I
TINH TÚY CỦA TANTRA
do
Đức TENZIN GYATSO Dalai Lama thứ mười bốn
Dịch
và biên tập bởi Jeffrey Hopkins
Đồng
biên tập: Lati Rinpochay
Phụ
tá biên tập: Barbara Frye
Tantra
cho thực hành
Cần
yếu phải ổn định ý nghĩa của kinh điển với lý luận
trong sáng. Ý nghĩa của những đoạn được nói ra chỉ cho
một số hành giả cần được giải thích và ý nghĩa của
những đoạn cực kỳ tinh tế phải được thấu nhập ; điều
này thì khó khăn, và một số có nguy cơ bị hiểu lầm. Ngoài
ra, đối với nhiều người thì vô số sách của kinh và tantra
không trình bày như những giáo huấn, và họ thỏa mãn bằng
cách chỉ nhìn một phần đoạn của con đường. Những người
khác thì có thể phân tích rất nhiều điểm nhưng không thể,
dù họ đã học, phân biệt những điểm quan trọng. Những
người biết một cách tổng quát thực hành ra sao nhưng không
có một cố gắng nào cho thực hành. Những người trong ba
trường hợp này không thể thực hành tantra đúng nghĩa.
Tsongkapa
đã thấy rằng nếu những ý nghĩa của vô số kinh điển
được tập họp lại, ổn định với lý luận trong sáng,
và giới thiệu trong trình tự thực hành, nhiều chúng sanh
đã sống trong ảnh hưởng của những trường hợp xấu ở
trên có thể được giúp đỡ. Say mê bởi những giải thích
tuyệt vời của những nhà tantric Ấn và Tạng như Nagarjuna
và những đứa con tinh thần của ngài và bậc toàn trí Bu-tošn,
Tsongkapa đã nhiệt tình gom góp lại những giải thích này
để hiệu đính những khiếm khuyết và bỏ bớt những chỗ
không thích hợp trong sự trình bày của những lama cổ thời.
Viết
một cuốn sách về Mật Chú thừa không giống với viết một
cuốn sách về Trung Quán hay về những lời dạy những con
đường bao gồm trong kinh Bát Nhã Ba la mật. Những chủ đề
của Mật Chú thừa không phải để trưng bày như món hàng
mà để thực hành một cách bí mật. Nếu không thế, thì
thay vì giúp đỡ, có nguy cơ làm hại nhiều người phát sanh
hiểu lầm. Ví dụ, có người không thể thực hành tổng quát
bốn tantra và đặc biệt Tantra Yoga Tối Thượng lại chỉ
muốn hành Mật chú. Một số người, dù họ có lòng tin, không
thật sự biết rõ ràng những trình bày Phật giáo về cái
thấy, thiền định và hành xử. Những người khác biết những
chủ đề này rõ ràng nhưng không thể giữ những lời nguyện,
duy trì đức tin và dũng mãnh trong tâm thức. Không có sự
hiểu biết này và khả năng này, thực hành con đường Mật
chú là không thể.
Ở
Ấn Độ một vị guru đầy đủ thẩm quyền chỉ dạy những
giáo lý Mật thừa cho vài đệ tử, nghiệp và những nguyện
vọng của họ phải phù hợp và ngài biết về họ rõ ràng.
Những guru truyền trực tiếp cho các đệ tử, và khi họ có
khả năng thực hành với nhiều nỗ lực những giáo lý đã
nhận được, những kinh nghiệm và chứng ngộ tâm linh tương
ứng sẽ phát sanh. Trong cách đó mà giáo lý của bậc Điều
Ngự được xúc tiến và sự lợi lạc của chúng sanh được
thành tựu. Tuy nhiên ở xứ tuyết Tây Tạng những yếu tố
này đã vắng mặt trong một chừng mực nào đó. Mật thừa
đã phổ biến rất rộng và dân chúng đã tìm nó vì sự nổi
tiếng của nó, không xem xét họ có khả năng thực hành nó
hay không.
Người
ta khôn ngoan nếu dù muốn cái tốt nhất, người ta vẫn xem
xét cái tốt nhất có thích hợp không. Những người Tây Tạng
muốn cái tốt nhất và cho rằng họ có thể thực hành cái
tốt nhất. Kết quả là, Mật thừa nổi tiếng ở Tây Tạng,
nhưng cách thực hành thì không giống như sự thực hành đúng
cách và ẩn dấu của những người Ấn Độ và như thế chúng
ta không thể hoàn thành những thành tựu của Mật thừa như
được diễn tả trong những tantra ; dấu ấn của sự thực
hành Mật thừa đã không xuất hiện. Như có nói trong truyền
thống truyền miệng của Tây Tạng, ‘Một người Ấn Độ
thực hành một hóa thần và thành tựu một trăm ; một người
Tây Tạng thực hành một trăm hóa thần và không thành tựu
ngay cả một.’
Không
tốt khi bắt đầu vào nhiều việc khác nhau, nói là ‘Cái
này tốt, cái kia tốt,’ cầm cái này, cầm cái kia, và không
thành công cái nào cả. Nếu bạn không tham muốn nhiều và
nhắm vào cái gì thích hợp, bạn có thể hiện thực hóa những
tiềm năng tương ứng và trở thành một người lỗi lạc
trong cái đó. Với thành công, sức mạnh hay dấu ấn của
sự thực hành ấy sẽ phát sanh.
Đặc
biệt ngày nay, Mật thừa đã trở thành một chủ đề được
lưu tâm, nhưng chỉ là một mục tiêu để tìm hiểu. Từ quan
điểm của một hành giả, nó hình như đã trở thành một
đối tượng của tiêu khiển và đã đạt đến mức mà người
ta không thể biết nó giúp đỡ hay làm hại. Nhiều bí mật
đã được phổ biến ; nhiều người diễn thuyết đã giải
thích tantra, và nhiều cuốn sách được dịch. Dù Mật thừa
được hoàn thành trong bí mật, nhiều cuốn sách đã xuất
hiện, chúng là một pha trộn của chân và giả.
Tôi
nghĩ là tốt đẹp nếu có những biện pháp và cơ hội có
thể xóa tan những ý niệm sai lầm ấy. Một cách tổng quát,
dịch một cuốn sách Mật thừa để bán trong tiệm sách thì
không thích hợp, nhưng trong lúc này và trong hoàn cảnh này,
khi không xóa sạch những ý niệm sai lầm thì lỗi lầm còn
lớn hơn là phân phối những bản dịch. Nhiều thông tin được
viết sai về Mật thừa đã phổ biến rộng rãi ngày nay, và
bởi thế, tôi nghĩ rằng dịch và phân phối một cuốn sách
có thẩm quyền có thể giúp cho xóa đi những gán ghép sai
lầm này. Đây là lý do cho sự giải thích công trình của
Tsongkapa này của tôi.
Nếu
Mật thừa được thực hành công khai và được dùng cho mục
đích thương mại, bấy giờ những tai nạn sẽ xảy ra cho
người thực hành ấy, ngay cả lấy đi mạng sống của người
ấy, và những hoàn cảnh bất lợi cho sự phát sanh kinh nghiệm
và những chứng ngộ tâm linh trong dòng sống của nó sẽ xảy
ra. Với những cuốn sách loại khác, không trầm trọng lắm
nếu có một lỗi lầm, nhưng với những cuốn sách Mật thừa
thì rất nghiêm trọng khi sai lầm trong giải thích hay trong
dịch thuật. Hơn nữa, nếu mắc phải lỗi lầm loan báo điều
bí mật cho người chưa đủ chín chắn, thì có nguy hiểm là
thay vì giúp đỡ, nó sẽ gây tai hại. Có nhiều câu chuyện
rằng có những người bắt đầu làm những chuyên luận về
Mật thừa nhưng đã không thể sống trọn vẹn đời họ và
những người mà sự tiến bộ bị hỗn lại vì viết một
cuốn sách về Mật thừa.
Một
người đã thực hành những giai đoạn của Kinh và muốn nhanh
chóng đạt đến trạng thái của một vị Phật thiêng liêng
nên đi vào Mật thừa để được cung cấp dễ dàng sự thành
tựu Phật tánh. Tuy nhiên, bạn không thể tìm kiếm Phật tánh
cho chính bạn, dấn thân vào Mật thừa để trở nên khác
thường. Với một vị hướng dẫn tâm linh như một người
bảo hộ, bạn cần tu hành những con đường chung, đi vào
sự thực hành của những người khả năng nhỏ và trung bình
– nhận ra sự khổ và phát triển mong muốn từ bỏ sanh tử
luân hồi. Rồi bạn phải tu hành lòng đại bi, nó là sự
không thể chịu đựng khi thấy những khổ đau của những
người khác mà không hành động để giảm trừ nó. Chúng
sanh muốn hạnh phúc nhưng không có khả năng hạnh phúc ; họ
không muốn khổ đau nhưng bị đày đọa bởi khổ đau. Bạn
phải phát triển đại bi và tình thương từ chính nơi sâu
thẳm của lòng bạn cho mọi chúng sanh đang lang thang trong sanh
tử của ba cõi – dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
Bạn cần một tâm thức rất mạnh mẽ mong muốn giải thoát
tất cả chúng sanh khỏi khổ đau và những nguyên nhân của
khổ.
Qua
những sức mạnh đã tích tập và những tập khí trải qua
nhiều kiếp, một số người có một tâm tốt ngay khi còn
trẻ ; họ có lòng bi không chịu đựng nổi đối với côn
trùng đang hiểm nguy chờ chết và đối với những người
đang bị khổ hành hạ ; họ có một cảm giác say mê của
lòng vị tha. Những người như thế cần đi vào Mật thừa
để nhanh chóng đạt đến Phật tánh.
Không
phải mọi người đều có thể thực hành tantra, mà chỉ có
những ai đã làm hành động tốt trải qua nhiều đời, những
ai dù còn nhỏ đã có một ý tưởng mạnh mẽ cứu giúp, và
có những tập khí tốt thì nên tìm sự trợ giúp của một
người hướng dẫn tâm linh. Qua những lời dạy tinh túy của
vị ấy, đệ tử với cố gắng trải qua nhiều tháng nhiều
năm nâng cao tâm thức tốt ấy đến những mức độ ngày
càng cao. Cuối cùng, dầu đang đi, lang thang, nằm hay ngồi,
nó cũng có một sức mạnh lớn của tâm thức tìm kiếm làm
cái gì cần phải làm để giúp đỡ người khác. Nó mong muốn
rất mạnh mẽ đem đến sự giúp đỡ lớn lao cho những người
khác một cách tự nhiên, không cố gắng, như một vị Phật.
một người như thế thích hợp để đi vào và cần đi vào
Mật thừa để nhanh chóng đạt đến Phật tánh.
Nếu
bạn đang tìm kiếm sự đầy đủ tạm thời về thực phẩm
và áo quần cho chính bạn và cho những người khác, chỉ tìm
những mục tiêu tạm thời của cuộc đời này, tránh bệnh
tật tạm thời, đạt đến một sự dư dật tài sản hay một
danh tiếng tạm thời hay nhiều tiền, chắc chắn có những
biện pháp cho sự thành đạt tạm thời về thịnh vượng,
cho sự làm dịu tạm thời bệnh tật và đau đớn, và cho
sự có được danh tiếng tạm thời. Bạn có thể tham lam và
lừa dối, đôi khi chân thật và có lúc nói dối, khi thì tranh
đấu khi thì không. Đấy là những biện pháp tạm thời, và
ngày nay nhiều người đang tiến hành theo cách ấy. Nếu đó
là ý định của bạn, bạn không cần Đại Diễn Giải của
Mật thừa của Tsongkapa.
Nếu
ngược lại, bạn không cho cái hệ thống này của những bậc
đàn anh của thế giới là đầy đủ, nếu bạn thấy những
hoạt động ấy là vô nghĩa, trống rỗng, nếu bạn biết
rằng chúng chẳng giúp ích cho những đời tương lai hay những
mục đích cao hơn, nếu bạn biết rằng ngay cả bạn giàu
có ban nhiêu trong đời này, cũng khó mà có hòa bình trong tâm,
và nếu bạn đang tìm kiếm hòa bình của tâm cho bạn và những
người khác, thì rất quan trọng phải cải thiện tâm thức
bạn.
Nhiều
lời dạy đã được đề ra cho mục đích này, nhưng chúng
ta nói rằng chỉ có vị đạo sư là Phật đã dạy một cách
mạnh mẽ và có sức thuyết phục rằng chúng ta cần quý trọng
những người khác hơn chính chúng ta và chúng ta cần phát
triển một ý định dứt khoát làm cho chúng sanh an trụ trong
một trạng thái thoát khổ và những nguyên nhân của khổ.
Mọi hệ thống tôn giáo của thế giới đều dạy một phương
cách để đem lại chút bình an cho tâm thức và tẩy trừ những
phương diện thô trược của dòng tâm thức. Chúng tạo ra
sự cải thiện trực tiếp hay gián tiếp một tâm thức tốt
lành và lòng vị tha, nhưng trong các hệ thống đó, hình như
chỉ có Phật giáo trình bày những biện pháp chuyển hóa tâm
thức thành cái thiện tối hậu bằng rất nhiều lý giải,
kinh điển và quan kiến. Tôi không nói Phật giáo là tốt nhất
bởi vì tôi là một người Phật giáo. Tôi nghĩ rằng nếu
xem xét một cách thành thật, người ta sẽ nghĩ như vậy,
nhưng dù là cái tốt nhất, cũng không có nghĩa là mọi người
cần phải là Phật giáo. Tất cả không có cùng một tính
khí và quan tâm. Tất cả nên có cái tốt nhất, nhưng vì không
phải tất cả đều có thể thực hành cái tốt nhất, nên
cần thiết là mỗi người tuân theo một con đường phù hợp
với tính khí, quan tâm và khả năng của riêng mình.
Nếu
quả thật là mỗi người nên là một người theo Phật giáo,
thì mỗi người nên là một người theo Tantra, và mỗi người
nên theo Tantra Yoga Tối Thượng bởi vì nó là cái tốt nhất,
bởi thế Vajradhara chỉ đã dạy Tantra Yoga Tối Thượng. Thật
vậy, ngài làm như thế nếu ai ai cũng có thể thực hành nó.
Nhưng với người mà Tantra Yoga Tối Thượng không thích hợp
thì ngài dạy Tantra Yoga. Với người mà Tantra Yoga không thích
hợp ngài dạy Tantra Thực Hiện. Với người không hợp với
Tantra Thực Hiện, ngài dạy Tantra Hoạt Động. Với người
không hợp với Tantra Hoạt Động, ngài dạy theo kinh điển
trong đó ngay cả danh từ Mật thừa cũng không có.
Trong
kinh điển ngài dạy những Kinh Bát Nhã Ba la mật nêu lên cái
thấy Trung Đạo, và với những người không hợp cái này,
ngài dạy những kinh điển trình bày cái thấy của Duy Tâm
(Duy Thức, Chittamatra). Ngài nêu lên Thừa Độc Giác có thể
cứu giúp cho nhiều người nữa, và để cứu giúp thêm nữa,
ngài lại nêu lên Thừa Thanh Văn, và trong đó còn có những
lời nguyện dành cho tăng, ni, tập sự và hai loại giới nguyện
cho cư sĩ. Trong loại giới nguyện thấp nhất của cư sĩ,
có sự chấp nhận đảm đương tất cả năm điều giới hay
bốn hay ba hay hai hay chỉ một điều, hay chỉ duy trì sự quy
y ; có nhiều người có thể làm điều này.
Đức
Phật đã nêu lên, phù hợp với tính khí và quan tâm của
những người không thể thực hành những phương diện sâu
xa nhất của con đường ngài, vô số hình thức của những
cấp bậc từ lời nguyện quy y của một người đời thường
cho đến sự tu hành trong Kim Cương Thừa của Tantra Yoga Tối
Thượng. Từ nhiều lý do, rộng và sâu, Phật giáo có nhiều
con đường và kỹ thuật cho sự chuyển hóa tâm thức thành
sự thiện tối hậu.
Để
đi vào thừa sâu xa của Mật Chú người ta phải biết những
cái chính yếu của Kim Cương Thừa, và vì lý do này, Tsongkapa
diễn giải những giai đoạn của con đường của thừa này.
Trong mười tám bộ sách toàn tập của ngài, Đại Diễn Giải
những Giai Đoạn của Con Đường Chung cho các Thừa và Đại
Diễn Giải của Mật Thừa là quan trọng nhất. Nhiều cuốn
sách của ngài viết về những chủ đề tuyển chọn trong
tantra – giai đoạn phát sanh, giai đoạn thành tựu, ban phép
quán đảnh nhập môn, hoàn thành những hoạt động đặc biệt…
– nhưng cuốn trình bày một cách thứ tự những điểm chính
yếu của cả bốn tanra là Đại Diễn Giải của Mật Thừa
(phần thứ nhất của nó nằm trong Phần Hai của cuốn sách
này).
Khi
một sự trao truyền miệng giải thích Đại Diễn Giải của
Mật Thừa được ban cho, người nghe cần có những quán đảnh
nhập môn vào bốn tantra – ví dụ quán đảnh nhập môn của
Đại Bi cho Tantra Hoạt Động, của Tỳ Lô Giá Na cho Tantra
Thực Hiện, của Sarvavid cho Tantra Yoga, hay của Samvara, Guhyasamaja
hay Bhairava trong một mạn đà la bằng bột màu cho Tantra Yoga
Tối Thượng. Ít nhất, người ta nên có một nhập môn của
Tantra Yoga Tối Thượng trong một mạn đà la bằng bột màu
hay vẽ trên vải. Cũng thế, khi một sự trao truyền bằng
miệng được ban cho thì những lama tạo nên dòng truyền thừa
cần được nhận biết.
Đầu
đề
Đầu
đề đầy đủ của Đại Diễn Giải của Mật Thừa là Những
Giai Đoạn của Con Đường đi đến một Đạo Sư Điều Ngự
và Tỏa Khắp, một Vajradhara Vĩ Đại : Phát Giác Tất cả
những Chủ Đề Bí Mật. Nó chỉ ra những nội dung của cuốn
sách. ‘Điều Ngự’ thường có nghĩa là người đã chiến
thắng những ma thô và tế, và trong trường hợp của Mật
thừa, ‘Điều Ngự’ ám chỉ sự chinh phục đối với hình
tướng nhị nguyên lầm lạc. Những che chướng cùng cực vi
tế làm ngăn ngại toàn giác (nó là cái biết trực tiếp và
đồng thời mọi hiện tượng và cách thế hiện hữu của
chúng) chỉ được đề cập trong giáo lý của Tantra Yoga Tối
Thượng, con đường Mật thừa thứ tư và cao nhất. Những
che chướng này là những nhiễm ô của hình tướng nhị nguyên
sai lầm, chúng được gọi là xuất hiện, tăng trưởng và
cận đạt. Người đã chinh phục những cội nguồn ấy của
sai lầm nhờ những đối trị của chúng là một bậc Điều
Ngự. Một người như thế đã hoàn toàn vượt qua những che
chướng thô và tế để đến giải thoát và toàn giác trong
dòng tương tục riêng của nó và cũng có thể tạo ra sự
chinh phục những che chướng này trong những chúng sanh khác,
nhờ đó họ vượt qua những nguyên nhân của khổ đang hành
hạ họ.
Một
bậc Điều Ngự là ‘Tỏa Khắp’ theo cách người phát sanh
mọi dòng Phật, bậc Hộ Trì Nguyên Thủy, Vajradhara, tỏa khắp
vào mọi dòng, cũng như Vairochana, Akshobhya, Ratnasambhava, Amitabha
và Amoghasiddha. Hàng trăm, năm, và ba dòng tuyệt hảo, tất
cả đều gồm trong một nền tảng phát sanh là Báo Thân, Vajradhara
bí mật vĩ đại, bởi thế ngài được gọi là ‘Đạo Sư.’
Bởi vì ngài tỏa khắp và là đạo sư của mọi dòng, Vajradhara
là Đạo Sư Tỏa Khắp.
Kim
Cương (vajra) là cái tốt nhất của đá ; có những kim cương
tượng trưng ở bên ngoài, như là chày kim cương và chuông
dùng trong nghi lễ, và có những kim cương chúng là những ý
nghĩa tượng trưng. Về cái sau, một kim cương chung cho bốn
bộ tantra là tính cách không khác biệt của phương tiện và
trí huệ trong một thực thể. Phương tiện là sự tuân theo
cái bao la – thân thể của một bổn tôn – kết hợp với
một nguyện vọng vị tha đạt đến giác ngộ. Trí huệ là
sự hiểu biết tánh Như của hiện tượng đúng như nó thật
là. Như vậy, chỉ theo Tantra Yoga Tối Thượng, một kim cương
là sự không khác biệt trong một thực thể cái phương tiện
– đại lạc – và trí huệ – sự chứng ngộ tánh Không.
Vì trì giữ (dhara) một kim cương như thế trong dòng tương
tục của mình, ngài được gọi là Vajradhara (Kim Cương Trì).
Ngài là ‘vĩ đại’ bởi vì không có gì cao hơn. Bản văn
của Tsongkapa là một trình bày những con đường dẫn đến
trạng thái của một Vajradhara vĩ đại, không phải cái chính
yếu đủ loại của con đường trong những tập hợp không
liên hệ nhau mà là một sự xếp đặt trong thứ tự của
thực hành. Bởi vì những cái chính yếu này phải được
thực hành trong bí mật, che dấu đối với những người không
thích hợp với chúng, mà những cái ấy được gọi là những
chủ đề bí mật của Thừa Mật Chú.
Tsongkapa
đặt tiêu đề này cho cuốn sách của ngài vì nó trình bày
khúc chiết một cách đại cương, dầu trích dẫn luận lý
và kinh điển, những giai đoạn của con đường nhờ nó người
ta có thể tiến bộ đến địa của một Vajradhara vĩ đại,
một đạo sư tỏa khắp trên mọi dòng phái.
Tôn
kính
Mở
đầu, Tsongkapa bày tỏ sự tôn kính chung đến những lama kim
cương của ngài – vị đầu trong đó là Kay-drup-kyung-po-hlay-pa
– và đặc biệt đối với Manjushri (Văn Thù) tôn nghiêm mà
nhờ vào lòng tốt của ngài, Tsongkapa đã thấu hiểu những
yếu chỉ của kinh và tantra. Chữ Sanskrit của tôn kính theo
ngữ nguyên có nghĩa là ‘tìm kiếm cái bất khả hoại’
và bao gồm hoạt động của thân, ngữ và tâm thức ; nó có
nghĩa là ‘Con đặt hy vọng của con vào ngài’. Ngài bày
tỏ sự tôn kính vượt trên dòng những kiếp sống của ngài
đến những lama bi mẫn, các ngài biết những cái chánh yếu
của con đường và rồi đến vị guru đặc biệt là Manjushri.
Bởi
vì Manjushri là hình thức tự nhiên của trí huệ của tất
cả những bậc Điều Ngự, người ta nương nơi ngài như bổn
tôn đặc biệt để tăng trưởng trí huệ phân biện chân
lý. Trí huệ phân biện nhờ đó mà tăng trưởng không cách
nào khác. Tsong-kapa và Manjushri trực tiếp gặp nhau, như hai
người. Nguyên là, Tsongkapa thiền định ở Ga-wa-dong miền
trung Tây Tạng để thành tựu một cuộc gặp gỡ với Manjushri.
Ở Ga-wa-dong có một vị lama phái Kampa tên là Umapa Pawodorje,
vị này đã từng dưới sự chăm sóc của Manjushri nhiều đời
và niệm thần chú Manjushri, om a ra pa tsa na di, ngay từ trong
bụng mẹ. Vị này đã sanh ra trong một gia đình chăn cừu
nghèo khó, và một hôm đang chăn đàn cừu ông gặp một Manjushri
đen, sau đó trí huệ ông tăng trưởng. Khi Tsongkapa gặp Lama
Umapa ở Ga-wa-dong, ngài có thể hỏi Manjushri những vấn đề
tánh Không sâu xa và những công hạnh rộng lớn của đại
bi trong kinh và tantra qua Lama Umapa.
Có
một bức vẽ Manjushri trên tường chỗ ẩn cư của Tsong-kapa
ở Ga-wa-dong, và từ sự tăng tiến của thiền định của
ngài, một ánh sáng lớn phát ra từ trái tim của Manjushri.
Đó là lần đầu tiên Tsongkapa thấy Manjushri, và sau đó theo
mong muốn, ngài đã gặp Manjushri, người đã dạy ngài những
điểm khó trong những giai đoạn của con đường. Bởi thế,
Tsongkapa tỏ lòng tôn kính với phần thấp nhất của thân
thể Manjushri, là hai bàn chân.
Trong
sự quy y thông thường, một khi ý định tạm thời của chúng
ta đã thỏa mãn, chúng ta không cần đến nguồn gốc của
sự quy y nữa. Ở đây Tsongkapa quy y không phải vì một mục
đích bề ngoài vụn vặt, mà vì mục đích tối hậu đạt
đến quả của giải thoát toàn triệt khỏi khổ và những
nguyên nhân của khổ, và bởi vì đó không phải là việc
trong vài năm hay cả một đời, ngài bày tỏ tôn kính trong
tất cả mọi đời. Điều này chỉ ra rằng con đường phải
được thực hành trong bối cảnh quy y từ đời này sang đời
khác cho đến khi thành Phật.
Sự
biểu lộ tôn kính
Những
cuốn sách thường chia ra ba phần, biểu lộ tôn kính, thân
bản văn và kết luận. Đã đảnh lễ các vị lama của ngài
một cách tổng quát và Manjushri một cách đặc biệt, Tsong-kapa
bắt đầu sự biểu lộ tôn kính với những vị hướng đạo
tâm linh. Thường thường những biểu lộ tôn kính để cho
chư Phật và Bồ tát ; tuy nhiên, Chandrakirti lấy đại bi như
là đối tượng tôn kính trong Bổ Trợ cho Trung Đạo (Madhyamakavatara)
của ngài, và Maitreya lấy Mẹ, Trí Huệ ba la mật, như là
đối tượng tôn kính trong Trang Hoàng cho những Chứng Ngộ
(Abhisamayalamkara) của ngài. Ở đây, Tsongkapa lấy những lama
như là đối tượng tôn kính. Điều này bởi vì cần thiết
nương dựa vào một lama (guru) để hoàn thành sự tiến bộ
qua các địa và con đường, và đặc biệt cực kỳ quan trọng
phải nương dựa vào một vị hướng đạo tâm linh có thẩm
quyền để tu hành những con đường của Mật thừa. Nếu
người ta nương dựa vào một lama trong một thời gian dài
với sự kết hợp của niềm tin và kính trọng, người ta
có thể học nhanh chóng và dễ dàng những con đường vượt
khỏi sai lầm và những nhiễm ô của việc chỉ tìm kiếm
lợi lạc cho riêng mình. Những vị hướng dẫn tâm linh dạy
từ lòng đại bi, không phải từ muốn có tiếng tăm hay sung
túc ; các vị dạy không một chút sai lạc những con đường
mà Phật đã dạy.
Tiếp
theo Tsongkapa tán thán và bày tỏ tôn kính đối với Vajradhara,
Người Bảo Hộ Nguyên Thủy. Vajradhara, không hề lìa trạng
thái cảnh giới của Chân Như, nó là sự diệt mất của mọi
tạo tác ý niệm và nhị nguyên, xuất hiện qua sự hiện thân
như cầu vồng, phát sanh vô số hóa thần ở vô biên cõi nước,
tịnh và bất tịnh, trong nhiều hình thức, bất cứ cái gì
thích hợp để đào luyện cho người tu. Pháp thân một đức
Phật có hai phương diện, một Trí Huệ Pháp Thân và một
Tự Nhiên Pháp Thân. Tâm của Vajradhara, trí huệ bổn nguyên
bổn nhiên, là Trí Huệ Pháp Thân hằng hằng trong định Chân
Như như hư không tồn tại. Lãnh vực rốt ráo của Chân Như,
trạng thái diệt mất mọi tạo tác – vừa tự nhiên thanh
tịnh vừa sạch hết các nhiễm ô ngoại sanh ¬– là Tự Nhiên
Pháp Thân.
Một
Bồ tát phát sanh ý muốn đạt đến Phật tánh cho sự tốt
đẹp của những người khác ; bởi thế, ý định hiện thực
hóa Pháp thân là vì sự lợi lạc cho người khác. Tuy nhiên,
cái trực tiếp xuất hiện với người tu hành không phải
là Pháp thân mà là các Sắc thân ; như thế, cần thiết giúp
đỡ những người lưu lạc bằng các Sắc thân, chúng được
một vị Phật lưu xuất ra mà không khuấy động Pháp thân
vốn vô niệm, vô nhị nguyên và không cần phải thi thố,
cố gắng hay nghĩ tưởng. Những Sắc thân xuất hiện tự
nhiên phù hợp theo nhu cầu của hành giả.
Cái
vi tế hơn của những Sắc thân là Báo thân, và cái thô hơn
là những Hóa thân, trong đó có loại bị ngăn ngại và không
bị ngăn ngại, về phương diện vật lý. Như thế, sự bày
tỏ tôn kính này nhằm đến Ba Thân : Pháp thân, Báo thân và
Hóa thân, hay Bốn Thân : Tự Nhiên thân, Trí Huệ thân, Báo
thân và Hóa thân. Theo Tantra Yoga Tối Thượng, Tự Nhiên thân
cũng có thể được xem là một cái do sản sanh và không nhất
thiết là một cái không do sản sanh, như nó được xem như
vậy trong những hệ thống kinh điển, bởi vì trí huệ tịnh
quang của đại lạc nó là Trí Huệ Pháp thân cũng được
nói là một Tự Nhiên thân. Báo thân là sự biểu hiện của
khí và tâm. Các Hóa thân xuất hiện trong vô số cõi tịnh
và uế, đôi khi với một hình thức thô. Tsongkapa tán thán
và biểu lộ sự tôn sùng đến Vajra-dhara như thế, chúa tể
hay thủ lãnh của những mạn đà la.
Tiếp
theo ngài đảnh lễ Vajrapani, đạo sư của sự bí mật, người
lãnh đạo của những vị mang giữ những thần chú hiểu biết
và là người trông coi các tantra. Vajrapani sưu tập mọi yếu
chỉ bí mật, nhiều và đủ loại giáo huấn mà Vajradhara tuyên
thuyết từ sự hiểu biết chính xác về bản chất, quan tâm
và tiềm năng của những người tu hành. Tsongkapa bày tỏ sự
tôn kính đối với Vajrapani, khởi lòng đại bi của ngài và
gợi ý ma quỷ bên trong và bên ngoài hãy thận trọng.
Rồi
Tsongkapa lấy Manjushri, ngài là mẹ, cha và con của tất các
bậc Điều Ngự, như là đối tượng đặc biệt để tôn
sùng. Ngài là mẹ của tất cả chư Phật trong ý nghĩa ngài
là tinh túy của tất cả mọi trí huệ ; là cha của chư Phật
trong ý nghĩa ngài mang lấy hình tướng của những hướng
đạo tâm linh và làm cho chúng sanh phát khởi nguyện vọng
vị tha đạt đến giác ngộ vô thượng ; và là con của chư
Phật trong ý nghĩa ngài đảm đương hình tướng của những
Bồ tát như ngài đã làm trong chúng hội của Phật Thích Ca
Mâu Ni.
Khi
một người tu hành làm ngài bằng lòng, Manjushri có thể, chỉ
với một ánh mắt nhìn, ban cho trí huệ phân biện chân lý
bằng cách làm tăng trưởng nhanh chóng sự chứng ngộ, như
thắp một ngọn lửa. Tsongkapa nói rằng khi nghe một chuyện
kỳ diệu như vậy, ngài đã nương dựa vào Manjushri như bổn
tôn đặc biệt của ngài một thời gian dài và sẽ không từ
bỏ Ngài trong mai sau, không có một quy y nào khác. Tsongkapa
bày tỏ sự tôn kính đến Manjushri như một kho tàng của trí
huệ, khởi phát lòng đại bi của mình qua việc tán thán và
cầu xin Ngài ban cho kết quả của những gì mình mong ước.
Hứa
tạo luận
Theo
sự yêu cầu đặc biệt của Kyap-chok-pel-sang và Sošnam-sang-po,
Tsongkapa hứa tạo ra bản văn vì những lý do đã nói ở trên.
Để làm việc này, ngài cầu xin lòng bi mẫn của những Dakini
Sanh Trong Cõi Phàm, Bẩm Sinh và Sanh Từ Thần Chú ban cho ngài
những công hạnh, như mẹ cho con mình. Những Dakini Sanh Trong
Cõi Phàm thì được sanh ra với thân thể máu thịt ; những
Dakini Bẩm Sinh đã đạt đến sự thực hiện giai đoạn thành
tựu trong Tantra Yoga Tối Thượng ; những Dakini Sanh Từ Thần
Chú chưa đạt đến giai đoạn thành tựu nhưng ở trong sự
thực hiện giai đoạn phát sanh. Theo cách giải thích khác,
những Dakini Sanh Trong Cõi Phàm đã đạt đến tịnh quang về
phía chủ thể (mức độ thứ ba trong năm mức độ của giai
đoạn thành tựu) ; những vị Bẩm Sinh chứng đắc kém hơn
nhưng vẫn còn ở trong giai đoạn thành tựu ; và những vị
Sanh Từ Thần Chú thì ở trong giai đoạn phát sanh. Tsong-kapa
yêu cầu những vị nữ trông coi tantra hãy thương cảm ngài
và chinh phục mọi chướng ngại để cho sự trình bày trong
sáng về giáo lý Mật thừa và, khi thấy mục đích của công
việc ngài làm, ban cho những công hạnh và hoạt động làm
lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
Quy
y
Chúng
ta sống trong một đại dương sanh tử luân hồi mà chiều
sâu và chiều rộng không thể đo lường nổi. Chúng ta bị
quấy nhiễu trở đi trở lại bởi những phiền não của tham
muốn và giận ghét như bị tấn công mãi bởi những con cá
mập.
Những
hợp uẩn của thân tâm chúng ta bị thúc đẩy bởi những
hành động và phiền não ô nhiễm trước kia và là nền tảng
cho khổ đau hiện tại cũng như dẫn đến khổ đau tương
lai. Khi nào sanh tử luân hồi còn kéo dài, chúng ta có nhiều
tư tưởng thích và không thích : ‘Nếu tôi làm điều này
người ta sẽ nghĩ sao ? Nếu tôi không làm, tôi sẽ bị quá
trễ ; tôi sẽ không có lợi gì.’ Khi chúng ta thấy cái gì
thích, chúng ta nghĩ, ‘Ôi, nếu tôi có được nó !’ Chúng
ta thấy những người khác thịnh vượng, và chúng ta khởi
lên ghen tức, không chịu nổi sự thịnh vượng của họ.
Chúng ta thấy một người đàn ông hay đàn bà hấp dẫn, và
chúng ta muốn có một mối quan hệ. Chúng ta không bằng lòng
với một quan hệ ngắn ngủi mà muốn nó kéo dài mãi mãi.
Và rồi khi ở cùng với người đó, chúng ta lại muốn một
người khác. Khi chúng ta thấy ai chúng ta không thích, chúng
ta nổi giận và cãi lộn sau chỉ một lời nói ; chúng ta cảm
thấy không thể ở cạnh con người đáng ghét đó trong một
giờ mà phải tức khắc bỏ đi. Ngày và đêm, đêm và ngày
chúng ta tiêu pha cuộc đời chúng ta với những phiền não,
phát sanh tham muốn với cái thích và giận dữ với cái ghét,
và tiếp tục như thế ngay khi mơ, không thể buông xả nghỉ
ngơi, tâm thức chúng ta hoàn toàn và rốt ráo trộn lẫn với
những tư tưởng thương ghét không ngừng.
Chúng
ta đến với sự nương dựa, quy y nào ? Một nguồn gốc của
sự quy y phải hoàn toàn vượt thắng vĩnh viễn mọi khuyết
điểm ; nó phải thoát khỏi mọi lỗi lầm. Nó cũng phải
có mọi thuộc tính của vị tha – những sở đắc các cái
ấy thì cần thiết cho sự thành tựu lợi lạc của những
người khác. Ai không có hai tiền đề này mà có thể cung
cấp sự quy y thì đáng ngờ ; cũng giống như bị rớt vào
cái hố và nhờ một người khác cũng ở trong đó giúp mình
thoát ra. Bạn cần nhờ một người nào ở ngoài hố để
giúp đỡ ; thật vô nghĩa khi nhờ người cùng tình trạng
bế tắc như mình. Một chỗ nương dựa, quy y có thể che chở
đối với những kinh khủng của khổ đau đa dạng cũng không
thể bị vướng mắc trong khổ đau ấy mà phải là tự do
và không khuyết điểm. Hơn nữa, những chứng đắc trọn
vẹn thì cần thiết, vì nếu bạn rơi vào một cái hố, cũng
vô ích khi tìm kiếm sự giúp đỡ từ người đứng ngoài
hố nhưng họ lại không muốn giúp đỡ hay có muốn giúp mà
không có phương tiện để làm.
Chỉ
có một vị Phật là đã hết mọi khuyết điểm và đạt
được mọi chứng đắc. Bởi thế, người ta cần quy y một
vị Phật với tâm thức mình, tán thán ngài với lời nói,
và tôn kính ngài bằng thân thể mình. Người ta nên đi vào
sự dạy dỗ từ một nhân vật như thế.
Sự
từ bỏ khuyết điểm của một vị Phật thì có ba loại :
tốt, hoàn toàn và không thể đảo ngược. Từ bỏ tốt bao
gồm sự chiến thắng những che ám bằng những đối trị
của chúng, mà không phải bằng cách rút lui khỏi những hoạt
động này. Từ bỏ hoàn toàn không phải là lìa bỏ lặt vặt
một số phiền não hay chỉ những phiền não biểu lộ, mà
lìa bỏ mọi che chướng. Từ bỏ không thể đảo ngược chiến
thắng những hạt giống của phiền não và của những che
chướng khác theo một cách mà những khuyết điểm sẽ không
bao giờ khởi lại được nữa, dầu khi có điều kiện thuận
lợi cho chúng.
Ý
định tán thán Phật giáo của Tsongkapa không phải để xúc
phạm những vị thầy khác như Kapila chẳng hạn. sự tuyên
bố về sự vĩ đại của Phật giáo là để phát triển nhất
tâm qua thực hành, vì để thực hành Phật giáo phải cố
gắng làm điều đó. Người thực hành cần có niềm tin vào
giáo lý Phật từ trong sâu xa của tâm thức mình. Có một
câu nói Tây Tạng rằng người ta không thể may với một cây
kim hai mũi hay hoàn thành được những mục tiêu với một
tâm thức có hai điểm tập trung. Tương tự, nếu một hành
giả lưỡng lự, nó sẽ không đặt sức mạnh lớn lao vào
thực hành bất cứ hệ thống nào. Tsongkapa nêu lên rằng Phật
giáo là cái tốt nhất để cho những người có thể được
giúp đỡ qua việc dấn thân vào con đường Phật giáo hơn
là qua hệ thống khác, không bị chểnh mãng vào một con đường
khác.
Chỉ
có niềm tin vào một nguồn gốc của sự quy y thì không vững
chắc ; trừ phi có một sự hiểu biết chắc chắn, nếu không
bạn chỉ tiếp tục sự xác nhận Phật giáo là tốt. Quy y
không phải là một hành động ủng hộ mà được đặt nền
trên sự phân tích kinh điển nào là hợp lý trí và kinh điển
nào không hợp. Để cho tâm thức dấn mình vào nhất tâm trong
thực hành, cần phải có niềm tin có lý luận rằng chỉ con
đường Phật giáo là không lỗi lầm và có khả năng đưa
đến trạng thái giải thoát toàn triệt khỏi khuyết điểm
và sở hữu mọi chứng đắc tốt lành. Người ta cần dấn
thân vào một sự thẩm xét chân thành, không tham lam và sân
hận và tìm kiếm giáo lý nêu lên những phương tiện đáp
ứng những mục tiêu của người tu hành.
Kết
quả của thực hành là sự thành tựu hai loại mục tiêu :
kết quả tạm thời là một cấp bậc, một địa vị cao và
kết quả tối hậu là cái tốt rốt ráo. Cấp bậc cao ám
chỉ một đời sống làm người hay trời thay vì một thú
vật, một quỷ đói hay một chúng sanh của địa ngục. Cái
tốt rốt ráo là sự giải thoát hoàn toàn khỏi vòng sanh tử
và đạt đến toàn giác của một vị Phật. Phật giáo có
những lời dạy căn cứ cho mỗi cái này cũng như những phương
tiện để thành tựu chúng. Cấp bậc cao được hoàn thành
trước, và cái tốt rốt ráo được hoàn thành sau bởi vì
nó tùy thuộc vào cái trước ; tuy nhiên, sự vững chắc của
kinh điển liên quan đến việc hoàn thành cái tốt tối hậu
phải được chứng minh trước. Khi sự vững chắc của kinh
điển trình bày giải thoát và những phương tiện để thành
tựu nó đã được chứng minh với lý luận và khi niềm tin
của sự hiểu biết vững chắc đã khởi sanh, bấy giờ có
thể đạt được sự tin tưởng với lòng kính trọng vào
tính không thể đảo ngược của những kinh điển dạy về
cấp bậc cao và những phương tiện của nó.
Những
lời dạy của Phật về những hiện tượng không biểu lộ,
như là những trình bày cực kỳ vi tế về hành động và
hậu quả của chúng – là hiện tượng rất ẩn kín – không
thể chứng minh bằng lý luận. Làm sao chúng có thể được
chứng thực ?
Không
cần chứng minh hiện tượng biểu lộ bằng lý luận bởi
vì chúng xuất hiện trực tiếp cho những giác quan. Cái hơi
kín đáo tuy vậy có thể chứng minh với lý luận, nó làm
phát sanh sự hiểu biết do suy luận, và bởi vì tánh Không
thì rất sâu xa nhưng chỉ hơi kín đáo, lý trí phán đoán
có thể xâm nhập. Vậy thì khi niềm tin được phát sanh trong
sự minh bạch rõ ràng của giáo lý tánh Không rất sâu xa,
thì niềm tin đạt được trong sự vững chắc của những
lời dạy của Phật về những hiện tượng rất ẩn kín,
chúng không thể xâm nhập bằng lý luận nhưng cũng không quan
trọng bằng.
Ví
dụ, những chuyện kể về hậu quả của hành động mà đức
Phật nói trong những kinh như Người Trí và Người Ngu (Damamukonamasutra),
chúng ta có thể thắc mắc tại sao có thể như vậy. Bởi
vì đấy là những hiện tượng rất ẩn kín, chúng không thể
chứng minh được bằng lý luận, và có vẻ đức Phật có
thể nói bất cứ điều gì ngài thích. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm
riêng của chúng ta, chúng ta có thể xác nhận những lời dạy
của đức Phật về những chủ đề quan trọng hơn như tánh
Không, Bồ đề tâm, tình thương và lòng bi mẫn, đối với
bất kỳ ai phân tích chúng – Phật giáo hay không phải Phật
giáo – hay phân tích nhiều bao nhiêu, nếu người ấy không
thiên vị vì thương ghét, những lời dạy ấy có thể chịu
đựng sự phân tích và dùng như những nguồn mạch đầy năng
lực của tư tưởng. Khi bạn thấy rằng Phật không lầm lẫn
về những hiện tượng quan trọng hơn này, bạn có thể bắt
đầu chấp nhận những trình bày khác của ngài.
Vài
người nghĩ lầm rằng hiện tượng phiền não của vòng sanh
tử và hiện tượng thanh tịnh của niết bàn không thể chứng
minh được bằng lý luận phán đoán và rằng bởi vì giải
thoát và toàn giác không thể thấy được một cách trực
tiếp, và cũng không biểu lộ, chúng chỉ có thể chứng minh
qua việc trích dẫn kinh điển. Họ chỉ tin vào kinh điển
và đang trưng bày sự thiếu nền tảng của chính họ. Một
tuyên bố quy y như thế chỉ là một phát biểu về sự yếu
kém của sự quy y ấy. Tiến trình của vòng sanh tử và sự
nhổ bật gốc của nó có thể chứng minh bằng lý luận phán
đoán thấy rõ rằng sự hiểu lầm về hiện hữu nội tại
là nguyên nhân căn bản của nó và trí huệ nhận biết tánh
Không là sự đối trị của nó.
Ngay
những kinh điển trình bày những hiện tượng rất ẩn kín,
mà cả hai thứ tri giác trực tiếp và suy luận không thể
xâm nhập, cũng được chứng minh vững chắc bằng ba loại
phân tích. Ba loại phân tích là sự chứng tỏ rằng (1) đoạn
văn không bị phá hỏng bởi sự hiểu biết trực tiếp và
vững chắc trong sự chỉ dạy của nó về những hiện tượng
biểu lộ, (2) đoạn văn không bị phá hỏng với sự suy luận
rõ ràng trong sự chỉ dạy của nó về những hiện tượng
hơi kín đáo và (3) đoạn văn không bị phá hỏng bởi sự
suy luận kinh điển trong sự chỉ dạy của nó về những hiện
tượng rất ẩn kín mà không chứa đựng những mâu thuẫn
nội tại… Như vậy, ngay tiến trình này cũng xuất phát từ
lý luận.
Kinh
điển Phật giáo không có những mâu thuẫn nội tại trong
khi kinh điển không phải Phật giáo thì có. Điều này không
phải nói rằng kinh điển không Phật giáo sẽ không vững
chắc theo một vài nghĩa, mà là chúng có những mâu thuẫn
liên quan đến những hiện tượng bao gồm trong lãnh vực phiền
não và những hiện tượng nằm trong lãnh vực thanh tịnh.
Kinh điển của những nhà Tirthika có những giải thích không
sai lầm về việc làm cách nào để nhập bốn thiền và bốn
định vô sắc giới cũng như những hoàn thành nhỏ của lòng
vị tha. Tuy nhiên, về những mục tiêu chính của con người,
kinh điển của họ chứa đựng những mâu thuẫn nội tại.
Ví dụ họ xác nhận rằng đấng sáng tạo ra thế giới thì
thường còn và rồi xác nhận vòng sanh tử do đấng sáng tạo
ấy tạo ra thì có thể bị chinh phục. Nếu nguyên nhân là
thường còn, kết quả cũng phải thường còn. Tuy nhiên, bởi
vì kết quả là vô thường, thì nguyên nhân cũng phải vô
thường. Bản chất của sự việc là nếu nguyên nhân không
thể bị chinh phục, kết quả cũng không thể bị chinh phục
; như thế sẽ không có một chấm dứt cho vòng sanh tử. Như
Dharmakirti nói :
Bởi
vì cái thường hằng không thể bị chinh phục
Nên
không thể chinh phục được sức mạnh của nó.
Trước
tiên cần chứng tỏ rằng nguồn gốc của vòng sanh tử là
ý niệm của cái ngã – ý niệm về hiện hữu nội tại và
tự thân. Rồi có thể chứng tỏ rằng một hệ thống xác
nhận một quan điểm về tự ngã và bởi thế bác bỏ quan
điểm vô ngã sẽ tự mâu thuẫn khi nó xác nhận sự đạt
được giải thoát khỏi vòng sanh tử.
Điều
này ngụ ý rằng từ quan điểm của hệ thống triết học
cao nhất của Phật giáo là Prasangika-Madhyamika, thì những quan
điểm của các hệ thống thấp hơn – Svatantrika, Chittamatra,
Sautrantika và Vaibhashika – cũng được xem là chứa đựng những
mâu thuẫn nội tại. Theo hệ thống Prasangika-Madhyamika, nguồn
gốc của vòng sanh tử là ý niệm hiện hữu tự thân của
hiện tượng và sự sai lầm từ đó về hiện hữu tự thân
của cái ‘tôi’, gọi cái thấy về hợp thể vô thường
như là một cái ‘tôi’ thực sự. Những hệ thống khác
của Phật giáo xác nhận một hiện hữu tự thân của những
hiện tượng trong khi những nhà Prasangika xác nhận rằng hiện
hữu tự thân là đối tượng quy chiếu của một tâm thức
sai lầm vọng tưởng ra cái ngã. Như thế, sự xác định của
những học phái thấp về giải thoát khỏi vòng sanh tử có
bao gồm một mâu thuẫn có vẻ nội tại, nó chỉ được giải
quyết bằng cách xem lời dạy này như là một giáo lý chưa
rốt ráo được nói cho những người chưa thể hiện được
quan điểm cao nhất.
Con
đường giải thoát loại bỏ những nhiễm ô ngoại sanh khỏi
lãnh vực của Chân Như vốn hằng thanh tịnh, và giải thoát
là trạng thái trong đó những nhiễm ô ngoại sanh này đã
bị loại bỏ. Hình như có những vị thầy đã không biết
sự giải thoát này hay con đường đi đến đó và xiển dương
những hệ thống chưa thoát khỏi vô minh. Kalachakra Tantra, sau
khi nêu lên những hệ thống khác nhau của Phật giáo và không
phải Phật giáo và trình bày với lý luận những ưu điểm
và khuyết điểm của chúng, đã nói, ‘Không nên khinh miệt
hệ thống khác.’ Lý do được đưa ra là thường các hệ
thống không phải Phật giáo được dạy dỗ qua sự ban ơn
cho phép của chư Phật.
Có
những trường hợp các vị thầy giải thích những con đường
chưa thoát khỏi vô minh, nhưng những vị thầy khác lại là
những hóa thân của chư Phật, thoát khỏi mọi khuyết điểm
và đầy đủ mọi chứng đắc. Các vị biết sự khác biệt
giữa những con đường có lỗi lầm và không có lỗi lầm,
nhưng bởi vì trong thời điểm đó không có ý định giảng
dạy con đường không lỗi lầm, các vị nêu ra con đường
chưa rốt ráo, làm ra vẻ không biết cái kia.
Người
có khả năng nên đi trên con đường không lỗi lầm ; tuy nhiên,
với con đường kia là thích hợp, thì con đường kia là đúng.
Chẳng hạn đối với một người có thể thực hành quan điểm
của Chittamatra (Duy Thức) nhưng không thể thực hành quan điểm
Madhyamika (Trung Đạo), thì Chittamatra là không lỗi lầm. Cũng
như vậy đối với những lời dạy không phải Phật giáo.
Bởi thế, những bậc thầy khác, giáo lý của họ, những
hành giả của phái đó có thể là chỗ quy y, nhưng không phải
là những chỗ quy y rốt ráo.
Khi
những niềm tin vào những nguồn gốc quy y được phát sanh
qua sự thẩm xét không thiên vị và lý luận thích đáng, đức
tin trở nên vững chắc và mạnh mẽ. Một đức tin như vậy
không phát sanh nếu chỉ y vào kinh điển. Biện pháp để làm
phát sanh một niềm tin như vậy được nêu lên trong Bảy Khảo
Luận của Dharmakirti – ba cuốn chính và bốn cuốn đi vào
chi tiết. Trong ba cuốn chính, cuốn giải rộng là Bình Luận
về ‘Tóm tắt sự Hiểu Biết Vững Chắc’ của Dignaga ;
cuốn trung bình là Xác Minh sự Hiểu Biết Vững Chắc và cuốn
rút gọn là Hạt của Luận Lý. Bốn cuốn chi tiết là Hạt
của Lý Trí, Phân tích về những Tương Quan, Luận Lý để
Tranh Biện và Chứng Cớ về những Hiện Thể Khác. Niềm tin
bên trong khởi từ nhận xét có lý luận.
Tiểu
thừa và Đại thừa
Cách
thực hành của Thanh Văn hợp theo giới luật của Tiểu thừa,
nhìn với tâm định những sự việc của dục giới là sắc,
thanh, hương, vị, xúc gây thích thú và những sự vật cụ
thể như là tội lỗi. Aryadeva nói rằng những người đi vào
sự thực hành thoát khỏi tham muốn này ‘thích thú cái thấp
nhỏ’ bởi vì con đường này thích hợp với bản chất của
một tâm thức thiếu sức mạnh của một thái độ phi thường
dám đảm đương gánh nặng là sự lợi lạc cho tất cả chúng
sanh. Bởi vì họ không thể thực hành bằng cách sử dụng
sức mạnh lớn lao của tham muốn vào con đường, họ được
dạy một cách thức thoát ngoài tham muốn.
Khi
nào bạn không thể dùng tham muốn vào con đường, có một
nguy hiểm là rơi vào ảnh hưởng của nó, trong trường hợp
này tốt hơn là chỉ đi con đường thoát ngoài tham muốn.
Nếu khác đi, khi bạn thử dùng tham muốn cho con đường bạn
sẽ bị tổn hại thay vì được giúp đỡ. Cấm đoán chỉ
là một cách giải quyết. Đây là cách thức thực hành Tiểu
thừa.
Đối
với người có một sự quan tâm đến sự rộng lớn, những
thực hành Đại thừa Kinh điển về những địa và những
hoàn thiện (ba la mật) được dạy cho ; những cái này gồm
thành Thừa Hoàn Thiện về Nhân. Những người nào, ngoài sự
quan tâm đến cái rộng lớn, có một quan tâm đặc biệt vào
cái sâu xa tối hậu, thì được dạy những thực hành trong
đó tham muốn được sử dụng vào con đường. Đây là Đại
thừa Tantra.
Học
giả Ấn Độ Tripitakamala cũng gồm tất cả sự giáo huấn
của đức Phật vào ba cách thức ấy, Tiểu thừa với bốn
chân lý cao cả, Đại thừa Kinh điển với sáu hoàn thiện
và Đại thừa Tantra với Mật Chú. Như thế, lời dạy của
đức Phật được chia thành hai phần kinh điển của Tiểu
thừa và Đại thừa, và các thừa hay con đường do đức Phật
dạy cũng chia thành hai Tiểu thừa và Đại thừa.
Tiểu
thừa còn chia thành hai thừa, Thanh Văn thừa (Shravakayana) và
Độc Giác thừa (Pratyekabuddhayana). Những vị Độc Giác có
hai loại, tụ họp và giống như tê giác. Những Độc Giác
tụ họp thì nhiều tính xã hội hơn một chút, ở trong một
nhóm hay cộng đồng trong một thời gian dài hơn những vị
giống như tê giác, là những vị không thích hợp ở trong
xã hội và sống một mình. Thanh Văn và Độc Giác đều đã
bỏ ý niệm hiện hữu tự thân, nhưng Độc Giác tích tập
nhiều công đức hơn Thanh Văn, nên bởi thế, khi các ngài
tựu thành quả của thừa mình, có thể trở thành những vị
Diệt Kẻ Thù – kẻ thù là những phiền não, mà cái chính
là ý niệm hiện hữu tự thân – mà không phải nương dựa
vào một vị thầy trong đời ấy. Các ngài thàn tựu quả
Độc Giác ‘một cách độc lập’ qua sức mạnh của sự
tích tập công đức trong cả trăm kiếp. Độc Giác được
nói là rất kiêu hãnh và độc lập. Hầu hết các ngài đạt
đến giác ngộ của mình trong thời đại đen tối khi không
có Phật xuất hiện – có lẽ bởi vì không được chiếu
sáng hơn bằng một sự hiện diện của một đức Phật để
có thể vĩ đại hơn trong việc làm lợi lạc cho những người
khác. Như Nagarjuna nói trong Trung Đạo Luận (XVIII, 12) :
Dù
cho chư Phật không xuất hiện
Và
các Thanh Văn đã biến mất,
Trí
huệ của một vị Độc Giác
Mọc
lên cao không nương dựa.
Cả
hai Thanh Văn và Độc Giác đều tìm kiếm trí huệ hiểu thấu
sự vô tự tánh của mọi hiện tượng – ngã và pháp. Đó
là bởi vì sự ràng buộc chính người ta vào vòng sanh tử
chính là ý niệm hiện hữu tự thân, những mối ràng buộc
khác là những phiền não như tham, sân và vô minh đều dựa
trên ý niệm hiện hữu tự ngã. Theo Mật thừa, những nguyên
nhân ràng buộc người ta vào vòng sanh tử là hai thứ, vô
minh và khí (dòng năng lượng) trong đó cái chính là vô minh
vọng tưởng có tự ngã. Những khí có công dụng như là vật
để cưỡi của tư tưởng ý niệm có tính chất phiền não
là những nguyên nhân cộng tác trong tiến trình của vòng sanh
tử.
Thanh
Văn và Độc Giác hiểu rằng không có trí huệ nhận biết
vô ngã thì không thể vượt thắng sanh tử. Các vị hiểu
rằng các vị cần trí huệ vô ngã này và tìm kiếm nó với
sự đồng hành của giới, định… Qua con đường ấy mọi
phiền não được dập tắt.
Có
bốn trường phái Phật giáo – Vaibhashika, Sautrantika, Chittamatra
và Madhyamika ; cái cao nhất là Madhyamika, nó lại chia thêm thành
Svatantrika-Madhyamika và Prasangika-Madhyamika. Prasangika-Madhyamika
được xem là quan điểm triết học cao nhất, những vị thầy
của nó là Nagarjuna, Aryadeva, Buddhapalita, Chandrakirti, Shantideva,
Atisha… Theo hệ thống Prasangika, các nhà Tiểu thừa – những
vị không thể mang gánh nặng là sự lợi lạc cho tất cả
chúng sanh mà chỉ tìm kiếm sự giải thoát khỏi sanh tử cho
riêng mình – và các nhà Đại thừa – những vị có thể
mang gánh nặng là sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh khắp
suốt không gian – đều thấu biết tánh Không vi tế của
cả ngã và pháp. Họ chứng ngộ rằng cái ta và những hiện
tượng khác, như tâm và thân, không hiện hữu nội tại, hay
hiện hữu tự chúng.
Tuy
nhiên, những trường phái không phải Prasangika đều nói rằng
các nhà Tiểu thừa – Thanh Văn và Độc Giác – chỉ thấu
hiểu tính vô ngã của cái ta tức là sự hiện hữu không
chất thể của con người theo nghĩa một con người không có
một tính chất khác với tính chất của tâm và thân. Từ
quan điểm Prasangika, trí huệ này không đủ là một biện
pháp để giải thoát khỏi vòng sanh tử, và hơn nữa, các
trường phái khác đã không diễn tả hình thức bẩm sinh của
vọng tưởng về con người như là những thực thể hiện
hữu một cách chất thể, mà chỉ là cái giả tạo. Theo các
nhà Prasangika, hình thức bẩm sinh của vọng tưởng thô về
cái ngã này là sự thấu hiểu con người như là người kiểm
soát tâm và thân, như là một ông chủ đối với những người
phục vụ của ông ta, nhưng nó không bao hàm một sự thấu
hiểu về con người như là có một tính cách khác với tâm
và thân. Sự thấu hiểu về con người như là có một tính
cách khác với tâm và thân chỉ xảy ra qua kiến giải của
các học phái không phải Phật giáo, và như thế được gọi
là ‘giả tạo’, không phải ‘bẩm sinh’. Theo quan điểm
của hệ thống Prasangika-Madhyamika, tính vô ngã của con người
được nêu lên bởi các trường phái thấp như thế chỉ là
một vô ngã thô và chỉ là sự phủ định cái ngã được
tưởng lầm bởi một vọng tưởng giả tạo về bản chất
của con người.
Các
hệ thống không phải Prasangika – Svatantrika, Chittamatra, Sautrantika
và Vaibhashika – xác định rằng Thanh Văn và Độc Giác không
nhận biết tính vô ngã của hiện tượng mà chỉ biết tính
vô ngã của con người – rằng con người là không có hiện
hữu chất thể, không tự túc. Họ xác định chỉ qua cái
hiểu biết ấy mà Thanh Văn và Độc Giác đạt giải thoát.
Quan điểm của Tsongkapa thì rõ ràng rằng theo những hệ thống
không phải Prasangika, Thanh Văn và Độc Giác đạt giải thoát
theo cách ấy. Khi ngài diễn tả loại vô ngã mà các vị nhận
biết, ngài nói rằng các vị không biết con người là không
có hiện hữu tự nhiên mà chỉ biết con người là không có
một hiện hữu chất thể như những nhà không phải Phật
giáo gán cho. Có vẻ ngài muốn nói rằng theo chính hệ thống
Vaibhashika và Sautrantika, người ta chỉ cần nhận biết rằng
con người là trống không một thực thể thường còn, toàn
thể và độc lập. Tuy nhiên, chúng ta cần nói rằng những
nhà Svatantrika, Chitta-matra, Sautrantika và Vaibhashika không thừa
nhận rằng sự hiểu biết này về tính trống không một thực
thể thường còn, toàn thể và độc lập của con người khác
biệt với các vọng tưởng bẩm sinh về ngã. Trong hệ thống
của họ, ý niệm về con người như là thường còn, toàn
thể và độc lập chỉ là giả tạo, suy luận do ý thức,
chứ không là bẩm sinh.
Vọng
tưởng bẩm sinh về cái ngã – không bao hàm sự xác định
của lý luận – cột trói chúng sanh vào vòng sanh tử, và
theo những hệ thống ấy nó là ý niệm rằng một người
là một hiện hữu chất thể hay thực thể tự túc. Những
hệ thống không phải Prasangika nói rằng bất kể người ta
thiền định nhiều bao nhiêu về sự vô thường, không toàn
thể, không độc lập của một con người, điều ấy cũng
không trừ dứt ý niệm về hiện hữu chất thể hay tự túc.
Bởi thế, theo họ, Thanh Văn và Độc Giác chỉ nhận ra một
tính vô ngã nó là tính chất không chất thể và không tự
túc của con người. Các vị phải tu hành theo một con đường
như thế và tiến bộ bởi phương cách này.
Ở
đây và trong những chỗ khác, Tsongkapa hình như nói rằng trong
những hệ thống thấp, tính vô ngã vi tế của con người
được diễn tả như là vô thường, không toàn thể và không
độc lập của con người. Nhiều học giả nói rằng Tsongkapa
nhắc đến những ám chỉ về hệ thống thấp như được
nhìn từ quan điểm của Prasangika. Điều này nghĩa là khi các
nhà Prasangika xem xét những lý do chứng minh tính vô ngã được
nêu lên trong các hệ thống thấp, họ tìm ra rằng sự hiện
hữu nội tại hay tự nhiên của con người được công nhận
và sự lý luận của chúng để bác bỏ cái ngã chỉ có khả
năng để bác bỏ sự hiện hữu của một con người nó có
tính cách khác với tính cách của tâm và thân.
Theo
hệ thống Prasangika, nếu người ta không nhận biết tính vô
tự tánh hay sự không có hiện hữu nội tại của con người,
người ta không thể trừ sạch ý niệm về một cái ngã của
con người. Nếu ý niệm hiện hữu nội tại về những hợp
uẩn tâm và thân không vượt qua được, thì ý niệm hiện
hữu nội tại của con người cũng không thể vượt qua. Vòng
sanh tử được hoàn thành qua năng lực của những hành động,
và hành động được hoàn thành qua năng lực của những phiền
não. Bởi thế, chấm dứt những hành động tạo nghiệp phải
đi sau sự chấm dứt phiền não. Và lần lượt, chấm dứt
phiền não phải đi từ sự chấm dứt những ý niệm. Chấm
dứt những ý niệm phải đi từ sự chấm dứt những tạo
tác ý niệm về hiện hữu nội tại, cái này chỉ được
chấm dứt bởi một tâm thức nhận biết tánh Không.
Theo
tư tưởng rốt ráo của những kinh Bát Nhã Ba la mật, giải
thoát khỏi vòng sanh tử quyết định phải bao gồm sự nhận
biết tính vô ngã của cả hai thứ, con người và hiện tượng.
Điều này được dạy không chỉ trong kinh điển Đại thừa
mà cả trong kinh điển Tiểu thừa, dù cho không có trong những
hệ thống của Tiểu thừa, như Vaibhashika và Sautrantika. Tuy
nhiên, có nhiều cách để tiến hành trên con đường được
trình bày trong kinh điển của cả hai thừa, và chúng cần
được phân định cái gì đòi hỏi sự giải thích và cái
gì là rốt ráo. Chẳng hạn, có dạy rằng chỉ qua sự nhận
biết vô ngã thô – sự không có một hiện hữu chất thể
và tự túc của con người – giải thoát có thể đạt được
trong khi nhận biết này cũng như sự nhận biết vô thường,
chỉ có thể huấn luyện cho dòng tâm thức, không thể giải
thoát nó.
Một
cách tổng quát, chúng ta đang ở dưới ảnh hưởng mạnh mẽ
của ý niệm hiện hữu nội tại, và vì nó chúng ta không
muốn được giải thoát khỏi vòng sanh tử. Tuy nhiên, khi chúng
ta thấy rằng mọi cái gì có sanh đều vô thường, điều
này giúp chúng ta tiến đến chỗ chúng ta có thể chinh phục
được ý niệm hiện hữu nội tại. Những người nào chỉ
là pháp khí cho những con đường như vậy, huấn luyện dòng
tâm thức mà không giải thoát nó, là những người tu hành
có khả năng nặng nề chậm chạp. Những người nào cũng
là pháp khí cho con đường giải thoát thì thích hợp cho giáo
lý vô ngã của hiện tượng. Như thế, giữa những người
tu hành Tiểu thừa có hai loại, thô chậm và sắc bén, loại
sau là những người tu hành chủ yếu hay đặc biệt của Tiểu
thừa, nhưng không là đa số.
Người
mẹ, sự hoàn thiện của trí huệ (trí huệ ba la mật), là
nguyên nhân chung cho cả bốn người con, Thanh Văn, Độc Giác,
Bồ tát và Phật ; như thế Tiểu thừa và Đại thừa không
khác nhau trong tri kiến, nhưng khác nhau trong những phương tiện
đi kèm. Đặc biệt, những phương tiện này là những tâm
thức khát ngưỡng và thực hành hướng đến giác ngộ và
công hạnh của sáu hoàn thiện, chỉ tìm thấy trong Đại thừa
chứ không trong Tiểu thừa.
‘Thừa’
(yana) có hai nghĩa : phương tiện nhờ đó người ta tiến bộ
và chỗ đến của sự tiến bộ đó. Đại thừa theo nghĩa
‘thừa’ là nhờ nó người ta tiến bộ, nghĩa là được
thúc đẩy bởi tâm Bồ đề – mong muốn đạt đến giác
ngộ tối thượng cho tất cả chúng sanh, những đối tượng
của ý định hành giả – nghĩa là dấn thân vào sáu sự
hoàn thiện. Những con đường tu hành này là những con đường
của Đại thừa tổng quát, mặc dù Madhyamika và Chittamatra
có những kiến giải khác biệt, hai phái này không khác thừa
vì các thừa thì khác biệt nhau do phương tiện mà phương
tiện – tâm vị tha hướng đến giác ngộ và những thực
hành kèm theo – thì như nhau trong Chittamatra và Madhyamika. Mặc
dù vậy, những người có thể thâm nhập vào tính vô ngã
vi tế của những hiện tượng, như được trình bày trong
Madhyamika, là những người tu hành chủ yếu của Đại thừa.
Phần Mật Chú của Đại thừa, gồm tất cả bốn bộ tantra,
chắc chắn cũng có cùng một động cơ thúc đẩy – phát
tâm vị tha – và những công hạnh – sáu hoàn thiện.
Thấy
rõ lý do và nhu cầu, đức Phật nêu lên nhiều hệ thống
và thừa, nhưng những cái này không do bởi ngài thân thiết
với vài cái và xa lạ với các cái khác. Những hành giả
nghe theo giáo lý của ngài thì có nhiều bẩm tính, khuynh hướng
và khả năng khác nhau, vì thế ngài dạy những phương tiện
thích hợp với mỗi người. Với những ai tạm thời không
có can đảm nỗ lực cho Phật tánh hay không có khả năng đạt
đến Phật tánh vào lúc ấy, đức Phật không nói, ‘Con có
thể đạt được Phật tánh.’ Hơn nữa, ngài nêu ra một
con đường phù hợp với những khả năng của các hành giả.
Đức Phật nói về tình trạng của họ, và mỗi điều ngài
nói là một phương cách rốt ráo đạt đến giác ngộ tối
thượng dù cho ngài không luôn luôn nói rằng những cái ấy
là những phương cách để đạt đến Phật tánh.
Bởi
vì ý định ra đời của một vị Phật là sự thực hiện
trí huệ về Phật tánh của những người khác, những phương
tiện để hiện thực hóa trí huệ này là một thừa, không
có hai thừa. Một vị Phật không dẫn dắt chúng sanh bằng
một thừa không tiến đến Phật tánh ; ngài dựng lập chúng
sanh trong mức độ của chính ngài. Số nhiều thừa được
nêu lên là để thích hợp với những nhu cầu tạm thời.
Câu
hỏi : Maitreya đã dạy rằng nếu người nào gánh vác dòng
Đại thừa có tạm thời vào một địa ngục, điều này cũng
không làm đứt đoạn sự tiến bộ của nó đến giác ngộ
vô thượng. Tuy nhiên, nếu chúng ta bị hấp dẫn bởi những
thực hành Tiểu thừa, dẫn đến thanh bình riêng mình, tìm
kiếm sự cứu giúp và hạnh phúc chỉ cho mình, điều này
sẽ làm đứt đoạn nghiêm trọng tiến bộ của nó đến Phật
tánh. Như thế, theo Maitreya, phát sanh một thái độ Tiểu thừa
là một chướng ngại còn lớn hơn là sanh vào một địa ngục
; như thế thì làm sao có thể nói rằng Tiểu thừa là một
phương tiện dẫn đến Phật tánh ?
Trả
lời : Nếu người ta có khả năng thực hành Đại thừa mà
không thực hành nó, và thay vào đó lại đảm đương những
thực hành Tiểu thừa, hành động này sẽ làm gián đoạn
tiến bộ của nó đến Phật tánh. Không phải nói rằng đối
với tất cả mọi người, phát sanh một thái độ Tiểu thừa
là một chướng ngại cho Phật tánh. Nó chỉ là như vậy đối
với những người có khả năng thực hành con đường Bồ
tát. Nó tùy theo cá nhân.
Tuy
nhiên, Tiểu thừa không phải là một bộ phận của Đại
thừa. Những con đường Tiểu thừa là những phụ trợ của
con đường đến Phật tánh nhưng không phải là những con
đường Đại thừa thực sự. Đại thừa có những con đường
trọn vẹn để đạt đến Phật tánh ; như thế, có sự khác
biệt giữa không trọn vẹn và trọn vẹn, và từ đó là thấp
và cao, giữa Tiểu thừa và Đại thừa. Tiểu thừa là một
thừa tách biệt nhưng không là cứu cánh bởi vì người nào
cũng có Phật tánh, điều này làm cho sự giác ngộ trọn vẹn
là có thể được.
Giáo
lý nói rằng Phật tánh thì hiện diện trong mọi chúng sanh,
cung cấp ‘nguyên nhân chất thể’ cho sự đạt đến Phật
tánh, khơi gợi can đảm. Đây là dòng Phật, trong đó có hai
loại, tự nhiên và chuyển hóa. Dòng Phật tự nhiên là tánh
Không của tâm, và theo Mật Chú, dòng Phật chuyển hóa là
tâm nhiễm ô của tịnh quang được dùng như nguyên nhân của
Phật tánh.
Trong
phái Nyingma cựu dịch, có nói rằng Phật tánh vốn hiện hữu
một cách nguyên sơ trong mỗi người. Giáo lý này chỉ bày
tâm rất vi tế của tịnh quang mà chúng ta hiện thời đang
có trong dòng tương tục của chúng ta ; nó không khác với
tâm của Phật dưới dạng thực thể của tâm bổn hữu căn
bản. Dòng tương tục của tâm bổn hữu căn bản của chúng
ta sẽ trở thành Thân Trí Huệ của một vị Phật ; bởi thế,
hiện giờ đây chúng ta có mọi chất thể cho sự thành tựu
Phật tánh, và chúng ta không phải tìm Phật tánh ở đâu khác.
Đây là một lời dạy rất nổi tiếng và rất có ý nghĩa
trong ngôn ngữ tôn giáo của phái Nyingma.
Nếu
chúng ta nghĩ đến Phật tánh chỉ dưới dạng một tánh Không
vô tự tánh, nó không có ý nghĩa nhiều, vì bấy giờ có thể
nói rằng tánh Không của một cái bình là Phật tánh vì nó
vô tự tánh. Ở đây trong giáo lý Nyingma có sự đề xuất
mạnh mẽ rằng một cái tích cực – tức là tâm của tịnh
quang – là Phật tánh.
Bởi
vì những chất thể làm cho giác ngộ có thể đạt được
thì hiện diện trong dòng tương tục của tất cả chúng sanh
và bởi vì một vị Phật biết những phương tiện dẫn dắt
tất cả những hành giả này qua những cấp bậc của con đường,
nếu ngài dấu đi những phương tiện này đối với họ, thì
ngài đã có lỗi lầm ích kỷ. Tâm ngài sẽ không vô tư. Lòng
bi của ngài sẽ có ngăn ngại. Còn ngược lại thì những
thừa khác nhau mà đức Phật dạy từ đại bi vô biên của
ngài đều là những phương tiện để tựu thành toàn giác.
Bồ
Tát Hạnh của Shantideva nói rằng đức Phật chân thật dạy
rằng ngay cả ong và lừa cũng có thể đạt đến Phật tánh
nếu cố gắng. Bởi thế, vì hiện giờ chúng ta có được
một thân người và đã gặp giáo pháp, nếu chúng ta phát
sanh sức mạnh của nỗ lực can đảm, chẳng lẽ chúng ta không
đạt đến Phật tánh hay sao ?
Kim
Cương thừa
Thừa
Thần Chú Bí Mật được ẩn dấu bởi vì nó không thích hợp
với tâm thức của nhiều người. Những thực hành để thành
tựu những hoạt động làm an bình, tăng trưởng, kiểm soát
và hung nộ, chúng không được trình bày cả trong Thừa Hoàn
Thiện (Sáu ba la mật), đã được dạy trong Mật thừa nhưng
trong tình trạng dấu giếm bởi vì những người với động
cơ không trong sạch sẽ làm hại chính họ và người khác
khi dấn thân vào đó. Nếu dòng tâm thức của người ta chưa
trưởng thành nhờ những thực hành chung cho cả Đại thừa
Kinh điển và Tantra – sự chứng nghiệm khổ, vô thường,
quy y, từ bi, phát tâm Bồ đề, và tánh Không vô tự tánh
– thì sự thực hành của Mật thừa có thể gây tổn hại
vì người ta đảm đương một thực hành cao cấp không thích
hợp với khả năng mình. Bởi thế, sự truyền bá công khai
của nó bị cấm ; hành giả phải giữ bí mật đối với
người không phải là pháp khí của con đường này.
Danh
từ ‘mantra’ (mật chú) có nghĩa là ‘bảo vệ tâm’. Nó
bảo vệ tâm khỏi những hình tướng và ý niệm bình thường.
‘Tâm’ ở đây nói đến tất cả sáu thức – các thức
tai, mũi, lưỡi, thân và ý – chúng được giải thoát, hay
che chở, khỏi thế giới thường tục. Có hai yếu tố trong
tu hành thần chú, kiêu hãnh tự mình như là một hóa thần
bổn tôn và hình tướng sống động của hóa thần bổn tôn
này. Kiêu hãnh thiêng liêng của hóa thần bảo vệ người
ta khỏi sự kiêu hãnh của con người bình thường, thế tục,
và hình tướng thiêng liêng sống động bảo vệ người ta
khỏi những hình tướng bình thường thế gian. Bất cứ cái
gì xuất hiện cho thế gian đều được nhìn như trò chơi
của hóa thần bổn tôn ; ví dụ, bất cứ hình sắc nào cũng
được thấy như sự biến hóa lưu xuất của bổn tôn và
âm thanh nào cũng được nghe như những thần chú của bổn
tôn. Nhờ thế người ta được bảo vệ không rơi vào trong
những hình tướng bình phàm, và qua sự chuyển hóa thái độ
này, sự kiêu hãnh là hóa thần bổn tôn khởi sanh. Sự bảo
vệ như vậy cho tâm cùng với những cam kết và lời nguyện
kèm theo được gọi là sự thực hành thần chú.
Một
cách khác, chữ man trong từ ‘mantra’ được hiểu là ‘sự
hiểu biết về tánh Như’, và tra có gốc từ traya, có nghĩa
là ‘lòng bi bảo vệ cho những người lưu lạc’. Sự giải
thích này được cả bốn bộ tantra chia xẻ, nhưng từ quan
điểm đặc biệt của Tantra Yoga Tối Thượng, lòng bi bảo
vệ cho những người lưu lạc có thể được xem là trí huệ
của đại lạc. Sự giải thích này được nghĩ ra theo một
ngữ nguyên văn cảnh của từ Sanskrit của chữ ‘bi’, karuna,
như là ‘dừng lại sự vui thích.’ Khi người nào phát sanh
lòng bi – sự không thể chịu đựng nỗi khổ đau của chúng
sanh mà không làm gì để cắt bỏ nó, thì niềm vui thích,
sự bình an và buông xả tạm thời dừng lại. Như thế, trong
Tantra Yoga Tối Thượng, danh từ ‘lòng Bi’ (karuna) là để
chỉ sự dừng lại lạc thú của sự xuất thoát tinh túy sinh
lực và ám chỉ đến trí huệ của đại lạc (mahasukha). Đây
là thần chú của nghĩa rốt ráo và hóa thần của nghĩa rốt
ráo.
‘Lòng
bi bảo vệ cho những người lưu lạc’ có thể được giải
thích theo một cách chung cho cả bốn bộ tantra như là sự
kết hợp không dị biệt của trí huệ nhận biết tánh Không
với đại bi, hay một sự kết hợp của trí huệ với phương
tiện – trí huệ hòa hợp với phương tiện và phương tiện
hòa hợp với trí huệ.
‘Thừa’
có thể được xem trong hai phương diện, một thừa quả –
mục đích người ta đi đến – và một thừa nhân – những
phương cách nhờ đó người ta đi đến. Dù cho Kim Cương thừa
có cả thừa nhân và thừa quả, nó vẫn được gọi là Thừa
Quả bởi vì nó thực hành một con đường quán tưởng trong
đó người ta đảm đương một cách tin tưởng bốn sự thanh
tịnh triệt để – nơi chốn một đức Như Lai ở sau khi
giác ngộ viên mãn, thân thể là sự biểu lộ của Trí Huệ
Pháp Thân trong hình thức nhà ở và những người cư trú,
những tài nguyên được hưởng thụ trong cấp độ của Phật
tánh, và những hoạt động tối cao của một vị Phật giáo
hóa chúng sanh. Những cái tương tự với bốn yếu tố này
của trạng thái quả được trau dồi trong thiền định.
Theo
Tantra Yoga Tối Thượng, quả – cách thức của Mật thừa
– là trí huệ của đại lạc, và nhân – cách thức của
sáu hoàn thiện – là trí huệ thấu suốt tánh Không như được
trình bày trong bản văn Trung Đạo. Sự không thể phân chia
của cả hai cái này là ý nghĩa ‘không thể phân chia của
lạc và tánh Không.’
Theo
Tantra Kalachakra, nhân là tánh Không, nhưng tánh không này không
phải là một phủ định về hiện hữu nội tại ; nó là
một phủ định về những phần tử vật lý. Cái này gọi
là ‘hình thể của tánh Không’, hình thể trống không mọi
phần tử vật lý, hình thể vượt khỏi vật chất. Hình tướng
này của tánh Không, được trang hoàng với những tướng chánh
và phụ của một vị Phật trong phương diện cha và mẹ, là
nguyên nhân, và cái lạc bất động tối thượng, nó được
dẫn khởi dựa vào những hình tướng trống không khác nhau,
là quả. Một sự kết hợp của hai cái này là Thừa Nhân-Quả.
Một sự bất khả phân của hình tướng tối thượng của
tánh Không và cái lạc bất động tối thượng trong dòng tương
tục của người học là một ‘thừa’, một cái xe, trong
ý nghĩa là phương cách nhờ đó người ta tiến bộ. Trong
dòng tương tục của một vị không học nữa, một vị Phật,
nó là một thừa, một cái xe theo nghĩa là cái mà người ta
đi đến. Như thế, có hai sự kết hợp của hình tướng tối
thượng của tánh Không và cái lạc bất động tối thượng.
Cách
trình bày sự không phân chia của phương tiện và trí huệ
chỉ có từ quan điểm của Tantra Yoga Tối Thượng, và đặc
biệt trong quan điểm của Tantra Kalachakra. Một giải thích
như vậy không áp dụng cho ba tantra cấp thấp – Hoạt Động,
Thực Hiện và Yoga – bởi vì chúng không có những phương
cách để làm phát sanh đại lạc bất động. Tantra Kalachakra
có sáu phần đoạn : rút lui, tập trung, khí lực và sử dụng,
giữ lại, chánh niệm và đại định. Trong giai đoạn chánh
niệm, một hình tướng của tánh Không được hoàn thành,
và dựa vào nó, cái lạc tối thượng bất động được sanh
ra – đây là giai đoạn đại định. Ba tantra cấp thấp không
có đủ mọi yếu tố gồm trong năm giai đoạn đầu làm nhân
và dĩ nhiên là không có được cái thứ sáu.
Tính
cách không phân chia của phương tiện và trí huệ chỉ ra sự
cần thiết tiến hành với một phương tiện và trí huệ không
tách lìa nhau để đạt đến quả của cái tốt đẹp rốt
ráo, tức là sự giải thoát khỏi vòng sanh tử cũng như toàn
giác. Cách thức tiến bộ này là chung cho mọi thừa, Nhân
và Quả. Trong Thừa Hoàn Thiện (thừa sáu Ba la mật), ‘phương
tiện và trí huệ không tách lìa’ ám chỉ phương tiện kết
hợp với trí huệ và trí huệ kết hợp với phương tiện.
Khi tâm vị tha của giác ngộ được biểu lộ, tâm thực sự
thấu biết tánh Không thì không có mặt, và khi một thấu
biết hiện thực về tánh Không được biểu lộ, một tâm
vị tha của giác ngộ lại không có mặt. Theo Thừa Hoàn Thiện,
không thích hợp chỉ trụ trong định về tánh Không mà không
dấn thân vào các ba la mật như bố thí, trì giới… vào những
lúc khác, và cũng không thích hợp chỉ dấn thân vào những
thực hành các hoàn thiện mà không đi vào thiền định về
tánh Không trong những lúc khác. Bởi vì thế, một thiền giả
của Thừa Hoàn Thiện phải trau dồi một tâm thức thấu biết
tánh Không và rồi, trong sự không tổn giảm sức mạnh của
quán chiếu mọi hiện tượng như một trò huyễn hóa của
nhà huyễn thuật, mà tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục…
Cũng thế, trong sự không tổn giảm sức mạnh của nguyện
vọng vị tha, nó phải tu hành thấu biết tánh Không. Đây
là sự không phân chia của phương tiện và trí huệ trong Thừa
Hoàn Thiện.
Trong
Mật thừa thì sâu xa hơn. Ở đây, sự không phân cách của
phương tiện và trí huệ không có nghĩa là phương tiện và
trí huệ là hai thực thể khác nhau được kết hợp lại ;
mà hơn thế nữa, phương tiện và trí huệ gồm trong một
thực thể. Trong Mật thừa hai cái này là trọn vẹn trong những
phương diện khác nhau của một tâm thức.
Nếu,
như trong Tantra Kalachakra, người ta thừa nhận phương tiện
là hình tướng tối thượng toàn triệt của tánh Không và
trí huệ như là cái lạc tối thượng bất động, thì điều
này không áp dụng chung cho cả bốn tantra. Bởi thế, ý nghĩa
của phương tiện và trí huệ bất phân, hay ‘Kim Cương Thừa’,
áp dụng cho cả bốn tantra là gì ? Sáu cái hoàn thiện được
bao gồm trong phương tiện và trí huệ, và trong Mật thừa,
phương tiện và trí huệ được xem như là một thực thể
của thiền định Vajrasattva. Đây là một tâm thức nhận biết
hình tướng – thân thể của một hóa thần bổn tôn – và
chứng ngộ tánh Không của nó, sự vô tự tánh của nó. Pháp
thiền bất nhị giữa cái sâu xa và cái biểu lộ hình tướng
là thiền định của Vajrasattva. Là một bất khả phân của
phương tiện và trí huệ, đây là một kim cương theo nghĩa
cái mà người ta đạt đến – trong dòng tương tục của
một vị vô học – và theo nghĩa những phương cách nhờ chúng
mà người ta đạt đến – trong dòng tương tục của một
người còn đang học.
Bởi
vì Mật thừa có nhiều phương pháp hay phương tiện thiện
xảo hơn Thừa Hoàn Thiện, nó cũng được gọi là Phương
Tiện Thừa. Bởi vì chính cái quả được lấy dùng như con
đường theo nghĩa người ta hiện thời trau dồi bốn sự thanh
tịnh triệt để – nơi chốn, thân thể, tài nguyên và hoạt
động của trạng thái Quả – nó được gọi là Thừa Quả.
Bởi vì nó phải được thực hành trong sự bí mật cực kỳ,
nó được gọi là Thừa Bí Mật. Bởi vì nó chứa đựng những
đề mục tu hành của những vị Mang Kiến Thức (Thiện tri
thức), nó cũng được gọi là Bộ Phận Kinh Điển của những
vị Mang Kiến Thức.
Những
tantra có thể được xem là bộ phận kinh điển thứ tư vượt
lên ba bộ phận kinh điển của Kinh thừa – Luật, Luận và
Kinh – hay được bao gồm trong ba bộ phận đó. Tuy nhiên,
có lý do chính đáng khi xem chúng như bao gồm trong những bộ
của Luận tạng. Trong Giới, Định, Huệ, đặc trưng của
những tantra về phần sâu xa thì chủ yếu liên quan với tu
hành Định. Bởi vì những tantra chứa đựng những phương
tiện phi thường để thành tựu đại định, chúng trình bày
những phương pháp này nên chúng có thể ở trong Luận tạng.
Trong
những công trình linh tinh của Tsongkapa có một câu hỏi liên
quan đến vấn đề này, và ngài đã trả lời rằng sự khác
biệt về chiều sâu trong các tantra có từ những mức độ
định. Cũng có một khác biệt về tu hành giới luật và một
khác biệt nhỏ về tu hành trí huệ theo loại tâm thức nhận
biết tánh Không, nhưng khác biệt chính thức được tìm thấy
trong thiền định, nó là sự kết hợp của an định (shamatha)
và quán chiếu đặc biệt (vipashyana). Chúng ta hãy thảo luận
về việc này.
Như
được trình bày trong Thừa Hoàn Thiện, sự thành tựu Phật
tánh ít nhất phải trải qua ba vô số kiếp thực hành ; vô
số kiếp thứ nhất trải qua những con đường tích tập và
chuẩn bị. Vô số kiếp thứ hai đi từ địa thứ nhất đến
địa thứ bảy của các địa Bồ tát, chúng được gọi là
không trong sạch bởi vì ý niệm về hiện hữu nội tại chưa
hoàn toàn từ bỏ được. Vô số kiếp thứ ba tích tập công
đức xảy ra ở địa thứ tám, thứ chín và thứ mười, chúng
được gọi là trong sạch bởi vì ý niệm về hiện hữu nội
tại đã hoàn toàn bị vượt bỏ.
Ba
tantra cấp thấp trình bày yoga với những hình tướng và yoga
không với những hình tướng chúng có một phương pháp đặc
biệt để nhanh chóng phát sanh một kết hợp của an định
và quán chiếu đặc biệt, cái này là một trí huệ ‘khởi
từ thiền định’ thấu biết tánh Không. Do đó, sự tích
tập công đức qua vô số kiếp thứ nhất được hoàn thành
trong một thời gian ngắn. Rồi từ địa thứ nhất cho đến
Phật tánh, ba tantra cấp thấp trình bày con đường như trong
Thừa Hoàn Thiện.
Một
người tu hành đặc biệt của Mật thừa ban đầu phát sanh
nguyện vọng vị tha đạt đến giác ngộ tối thượng và
rồi tu hành những con đường của Mật thừa. Ví dụ, theo
Tantra Hoạt Động, nó là cái thấp nhất trong bốn bộ tantra,
một thiền giả đi vào những thực hành như trì tụng có
bốn phần và sau đó thực hành ba sự tập trung – trụ trong
lửa, trụ trong âm thanh và trong sự ban cho giải thoát vào
lúc chấm dứt âm thanh. Trong sự tập trung trụ trong lửa và
trụ trong âm thanh, khả năng định trở nên mãnh liệt. Qua
đó, một định là một kết hợp của an định và quán chiếu
đặc biệt được hoàn thành trong dòng tập trung của nó ban
cho giải thoát vào lúc chấm dứt âm thanh. Đây là một con
đường nhanh hơn để thành tựu an định và quán chiếu đặc
biệt so với cái trong Thừa Hoàn Thiện.
Tantra
Thực Hiện, cái thứ hai trong bốn tantra, cũng có đặc trưng
riêng này về sự thành tựu định, trong khi Tantra Yoga và Tantra
Yoga Tối Thượng còn có những kỹ thuật sâu xa hơn của định
để hoàn thành một kết hợp của an định và quán chiếu
đặc biệt. Như thế, dù có một sự khác biệt giữa Thừa
Hoàn Thiện và Mật thừa liên quan đến tu hành giới luật,
sự khác biệt trỗi bật là về sự tu hành định.
Tịnh
quang
‘Tantra’
có nghĩa là ‘dòng’, như một dòng suối, trong ấy có ba
loại : nền tảng, con đường và quả. Tantra nền tảng là
con người đang thực hành. Theo Guhyasamaja, một Tantra Yoga Tối
Thượng, có năm dòng phái con người – hoa sen trắng, utpala,
hoa sen, gỗ đàn hương, và ngọc, cái chót là con người tối
cao. Dòng tương tục nền tảng cũng là dòng phái an trụ tự
nhiên, yếu tố Phật tánh, tinh túy của Như Lai Tạng. Nó được
gọi là nền tảng bởi vì nó là căn cứ cho sự hoạt động
của con đường.
Tantra
con đường là những con đường tịnh hóa nền tảng ấy.
Theo ba tantra cấp thấp, đó là những yoga có hình tướng và
yoga không hình tướng và theo Tantra Yoga Tối Thượng, là những
giai đoạn phát sanh và thành tựu tịnh hóa những nhiễm ô
dính bám nơi Chân Như của tâm.
Tantra
quả là trạng thái của kết quả, Pháp thân, sự diệt mất
hoàn toàn mọi nhiễm ô như là một Vajradhara. Ba tantra – nền
tảng, con đường và quả – chứa đựng những chủ đề
và ý nghĩa của tất cả các bộ tantra, và những dòng tương
tục của lời nói (bản văn) diễn tả những chủ đề này
được gọi là những tantra lời nói diễn tả, chúng được
chia thành bộ hay nhóm.
Thừa
Hoàn Thiện chỉ là sự tu hành tâm vị tha của giác ngộ và
sáu ba la mật ; nó không trình bày rõ ràng một cách nào khác
để tiến bộ trên con đường. Mật thừa lấy những cái
ấy làm căn bản của nó nhưng có thêm những con đường riêng
biệt khác. Bởi vì Mật thừa cũng có sự thực hành tâm Bồ
đề và tu hành sáu ba la mật, nên Tsongkapa nói rằng Thừa
Hoàn Thiện chỉ có những con đường ấy.
Không
có khác biệt giữa Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa về hai
mục tiêu của sự phát tâm Bồ đề – ý định là lợi lạc
của những chúng sanh khác và mục tiêu tiến hành là sự đạt
đến Phật tánh của mình. Hành giả của Kinh và Mật đều
mong muốn giác ngộ tối thượng vì lợi lạc cho người khác
và công nhận cùng một quả, là Phật tánh diệt mất mọi
lỗi lầm và đầy đủ mọi phẩm tính tốt lành.
Cũng
không có khác biệt trong kiến giải, vì Mật thừa không giải
thích một kiến giải trung đạo vượt hơn cái đã được
Nagarjuna trình bày Thừa Hoàn Thiện. Ngay cả nếu có một khác
biệt trong kiến giải, thì cái khác biệt ấy cũng không thể
dùng để phân chia hai thừa bởi vì Chittamatra (Duy Thức) và
Madhyamika (Trung Đạo) hai kiến giải khác nhau này, đều tương
hợp trong một thừa.
Sự
khác biệt trong hai thừa phải được xác định bởi hoặc
là trí huệ hay phương tiện. Bởi vì trí huệ thấu suốt
tánh Không là người mẹ chung của cả bốn đứa con : Thanh
Văn, Độc Giác, Bồ tát và Phật – Tiểu thừa và Đại thừa
khác biệt bởi phương tiện, không phải bởi trí huệ. Cùng
lý do ấy, Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa cũng khác biệt bởi
phương tiện, không bởi trí huệ.
Tsongkapa
nói rằng không có khác biệt trong tri kiến giữa Tiểu thừa
và Đại thừa và trong Đại thừa, giữa Thừa Hoàn Thiện
và Mật thừa. Ngài ám chỉ đến ‘tri kiến’ trong dạng
đối tượng, là tánh Không – cái tịnh quang đối tượng
– chứ không về tâm thức trí huệ thấu biết tánh Không
– cái tịnh quang chủ thể. Pandita Sakya của phái Sakya cũng
chủ trương rằng Mật thừa không có một tri kiến khác với
Thừa Hoàn Thiện, và nếu có, thì quan điểm này phải ẩn
chứa những tư duy nhị nguyên. Bởi vì tri kiến của Madhyamika
đã vượt khỏi những giới hạn của tư duy, nên một tri
kiến khác với nó phải bao hàm trong nó.
Trong
phái Nyingma cựu dịch có nói đến một khác biệt trong tri
kiến giữa Kinh và Mật, nhưng sự khác biệt này chủ yếu
liên quan đến chủ thể. Nyingma không phân biệt rõ giữa chủ
thể – tâm thức trí huệ – và đối tượng – tánh Không
– bởi vì trên những mức độ cao hơn của con đường, chủ
thể và đối tượng hòa lẫn không phân biệt trong một thực
thể và chỉ có thể phân biệt trên ngôn từ. Trong thiền
định về tánh Không, chủ thể và đối tượng trở thành
một thực thể bất khả phân, và vì sự diễn tả và ý niệm
bình thường của chúng ta không thể truyền đạt trạng thái
này, nó được gọi là ‘không thể nghĩ’ và ‘không thể
diễn tả’. Đây là một sự không phân chia của phương tiện
và trí huệ vượt qua mọi giới hạn của những tạo tác
tư tưởng, một không thể phân chia của Lạc và Không, một
không thể phân chia của hai chân lý, một hợp nhất. Đây
là những từ tốt nhất để diễn tả và cần được thấu
hiểu ; không có những diễn tả rất sâu xa này thì mọi sự
ngôn từ hóa đều không đầy đủ. Trong bối cảnh không phân
chia giữa tịnh quang đối tượng và tịnh quang chủ thể,
các nhà Nyingmapa nhấn mạnh sự không thể phân chia này khi
họ nói về tri kiến. Như thế, theo quan điểm này quả thực
có một sự khác biệt giữa Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa.
Như
Jam-yang-shay-ba của phái Gelukpa nói, tịnh quang đối tượng
– tánh Không, đối tượng chính yếu – được dạy trong
kinh giống như trong tantra, nhưng tịnh quang chủ thể – tâm
bổn nhiên căn bản cùng cực vi tế của tịnh quang – chỉ
được dạy trong Tantra Yoga Tối Thượng, ngay trong ba tantra
cấp thấp cũng không có, và dĩ nhiên, không có trong Thừa
Hoàn Thiện. Bởi thế tri kiến thoát khỏi những tạo tác
của tư tưởng thường được đề cập đến trong phái Nyingma
cựu dịch ám chỉ đến yếu tố tịnh quang không có chút
phân chia nào giữa chủ thể và đối tượng. Cái này gọi
là cái thanh tịnh bản chất, nó là một sự phủ định xác
định, không phải là một phủ định không-xác-định như
tánh Không.
Trong
những cuốn sách của những phái tân dịch, tịnh quang này
được gọi là giai đoạn thành tựu của tịnh quang tối hậu,
hay còn được gọi là chân lý tối hậu. Chẳng hạn trong
Thừa Hoàn Thiện, những nhà Svatantrika-Madhyamika trình bày một
chân lý tối hậu theo lối ẩn dụ ám chỉ đến một tâm
nó có đối tượng là tánh Không. Tương tự, khi Tantra Yoga
Tối Thượng trình bày giai đoạn quy ước của sự thành tựu
– thân huyễn – và một giai đoạn tối hậu của sự thành
tựu – tịnh quang – thì từ ‘tối hậu’ không nhằm chỉ
đối tượng là tánh Không mà để chỉ chủ thể thấu biết
tánh Không. Lý do của điều này là tâm đã trở nên không
thể chia tách khỏi đối tượng của nó, tánh Không, và như
vậy nó được gọi là một chân lý tối hậu hay một chân
lý tối hậu theo lối ẩn dụ. Theo cách ấy từ ‘chân lý
tối hậu’ cũng được dùng thường xuyên trong các sách của
những phái tân dịch để nhằm chỉ một cái gì hơn cả tánh
Không.
Trong
bối cảnh này, có một sự khác biệt trong tri kiến giữa
Kinh và Mật. Bởi thế, khi Tsongkapa nói rằng về tri kiến
của trung đạo, không có sự trình bày nào cao hơn của Nagarjuna
trong Trung Đạo Luận, ngài đang nói đến tịnh quang đối
tượng là tánh Không. Nó thoát khỏi mọi tạo tác nhị nguyên,
và như Pandita Sakya nói, không có sự khác biệt nào giữa Kinh
và Mật về phương diện này.
Thừa
Hoàn Thiện và Mật thừa cũng không thể phân chia bởi sáu
cái hoàn thiện. Trong Mật thừa, cần thiết phải tu hành bố
thí, trì giới, nhẫn nhục… sáu thời mỗi ngày, chia một
ngày thành sáu phần. Không làm việc này thì xem như vi phạm.
Bởi thế, sự có mặt hay vắng mặt việc thực hành sáu cái
hoàn thiện không thể phân biệt hai thừa.
Con
đường căn bản để thành tựu Sắc Thân của một vị Phật
là phương tiện – tâm vị tha của giác ngộ được khơi
dậy từ lòng từ bi. Con đường căn bản cho sự thành tựu
Pháp thân của một vị Phật là trí huệ thấu biết tánh
Không. Trong Kinh và Mật không có khác biệt về hai con đường
căn bản này. Như thế, từ quan điểm của con đường để
thực hành, nền tảng của nó – phát tâm vị tha – và những
công hạnh của nó – sáu cái hoàn thiện gồm cả trí huệ
thấu biết tánh Không – không có gì khác biệt. Cũng thế,
những khác biệt nhỏ trong con đường không thể là những
yếu tố phân biệt Thừa Hoàn Thiện và Mật thừa.
Hai
thừa không thể phân biệt theo hành giả từ quan điểm cấp
bậc lợi căn hay độn căn, vì nếu thế thì chính Thừa Hoàn
Thiện cũng phải được phân chia thành nhiều thừa. Sự nhanh
hay chậm trong tiến bộ của hành giả trên con đường cũng
không thể dùng như những yếu tố phân biệt vì có nhiều
khác biệt về tốc độ đã được nêu ra trong Thừa Hoàn
Thiện. Vậy thì hai thừa được phân biệt bằng cách nào
? Một số người nói rằng sự khác biệt giữa Kinh và Mật
là Mật được dạy cho những ai có thể dùng tham muốn như
một sự giúp đỡ vào con đường trong khi Thừa Hoàn Thiện
được dạy để thuần hóa những con người trong bối cảnh
từ bỏ khỏi tham muốn. Ý kiến này sai vì cả hai Thừa Hoàn
Thiện và Mật thừa đều có những phương thức tiến đi
trên con đường mà không từ bỏ tham muốn và cả hai đều
có những cách thức tiến bộ bằng cách trau dồi sự từ
bỏ tham muốn. Trong kinh có nói rằng chỗ dơ bẩn của một
thành phố thì tốt cho cánh đồng trồng mía cũng như người
biết cách dùng làm sao một chất mà tự nó không ích lợi,
cũng thế những phiền não có thể ích lợi trong con đường.
Nếu người ta biết dùng như thế nào những phiền não cho
sự lợi lạc của những người khác, chúng có thể dùng như
những giúp đỡ trong việc tích tập công đức, và trong ý
nghĩa này, tham muốn không nhất định phải được tránh né,
dù đứng từ quan điểm sự tác hại của phiền não thì thật
ra chúng cần phải được từ bỏ.
Những
Bồ tát của Kinh còn chưa hoàn toàn từ bỏ hết phiền não
về tham muốn và giận dữ có thể dùng chúng cho lợi lạc
của những người khác, như trong trường hợp những vị Bồ
tát làm vua đã sinh nhiều con để làm tăng thêm sự thịnh
vượng của xứ sở nhờ vào sự làm việc của những đứa
con mình. Ở đây những phiền não tác động như những nguyên
nhân phụ trong sự giúp đỡ người khác.
Cũng
như trong thực hành của Kinh có những trường hợp khi các
Bồ tát chủ định không từ bỏ phiền não mà dùng chúng
như những sự giúp đỡ, trong thực hành của Mật cũng vậy,
tùy theo thời gian và hoàn cảnh, các Bồ tát dùng những phiền
não. Tuy nhiên, trong những dịp khi không có mục tiêu cho tham
hay sân, một hành giả Mật thừa phải chủ định tìm cách
từ bỏ chúng. Nếu để là một hành giả Mật thừa, người
ta không tất yếu phải từ bỏ tham và sân, thì cũng không
có cơ may nào thành Phật bằng con đường Mật thừa.
Những
người khác chủ trương quan điểm tinh tế hơn rằng sự phân
chia giữa Kinh và Mật được xác định bởi những người
tu hành đặc biệt hay chủ yếu ban đầu đi vào các thừa
này có thể hay không sử dụng được tham muốn như một trợ
giúp cho con đường. Nói chung, đúng là dùng bốn loại hoan
hỷ khởi từ bốn loại lạc thú – nhìn, cười, ôm ấp,
và kết hợp – như những hoàn cảnh thuận lợi cho việc
bồi đắp con đường có ở trong bốn bộ tantra. Như thế,
với những hành giả sơ cơ của Thừa Hoàn Thiện và Mật
thừa có thể nói một bên không thể và bên kia có thể dùng
những tham muốn như vậy vào con đường. Tuy nhiên, điều
này không thể ấn định như yếu tố phân biệt giữa hai
thừa. Dù nó có chỉ ra