Nếu
tính từ ngày Gallieo huớng kính thiên văn tự chế của mình
vào không gian để quan sát cơ cấu vận hành của các hành
tinh trong vũ trụ, cho đến ngày hôm nay thì tư duy và phương
pháp luận của khoa học hiện đại chỉ ra đời non 400 năm.
Khi cuộc cách mạng khoa học nổ ra ở đầu thế kỷ 20 mang
đến cho nhân loại bộ môn cơ học lượng tử giải thích
bản chất của những vật nhỏ nhất như hạt sơ cấp và
Thuyết Tương Đối của Einstein giải thích những vật to nhất
như vũ trụ, sự giao lưu giữa khoa học và tôn giáo nhất
là Ki-Tô giáo liên quan đến việc hiện hữu của con người
và vũ trụ đi đến một tình trạng gần như bế tắc. Cuộc
tranh luận của phe Sáng Thế và phe Tiến Hóa không đưa đến
một kết luận nào có thể thỏa hiệp mà càng lúc lại càng
gay gắt. Sự xuất hiện gần đây của lập luận "thiết kế
thông minh" (intelligent design) chẳng qua là một chiêu thức sáo
mòn "bình mới rượu cũ" để duy trì cái quan điểm rằng
vì con người và thiên nhiên là những cấu tạo quá ư phức
tạp cho nên phải có người thiết kế toàn năng để hình
thành. Cụm từ "Chúa của những lỗ hổng" (God of the gaps)
ám chỉ những điều chưa được khoa học giải thích thì
ở đấy Chúa xuất hiện. Nhưng trên thực tế thì những lỗ
hổng của tri thức con người về thiên nhiên không chứng
tỏ có điều gì liên hệ đến Chúa. Luận điểm "thiết kế
thông minh" đã được một nhà khoa học phê bình một cách
hài hước là "người thiết kế tòan năng" kia chẳng qua là
"con nai biết bay" [1]!
Trước
những thành quả vượt bực trong khoa học nhất là trong vật
lý và sinh học, một câu hỏi lớn được đặt ra là có một
tôn giáo nào có thể dung hòa với khoa học trên khía cạnh
phương pháp luận và nhận thức luận. Hay nói một cách đơn
giản hơn là có một hệ thống triết học tâm linh nào cùng
đứng trên một tiền đề với khoa học chấp nhận sự phi
hiện hữu của một Đấng Tối Cao toàn năng. Phật Giáo như
là một lựa chọn tất nhiên cho việc đối thoại giữa khoa
học và tôn giáo vì cả hai cùng chia sẻ một số điểm căn
bản. Từ những nền tảng chung nầy, sự giao lưu sẽ phá
bỏ hàng rào phân biệt biểu kiến giữa hai lĩnh vực và xa
hơn nữa cho khoa học cái tính nhân bản và cho Phật Giáo một
khuôn mặt khoa học ở thế kỷ 21. Thiên tài Einstein đã từng
tiên đoán "Nếu có một tôn giáo có thể đáp ứng được
những nhu cầu của khoa học hiện đại, tôn giáo đó có lẽ
là Phật Giáo". Sự dung hòa giữa Phật Giáo và khoa học xảy
ra một cách tất nhiên bởi vì trong sự suy luận cả hai được
đặt trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan và sự tự
do diễn đạt tư tưởng không bị một áp đặt nào từ một
thế lực bên ngoài hay bên trên chi phối. Nó cũng xảy một
cách tự nhiên bởi sự lan tỏa rộng khắp của khoa học kỹ
thuật đến các nước phương Đông nhất là tại Ấn Độ
và Trung Quốc nơi đã từng là cái nôi của nền văn minh nhân
loại, và cũng bởi nhu cầu mạnh mẽ tìm hiểu Phật Giáo
tại các nước phương Tây.
Quyển
"The Quantum and the Lotus" (Lượng tử và Hoa sen) so sánh phương
pháp suy luận và những tư tưởng cơ bản giữa Phật Giáo
và khoa học. Quyển sách ghi lại cuộc đối thoại thú vị
giữa tiến sĩ Matthieu Ricard và giáo sư Trịnh Xuân Thuận.
Tác giả Ricard là một thiền sư Phật Giáo Tây Tạng với
học vị tiến sĩ về sinh học phân tử. Tác giả Trịnh Xuân
Thuận là giáo sư vật lý thiên văn xuất thân từ một gia
đình Phật Giáo. Trước quyển "The Quantum and the Lotus" cũng
đã có những công trình tương tự so sánh khoa học và tư
tưởng phương Đông. Ở giữa thập niên 70, quyển sách nổi
tiếng "The Tao of Physics" (Cái Đạo của Vật Lý) của Fritjof
Capra được dịch ra 23 ngôn ngữ đã tạo ra một phong trào
tìm hiểu tư tưởng phương Đông qua lăng kính khoa học. Cách
đây mười năm, tác giả Trịnh Nguyên Phước đã viết một
bài tiểu luận so sánh Phật Giáo và khoa học [2]. Quyển "The
Quantum and the Lotus" có lẽ là tác phẩm đầu tiên so sánh hai
lĩnh vực một cách có hệ thống và mạch lạc. Trong tất
cả 15 chương sách, tác giả Ricard - người đại diện Phật
Giáo trong quyển sách, và tác giả Trịnh Xuân Thuận - người
đại diện khoa học, khảo luận những điểm tương đồng
của hai lĩnh vực để trả lời những vấn đề hóc búa từ
vũ trụ đến con người, từ khoa học đến mỹ học.
Tôi
đọc với một thái độ của người làm công tác khoa học
nhưng vừa mới chập chững tìm hiểu Phật Giáo. Quyển sách
nầy không dễ đọc bởi nó đòi hỏi độc giả phải có
khái niệm cơ bản về hai môn học: cơ học lượng tử và
Phật Học. Tuy nhiên, trên bình diện nhận thức luận quyển
sách cho tôi nhiều ngạc nhiên thú vị về lý luận Phật Giáo
và những lời dạy của Đức Phật cách đây 2500 năm trước.
Trong toàn bộ cuộc đối thoại, tác giả Ricard dựa trên một
số khái niệm cơ bản Phật Học để đối chiếu với cơ
học lượng tử mà theo chỗ tôi hiểu là: luật Nhân Quả,
tính Không, giác ngộ, duyên sinh, duyên khởi, vô ngã, vô thường.
Những khái niệm nầy cho thấy Đức Phật tôn trọng tính
khách quan và cảnh giác sự cuồng tín. Thật vậy, đối với
các môn đệ ngài đã nhiều lần dạy rằng "Hãy thực chứng
những lời dạy của ta như các ngươi khảo nghiệm sự chân
giả của vàng. Hãy chà xát vào đá, đập nó, nấu chảy nó.
Đừng chấp nhận lời dạy của ta chỉ vì sự tôn kính đối
với ta. Chỉ chấp nhận nó khi các ngươi thấy nó là sự
thật" (trang 10). Lời dạy nầy chứng tỏ Đức Phật đã đi
trước khoa học hàng ngàn năm trong phương pháp luận và tư
duy.
Từ
bản chất và mục đích, Phật Giáo và khoa học mang những
đặc tính khác nhau nhưng không phải vì thế mà không thể
bổ sung cho nhau. "Ở ngã tư đường" (Chương 1) nơi gặp gỡ
giữa Phật Giáo và khoa học, hai tác giả đặt vấn đề đạo
đức trong khoa học, thái độ đạo đức của người làm
khoa học, thảo luận những phương diện mà Phật Giáo có
thể hỗ trợ cho khoa học. Mặt khác, Phật Giáo cũng có những
thắc mắc cơ bản khoa học. Liệu vật lý có thể giúp Phật
Giáo lý giải sâu xa hơn về thực tại thiên nhiên. Triết
học Phật Giáo mang tính chất định tính (qualitative) tổng
kết những khái niệm cơ bản dựa trên kinh nghiệm để giáo
huấn giác ngộ chúng sinh hiểu được những nguyên nhân của
sự đau khổ mà thoát ra khỏi định luật tự nhiên "sinh lão
bịnh tử" và vòng luân hồi của cõi ta bà dẫn đến cõi
tịnh độ Niết Bàn. Ngược lại, khoa học là một hệ thống
định lượng (quantitative) xác nhận sự vật hay sự kiện
bằng một con số hay phương trình toán học. Trong quá trình
đưa đến một kết quả định lượng nhà khoa học phải
nhìn sự vật một cách khách quan lạnh lùng, truy tìm bản
thể của sự vật bằng phương pháp thực nghiệm, bằng sự
suy luận mang tính phân tích và tổng hợp. Một kết quả khoa
học phải có tính khách quan vượt thời gian và không gian.
Nếu không còn những giá trị nầy kết quả khoa học phải
được tu chỉnh để thích hợp.
Mục
đích của Phật Giáo là giáo dục và giác ngộ con người
để nâng cao đạo đức, biết phân biệt thiện ác. Ngôn ngữ
của Phật giáo là một ngôn ngữ của hòa bình, vị tha và
độ lượng. Mục đích của khoa học là sự tôn trọng tuyệt
đối tính khách quan nhưng chung qui chỉ dừng ở chỗ tìm hiểu
nguyên nhân của sự vật, quy luật tự nhiên mà không phân
biệt thiện ác, không thương không ghét, không đề cập vấn
đề đạo đức. Hệ quả là khoa học có thể trở thành công
cụ của những tập đoàn chính trị sinh ra những khoa học
gia cực ác như bác sĩ Ishii trong chiến tranh thế giới thứ
2 [3]; nhưng nhân loại cũng có những khoa học gia cực thiện
như giáo sư Howard Florey người Úc chế tạo ra penicillin [4].
Giữa hai đối cực nầy là một loạt khoa học gia làm việc
với những mục đích khác nhau đã được định sẵn bởi
ông chủ của nguồn lương bổng! Einstein có lần hóm hỉnh
phê bình "Khoa học sẽ là một thứ tuyệt vời, nếu người
ta không phải nhờ vào nó để mưu sinh".
Sự
khiếm khuyết đạo đức cũng được thấy qua cái thói ham
danh, kiêu ngạo, ganh tị, ích kỷ, nhiều tham vọng của một
số người làm khoa học. Lắm lúc cái "tham, sân, si" này còn
tệ hơn người bình thường. Và đây là những nguyên nhân
đưa đến những tệ nạn thường thấy trong các cơ quan nghiên
cứu khoa học như tranh giành công lao của đồng nghiệp, dùng
những thủ đoạn "chính trị" để chèn ép đồng nghiệp có
khả năng, giấu nghề, chà đạp nguyên tắc khách quan của
khoa học, bẻ cong hoặc ngụy tạo kết quả thí nghiệm. Tất
cả chỉ vì sự thăng tiến và tiếng tăm của mình. Trường
hợp ngụy tạo kết quả gần đây của Woo Suk Hwang [5] và
Jan Schön [6] là hai thí dụ điển hình.
"Vũ
trụ có một khởi thủy ban đầu hay không? Có cần đến một
Đấng Sáng Tạo hay không?" là những đề tài của Chương
2 và Chương 3. Vụ nổ lớn nguyên thủy (Big Bang) gần 15 tỷ
năm trước là nguồn gốc phát sinh ra vũ trụ bao gồm vật
chất, thời gian và không gian. Cơ học lượng tử đã chứng
minh sự không cần thiết của một Đấng Sáng Tạo. Với một
kết luận tương tự, luật Nhân Quả và duyên sinh không chấp
nhận một khởi điểm nguyên thủy với khái niệm nổ "đùng"
một cái vạn vật đều hiện hữu từ cái không có (trang
27). Vạn vật xảy ra vì một nguyên nhân và sự tương thuộc.
Theo luật Nhân Quả và duyên sinh, Big Bang chỉ là một giai
đoạn của một chuỗi sự kiện vô thủy vô chung. Theo tác
giả Trịnh Xuân Thuận, cơ học lượng tử chỉ cho ta biết
vũ trụ ở thời điểm 10-43 giây sau Big Bang - rất gần thời
điểm zero nhưng chưa phải là zero, lúc đó vũ trụ chỉ là
một điểm cực nhỏ có kích thước cỡ 10-33 cm. Hai con số
nầy là thời gian và chiều dài Planck và cũng là giới hạn
đo lường của vật lý hiện đại. Chưa ai có thể phỏng
đoán được sự kiện gì đã xảy ra "trước" thời điểm
zero của Big Bang. Khoa học không suy diễn mông lung những sự
kiện chưa có thể kiểm chứng được. Tuy nhiên, hiện nay
có một số nhà vật lý đang nỗ lực tạo dựng những lý
thuyết "tiền Big Bang" (pre-Big Bang theories) để tiên đoán cái
gì "hiện hữu" trước đó.
Dù
phủ nhận hiện diện của một Đấng Sáng Tạo, tác giả
Trịnh Xuân Thuận vẫn còn băn khoăn trước sự hình thành
của vũ trụ dựa vào những điều kiện ban đầu được biểu
hiện qua 15 hằng số (trang 39). Một hằng số điển hình là
vận tốc ánh sáng (299792 km/s), sau đó là hằng số vạn vật
hấp dẫn Newton, G (6.67 x 10-11 Nm2/kg2), hằng số Planck, h (6.625
x 10-34 Js), khối lượng của electron (9.1091 x 10-31 kg), của
proton, điện tích electron..... Những hằng số nầy bất biến
đối với thời gian và không gian. Nếu có người ngoài hành
tinh sống ở một thiên hà khác cũng sẽ đo được những
hằng số nầy. Những hằng số nầy đòi hỏi một sự chính
xác kỳ diệu cho sự tồn tại của vũ trụ chúng ta đang có
hiện tại. Chẳng hạn nếu G nhỏ hơn một chút thì vũ trụ
chỉ là những đám khí hydrogen không tạo được hành tinh,
G lớn hơn một chút thì vũ trụ sẽ nhanh chóng co lại ngay
từ lúc sơ sinh. Ở cả hai trường hợp vũ trụ sẽ hoàn toàn
khác và con người sẽ không hiện hữu. Thậm chí, các con
số nầy cũng chi phối kích thước và khối lượng của mọi
vật trên quả điạ cầu. Chiều cao con người không thể vượt
quá 2 m, núi cao nhất không thể cao hơn 8 km, trái đất quay
với vận tốc vừa phải sao cho đúng với kích thước của
mình đưa đến một ngày địa cầu là 24 tiếng [7]. Với 15
con số kỳ diệu nầy, vũ trụ được điều chỉnh một cách
chính xác nên con người hiện hữu và và từ đó ý thức
(consciousness) được thành hình.
Sự
điều chỉnh vô cùng chính xác ngay từ ban đầu của vũ trụ
là một việc có chủ ý hay một việc thuần ngẫu nhiên? Tác
giả Trịnh Xuân Thuận đề cập đến thuyết đa vũ trụ mà
trong đó nhiều vũ trụ được thành hình với một loạt hằng
số khác nhau nhưng chỉ có vũ trụ của chúng ta "thắng lớn"
như trúng số độc đắc bằng 15 hằng số rất hài hòa. Tuy
nhiên, cá nhân tác giả Trịnh Xuân Thuận không tin vào thuyết
đa vũ trụ trong đó vũ trụ chúng ta ngẫu nhiên thành hình
và sự sống ngẫu nhiên xuất hiện (trang 50). Cái "ngẫu nhiên"
nầy đầy kịch tính nhiều gấp vạn lần hơn cả phim ảnh
Hollywood hay phim chưởng Hong Kong trong đó người hùng sẽ xuất
hiện đúng lúc để cứu người đẹp ra khỏi những bàn tay
thô bạo, hoặc như trong phim "Dr Zhivago" khi Zhivago nhìn qua cửa
sổ xe bus "ngẫu nhiên" nhìn thấy Lara đang đi trên phố, chàng
vội nhảy ra khỏi xe lao về hướng của nàng nhưng lại quá
xúc động "ngẫu nhiên" đột quỵ trên đường để rồi mãi
mãi không gặp được nàng.... Theo ông sự ngẫu nhiên không
thể nào cho chúng ta 15 hằng số trên (trang 50). Như vậy, nếu
không phải ngẫu nhiên thì vũ trụ và sự sống xuất hiện
với một chủ ý. Nhưng tác giả Trịnh Xuân Thuận nhanh chóng
biện luận rằng vì đã có nhiều bằng cớ phủ nhận sự
hiện diện của một Đấng Sáng Tạo, "chủ ý" ở đây có
nghĩa là một "nguyên lý tổ chức" (principle of organization)
- không phải là Chúa được nhân cách hóa trong ý nghĩa cổ
điển mà là những định luật vật lý điều chỉnh vũ trụ
một cách vi diệu ngay từ lúc ban đầu. Tác giả Trịnh Xuân
Thuận đã vô tình khoác lên Đấng Sáng Tạo một màu áo khác!
Dựa
trên luật Nhân Quả, tác giả Ricard quả quyết rằng nếu
không chấp nhận một điểm khởi đầu thì cũng không có
"nguyên lý tổ chức" bởi nếu "nguyên lý tổ chức" là nguyên
nhân và điều kiện ban đầu cho sự hình thành của vũ trụ
thì Big Bang sẽ xảy ra liên tục không nghỉ. Điều nầy vô
lý. Cái nhìn của Phật Giáo là không có điểm khởi đầu,
vô thủy vô chung và bản chất vô thường chi phối mọi hiện
tượng vì vậy đi tìm một "nguyên lý tổ chức" là việc
không cần thiết (trang 57-58). Đây là một lập luận để
tránh né vấn đề hay là một cách nhìn khác do bản chất
định tính của Phật Giáo trong đó mọi hiện tượng được
nhìn bằng sự tương thuộc duyên sinh?
Tất
cả do duyên sinh nên vô ngã. Vì luật Nhân Quả nên "cái nầy
thuộc vào cái kia, cái nầy sinh cái kia sinh, cái nầy diệt
cái kia diệt". Tác giả Ricard nói đến tính Không trong Phật
Giáo qua sự liên hệ lôgic giữa vô ngã, vô thường và duyên
sinh. Đó là cái nhìn Trung Đạo (Middle Way) trong Phật Giáo.
Vô ngã và vô thường đưa đến một hệ luận là mọi sự
vật và hiện tượng không mang bản chất độc lập, cố định,
bất biến. Vì không có một bản chất cố định tất cả
đều là ảo giác hay chỉ là một biểu hiện nhất thời.
Cái nhìn Phật Giáo rất phù hợp với cơ học lương tử của
thế giới vi mô (microcosm). Nguyên lý bất định Heisenberg nói
đến tính bất định trong thế giới vi mô. Trong thế giới
vi mô của những hạt cực nhỏ như phân tử, nguyên tử, neutron,
proton, electron người ta không thể xác nhận vị trí và vận
tốc của hạt cùng một lúc. Vị trí của hạt sơ cấp chỉ
có thể tính bằng xác suất thống kê, chẳng hạn hạt xyz
cùng một lúc xuất hiện ở những vị trí khác nhau với xác
suất ở điểm A là 50 %, điểm B 20 % v.v... Phật Giáo cho đây
là ảo giác. Nhà vật lý Schrödinger khi đề cập đến bản
chất của những hạt sơ cấp từng nói "Không nên nhìn một
hạt như là một thực thể cố định mà hãy xem nó như là
sự kiện nhất thời. Đôi khi những sự kiện nầy liên kết
với nhau cho ra một ảo giác của những thực thể cố định"
(It is better not to view a particle as a permanent entity, but rather
as an instantaneous event. Sometimes these events link together to create
the illusion of permanent entities) (trang 85). Nói theo kiểu văn chương
"miệt vườn" cho dễ hiểu là "thấy vậy mà không phải vậy".
Sự chuyển hoán từ một dạng thức nầy sang một dạng thức
khác đã được kiểm chứng trong những cái cực nhỏ như
electron hay những vật lớn nhất như vũ trụ. Tính nhị nguyên
giữa sóng và hạt đã được phát hiện vào đầu thế kỷ
20. Sóng có thể là hạt (photon), và hạt (thí dụ: electron)
cũng có thể là sóng. Bản chất sóng/hạt tùy thuộc vào cách
thức đo đạt của người làm thí nghiệm. Điều nầy thực
chứng bản chất không cố định vô ngã của sự vật. Sự
chuyển hoán giữa các dạng năng lượng (như sự ma xát cơ
năng biến thành nhiệt năng, khối lượng biến thành năng
lượng) cũng là một biểu hiện của vô ngã vô thường.
Trong
thế giới vĩ mô (macrocosm), nguyên lý bất định Heisenberg
mất ý nghĩa. Khác với những vật cực nhỏ mà vị trí của
nó dựa vào tính xác suất ở nhiều nơi A, B, C.... khác nhau,
một vật to như cái bàn không thể lúc thì ở trong phòng học
lúc thì tự động nhảy vào nhà bếp hoặc "rong chơi" ngoài
sân. Cái bàn trong phòng học sẽ mãi mãi ở đúng vị trí
của nó trừ khi ta phải xê dịch. Như vậy, trong thế giới
vật lý vĩ mô khác vi mô. Nhưng đâu là lằn ranh phân biệt
vi mô và vĩ mô, vật lý dường như không có câu trả lời
định lượng dứt khoát [8]. Theo tác giả Ricard, Phật Giáo
quan niệm thuộc tính vi mô lần lần phát triển thành thuộc
tính vĩ mô mà không cần lằn ranh phân biệt. Tính Không hay
vô ngã vô thường thành một định luật bao quát toàn diện
không phân biệt vật lớn vật nhỏ, vi mô hay vĩ mô.
Khái
niệm vô thường và khoa học được phân tích chi tiết hơn
ở Chương 6. Vô thường hay là sự thay đổi liên tục được
tác giả Ricard phân biệt là "vô thường thô" (gross impermanence),
như sự thay đổi thời tiết, xâm thực của một ngọn núi,
sự giãn nở của vũ trụ hay sự biến đổi tình cảm, và
"vô thường tinh" (subtle impermanence) xảy ra trong một khoảnh
khắc ngắn nhất (trang 101). Khi ta cảm nhận được sự biến
đổi là việc không thể tránh được và mang tính rộng khắp
thì ta có thể hiểu là vũ trụ không phải được tạo thành
bằng những thực thể cố định, riêng biệt mà là một hệ
thống của những luồng tương tác liên tục không dứt của
trùng trùng duyên khởi. Từ thế giới vĩ mô như vũ trụ ta
thử đi vào thế giới vi mô của các hạt sơ cấp để tìm
xem tính vô thường vẫn còn hiện hữu hay không. Nguyên tử
là đơn vị chung nhỏ nhất của vật chất làm thành con người,
hoa lá đến hạt bụi. Nguyên tử có hạt nhân. Nếu kích thước
một nguyên tử là bằng một sân vận động thì hạt nhân
có kích thước bằng hạt gạo nằm giữa sân. Hạt nhân được
cấu tạo bởi proton và neutron. Hai loại hạt sơ cấp nầy
lại được tạo thành bởi các hạt quark. Cứ 3 quarks tạo
thành một proton hay neutron. Vật lý hiện đại cho ta biết
quark là hạt sơ cấp nhỏ nhất của nguyên tử, có nghĩa là
cái nhỏ nhất trong cấu trúc vạn vật. Ở điều kiện thích
nghi quark có thể biến thành dạng khác. Sự chuyển hoán nầy
đưa đến sự biến đổi từ proton thành neutron và ngược
lại. Đây là một thí dụ của "vô thường tinh" đã được
tác giả Ricard đề cập. Rõ ràng là bản chất vô thường
quán xuyến từ quark cái nhỏ nhất trong vật chất đến cái
to nhất là vũ trụ.
Vì
là một người "vô thần ngoại đạo" vẫn thường quan niệm
"chết là hết chuyện" tôi rất kinh ngạc khi đọc đến Chương
10 và 11 đề cập đến việc tái sinh nói về sự sống sau
khi chết. Tôi truy cập những trang web Phật Giáo tìm hiểu
xem đây có phải là những tư tưởng chính thống hay chỉ
là những điều mê tín dị đoan. Trong việc truy tìm nầy tôi
phát hiện ra "Thuyết Tái Sinh" được xem như là một hệ luận
của Luân Hồi và rất được trân trọng trong lý thuyết Phật
Học. Suy nghĩ theo tư duy khoa học bỗng nhiên vô hiệu. Tôi
bỗng nhiên lúng túng. Tác giả Ricard đưa ra một trường hợp
tái sinh của một phụ nữ Ấn Độ tên là Shanti Devi và cũng
chứng kiến việc tái sinh của người thầy của mình là Khyentse
Rinpoche. Tiền kiếp của Shanti Devi qua đời vì bịnh hậu sản
và sau đó tái sinh vào một gia đình khác. Khi đứa bé gái
được tái sinh nầy lớn lên, cô bé lúc nào cũng nằng nặc
muốn gặp lại người chồng cũ. Người chồng quá sợ hãi
không dám gặp trực tiếp nhưng muốn biết sự tình như thế
nào bèn nhờ người anh họ đến dò la hư thực. Khi người
anh họ vừa mới bước vào nhà thì cô bé la lên kêu đúng
tên họ lại còn bảo "Hồi xưa anh thường lợi dụng lúc
chồng tôi đi vắng lân la đến nhà ve vãn tôi!!". Ông anh họ
nhà chồng nghe xong gần té xỉu vì sự thật không thể nào
chối cãi....
Một
trường hợp đúng thì cũng đủ chứng minh "Thuyết Tái Sinh"
hiện hữu. Tôi lúng túng vì không biết phải lý giải thế
nào cho thích hợp. Phật Giáo đưa ra khái niệm "thân trung
ấm" [9] để diễn tả sự sống sau khi chết trước khi linh
hồn [10] đi tái sinh. Có lẽ thân trung ấm không phải là đối
tượng nghiên cứu của khoa học nên khoa học chưa có câu
trả lời. Như vậy, sự tái sinh là sự truyền đạt (transmission)
linh hồn hoặc ý thức trong quá trình "tái tạo" và sự truyền
đạt nầy có giống như việc truyền tín hiệu từ chiếc
điện thoại di động nầy đến chiếc khác?! Có thể xem linh
hồn như một loại sóng "điện từ" sinh học? Súc vật và
con người có linh hồn, còn thực vật thì sao? Tôi dùng con
số cho đơn giản, nếu vài thế kỷ trước đây tổng số
loài người và những sinh linh khác chỉ có vài tỉ bây giờ
sinh sôi nẩy nở ra vài chục tỉ thì số cung của linh hồn
sẽ ít hơn số cầu. Có thực sự là linh hồn có thể phân
chia như sự sinh sôi của tế bào để tiếp ứng đủ cho số
cầu? Đó là chưa kể một số linh hồn được giác ngộ thoát
khỏi cõi ta bà vãng sinh tịnh độ. Tác giả Trịnh Xuân Thuận
cũng có một thắc mắc tương tự. Ông nghĩ phải có một
nguồn ý thức vô hạn trong vũ trụ để cung ứng và "nhập"
vào hình hài của hàng chục tỉ sinh linh. Tác giả Ricard trấn
an với lời giải thích hơi nhập nhằng rằng là nguồn ý
thức hay linh hồn biết "tùy cơ ứng biến" để gia giảm số
lượng tương ứng với con số của hình hài (trang 199)! Dựa
vào câu chuyện "khó tin nhưng có thật" của Shanti Devi, linh
hồn tái sinh sẽ trở lại bản thể của của tiền kiếp.
Hóa ra, linh hồn vừa là một "vật" bất biến vừa là một
cái "ngã" độc lập trong quá trình tái sinh liên tục. Sự
suy diễn nầy đưa đến một kết luận cực kỳ mâu thuẫn
đối với bản chất vô thường vô ngã của Phật Giáo.
Trong
toàn bộ cuộc đối thoại, tác giả Ricard và tác giả Trịnh
Xuân Thuận nói đến những điểm tương đồng thú vị nhưng
tôi không thấy hai tác giả đề cập đến những điểm tương
phản. Dù có mang một tâm tình lạc quan nhất, tôi không nghĩ
hai lĩnh vực lại có thể có những điểm tương đồng một
cách hài hòa như hai bánh xe răng lúc nào cũng ăn khớp với
nhau. Tác giả Ricard xoay quanh tính Không, duyên sinh, vô thường,
vô ngã trong toàn quyển sách; nó cho một cách nhận thức mới
ở những chương đầu nhưng sự trùng lập làm cách biện
luận trở thành đơn điệu dễ làm cho người đọc cảm thấy
nhàm chán ở những chương sau. Thỉnh thoảng tác giả Ricard
chấp nhận hoặc phản bác có phần độc đoán giáo điều
một hiện tượng hay một luận điểm, không giải thích rành
mạch hoặc chỉ trích dẫn một vài câu nói của các triết
gia chưa bao giờ được thực chứng. Tác giả Trịnh Xuân Thuận
đưa ra những vấn đề khoa học và đặt ra những câu hỏi
khúc mắc nhưng hầu như chấp nhận những ý kiến của tác
giả Ricard mà ít khi phản luận theo tư duy khoa học.
Một
câu hỏi thường được đặt ra "Phật Giáo là một tôn giáo,
khoa học hay triết học?". Sau khi đọc quyển sách nầy, tôi
nhận thấy Phật Giáo mang đặc tính của cả ba. Tác giả
Ricard xem Phật Giáo là một "khoa học thiền tu" (comtemplative
science) thì cũng không phải là ngoa ngữ nếu nhìn từ mục
đích của khoa học và Phật Giáo là cả hai cùng truy tìm bản
chất mọi hiện tượng sự vật trong một tinh thần tôn trọng
sự thật khách quan. Phật Giáo vượt hơn hẳn khoa học trên
mặt đạo đức vì không những mang đến con người một tài
sản tư duy quí báu với một vũ trụ quan và nhân sinh quan
rõ rệt, lại còn dẫn dắt con người trong việc giác ngộ
trên con đường hướng thiện vô ngã vị tha.
Einstein
từng nói "Khoa học không có tôn giáo thì què quặt, tôn giáo
không có khoa học thì mù lòa". Sự bổ sung giữa Phật Giáo
và khoa học trở nên cần thiết cho việc nâng cao cùng lúc
tư duy và đạo đức con người. Mặc dù đi trước khoa học
hơn 2000 năm Phật Giáo vẫn cần được phân tích bằng phương
pháp khoa học hiện đại để hội nhập vào thời đại mới
vốn dĩ đa dạng. Ngược lại, ngoài việc áp dụng của tư
tưởng nhập thế của Phật Giáo khoa học cần nghiên cứu
những vấn đề đã được Phật Giáo tiên đoán cũng như
những khái niệm cốt lõi trong Phật Học. Vấn đề thành
hình tâm linh và thuyết tái sinh có thể là đề tài nghiên
cứu khoa học thú vị nếu không nó dễ trở nên những chuyện
mê tín hoang đường được thêu dệt cho nhiều mục đích
vụ lợi khác nhau.
Những
lời phát biểu của tác giả Ricard về Phật Giáo trong quyển
sách chỉ ở trình độ dẫn nhập. Tôi cảm thấy có nhu cầu
tìm hiểu sâu xa hơn về sự tương đồng và tương dị giữa
Phật Giáo và khoa học. Đi tìm thư tịch về Phật Giáo ở
một ngôi chùa địa phương làm tôi thất vọng. Những bài
trên những trang web Phật Giáo mang nhiều tính tản mạn và
ít tính thuyết phục. Sự thiếu sót thư tịch và tài liệu
tham khảo dẫn đến việc khập khiễng trong kiến thức. Mặt
khác, tại hải ngọai ở những nơi có nhiều người Việt
sinh sống, chùa chiền lớn nhỏ được xây cất tùy tiện
nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của cư dân. Sự phát
triển không cân bằng giữa kiến thức tu tập và vật chất
dễ đưa đến sự nhầm lẫn giữa "đạo pháp" và "mê tín"
với một hệ quả là sự mê tín sẽ có nguy cơ tồn tại
mãi mãi như một căn bệnh trầm kha di truyền.
Bản
chất của vô thường là mọi vật đều biến đổi, với
một tác nhân duyên khởi mọi vật có thể tiến hóa hay thoái
hóa. Phật Giáo cũng không nằm ngoài những qui luật mà tự
thân nó lập nên. Dù tác giả Ricard có lạc quan cho rằng cái
nhìn Trung Đạo sẽ giúp các nhà khoa học lý giải được
những nghịch lý, nhưng cuộc đối thoại giữa Phật Giáo
và khoa học chỉ có thể tiếp tục khi nào có sự phát triển
song song của hai lĩnh vực. Khoa học là đứa con sanh sau đẻ
muộn nhưng khoa học có tác động sâu rộng đến đời sống
tinh thần và vật chất của loài người vì nó đã biết tìm
và vận dụng một cách hiệu quả những qui luật tự nhiên
vào cuộc sống đời thường. Phật Giáo đi trước hơn 2000
năm nhưng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có những phát triển
mới trên nền tảng cũ. Nền tảng cũ dù trân quí bao nhiêu
thì cùng sẽ mai một như một ao tù tư tưởng nếu vắng bóng
những bước đột phá cho tương lai. Phật Giáo là một hệ
thống tư tưởng duy lý. Đức Phật không phải là Thượng
Đế toàn năng. Phật Giáo vì vậy cần phải được tiếp
cận với một thái độ phê phán có khoa học như Đức Phật
đã từng dạy "Đừng chấp nhận lời dạy của ta chỉ vì
sự tôn kính đối với ta. Chỉ chấp nhận nó khi các ngươi
thấy nó là sự thật". Ngoài những việc tu tập trong quan
hệ thầy trò, Phật Giáo cần phải có nhiều cuộc hội thảo
quốc tế bao gồm mọi tông phái giống như các hội thảo
khoa học trong đó mọi người đều bình đẳng trình bày,
thảo luận và tranh cãi để nâng cao trình độ hiểu biết
Phật Học.
Phật
Giáo là "khoa học của tâm hồn" và cũng là một kho tàng tri
thức của nhân loại tích tụ hơn 2500 năm nhưng cho đến bây
giờ ở thế kỷ 21 vẫn chưa được phát huy và triển khai
đúng mức.
March
2006
* "The
Quantum and the Lotus" (by Matthieu Ricard & Trinh Xuan Thuan), Three
Rivers Press, New York 2001.
Ghi
Chú
1.
R. P. Crease, Physics World, 18, pp 19, October 2005. Tác giả kể lại
một câu chuyện về một anh chàng say rượu đi săn nai. Con
nai lẩn tránh rất hay nên anh này không tài nào săn được.
Tức tối, anh ta leo đến tận đỉnh núi để chận đường
chú nai nhưng vẫn không thấy tăm hơi. Anh ta tiu nghĩu trở
về quán rượu tuyên bố với các bạn nhậu của anh ta rằng
con nai không săn được vì con nai biết bay! Mọi người chế
diễu cười ồ. Còn gì khác nữa, anh ta một mực cãi lại,
nếu nó không biết bay thì làm sao nó lại biến mất. Câu
chuyện nầy làm tác giả liên tưởng đến lối lý luận của
những người đề xướng "thiết kế thông minh". Giống như
anh say rượu săn nai, những người nầy gán một nguyên nhân
siêu hình cho một hiện tượng không giải thích được rồi
qui trách nhiệm vào những kẻ phản đối theo kiểu "tin hay
không tin là vấn đề của các anh". Nguyên nhân theo anh say
rượu săn nai là "con nai biết bay"; theo những người đề
xướng "thiết kế thông minh" là sự hiện hữu của "người
thiết kế toàn năng". Vì vậy, tác giả viết một câu kết
luận như sau:"Argumentatively speaking, therefore, an intelligent designer
is a flying moose" (Cho nên nói theo kiểu lý sự thì người thiết
kế thông minh là con nai biết bay).
2.
http://chimviet.free.fr/20/khc0050.htm
3.
Trong thời gian Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc ở chiến tranh
thế giới thứ 2, Ishii Shiro thừa lệnh Nhật Hoàng Hirohito
thành lập Đơn Vị 731 tại Mãn Châu để làm thí nghiệm nhân
thể trên các tù nhân Trung Quốc và Đồng Minh.
4.
Howard Florey sinh trưởng tại Adelaide (bang South Australia, Australia).
Ông tốt nghiệp y khoa tại Đại Học Adelaide và đoạt giải
Nobel Y Khoa (1945) cho công trình nghiên cứu penicillin.
5.
Woo Suk Hwang là giáo sư tại Seoul National University (Hàn Quốc),
nổi tiếng thế giới và đã được dân Hàn Quốc tôn vinh
là anh hùng khoa học. Ông ngụy tạo kết quả thí nghiệm trong
quá trình nghiên cứu sinh sản vô tính (cloning) tạo ra phôi
con người và phổ biến kết quả trên tạp chí Science (2005).
Sự ngụy tạo nầy gây ra một cú "sốc" lớn trong cộng đồng
nghiên cứu khoa học quốc tế. Ông từ chức vào tháng 12,
2005.
6.
Jan Schön, một nhà nghiên cứu trẻ có nhiều triển vọng nhưng
trong khi làm việc tại Bell Labs (Mỹ) ông ta ngụy tạo kết
quả 16 lần trong khoảng thời gian 1998 –2001 đăng hơn 40 bài
báo cáo khoa học trên các tạp chí nổi tiếng như Nature, Science,
Applied Physics Letters và tuyên bố đã chế tạo ra transistor
dưới dạng phân tử. Có khả năng đoạt giải Nobel nếu là
thật. Ông bị Bell Labs đuổi việc ngay sau đó.
7.
Trinh Xuan Thuan, chương VII "Giai điệu bí ẩn và con người
đã tạo ra vũ trụ" (người dịch Phạm Văn Thiều), NXB Khoa
Học và Kỹ Thuật, Hà Nội 2000.
8.
M. Arndt, K. Hornberger and A. Zeilinger, Physics World, 18, pp 35, March
2005.
9.
http://www.thuvienhoasen.org
10.
Trong sách hai tác giả dùng từ "ý thức" (consciousness) để
ám chỉ "linh hồn" (soul) có lẽ để làm giảm màu sắc huyền
bí.
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.net
Trương Văn Tân
CẢM
TƯỞNG VỀ QUYỂN
THE
QUANTUM and THE LOTUS
Vô
Tận trong lòng bàn tay. Từ thuyết Ðại bùng nổ đến Giác
ngộ
Vietsciences-
Đỗ Kim Thêm 27/09/2005
Nguyên
bản Pháp ngữ:
L'infini
dans la paume de la main. Du Big Bang à l'Éveil
Tác
gỉả: Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận
Nhà
xuất bản: Fayard/Nil, Paris 2000
ISBN
2-84111-174-1
Bản
dịch Anh Ngữ:
The
Quantum and the Lotus, A journey to the Frontiers where Science and Buddhism
meet; Publisher Crown Pub, August 2001, 1st Edition
ISBN
0-60960-854-1
Ðại
ý:
Sự
dị biệt giữa tôn giáo và khoa học được đánh dấu khởi
đầu từ luận đề của Galilée và từ đó đã khiến nhiều
người cho là hai thế giới này không thể nào gặp nhau đựơc.
Einstein khi đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác đã
cho là: nếu có một tôn giáo có thể đáp ứng được những
nhu cầu đòi hỏi của khoa học, thì chính đó là Phật giáo.
Einstein muốn nói tới tính cách thuần lý và thực tiển của
Phật Giáo, khi ông so sánh thấy các tôn giáo khác chỉ dựa
trên kinh điển và giáo điều.
Ðúng
như điều Einstein cảm nhận, Phật giáo là một tôn giáo có
thể đối thọai với khoa học, cả hai không những không đối
kháng mà còn bổ khuyết cho nhau trong việc tìm hiểu khoa học
hiện đại và đời sống tinh thần của từng cá nhân cũng
như trong nỗ lực về sự chế ngự thiên nhiên và kềm chế
bản ngã để tìm đường thoát khổ. Ðó là nội dung chính
của cuốn sách sẽ được giới thiệu sau đây. Tác phẩm
này là một công trình đáng kể nhằm đóng góp vào sự tìm
hiểu tương quan giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo và
được hình thành trong khuôn khổ một cuộc hội thảo tại
Ðại Học Andorre, Pháp, giữa một Phật tử người Việt đã
trở thành nhà Khoa học và một nhà Sinh học người Pháp
đã trở thành tu sĩ Phật giáo.
Tác
giả:
Ông
Trịnh Xuân Thuận, giáo sư Ðại học Virginia Hoa kỳ ngành
Vật lý thiên thể (Astrophysique), cũng là một người
theo đạo Phật. Với hai tác phẩm khoa học là La Mélodie secrète
và Le Chaos et l'Harmonie (nxb Fayard 1988 và 1998) ông là một tác
giả nổi danh. (1)
Ông
Matthieu Ricard, Tiến sĩ Sinh học (Biologie), ngườì Pháp. Sau
nhiều năm làm việc về Di truyền học tại Institut Pasteur,
Paris, ông đã để tâm nghiên cứu Phật giáo và quyết
định thoát tục, trở thành một tu sĩ Phật giáo. Ông hiện
tu tập tại một thiền viện ở Schechen, gần Katmandou,
Népal. Ông cũng là một tác giả nổi tiếng tại Pháp với
tác phẩm Le Moine et le philosophe (Matthieu Ricard/Jean-François Revel
, nxb NiL 1997) và nhiều tác phẩm khác.
Nội
dung tác phẩm:
Sách
gồm có 19 chương, phần nhập đề, hai kết luận cuả hai
tác giả, phần chú thích, hai phần chú gỉải thuật ngữ
Khoa học và Phật học và lời cám ơn các cộng tác viên.
Chương
1:
Ðối
thoại mở đầu nhằm xác định khảo hướng khác nhau của
hai lãnh vực khoa học và phật giáo. Khoa học thì nhằm
tìm hiểu những bí ẩn của cuộc đời và chinh phục thiên
nhiên, trong khi Phật giáo nhắm hướng giải thoát con người
ra khỏi những đau khổ bằng cách tìm hiểu bản chất chân
thực của đời sống tinh thần và khuyến khích việc tu tập
và thực hiện lòng từ bi. Ðạo đức Phật giáo cũng đóng
góp không những hữu ích trong nghiên cứu khoa học mà còn
trong đời sống cá nhân của nhà nghiên cứu. Công trình nghiên
cứu phải nhằm các công ich chung hơn là theo đuổi những
tư lợi cá nhân, mà đạo đức cá nhân của nhà khoa học
cũng không kém phần quan trọng. Những tính tình cá nhân cuả
Newton, Philipp Lenard và Johannes Stark được nêu lên như những
trường hợp xấu điển hình. Lòng quả cảm của Einstein trong
việc phản đối chế độ Ðức Quốc Xã, chống thả bom nguyên
tử và chế độ phân biệt chủng tộc được ca ngợi về
mặt công ích, trong khi đời sống cá nhân của ông cũng có
đôi điều đáng nói. Công trình nghiên cứu Hisato Yoshimura
đóng góp về lãnh vực khoa học môi trường, tuy được nhiều
giải thương cao quý của Nhật, nhưng phương cách thử nghiệm
của ông được coi là vô nhân đạo. Tính vị tha và lòng
trách nhiệm trong Phật giáo cũng là một định hướng cần
thiết cho khoa học hìện đại: các công trình nghiên cứu
và các thành quả khoa học không nên gây đau khổ cho tha nhân.
Nhưng điều này thật ra quá khó khăn cho người nghiên cứu,
ai có ngờ lý thuyết tương đối của Einstein lại áp dụng
vào việc chế bom nguyên tử để tàn sát dân Nhật tại Hiroshima
và Nagasaki. Mục tiêu của đạo đức không phải là kềm hãm
lại các nghiên cứu khoa học, mà làm sao nêu lên được đức
tính vị tha trong Phật giáo để làm nền tảng cho mọi hoạt
động khoa học. Một thí dụ mới mẻ khác được nêu lên
là việc lai tạo vô tính (le clonage). Nhiều tôn giáo khác đã
phản đối việc nghiên cứu này chỉ vì lý do đơn giản hơn:
giá trị thiêng liêng của Ðấng Sáng Thế không còn nữa.
Trong khi đó thì vấn đề này được Phật giáo nhìn dưới
một khía cạnh phóng khoáng, it giáo điều hơn, bởi vì trong
Phật giáo không có vấn đề Ðấng Sáng Tạo. Theo tác giả,
cũng nên chấp nhận việc lai tạo vô tính, khi nó nhằm muc
tiêu trị liệu y khoa và làm giảm đi những đau khổ của
con người. Ở cuối chương sách có đặt vấn đề nên cải
thiện cá nhân trong đời sống đạo đức hàng ngày, hơn là
âu lo đến các căn nguyên cuả vũ trụ hay cấu tạo vật chất.
Sự tìm hiểu về ngoại giới cũng chỉ là phương tiện giúp
đỡ đưa đến sự giác ngộ và giải thoát cá nhân mà thôi.Tất
cả suy luận của Phật tử đều phảì dựa trên sự quan
sát thực tai và những kinh nghiệm cá nhân, trực tiếp: vấn
đề không phải tin một cách giáo điều mà cần có một nhận
thức làm khởi điểm cho niềm tin.
Chương
2 đặt vấn đề có hay không sự khai nguyên vũ trụ.
Ðây là một bận tâm lớn cho các khoa học và các tôn giáo.
Sự hình thành và tiến hóa của vũ trụ được giải thích
qua lý thuyết Ðại bùng nổ (Big Bang). Theo cách nhìn của các
nhà khoa học thì vũ trụ trước tiên được bùng nổ cách
đây 15 tỷ năm, từ trong phân tử ở trạng thái cực nhỏ,
nóng và dày bị dồn nén. Dần dà qua thời gian vũ trụ được
bành trướng, liên tục tan loãng và đông lạnh. Trong khi đó
căn nguyên của vũ trụ không là một đề tài lớn trong Phật
giáo. Ðiểm chủ yếu người học đạo Phật là nên chuyên
tâm tìm hiểu thực tế về những gì đã và sẽ đến trong
cuộc sống để từ đó tìm ra một chân lý tốí hậu cho
đời sống cá nhân mình. Nỗ lực tìm kiếm này không liên
hệ đến sự khai sinh hay tận thế cũa vũ trụ. Sự tương
phản này nêu lên được tính cách hư ảo của thế giớí
hiện tượng theo cách nhìn của Phật giáo. Những tư tưởng
chính về triết học Tính Không và trạng thái vô thủy vô
chung của vũ trụ được giải thích. Theo đó thì những ý
niệm về khai nguyên và tận thế của vũ trụ là những vấn
đề thuộc về chân lý tương đối mà thôi. Trong khi ta đi
tìm kiếm giá trị tuyệt đối, thì vấn đề này không còn
có ý nghĩa gì. Một điểm dị biệt được nêu lên là: khi
nhà khoa học đề cập tới vũ trụ, phải được hiểu đây
là một thực tại khách quan, đôc lập vơí ý thức, trong
khi đó Phật giáo không nhìn vũ trụ như một thành phần hoàn
toàn độc lập vơí ý thức, mà đặt mối liên hệ này
vòng luân hồi liên tục.
Chương
3 đề cập tới vấn đề có một nguyên lý tổ chức cho vũ
trụ hay không.
Câu hỏi là vũ trụ hoàn toàn vô nghiã hay là trật tự cuả
nó được xắp xếp một cách tuyệt hảo bởi một bàn tay
vô hình nào đó, nhờ đó mà đời sống và ý thức mới có
được.Theo quan điểm cùa Phật giáo thì vũ trụ là một luận
điểm siêu hình và lý thuyết Ðại bùng nổ chỉ giải thich
được một giai đoạn trong một qúa trình liên tục của vũ
trụ. Thế giới hiện tượng và ý thức cộng sinh nhau và
cũng không loại trừ nhau trong thời gian theo nguyên lý vô thủy
vô chung. Chính vì thế mà vấn đề tìm ra lời giải thích
cho sự dung hợp này không là điều không cần thiết. Vấn
đề toàn năng và toàn trí của Thượng Ðế trong việc sáng
lập vũ trụ được hai tác giả thảo luận. Lập luận tin
có Ðấng Sáng Tạo thế gian rất đơn giản: vũ trụ cũng
như một cái đồng hồ. Ðồng hồ chỉ là công trình của
người thợ làm đồng hồ, các bộ phận của đồng hồ tự
nó không trờ thành đồng hồ được. Lập luận khoa học
ngược lại đặt vấn đề sự tạo lập thế gian cùa Thượng
Ðế nằm trong quy luật cuả thời gian hay ngoài thời gian.
Ðiều quan trọng là thời gian thì tương đối, như Einstein
đã tìm thấy. Như vậy Thương Ðế cũng phải chịu chi phối
bởi quy luật thởi gian. Ðiều này có nghĩa là Thượng đế
không còn toàn năng nữa. Nếu cho rằng Thượng Ðế ở ngoài
thời gian thì Thượng Ðế cũng sẽ không còn cứu rỗi được
chúng ta bới vì hành vi của chúng ta bị hạn chế trong thời
gian. Lý thuyết của Spinoza cũng được đề cập đến: nguyên
tắc tạo lập vũ trụ chỉ chi phối ơ giai đoạn phôi thai
và Ðấng Sáng Thế cũng không thể đựơc nhân cách hoá. Vấn
đề đặt ra ở cuối chương sách là làm sao Phật giáo có
thể dung hoà với các tôn giáo khác, khi Phật giáo coi Ðấng
Sáng Thế là một ý niệm siêu hình. Tuy Phật giáo không chia
sẻ những ý niệm này, nhưng luôn tôn trọng những giáo lý
của các tôn giáo khác. Phật giáo cũng không mơ ước trộn
lẫn các ý niệm cuả các tôn giáo khác nhau để mơ lập thành
một tôn giáo đại đồng. Nếu như trong thực tế đời sống
hằng ngày ai cũng đều mong tìm cho mình một thức ăn thich
hợp khẩu vị cho cơ thể thì người ta cũng nên tìm tương
tự như vậy cho đời sống tâm linh. Ðiều quan trọng là làm
sao người ta tu tập để hướng thượng và trở thành những
người lương thiện và đầy tính từ bi.
Câu
hỏi trong chương 4 là sư tương thuộc và tổng thể của thế
giới hiện tượng, cụ thể là các vật chất trong thế giới
hiện tượng được hình thành hoàn toàn độc lập hay là
liên kết và tương thuộc nhau trong một tổng thể. Theo
Phật giáo, sự hình thành thế giới hiện tượng không bắt
nguồn từ những nguyên nhân độc lập và những hoàn cảnh
chuyên biệt. Sự cảm nhận này là một sai lầm. Kinh nghiệm
thực tế của đời sống hằng ngày cho thấy vật chất là
những thực tại độc lập khách quan, mỗi vật chất đều
có một thực thể nội tại của nó. Nhưng đây là một cách
nhìn quá đơn giản, mà không thấy được mối liên hệ nhân
quả trong thế giới hiện tượng một cách tổng thể. Tất
cả mọi yếu tố đều tương thuộc lẫn nhau, cái này sinh
thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia sẽ diệt. Ý niệm
tương thuộc này liên hệ đến triết học Tính Không trong
Phật giáo. Cũng xin đừng hiểu Tính Không là hoàn toàn phủ
nhận thế giới hiện tượng hay chỉ là hư vô chù nghiã cùa
Tây phương. Phật giáo nhìn thế giới hiện tượng như là
sự diễn biến tương thuộc nhau và liên tục theo mối liên
hệ nhân quả. Vấn đề tương thuộc này trong khoa học cũng
được giải thích qua các luận thuyết của Einstein, Podolsky
và Rosen (EPR), 1935. Những thí nghiệm của John Bell 1964 và gần
đây Nicolas Gisin 1998 trong chức năng của quang tử đã soi sáng
thêm vấn đề. Thí nghiệm về quả lắc của Foucault từ 1851
cũng đã đưa ra một ý niệm quan trọng: tất cả những gì
xảy và diễn ra ở đây và hôm nay đều tùy thuộc vào toàn
thể vũ trụ. Nguyên lý cuả Mach cũng bổ túc thêm là: khối
lượng của một vật thể bắt nguồn từ những ảnh hưởng
của vũ trụ. Hai khảo hướng khác nhau cùng đi chung một kết
luận: sự tương thuộc lẫn nhau giữa con người và vũ trụ
trong thế giới hiện tượng. Từ đó con người có một nhận
thức mới, đó là ý thức về trách nhiệm đại đồng trưóc
mối liên hệ này. Có ý thức này thì con ngưới mới dẹp
bỏ lòng ích kỷ, hưóng về tha nhân cùng xây đắp một hạnh
phúc chung và đặt biệt là không gây đau khổ cho kẻ khác,
thực hiện từ bi. Ðó là một chuyển hoá nội tâm đưa lần
đến giác ngộ. Vũ trụ quan này đuợc diễn đạt qua lời
thơ cuà William Blake dùng làm tựa đề cho tác phẩm như sau:
Voir
un univers dans un grain de sable
Et
un paradis dans une fleur sauvage
Tenir
l'infini dans dans la paume de la main
Et
l'éternité dans une heure
Dich
xuôi:
Nhìn
vũ trụ trong một hạt cát
Và
thiên đàng trong một cành hoa hoang dại
Nẳm
giữ vô tận trong lòng bàn tay
Và
vĩnh cửu trong phút giây
Dịch
thơ:
Trong
hạt cát ta ngắm nhìn vũ trụ
Nhìn
thiên đàng giữa hoa dại hoang sơ
Ôi
thiên thu lắng đọng chỉ một giờ
Giữ
vô tận trong bàn tay bé nhỏ
(Bản
dịch thơ của Lê Cao Bằng Calgary, Canada)
Chủ
đề của chương 5 là tìm ra lời giải thích cho sự hiện
hữu của các phần từ sơ đẳng (les particules élémentaires)
trong Phật giáo và Khoa học.
Phật giáo cũng quan tâm tới vấn đề khoa học này nhưng những
lời giải thích hầu như không gây được những hậu quả
sâu xa. Khi tìm hiểu về những thực tại hay hư ảo của cuộc
đời vây quanh, vấn đề là phải làm sáng tỏ đâu là bản
chất của những gì đã cấu tạo nên những viên gạch nền
móng này. Ðể giải thích về tính cách tổng thể của thế
giới hiện tượng một thí dụ được nêu lên: bản chất
của ánh sáng. Nguyên tắc bổ sung (principe de complémentarité)
của Niels Bohr được giải thích: ánh sáng vưà là làn sóng
và vừa là phân tử. Ánh sáng không thể nào có một thực
tại nội tại tuyệt đối hoặc là phân tử hoặc là làn
sóng. Ðiều này tùy thuộc vào môi trường và phương thức
thử nghiệm. Ðó cũng là ý niệm chính trong nguyên tắc bất
định (principe d'incertitude) của Heisenberg. Khi nghiên cứu về
điện từ (electron), thì ông cho rằng không thể nào xác định
tuyệt đối được vị trí và tốc độ của điện tử. Những
thành quả nghiên cứu của trường phái Copenhague được tóm
lược qua kết luận: những nguyên tử tạo nên một thế giới
của những tiềm năng hay những khả năng hơn là những thế
giới của vật chất và những sự kiện. Ý niệm về nguyên
tử được vay mượn để giải thích vể thế giới hiện
tượng. Bohr cũng xác nhận sự khó khăn khi làm sao vượt qua
được những sự kiện và những kết qủa thử nghiệm: sự
mô tả của chúng ta không nhằm soi sáng những đặc điểm
thực tế của hiện tượng, mà phải tìm ra những tương quan
của các khiá cạnh khác nhau trong cuộc sống của chúng ta
càng nhiều càng tốt. Những lập luận của Jacob, Schrödinger,
Einstein và Stapp được giới thiệu, nhưng quan trọng nhất
là của Nottale. Nottale xác nhận là Phật giáo từ 2500 năm
trước đã tìm thấy sự hiện hữu cuà vật chất là tương
đối, vấn đề là làm sao tìm ra những mối quan hệ trong
thế giới này.
Chương
6 đề cập tính cách vô thường trong thế giới hiện
tượng. Ðây không chỉ là một đề tàì để trầm tư
mặc tưởng mà còn là một động lực giúp chúng ta sử dụng
thời gian còn lại của đời mình hữu ích hơn. Sự tìm hiểu
của chúng ta về thực tại tùy thuộc vào viễn kiến về
thế giới và thái độ của chúng ta. Câu hỏi đặt ra: có
hay không những thực thể thường hằng (les entités permanentes)
trong vũ trụ? Nếu không có gì vĩnh cửu tại sao chúng ta lại
có thể gọi những sự vật có một đời sống cố hữu (une
existence intrinsèque)? Những ý niệm vô thường trong đời sống
được đề cập. Sự thay đổi này được thể hiện qua quy
luật sanh lão bệnh tử, trong thay đổi của cảm xúc. Ðìểm
tinh tế nhất phải nhận ra là trong từng phút giây của đời
sống cũng có sự thay đổi. Những biến dạng của những
phân tử và về cách nhận dạng các phân tử này qua cách
sử dụng 18 loại quarks khác nhau được giải thích. Lý thuyết
tiêu chuấn (theorie standard) nhằm chứng minh tính cách bất
tử của các phân tử, đặc biệt là dương tử (proton) được
đề cập. Tính bất từ này phải hiểu khi so sánh với đời
sống của con người, nhưng nó có thể biến dạng qua thời
gian. Trong nỗ lực tìm ra một sự mô tả mới về những hiện
tượng của vũ trụ thuyết siêu lực (théorie de superforce)
được giải thích. Ðây là một tổng hợp các giả thuyết
trước đây. Theo đó thì những phân tử không phải là những
phần tử sơ đẳng, mà chính là những chấn động trên những
sợi dây được gọi là supercorde. Chính năng lượng của những
chấn động này mới xác định được khối lượng của những
phân tử. Ðây còn là một luận điểm mơ hồ, cần được
kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Chương
7 đề cập tới vấn đề làm sao ta có thể hiểu thực tại
của thế giới hiện tượng, khi nó được che đậy bởi những
lớp màn chắn bên ngoài.
Ðối với khoa học thì vấn đề này được nhận chân bằng
giả thuyết và thử nghiệm.Thật ra có ít nhà khoa học quan
tâm sâu xa đến những nền tảng triết lý cùa những công
trình mà họ đang theo đuổi. Những áp dụng thực tìễn trong
đời sống về những thành tựu của lãnh vực cơ học lượng
tử (la mécanique quantique) đã cho thấy vấn đề này. Chính
d'Espagnat cũng xác nhận là khoa học có thể mô tả được
những thực tại được thử nghiệm. Kết qủa này cũng chỉ
là những khái luận về một thưc tại độc lập không ghi
lại được trong không và thời gian. Một đặc điểm khác:
đối tuợng quan sát hoàn toàn lệ thuộc vào vị trí và thái
độ của nhà quan sát, điển hình là sự quan sát cầu
vòng. Cầu vòng là một hình ảnh mà Phật giáo hay dùng
đến để diễn tả tính cách hư thực và tương thuộc cuả
thế giới hiện tượng. Ai cũng thấy cầu vòng chiếu sáng
nhưng không ai có thể bắt lấy được, nên nó vừa là hư
vừa là thực. Cầu vòng chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên
của hai yếu tố: lớp màn mưa và ánh sáng mặt trời, nếu
thiếu một, thì cầu vòng sẽ biến mất, nên nó tương thuộc.
Vấn đề nhận chân ra thế giới hiện tượng có hai khía
cạnh: bản chất tối hậu của hiện tượng và phương cách
mà chúng ta cảm nhận được hiện tượng này. Khi ta nhận
ra được đâu là bản chất tối hậu của hiện tượng thì
sự dị biệt của thế giới hư ảo và hiện thực sẽ không
còn nữa.
Chương
8 đặt vấn đề định mệnh để thảo luận,
thí dụ như có hay không có định mệnh, định mệnh cá nhân
và định mệnh tập thể, ý nghĩa về nghiệp (karma), đâu
là mối liên hệ nhân quả và định mệnh. Một câu hỏi khác:
nếu con người và bản ngã chỉ là hư ảo thì làm sao có
thể chuyển hoá được cuộc sống trong hiện kiếp? Karma theo
tác giả phải được hiểu là hành động. Những gì chúng
ta suy nghĩ, nói và hành động sẽ tạo nên khuôn mẫu cùa
cuộc đời chúng ta. Ðiều này bắt nguồn từ sự cảm nhận
của chúng ta đối với cuộc đời, nó đến từ ý thức,
kinh nghiệm cá nhân về đời sống. Dĩ nhiên sự cảm nhận
này hoàn toàn khác biệt trong từng cá nhân. Một ngưòi đạt
đạo rồi sẽ thấy những ràng buộc trong thế giới hìện
tượng là điều hư ảo. Nghiệp cũng không phải là định
mệnh, nó chỉ là một phản ảnh về mối quan hệ nhân quả,
không chỉ trên hành động mà có ý hướng đưa tới hành
động. Chúng ta không bao giờ hoàn toàn lệ thuộc vào định
mệnh như những tù nhân, mà trong đó quá khứ và tương lai
làm thành một khối liền chắc. Bằng tự do và ý thức người
ta có thể chuyển nghiệp này. Chúng ta là kết quả của những
quyết định mà chính chúng ta chọn lựa, dĩ nhiên là rất
khó khăn khi nỗ lực thoát ra khỏi căn nghiệp. Ý niệm này
được Norbert Wiener cha đẻ của khoa học cybernétique diễn
đạt như sau: Chúng ta chỉ là những ổ xoáy nước trong một
dòng sông vô tận. Chúng ta không là những bản thể trường
tồn, nhưng những dấu vết sẽ còn lưu lại mãi.
Chủ
đề của chương 9 là ý niệm về thời gian qua các lăng
kính. Theo Galilée thì thời gian là một dụng cụ chủ yếu
để xếp đặt và nối kết các sự đo lường về các chuyển
động trong các đối tượng nghiên cứu một cách toán học.
Nhưng Newton với quy luật về cơ học đã đưa ra một định
nghĩa chính xác về thời gian. Theo Newton sự chuyển động
các vật thể trong không gian xác định được vị trí và
tốc độ của nó nhờ vào những khoảnh khắc thời gian tiếp
nối nhau. Qua định nghĩa này thì đặc điểm của thời gian
là độc nhất, tuyệt đối và phổ quát. Lý thuyết này bị
đánh đổ bởi lập thuyết tương đối của Einstein.
Thời gian thì theo Einstein co dãn và tuỳ thuộc không gian. Ngoài
ra Einstein còn cho rằng không gian và thời gian không thể sống
tách rời nhau, cả hai là một cặp kết hợp nhau. Einstein còn
phát hiện thêm trong lý thuyết tương đối tổng quát của
ông: Thời gian không những chậm lại bởi vận tốc mà còn
chậm lại bởi trọng lực. Phật giáo nhìn vấn đề thời
gian khác hơn. Thời gian vật lý chỉ là một phương cách để
tìm hiểu vể thế giới hiện tượng thôì. Ý niệm thời
gian và không gian chỉ có trong thế giới hiện tượng và có
mối quan hệ với những kinh nghiệm với những hệ thống
đối chiếu với nó. Thời gian trôi là một điều không nắm
bắt được trong phút giây hiện tại. Trong phút giây hiện
tại thí quá khứ đã chết và tương lai thì chưa xảy ra.
Theo cách nhìn này thì làm sao mà hiện tại có thể hiện hữu
hoặc ngưng đọng ở giữa cái không còn nữa và cáí chưa
thể xảy ra. Ý niệm về thời gian chỉ là chân lý tương
đối trong thế giới hiện tượng mà thôi. Những ý niệm
khác nhau vể thời gian qua quan điểm của Heraclite, Saint Augustin,
Aristote, Kant và Husserl được hai tác giả đưa ra giải
thích. Nhiều kinh điển Phật giáo được trích dẫn trong trong
chương này để giải thích về ý niệm thời gian. Phật giáo
dùng thời gian như một quan điểm tâm lý nhằm chế ngự những
nỗi lo âu về cái chết và khuyến khích người ta nên chuyên
cần tu tập. Ý thức được thời gian trôi là quí giá nên
người học Phật sẽ luôn luôn tập trung để tu tập, nhưng
cũng không sống trong nỗi ám ảnh về cái chết, mà chỉ suy
tưởng không ngừng về việc này nhằm chuẩn bị đón nhận
nó đến trong thanh thản an lạc.
Chương
10 giải thích thuyết nhân quả theo Khoa học và Phật
giáo. Lý thuyết tương đối của Einstein đã đưa ra nhiều
luận điểm mới, mà theo đó nguyên tắc về nhân quả cũng
cần được xét lại. Không có gì đi nhanh hơn ánh sáng và
chính ánh sáng cũng là một phương tiện truyền thông nhanh
nhất trong vũ trụ, theo Einstein. Hai biến cố chỉ có liên
hệ nhân quả với nhau khi mà ánh sáng có đủ thời giờ mang
biến cố thứ nhứt đến biến cố thứ nhì trong khi sự cách
biệt của thời gian làm tách biệt chúng ra. Ðiều này giải
thích được mối liên hệ nhân quả của hai biến cố và
đồng thời cũng giải thích được tốc độ của ánh sáng.
Một thí dụ được nêu lên để soi sáng vấn đề. Một tia
sét đánh trên hai đầu toa xe lửa đang chạy, ba người A,
B và C quan sát hiện tượng này sẽ giải thích ba cách khác
nhau, tùy thuộc vào vị trí mà họ đang theo dõi. Nếu A đứng
yên trên sân ga thì A sẽ thấy tia sét đánh cùng một lúc
phía trước và phía sau của toa xe, nếu B ngồi trong toa xe
đang chạy thì B trước tiên sẽ thấy tiếng sét đánh phía
trước của xe rồi liền sau đó sẽ thấy tiếng sét đánh
phía sau. Lý do giải thích hiện tượng này là xe đang di chuyển,
ánh sáng của tia chớp phía trước ít khoảng cách hơn
tia sáng phía sau. Vận tốc của ánh sáng thì không thay đổi,
nhưng ánh sáng đến phía trước thì cần ít thời gian hơn
phía sau. Còn nếu C ngồi trên một xe chạy ngược chiều thì
sẽ thấy ngược lại điều B chứng kiến. Thí dụ này cho
thấy là những biến cố khi xảy diễn qua sự liên tục của
thời gian có thể bị biến dạng do những chuyển động.Theo
đó thì kết quả có thể đi trước nguyên nhân. Những ý
kiến liên quan đến thuyết tất định trong khoa học (le déterminisme
scientifique) qua ý kiến của Heisenberg, Foucault, Newton Laplace,
Poincaré và Hegel được đề cập tới. Khó khăn lớn nhất
của khoa học là không thể nào tiên đoán tương lai một cách
chính xác bởì vì sự mô tả cũng như hiểu biết về điễu
kiện ban đầu của hiện tượng không bao giờ đầy đủ.
Trong khoa học cũng không có sự tình cờ hay tất yếu, mà
chính ra những nguyên nhân hay điều kiện thì vô kể mà ta
không biết trước được. Theo Phật giáo thì thuyết nhân
quả là điều hiển nhiên và quy luật được diễn biến qua
bốn hình thái phát sinh như sau: một vật có thể sinh ra (1)
bởi tự nó, (2) bởi sự vật khác, (3) bởi tự nó và bởi
sự vật khác hoặc (4) không bởi tự nó hoặc không bởi sự
vật khác. Dù dạng thái nào thì nhân và quả phải có một
điểm nối kết nhau để tạo thành mối quan hệ, chớ không
thể nào là những thực tại độc lập.
Chương
11 xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa tinh thần và vật
chất qua Khoa học và Phật học.Theo khoa Sinh học thần
kinh (la neurobiologie) thì tinh thần nảy sinh từ sự tác động
lẫn nhau giửa cơ thể và thế giới bên ngoài và là kết
quả của một tổ chức cực kỳ phức tạp từ những phần
tử bất động (les particules inanimées). Như vậy phải chăng
là tinh thần chỉ là một sự phàn ảnh của vật chất. Trả
lời câu hỏi này Phật giáo có một lối giải thich khác hơn.
Có ba trạng thái của tinh thấn: tinh thần ở trình độ thứ
nhất thì thô sơ, chỉ thuần túy là sự vận động của não
bộ, ở trình độ thứ hai thì tinh thần có khả năng phản
tĩnh bằng suy luận và trực giác để quyết định vấn đề
và ở trình độ thứ ba thì tinh thần đạt được sự hiểu
biết thuần khiết không dựa trên phương thức phân biệt
chủ quan và khách quan hay trên những tư tưởng suy lý. Ðây
là trang thái cao nhất của tinh thần còn được gọi là sự
minh mẫn. Ba trạng thái này không hoạt động độc lập mà
ảnh huởng nhau qua mối liên hệ nhân quả trong thể xác. Một
trạng thái tinh thần này đều bắt nguồn từ một trạng
thái tinh thần khác xảy ra trước đó. Từ nhân sinh ra quả
là một quá trình nảy sinh được kết hợp qua mối liên hệ
chù yếu và những yếu tố phụ thuộc. Thí dụ hạt giống
được sinh ra là kết qủa của việc nẩy mầm, đây là mối
quan hệ chủ yếu, nhưng cũng đừng quên những yếu tố phụ
thuộc là thời tiết và độ ẩm. Tinh thần nhị nguyên theo
lý thuyết của Descartes cũng được đem ra so sánh với quan
điểm của Phật giáo và nguyên tắc bổ sung của Niels Bohr
cũng là một lối giải thích. Ý niệm về một thế giới
vô hình và hữu hình cũng được đề cập tới. Phần quan
trọng nhất của chương này là bàn về vai trò của tinh thần
trong đờì sống, đặc biệt là những kinh nghiêm về cận
tử (near death experience) và một câu chuyện có thật về luân
hồi cuả Shanti Dévi tại Ấn Dộ được dẫn chứng.
Chương
12 đặt vấn đề so sánh giữa người máy (robot) và máy vi
tính (ordinateur) với não bộ của con người. Vấn đề
khả năng phản tĩnh của con người được đưa ra để so
sánh với những tiến bộ của ngành sinh học hiện đại cũng
như những luận điểm mới trong lãnh vực thông minh nhân tạo
(intelligence artificielle). Theo các nhà sinh học thì bộ óc chỉ
là một bộ máy suy nghĩ được cấu tạo bởi những hoạt
động trong một hệ thống thần kinh tổng hợp. Những gì
gọi là tinh thần đều đến từ những tổ chức càng ngày
càng phức tạp hơn của não bộ. Những gì được gọi là
ý thúc, tư tưởng hay tình yêu và những cảm xúc trong
cuộc sống đều là những kinh nghiệm sống trải. Trong khi
đó thì Francisco Valera chú ý đến sự tương tác cúa não bộ
và thế giới bên ngoài. Chính sự tác động thường xuyên
của môi trường mới là quan trọng. Hoạt động của hệ
thần kinh được đem ra so sánh với cấu trúc của một
máy vi tính (ordinateur) và được xem như là cương liệu
(hardware) trong khi tinh thần được coi như là nhu liệu (software).
Ðiểm dị biệt chủ yếu vẫn là máy móc chỉ tính toán và
làm việc theo những chương trình đã quy định do nhà thảo
chương cung cấp không hơn không kém, mà nó không có ý thức
phản tỉnh để trả lời câu hòi tại sao mình có thể đưa
đến kết quả như vậy. Ðiều đáng kinh ngạc ở đây là
khả năng tính toán của máy móc vượt hẳn xa con người.
Trong trận đánh cờ cuà vô địch thế giới Garry Kasparow và
người máy Deep Blue trong năm 1997 đã cho thấy vấn đề này.
Deep Blue thắng được là nhờ có thể nghĩ ra 200 triệu vị
thế cờ trong một giây và từ đó tổng hợp ra được 10
thế cờ liên tiép, trong khi bộ óc của con người với kinh
nghiệm và sự tính toán, đặc biệt là trực giác chỉ tìm
đươc vài nước cờ trước mà thôi. Nhưng cuộc thắng cờ
cũng chỉ là sự tuân lịnh mù quáng của Deep Blue qua những
chương trình đã soạn trước của các chuyên viên. Deep Blue
cũng không vui khi thắng, không buồn khi thua, không hồi hộp
khi tính toán và cũng không nuối tiếc khi đi sai một thế
cờ, vì Deep Blue dầu sao đi nữa cũng chỉ là máy mà thôi.
Jean- Pierre Cheanguex cho rằng máy móc chưa có cảm xúc
như con người vì chính ra con người chưa đủ khả năng tạo
ra được một bộ óc phức tạp cho máy như hệ thần kinh
con người. Bộ óc con người hiện nay là kết quả của một
sự tiến hoá hơn một tỷ năm trong khi máy vi tính chì xuất
hiện từ thập niên 50 cuà thiên niên kỷ trước. Alain Turing
đã đưa ra cách thí nghiệm mới về sự thông minh của người
máy. Ông cũng tiên đoán rằng trong tương lai người máy có
thể đánh lừa đươc người đối thoại với mình trong 5
phút. Các nhà nghiên cứu trong lãnh vực này cho là một ngày
nào đó không xa máy vi tính và người máy cũng sẽ có cãm
giác thương yêu buồn giận như con người. Nhưng những câu
hỏi nền tảng như: tôi từ đâu đến, sống để làm gì
và chết sẽ ra sao thì người máy khộng thể tự hỏi và
trả lời được. Một câu hỏi dễ hiểu nhất mà người
máy cũng không biết được là thân phận mình sẽ ra sao khi
cúp điện. Sự tiến hóa của ý thức qua hai dạng thái: ý
thức sơ khởi và ý thức phản tỉnh, luận điểm này
đươc hai tác giả bàn đến trong mối quan hệ với Phật giáo
ờ cuối chương. Những kinh nghiệm mà chúng ta có được về
tinh thần, những khả năng mà chúng ta có thể hiểu được
bản chất cuả tinh thần qua phương pháp nội suy hay chế ngự
tinh thần bằng cách coi nó như một đối tượng nghiên cứu
nội quan vẫn chưa được khoa học giải thích thoả đáng.
Những điều bàn đến chỉ nằm phản ảnh được vấn đề
trong chân lý tương đối mà thôi. Những suy lý, hy vọng hay
lo âu đưa chúng ta tới quyết định này hay quyết định khác
vẫn nằm trong phạm vi cùa thế giới vô minh và mê aỏ. Chúng
ta vẫn còn lầm lạc trong những luồng tư tưởng mà chúng
ta cho là thực tại. Chính Giác ngộ mới là kiến thức duy
nhất vượt qua sự lầm lẫn này, không có căn cứ trên ý
niệm, vì ý niệm hoàn toàn bất lực trước những bản chất
tối hậu cúa tinh thấn.
Chương
13 đề cập tới ý niệm về tinh thần trong mối quan hệ với
vũ trụ qua Khoa học và Phật giáo. Theo Phật giáo tinh thần
và vũ trụ cộng sinh và cộng hưỏng nhau, không thể nào có
một cuộc sống riêng biệt, cả hai chỉ hiện hữu trong thế
giới hiện tượng và chì có gía trị chân lý tương đối.
Theo ý kiến của các nhà sinh học hiện đại thì tinh thần
đưọc trải qua hai giai đoạn từ không ý thức đến có ý
thức. Phật giáo cũng không hẳn đi ngược lại lý thuyết
về tiến hoá, nhưng lại nhưng qua sự tiến hoá của thế
giới súc vật đến thế giới của con người thì khả năng
phản tỉnh của con người là ở mức độ cao nhất, đặc
biệt là khà năng cảm nhận hạnh phúc và đau khổ trong cuộc
đời. Phật giáo chia thế giới làm ba loại: ước vọng, hữu
hình và vô hình. Yếu tố quan trọng làm chuyển hóa đời
sống con người là đìều kiện tinh thần. Chính sự thù ghét,
tham lam, ích kỷ làm cản trở sự chuyển hoá đó. Ðó chính
là màn chắn lại để cho chúng ta thấy không được bản
chất thực của tinh thần. Sau đó ý niệm về giác ngộ được
giải thích. Ðó là giai đoạn đạt đạo, vượt qua khỏi
vô minh và phiền não, thoát khỏi vòng lẩn quẩn luân hồi.
Tuy nhiên vì tình từ bi, người đạt đạo vẫn có thể đầu
thai trở lại thế gian để gíúp người đồng loại. Vấn
đề vai trò của tiềm thức và ý nghĩa của chiêm bao theo
Tâm lý học được đem ra đối chiếu với Phật giáo ở cuối
chương. Phật giáo hiểu tiềm thức theo nghĩa khuynh hướng
(tendance) hay sự tiêm nhiễm (imprégnation) và chia làm ba loại.
Loại thứ nhứt là những tích lũy tiềm tàng và tạo cho chúng
ta thành một thói quen, gây ảnh hưởng đến phương cách suy
nghĩ và hành động. Loại thứ hai là những suy gẫm vể những
tính cách hư ảo của những khuynh hướng hay những động
lực này. Những trầm tư giúp chúng ta vượt thoát trạng
thái nêu trên bằng cách tìm ra căn cơ của vấn đề. Loại
thứ ba đặc biệt dành cho người có khả năng, biết dùng
khuynh hướng này như một chất xúc tác làm chuyển hoá được
tâm linh mình. Phật giáo chia trạng thái tỉnh đến ngủ mê
làm 4 giai đoạn, giấc mơ là chỉ ở giai đoạn thứ nhì.
Giấc ngủ mê được coi như là sự lập đi lập lại của
cái chết, trong khi đó thì giấc mơ được coi như là sự
lập đi lập lại của một trạng thái trung gian giữa chết
và tái sinh.
Chương
14 đặt vấn đề quy luật khoa học để thảo luận. Quy
luật khoa học được hiểu theo nghĩa là những lời giải
thích khách quan và tổng quát về những mối tương quan của
các hiện tượng và tìm ra những quy cách vận hành cuà nó.
Những ý niệm về quy luật khoa học tại Tây phương từ thời
Tiền sử đến Phục hưng được đề cập sơ lược. Ðối
với người Hy Lạp từ thế kỷ thứ VI trước Thiên Chúa
thì thiên nhiên vừa là một đề tài suy tưởng và cũng vừa
là lý thuyết. Thiên nhiên được sắp đặt bởi những quy
luật mà loài người có thể hiểu được và cũng không là
một vật cố hữu cuà Thượng đế. Aristote đề ra nguyên
lý nhân quả qua 4 dạng thức của nguyên nhân: hình thức,
nội dung, hiệu năng và cứu cánh. Ðể trả lời câu hỏi
tại sao trời mưa thì Aristote đã dùng phương thức cứu cánh
để giải đáp. Trơỉ mưa bởi vỉ loài người và cây cối
cần nước mưa để sinh tồn và tăng trưởng, chứ không phải
hội tụ của hơi nước và thuyết trọng lực như chúng ta
biết hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học như Kepler và
Newton, dù có niềm tin vào những quy luật của khoa học, nhưng
cũng đồng thời ngợi ca Ðấng Tối Cao trong việc tạo lập
vũ trụ. Theo Phật giáo thì vấn đề quy luật nằm ờ chỗ
phân chia chân lý tương đối và chân lý tối hậu. Chân lý
tương đối thí nhằm tìm hiểu thế gìới hiện tượng qua
quy luật nhân quả. Nhưng ngoài ra nghiệp báo (karma) cũng đóng
một vai trò chủ yếu đề giãi thích những đau khổ vả hạnh
phúc. Tuy nhiên karma chỉ lả một khía cạnh trong luật nhân
qủa và cũng không là một toà án tối cao để phân xử những
hành vi của chúng ta. Chân lý tuyệt đối thì nhằm tìm hiểu
những vấn đề tối hậu. Một câu hỏi khác được nêu lên
là tại sao nền tảng của khoa học đều bắt nguốn từ Tây
phương, mả không là Trung Hoa, dù nước này có nhìều phát
minh sớm nhất như la bàn và thuốc súng. Lời giải thích cho
vấn đề được đưa ra là không phải là người Trung Hoa
không có khả năng phân tích những hiện tượng khoa học,
nhưng họ có những nhu cầu ưu tiên tìm hiểu cho những vấn
đề quan trọng khác như đạo đức, hạnh phúc hay cái chết.
Ngoài ra theo họ thì thiên nhiên cũng không thể tách rời ra
tửng những thành phần biệt lập để nghiên cứu riêng biệt
như tại Tây phương, vì mọi thành phần trong thiên nhiên hoà
hợp với nhau theo một thể thống nhất. Phương thức suy lý
làm nền tảng cho khoa học tây phương cũng không được người
Trung Hoa chú trọng. Thực ra phương pháp suy lý cũng có giới
hạn của nó khi chỉ tìm hiểu một thành phần riêng lẻ mà
quên đi tổng thể cuả đối tượng nghiên cứu. Những thành
quả khoa học của thuyết 4 động lực cơ bản được giới
thiệu ở cuối chương.
Chương
15 bàn tới những bí ẩn của toán học. Vấn đề đặt
ra là toán học phải chăng chỉ là những sản phẩm của tri
thức mà thôi hay còn tạo nên những biến thiên vô hình trong
thực tại. Với niềm tin vào những quy luật khoa học, đặc
biệt là toán học, làm nền tảng, hầu hết các nhà khoa học
cho rằng chỉ có những quy luật của khoa học có thể giải
thích được những quy cách vận hành lệ thuộc vào thiên
nhiên. Descates und Leibnitz còn đi xa hơn khi kết luận rằng
những giải thích không diễn đạt được bằng ngôn ngữ
toán học thì không thể gọi là khoa học được. Những đề
cao vai trò của toán học qua Galilée, Pythagore và Wigner được
trích dẫn và giải thích. Những thành tựu Einstein trong việc
không sử dụng hình học Euclide, những công trình cùa Riemann
vào thế kỷ XIX về hình học cong và đặt biệt gần đây
ý niệm mới về toán học của Mandelbrot (dimension fractionnaire)
được tác giả giải thích. Bàn về bản chất của Toán học
có hai quan niệm đối kháng nhau, theo trường phái của các
nhà Constructivistes thì cho là toán học không có thực. Tất
cả những ý niệm tóan học đều là những sao chép từ những
cãm tưởng như David Humes nói. Những dạng của hình học không
thể tìm thấy trong các dạng của thiên nhiên. Trường phái
duy thực của các nhà Réalistes thì ngược lại cho rằng chính
toán học mới có một thực tại độc lập với tư tưởng
của chúng ta. Bằng lý trí chúng ta có thể tìm kiếm và khám
phá chân trời bao la của toán học. Dù chúng ta có ý thức
hay không thì toán học là một phạm vi rộng lớn đã có sẵn.
Những ý kiến về toán học cuả Descates, Penrose và Hertz đươc
dẫn giải. Vai trò của trực giác trong toán học được đem
ra thảo luận bằng những thì dụ của Archimède và Poincaré.
Những thành tựu của thiên tài toán hoc Ấn độ Ramanu-jan
được giới thiệu. Ngoài ra những khám phá mới trong của
các nhà sinh học não bộ đã cho thấy mối tương quan giữa
hoạt động của não thùy vả trực giác toán học. Ðể giải
thích hiện tượng thiên tài Einstein các nhà sinh học não bộ
tại Canada trong năm 1999 đã cho là dung lượng hai não thùy
thuộc về xương đỉnh cùa Einstein hơn một người bình thường
là 15%. Còn Phật giáo thì nghĩ sao vể toán học? Theo Phật
giáo thì toán học chỉ là những ý niệm của con người áp
dụng vào trật tự của thiên nhiên. Trật tự này là một
phản ảnh về sự tương thuộc của và những qui luật nhân
quả. Theo Phật giáo thì những sự minh mẫn không nhất thiết
là sự thông minh thuộc về toán học hay là các loại khác.
Ðó chẳng qua chỉ là sự tỉnh thức, một khả năng chủ
yếu nhằm tạo cho tinh thần có một ý thức. Ðặc điểm
chiếu sáng của tinh thần này được so sánh tương phản với
sự vô tri của đá cuội. Những ý niệm về toán học đã
đem lại những dẫn chứng về mối tương thuộc trong thế
gìới hiện tượng, trong khi đó thì thi sĩ cảm nhận mối
tương quan này qua thẩm mỹ và diễn đạt bằng một loại
ngôn ngữ khác. Khả năng cảm nhận được sự hòa điệu
cúa con người trong vũ trụ là một đặc điểm có sẵn trong
tinh thần của chúng ta. Nhưng sự diễn tả qua những quy luật
của toán học, những dạng thức, phương trình chỉ là một
sản phẩm vể ý niệm trong tư tưởng.
Câu
hỏi chính của chương 16 là lý trí hay suy niệm có thể giúp
chúng ta tìm hiểu thế giới như thế nào. Vấn đề đặt
ra là người ta có thể so sánh hai phương thức thu thập kiến
thức bằng khoa học và tôn giáo không và phải dựa trên cơ
sở nào để kiểm chứng những giá trị về những kiến thức
do tôn giáo mang lại. Phật giáo nghĩ gì về kiến thức khi
mà kiến thức thuần lý bắt nguồn từ nhũng ý niệm trừu
tượng, đươc quan sát, thử nghiệm và diễn đạt bằng ngôn
ngữ khách quan của toán học. Một loại kiến thức dựa trên
kinh nghiệm suy niệm của cá nhân có đáng được xem là thuần
lý không. Theo Phật giáo thì thuần lý có nghĩa là một phương
tiện kiến thức chính xác. Ý niệm này bao gồm mọi khía
cạnh của luận lý, thực nghiệm cũng như suy niệm. Theo đó
người ta phân biệt hai loại kiến thức một loại có giá
trị theo quy ước hay tương đối và một loại có gía trị
tối hậu hay tuyệt đối. Chỉ là giá trị tương đối khi
nó giúp chúng ta hiểu biết ngoại hình của sự vật và có
giá trị tuyệt đối khì nó giúp chúng ta hiểu được bản
chất của hiện tượng. Nhưng suy niệm cũng cần đến luận
lý và lý trí như là dụng cụ phân tích. Suy niệm giúp chúng
ta phát triển nhũng điều tốt đẹp như thiện tính, tính
từ bì. Kết hợp với kinh nghiệm suy niệm còn giúp chúng
ta mở mắt thấy được những hậu qủa tai hại của những
hận thù và những thuận lợi khi ta có lòng kiên nhẩn trong
đời sống hằng ngày. Cũng cần phân biệt ở đây về kiến
thưc và Giác ngộ. Giác ngộ là một trạng thái cao cả nhất
của kiến thức, khi mà người tu tập không còn phân biệt
chủ thể và khách thể trong ý niệm và tri thức thuần lý
nhường chổ cho ý thức trực tiếp, trong sáng và bừng tỉnh.
Tây phương thường giải thích Giác ngộ như là một trạng
thái tâm lý của trực giác và thần bí, nhưng thật ra lối
giải thích này không thể diễn đạt được hết ý niệm
Giác ngộ trong thế giới suy niệm của Phật giáo, vì Giác
ngộ vượt qua mọi giới hạn của những ý niệm thông thường.
Còn Kiến thức khoa học thì sao? Một lý thuyết khoa học thực
ra chì giải thích được một vài khía cạnh của thực tai,
chứ không toàn diện. Ðịnh lý nổi danh về sự bất toàn
(le théorème d'incomplétude) của Gödel vào năm 1931 là một thí
dụ điển hình. Gödel đã minh chứng rằng trong hệ thống
số học vẫn có nhiều điểm không thể dùng luận lý xác
định đúng hay sai. Người ta cũng không thể chứng minh một
hệ thống mạch lạc và không tương phản dựa trên những
công lý (những điều đề nghị ban đầu được chấp nhận
mà không cần chứng minh). Theo Gödel người ta nên ra khỏi
hệ thống và cũng phải đặt ra những công lý phụ để giải
quyết vấn đề. Sự chính xác của toán học được phép
nghi ngờ. Trong tinh thần đó không những mục tiêu của khoa
học cần xác định lại, mà chỉ những phương tiện khảo
cứu cũng luôn được kiểm chứng. Vấn đề được đặt
ra ở cuối chương để thảo luận là những kiến thức thu
thập được đến từ những kinh nghiệm suy niệm sẽ không
có tính phố quát, bởi vì nó là thuần túy cá nhân vả cũng
không kiểm nghiệm đươc. Tây phương thường có thành kiến
về kiến thức đến đến từ suy niệm này và cho rằng tinh
thần này không là một dụng cụ đáng hãnh diện và những
kinh nghiệm này cũng không bổ ích. Thực ra kinh nghiệm nội
tại là một điêù không thể phủ nhận được. Sự tu tập
giúp cho người ta chuyển hoá được con người với nhiều
đức tính tốt như: vị tha, khoan dung, kham nhẩn, thanh thản,
buông bò mọi ràng buộc và tăng thêm nghị lực. Kết quả
này có đạt đươc hay không là do khả năng và lòng trì chí
của từng cá nhân. Về lâu dài người ta mới có thể đánh
giá kết quả những kinh nghiệm này một cách khách quan hơn.
Chương
17 tiếp tục tìm hiểu về thế giới qua sự tương quan giữa
nhà nghiên cứu khoa học và đối tượng nghiên cứú. Những
định kiến siêu hình của nhà khoa học có gây ảnh hưởng
đến viễn kiến khoa học hay không và người ta có thể hiểu
được thực tại với một kiến thức tuyệt đối hay không,
đó là câu hỏi chính. Trong đó hai phương cách thu thập kiến
thức của Khoa học và Tôn giáo được nêu lên: nhà khoa học
thì nghiên cứu thế giới ngoại quan trong khi người tu học
phân tích hiện tượng bằng suy tưởng hướng nội. Vấn đề
không thể quên được nhà khoa học cũng là một con người
với tính chủ quan và với những định kiến. Không phải
ai thấy được hình ảnh của sự vật thì người ta có thể
có khả năng giải thích được mà còn cần đến trí tường
tượng và khả năng chuyên môn. Nhà nghiên cứu tây phương
thường có khuynh hướng đưa ra trước một giả thuyết là
có một chân lý vững chắc đằng sau những giá trị biểu
kiến đẽ làm việc. Họ luôn luôn có một mục tiêu xác định
, một gía trị để theo đuổi và kiến thức về vấn đề
đặt ra, nhờ đó mà họ có thể soạn lọc những điều cần
thiết cho công việc. Trong khi đó nhà nghiên cứu Ðông phương
nhờ thấm nhuần văn hoá Ðông phương nên có một phương
cách khác hơn. Họ đặt chân lý trong một thế giới vô thủy
vô chung và tìm ra mối quan hệ nhân quả và tương thuộc trong
thế giới hiện tượng. Những kinh nghiệm của Enstein, Darwin,
Harson và Newton được đưa ra. Việc quan sát ánh sáng bằng
mắt thường và viễn vọng kính được diễn giải và đưa
tới kết luận là chính sự quan sát giúp người ta đạt được
ý thức vấn đề và giải thích nó theo quan sát của mình.
Làm thế nào người ta có thể đạt được một thực tại
khoa học, câu hỏi này được giải thích theo trường phái
duy thực (Réalisme scientifique) và được Wallace tóm tắt như
sau: Ta phải chấp nhận một số tiền đề sau đây để tìm
hiểu khoa học
1/
Thế giới vật chất hiện hữu độc lập với kinh nghiệm
con ngưới.
2/
Thế giới này có thể đạt được bằng ý niệm của con
ngưới (bằng toán học hay các khoa học khác).
3/
Trong muôn nghìn phương cách của hệ thống các ý niệm nhằm
mô tả các hiện tượng quan sát thì chỉ có một cách duy
nhất là đúng với thực tế.
4/
Khoa học phải khám phá được lý thuyết duy nhất được
cho là chân lý này.
5/
Nhà khoa học sẽ không thiếu được phương cách để nhận
ra lý thuyết này.
Trường
phái duy thực vẫn có nhiều hạn chế mà Phật giáo có thể
bổ sung được. Theo Phật Giáo thì thế giới hiện tượng
luôn luôn biến đổi qua thời gian và có mối quan hệ với
ý thức con người hơn là một thực tại độc lập. Ngoài
ra không thể nào nhận chân ra một thực tại tuyệt đối,
bản chất tối hậu của hiện tượng chỉ là một khía cạnh
trong thể liên hợp của thế giới, không có sự cách biệt
giữa nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, cả hai bổ
sung cho nhau. Theo Phật Giáo, thực tại tối hậu vượt qua
mọi hiện tượng thông thường như hình dạng, khuôn khổ
và sức nặng v.v.. mà khoa học tìm ra.
Chương
18 nêu lên vấn đề thẩm mỹ trong Khoa học và Phật học.
Câu hỏi đặt ra là có một ý niệm thẩm mỹ trong nghiên
cứu khoa học và trong Phật giáo không. Khi nói tới hoạt động
khoa học, người ta liên tưởng đến những gì khô khan, lạnh
lùng, thuần lý dĩ nhiên thiếu cảm xúc và thẩm mỹ.
Thật ra trong việc quan sát hiện tượng thiên nhiên và đề
xướng lý thuyết có một mối quan hệ với thẩm mỹ. Trong
nét đẹp cuả các hiện tượng thiên nhiên và nét đẹp trừu
tượng trong lý thuyết khoa học có 3 đặc điểm chính: cần
thiết, đơn giản và chân lý. Những đặc điểm này được
tìm thấy qua các kinh nghiệm của Newton, Copernic và Einstein.
Theo Phật giáo thì ý niệm về thẩm mỹ bắt nguồn từ những
bản chất sâu xa trong con ngườì. Nói một cách đơn giản
nhất thì nét đẹp là những gì đem đến cho chúng ta một
cảm giác viên mãn, và tuỳ theo trường hợp cũng có thể
gọi là hạnh phúc. Dĩ nhiên nét đẹp cũng có những mức
độ khác nhau, tùy thuộc vào sự viên mãn. Có thể gọi là
một nét đẹp tương đối khi nó đem lại cho ta những thỏa
mãn nhất thời, trong khi một nét đẹp tuyệt đối đem lại
cho chúng ta một hạnh phúc vĩnh cửu. Một nét đẹp tâm linh
được thể hiện rõ nét qua việc chiêm ngưỡng dung mạo Ðức
Phật. Nhìn Ngài sẽ gợi lên trong ta một hạnh phúc về sự
Giác ngộ và khả năng có thể đạt đến sự tỉnh thức
này. Dĩ nhiên sự cảm nhận hạnh phúc này tuỳ thuộc vào
từng hoàn cảnh trình độ của từng cá nhân cũng như xã
hội. Khi chúng ta sống càng hoà điệu với bản chất sâu
xa của mình, thì chúng ta càng khám phá ra những nét đẹp
nội tại trong chúng ta. Một nét đẹp tối hậu chỉ đạt
được khi nào chúng ta đã sống trong Phật tánh và đạt được
Giác ngộ.
Chương
19 chương cuối cùng của cuốn sách, nêu lên vấn đề hành
động theo Phật giáo. Tây phương thường cho là sự hành
thiền là một biểu hiện tiêu cực, trốn chạy cuộc đời
và làm sao đem lối sống từ trầm tư suy niệm này đến tích
cực hơn. Phương châm của người học Phật là hãy tự chuyển
hoá mình trước khi cải thiện cuộc đời, hạnh phúc cuộc
đời đến từ trái tim vị tha và bất hạnh đến từ trái
tim vị kỷ, nên dẹp bỏ mọi vị kỷ cá nhân, nó là thần
được làm giảm bớt khổ đau. Nhưng từ bi suông mà không
hành động chỉ là đạo đức giả. Hạnh phúc của từng
cá nhân đều có mối quan hệ với người khác và cũng khộng
thể xây đắp hạnh phúc cá nhân mình trên sự bất hạnh
của kẻ khác. Muốn thực hiện điều này dĩ nhiên đây là
một sự nỗ lực lâu dài, có bước chuẩn bị, hành động
trong ngắn hạn và trong trường kỳ. Phương cách có vẻ quá
lý tưởng này được đưa ra thảo luận.
Những
câu hỏi được đặt ra là làm sao chờ đợi sự chuyển hóa
trong trường hợp bạo tàn của Hitler, Stalin và Polpote.
Bất bạo động có còn là một giải pháp chính trị thích
hợp cho trường hợp Tây tạng nữa không; ngoài sự ngây thơ,
yếu đuối và cả những tính toán kinh tế của các nhà lãnh
đạo tây phương trước thị trường Trung hoa, thì những nỗ
lực giải quyết vấn đề tù cải tạo tập trung và việc
mưu tìm một giải pháp cho Tây tạng cũng được hai tác giả
thảo luận.Trở lại vấn đề hành động trong cuộc đời
thì suy niệm có một giá trị đặc biệt. Nó giúp cho người
tu tập tìm thấy một sự bình an trong tâm hồn đồng thời
mở liên hệ đến thế giới chung quanh. Từ nhận thức này
mỗi người sẽ có một thế giới quan khác và sẽ giúp tìm
ra một phương thức hành động thích hợp với hoàn cảnh
cá nhân mình.
Ý
kiến của người đọc:
Ðây
là một tác phẩm quan trọng chứa đựng nhiều vấn đề mà
người đọc khộng thể nào đi sâu vào chi tiết trong khuôn
khổ cùa một bài giớí thiệu sách, nên chỉ xin được tóm
lược trong những ý chính như sau:
Trước
đây đã có những tác phẩm đề cập đề vấn đề này,
nhưng tác phẩm trình bày ở đây là một công trình đầu
tiên quy mô và nghiêm túc nhằm đối chiếu những thành tưụ
khoa học hiện đại với những luận điểm liên hệ theo Phật
giáo. Qua 19 chương sách hai tác giả đã cho thấy một kiến
thức uyên bác về vấn đề chuyên môn và khả năng giải
thích. Bằng một lối văn trong sáng hai tác giả đã diễn
đạt thành công những ý niệm thật phức tạp, giúp cho độc
giả không có kiến thức chuyên môn có thể theo dõi được
vấn đề. Phần chú thích thuật ngữ Phật giáo và Khoa học
giúp dễ hiểu những ý niệm cơ bản. Phần trích dẫn tài
liệu có thể giúp người đọc có nguồn tài liệu tra cứu
thêm. Với hình thức thảo luận và đối chiếu làm cho vấn
đề sống động và sáng tỏ hơn.
Qua
nội dung đề cập thì hai tác giả đưa ra nhiều điểm tương
đồng và bổ sung giữa Khoa học và Phật giáo hơn là tương
phản.
Ðể
đi tìm một giới hạn đạo đức cho việc nghiên cứu khoa
học, đặt biệt là việc lai tạo vô tính đang được bàn
cãi tại các nươc tiền tiến và hiện vẫn chưa chấm dứt.
Nếu việc nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi trị
liệu y khoa thì sẽ được dễ dàng chấp nhận hơn. Ðó cũng
là ý kiến phù hợp với quan điểm Phật giáo, khi công trình
này nhằm làm vơi đi nổi khổ của con người. Nhưng vấn
đề ở đây không thuần túy trị liệu mà phưc tạp hơn nhiều.
Nỗi đau khổ của con người là một ý niệm tôn giáo hơn
là định chuẩn khoa học (kể cả luật học). Do đó khó lòng
thuyết phục dùng nó làm một định hưóng cho tương lai. Trị
liệu và lạm dụng trị liệu vào mục tiêu khác là một đề
tài quen thuộc mà chưa ai giải quyết được. Về phía Phật
giáo thì đến nay vẫn chưa có một công trình nghiêm túc nào
để soi sáng vấn đề này.
Thực
ra Einstein khộng cảm nhận luồng tư tưởng phật giáo trực
tiếp. Hai hai triết gia Schopenhauer và Spinoza đã ảnh hưởng
sâu đậm vào thế giới quan của Einstein. Tư tưởng phật
giáo bàng bạc trong các tác phẩm của Schopenhauer và đặc
biệt là Substanz theorie của Spinoza là một một điều không
thể phủ nhận và cũng khởi điểm suy tư của Einstein. Một
điều đáng tiếc là luận đề của Spinoza khộng được đề
ra thảo luận.
Nghi
ngờ về về khả năng chính xác tuyệt đối của toán học
không phải là một khám phá cuả Gödel, thật ra trước đó
Georg Cantor (1845-1918) với luận thuyết Mengenlehre đã đặt
thành vấn đề gây nhiều ảnh hưởng sâu xa cho hậu bán thế
kỷ XIX. Sự tương phản trong toán học tạo nên một cuộc
khủng hoảng về nền tảng của ngành này, khiến nhiều trường
phái toán học ra đời nhằm cố đưa ra những giái thich mớ
tiêu chuẩn hoá cho toán hoc. Ðó là các trường phái Logizismus
(J. G. Frege, B. Russel, A. N. Wheitehead), Institutionismus (L.E.J. Brouwer)
và Formalismus ( D. Hilbert, H. Weyl). Cho đến ngày nay vấn đề
cũng chưa được giải đáp thỏa đáng.
Triết
lý về tánh không và vấn đề phân biệt chân lý tuyệt đối
và tương đối là tư tường nền tảng của Phật giáo đã
có mặt trong suốt cuộc thảo luận. Ðộc giả tây phuơng
với một khả năng phân tích thuần lý sẽ khó khăn vì tính
cách hư ảo sắc không đươc diễn đạt qua những ẩn dụ
đầy thi vị và màu sắc của Á Ðông. Thiết tưởng trọng
đề này cần đặt lại trong đốí chiếu tương phản với
chủ nghiã Hư vô (Nihilismus) của Nietzsche và đặc biệt là
Thuyết hiện sinh vô thần (Existentialistische Atheismus) của J.
P. Sartre, thì sẽ đạt kết quả cao hơn.
Ngày
nay nhu cầu tìm hiểu về Phật giáo càng ngày càng tăng lên,
đặt biệt là tại Âu châu. Tác phẩm giá trị này là một
đáp ứng kịp thời cho các độc giả, mà điển hình là nó
được liệt vào hạng thứ nhì trong loại sách bán chạy nhất
(best-seller) trong năm qua tại Pháp và hiện nay đã được dịch
ra 10 ngôn ngữ trên thế giới (2) Ứơc mong sao trong tương
lai một bản dịch Việt ngữ cũng sẽ ra đời nhằm giúp độc
giả người Việt có cơ hội theo dõi vấn đề quan trọng
này.
Ðỗ
Kim Thêm
E-mail:
kimthem_do@hotmail.com
Ðã
đăng trên Tập San Viên Giác Tây Ðức Số 126 Xuân Nhâm Ngọ
2002
(1)
Những tác phầm của Gs Trịnh Xuân Thuận: Giai
Ðiệu Bí ẩn (La mélodie secrète, 1991), Hỗn độn và Hài hòa
(Le Chaos et l'Harmonie, 2000), Số mệnh của Vũ Trụ (Le destin
de l'Univers), Tu sĩ và triết gia (Le moine et le philosophe).
Nguồn gốc - Nhớ thuở đầu tiên (Origines - La nostalgie des
commencements, 2003). Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên
thể (Trinh xuan Thuan un astrophysicien). Viết chung với
Matthieu Ricard: Vô tận trong lòng bàn tay ( L'Infini
dans la paume de la main, 2000), L'arpenteur du cosmos
viết chung với Edmond Blattchen
Hầu
hết mọi tác phẩm của Trịnh Xuân Thuận đều được Phạm
Văn Thiều dịch ra tiếng Việt
(2)
Hiện nay, năm 2004, sách của ông đã dịch ra mười
lăm thứ tiếng
Vietsciences
chú thích
©
http://vietsciences.free.fr và http://vietsciences.net Đỗ
Kim Thêm