra không vì trí huệ nhận biết tánh
Không sâu xa mà vì phương tiện. Phương tiện chủ yếu được
chấp nhận từ quan điểm thành tựu những Sắc thân, và để
cho điều ấy, yoga hóa thần bổn tôn của Mật thừa – thiền
định về chính mình như có một phương diện tương tự với
một Sắc thân – thì ưu thắng so với phương tiện của Thừa
Hoàn Thiện.
Yoga
Hóa thần Bổn tôn
Trích
dẫn nguồn bản văn
Đoạn
này có hai phần : phương tiện được giải thích trong những
bản văn của Yoga Tối Thượng và trong những bản văn của
các tantra cấp thấp như thế nào.
Phương
tiện được giải thích trong những
bản
văn của Yoga Tối Thượng như thế nào
Đoạn
này có hai phần : phương tiện được giải thích trong các
tantra và trong các luận giải như thế nào.
Phương
tiện được giải thích trong những
Tantra
Yoga Tối Thượng như thế nào
Chương
đầu của Tantra Vajrapanjara bày giải phương tiện một cách
rõ ràng :
Nếu
tánh Không là phương tiện, thì
Phật
tánh không thể là phương tiện. Bởi vì ngoài
Nguyên
nhân này không thể có quả nào khác,
Phương
tiện không phải là tánh Không.
Những
bậc Điều Ngự dạy tánh Không
Để
chiến thắng những ý niệm về cái ngã
Cho
những người lìa khỏi những (chánh) kiến
Và
cho những người tìm kiếm tri kiến về cái ngã.
Bởi
thế nó là ‘vòng tròn mạn đà la’,
Nó
là một sự gắn liền với phương tiện phúc lạc.
Qua
yoga của sự kiêu hãnh của Phật
Phật
tánh sẽ không lìa cách xa xôi.
Một
Đạo Sư có ba mươi hai tướng tốt
Cũng
như đủ tám mươi tướng phụ,
Bởi
thế phương tiện để tựu thành
Là
mang lấy hình tướng của Đạo Sư.
Bốn
đoạn kệ này theo thứ tự (1) bác bỏ sự khẳng định rằng
chỉ thiền định về tánh Không là phương tiện, và chỉ
ra (2) mục đích của sự chỉ dạy tánh Không, (3) phương tiện
không cùng chung và sự vĩ đại của nó, và (4) lý do tại
sao Phật tánh được thành tựu qua phương tiện này.
Đoạn
kệ đầu tiên có nghĩa : Vốn có dạy trong Vajra-panjara rằng,
bởi vì tâm thức bị nhiễm ô bởi những vết bẩn của tư
tưởng mình, người ta phải làm mọi cố gắng để tịnh
hóa nó. Bấy giờ người ta nghĩ, ‘Để tẩy sạch những
vết bẩn này, người ta chỉ cần thiền định về tánh Không
bởi vì trí huệ nhận biết tánh Như của vô ngã thì đối
nghịch lại những tư tưởng vọng tưởng ra cái ngã trong
khi những con đường khác không chống lại những tư tưởng
này. Bởi thế, phương tiện để phát triển thành một vị
Phật là chỉ thiền định về tánh Không. Cần gì phải làm
những thứ khác ?
Bản
văn nói rằng bất kể người ta tu hành một phương tiện
như vậy ráo riết bao nhiêu, người ta cũng không thể trở
thành một vị Phật. Bởi vì, ngoài một nguyên nhân là thiền
định về tánh Không, không có phương tiện nào (để thành
tựu) quả (của Phật tánh) ; do không có nhánh phương tiện,
những nguyên nhân không được đầy đủ. Như thế, chỉ có
được sự quen thuộc với tánh Không thì không phải là một
phương tiện đầy đủ. Devakulamahamati giải thích rất đúng
rằng nó không chỉ là hệ thống của Mật thừa, mà còn là
của Thừa Hoàn Thiện.
Câu
hỏi : Vậy thì đâu là ý định khi dạy tánh Không ?
Trả
lời : Tánh Không, hay vô ngã, được dạy để vượt qua
hai ý niệm về ngã cho những người lìa khỏi những tri kiến
về vô ngã của những hiện tượng v.v… và cho những người
tìm kiếm tri kiến về một cái ngã (của con người) và họ
gắn chặt vào ý niệm đó. Điều này chỉ ra rằng để tẩy
sạch những vết bẩn của những tư tưởng về hai loại ngã
(chấp ngã và chấp pháp, có hiện hữu tự thân trong cả con
người và hiện tượng) người ta quyết định phải tìm kiếm
và trau dồi một tâm thức tìm thấy và nhận biết tánh Như
– tính vô ngã.
Trong
Thừa Hoàn Thiện cũng dạy tương tự khi nói rằng chỉ thiền
định về tánh Không thì không đủ và mục đích của nó
là tẩy sạch tâm thức. Sự giải thích này về hai dòng ‘cho
những người lìa khỏi những (chánh) kiến / Và cho những
người tìm kiếm tri kiến về cái ngã,’ phù hợp với tư
tưởng trong bình giải của Devakulamahamati về Vajrapanjara.
Câu
hỏi : Nếu chỉ thiền định về tánh Không không là một
phương tiện đầy đủ, thì đâu là cái đặc biệt ?
Trả
lời : Bởi vì chỉ thiền định về tánh Không là không
khả thi như là phương tiện, nên phương tiện đặc biệt
là ‘vòng tròn một mạn đà la’ (một ‘mạn đà la người
ở’ là thân thể của hóa thần bổn tôn và một ‘mạn
đà la chỗ ở’ là nơi ở của hóa thần bổn tôn). Những
câu kệ nói về điều này như thế nào tiếp sau đây.
Trong
bình giải Devakulamahamati về Vajrapanjara câu sau được dịch
(ra tiếng Tây Tạng) thành ‘Phương tiện là một sự gắn
liền phúc lạc.’ Đây là một cách dịch hay hơn câu được
trích dẫn ở trên, ‘Nó là một sự gắn liền với phương
tiện phúc lạc.’ Ở đây, một phương tiện cao hơn cái của
Thừa Hoàn Thiện được chỉ ra, và nó biểu lộ rằng chỉ
thiền định về tánh Không không phải là một phương tiện
đầy đủ. Như thế, có một phương tiện được cộng thêm
với thiền định về tánh Không, và nó được nói là yoga
hóa thần. Bởi thế, thiền định về một vòng tròn mạn
đà la (người ở và chỗ ở thiêng liêng của một hóa thần)
được biết là phương tiện chính yếu để (thành tựu) một
Sắc thân.
Những
đặc trưng của phương tiện này có hai, sự phúc lạc và
gắn liền. Phúc lạc là sự không tùy thuộc về khổ hạnh.
Nhiều hình thức gắn liền được nêu lên trong Tantra Hevajra,
nhưng ở điểm này gắn liền phải được hiểu như là sự
không thể phân chia của phương tiện – sự xuất hiện của
một vòng tròn thiêng liêng – và trí huệ – sự nhận biết
tánh Không, vô tự tánh.
Với
một yoga của phương tiện và trí huệ như vậy trong đó người
ta trau dồi sự kiêu hãnh của một vị Phật như Vairo-chana,
người ta đạt đến trạng thái của một vị Phật mà không
trải qua một thời gian dài như trong Thừa Hoàn Thiện. Trong
cách ấy sự vĩ đại của Mật thừa được trình bày. Sự
giải thích yoga hóa thần bổn tôn là con đường nhanh chóng
đã bác bỏ những ý kiến sai lầm rằng yoga hóa thần là
không hữu ích cho sự thành tựu cái tối thượng.
Câu
hỏi : tại sao để thành tựu một Sắc thân người ta cần
một yoga mang chứa sự kiêu hãnh của một vị Phật và một
vòng tròn mạn đà la ?
Trả
lời : Vajrapanjara nói :
Một
Đạo Sư có ba mươi hai tướng tốt
Cũng
như đủ tám mươi tướng phụ,
Bởi
thế phương tiện để tựu thành
Là
mang lấy hình tướng của Đạo Sư.
Lấy
lý do rằng một Sắc thân – đối tượng để đạt được
– được trang nghiêm với những tướng chánh và phụ, quả
phải được hoàn thành qua một phương tiện có hình tướng
hay phương diện của một Đạo Sư.
Trong
hai bình giải khác về Vajrapanjara (do Krshnapada và Indrabobhi)
không có những nghi ngờ được nhổ sạch và chủ đề được
giải thích rõ ràng, nhưng bình giải của Devakula-mahamati thì
có (dù không phải tất cả đều đúng). Trong bình giải của
ngài về đoạn kệ đầu tiên, ở điểm bác bỏ rằng chỉ
thiền định về tánh Không, là phương tiện, ngài giải thích
rằng nếu người ta chỉ trau dồi một tánh Không không có
phương tiện, người ta sẽ được sanh vào một cuộc đời
không thuận lợi như ở Không Vô Biên Xứ. Điều này không
đúng (bởi vì người ta trở thành một A la hán Hủy Diệt
Kẻ Thù của Tiểu thừa).
Rồi
để trả lời cho lý thuyết rằng về mặt con đường, tánh
Không là phương tiện và về mặt thành quả, tánh Không là
quả, Devakulamahamati giải thích rằng bởi vì tánh Không của
cả hai thứ nguyên nhân hay con đường và của kết quả hay
thành quả không có những đặc trưng khác biệt nào khác,
nên tánh Không – khi được chấp nhận như là quả – cũng
không thể là phương tiện. Ngài còn thêm rằng bởi vì nguyên
nhân như là một thực thể tạo tác bao hàm sự thấu hiểu
(về hiện hữu tự thân) và kết quả là cái trái ngược
lại, nguyên nhân và kết quả khác nhau ; bởi thế, phương
tiện không thể là tánh Không.
Sự
giải thích của ngài về ý định dạy tánh Không thì cũng
giống như đã nêu ra ở trên. Rồi có sự nghi ngờ, ‘Nếu
Thừa Hoàn Thiện dạy rằng giác ngộ được thành tựu với
sự thực hành – qua ba vô số kiếp – sự hoàn thiện của
trí huệ kết hợp với năm hoàn thiện kia, vậy dùng những
phương tiện như một vòng tròn mạn đà la để làm gì ?’
Để trừ sự nghi ngờ này, Devakula-mahamati giải thích phúc
lạc trong đoạn kệ thứ ba như ở trên. Ngài nói rằng ‘gắn
liền’ là kinh nghiệm cái lạc của sự kết hợp của hai
bộ phận (điều này được giới hạn vào Tantra Yoga Tối
Thượng). Sự ‘kiêu hãnh là một Phật’ ngài giải thích
(đúng) là thoát khỏi sự kiêu hãnh thường tục, và ‘không
lìa cách xa xôi’ ngài giải thích là đạt được Phật tánh
trong đời này (nhưng điều này cũng chỉ giới hạn trong Tantra
Yoga Tối Thượng).
Người
ta có thể nghĩ rằng một Thân Phật được trau dồi theo cách
Pháp thân (chỉ thiền về tánh Không mà thôi). Đoạn kệ cuối
trừ bỏ mối băn khoăn này, Devakulamahamati giải thích rằng
phương tiện là ba cái định trong hình thức của Ba Thân.
Nhiều
lama Tây Tạng đã áp dụng (sai) giáo lý yoga hóa thần – một
vòng tròn mạn đà la – chỉ dùng nó cho giai đoạn đầu của
Tantra Yoga Tối Thượng (giai đoạn phát sanh). Điều ấy có
lỗi lầm không phân biệt giữa phạm vi lớn hơn và nhỏ hơn
theo tuần tự của yoga hóa thần (nó có trong cả ba tantra cấp
thấp và hai giai đoạn của Yoga Tối Thượng) và giai đoạn
phát sanh (chỉ có trong Yoga Tối Thượng và là cái đầu tiên
của hai giai đoạn). Yoga hóa thần cần được xem là áp dụng
cho cả hai giai đoạn (phát sanh và thành tựu).
Quan
niệm này cho là thiền định về tánh Không là phương cách
độc nhất để thành tựu cả Hai Thân là căn cứ lớn lao
của những ý tưởng sai lầm bỏ qua yoga hóa thần như là
một phương tiện cho thành tựu tối thượng (Phật tánh).
Tôi đã trích dẫn Vajrapanjara bởi vì nó rõ ràng bài trừ
sự nghi ngờ này và rõ ràng nói rằng yoga hóa thần phải
được trau dồi như một nguyên nhân cho Sắc thân. Như thế,
với cái này như là một minh họa, những giáo lý của các
tantra khác cũng được hiểu. E rằng đã quá nhiều, tôi không
trích dẫn chúng ra ở đây.
Phương
tiện được giải thích như thế nào
trong
những bình giải về Yoga Tối Thượng
Đoạn
này có hai phần : phương tiện được giải thích như thế
nào trong những bản văn của đạo sư Jnanapada và rồi bởi
những đạo sư khác.
Phương
tiện được giải thích như thế nào
trong
những bản văn của đạo sư Jnanapada
Vị
thầy Jnanapada đã nêu ra một trình bày rất rõ ràng về cái
được dạy trong tantra được trích ở trên trong tập Đi Vào
Phương Tiện của sự Tự Thành Tựu (Atmasadhanavatara). Trước
hết, ngài nêu ra con đường của Thừa Hoàn Thiện, ngài nói
:
Nếu
thiền định về vô ngã thiếu những đặc trưng của phương
tiện, nó không thể phát sanh một trí huệ toàn giác thoát
khỏi mọi vết bẩn của tư tưởng và cứu giúp tất cả
chúng sanh lưu lạc. Bởi thế, người ta cần tu hành ráo riết
một phương tiện rất rõ ràng. Vì cái có bản chất cứu
giúp tất cả chúng sanh là một trí huệ toàn giác, và sự
cứu giúp này khởi sanh từ sự rộng lớn tối hậu, nguyên
nhân của nó là chỉ trau dồi phương tiện bởi vì trau dồi
vô ngã chỉ có quả là từ bỏ tư tưởng. Hơn nữa, (Trang
Hoàng cho những Kinh Điển Đại thừa của Maitreya) nói
:
Bởi
vì cái sâu xa và bởi vì cái rộng lớn
Hai
cái này (trí huệ và phương tiện) được dạy để cho cả
hai,
Vô
niệm và thành quả trọn vẹn,
Bởi
thế, chúng là phương tiện tối thượng của tất cả.
Những
hoạt động không tà vạy của tâm thức như bố thí… là
phương tiện bởi vì khi chúng được hồi hướng toàn triệt
về trí huệ toàn giác chúng trở thành những nguyên nhân cho
giác ngộ viên mãn. Kinh Cô Đọng về Trí Huệ Hoàn Thiện
nói :
Toàn
triệt hồi