(IV)
Pháp
giới tính: chồng chập, giao thoa, và vướng mắc.
Tưởng
cần nhắc lại đây một số tính chất đặc biệt của cơ
học lượng tử (quantum mechanics) trước khi bàn về khoa thông
tin lượng tử (quantum information). Lượng tử hay hạt có hai
loại phẩm tính, tĩnh và động. Các phẩm tính tĩnh có kích
thước không thay đổi khi đo lường và dùng để phân biệt
các loại hạt. Ba phẩm tính tĩnh quan trọng nhất là khối,
điện tích, và đại lượng của spin. Trong số các phẩm tính
động biểu trưng tánh động của hạt có thể kể vị trí,
xung lượng, và định hướng của spin.
Nền
tảng của cơ học lượng tử là nguyên lý bất định Heisenberg
được sử dụng để xác định mức độ chính xác trong sự
đo lường những phẩm tính động của hạt chuyển động.
Các phẩm tính động luôn luôn phát hiện thành từng cặp
bổ sung, chẳng hạn vị trí và xung lượng, năng lượng và
thời gian trong một tiến trình vật lý. Theo nguyên lý bất
định, dẫu dụng cụ, phương pháp, và người đo lường hoàn
hảo đến mức độ nào đi nữa, ta không bao giờ có thể
đồng thời biết được chính xác cả hai phẩm tính bổ sung
của một hạt đang chuyển động. Theo Bohr, những phẩm tính
biểu trưng tánh động của lượng tử không thuộc bản tính
tự nhiên của lượng tử mà phát hiện từ toàn thể trạng
huống trong đó công việc đo lường được thực hiện. Hạt
tự nó không có phẩm tính vị trí và xung lượng. Những phẩm
tính ấy thật ra là quan hệ giữa hạt và dụng cụ đo lường.
Dẹp bỏ dụng cụ đo lường thời những phẩm tính ấy cũng
biến mất. Phẩm tính động của hạt khả dĩ định nghĩa
và quan sát được chỉ khi nào đặt hạt trong quan hệ hỗ
tương tác dụng với những hệ thống khác. Như vậy, thay
vì có vị trí và tốc độ được quan sát và định nghĩa
riêng biệt, các hạt có một trạng thái lượng tử (a quantum
sate) tức một tổ hợp vị trí và tốc độ.
Cơ
học lượng tử thường không dự đoán một kết quả duy
nhất của một thí nghiệm. Nó trưng dẫn nhiều kết quả
khác nhau, nêu rõ mỗi kết quả có bao nhiêu cơ duyên thành
tựu. Nghĩa là, nếu áp dụng cùng một phép đo lường và
khởi sự trong điều kiện ban đầu giống nhau để đo một
số lớn hệ thống tương tợ nhau [đây muốn nói là đo một
hệ thống rất nhiều lần, hệ thống tất nhiên không bao
giờ ở yên trong cùng một trạng thái] thời kết quả đo
được sẽ là A trong một số trường hợp, B trong một số
trường hợp khác, v..v... Ta có thể dự đoán gần đúng bao
nhiêu lần kết quả là A hay B nhưng không thể dự đoán kết
quả chính xác sau mỗi lần đo lường được. Như vậy cơ
học lượng tử thêm vào khoa học yếu tố ngẫu duyên bất
khả dự tri. Vì thế một số khoa học gia như Einstein chống
đối cơ học lượng tử, bảo rằng: “Thượng đế không
chơi súc sắc”. Nhưng đa số chấp nhận bởi cơ học lượng
tử hoàn toàn phù hợp với thực nghiệm. Cơ học lượng tử
chi phối sự vận hành của các transistor và mạch tổ hợp
là những thành phần chính yếu của các thiết bị điện
tử như tivi và máy tính, đồng thời là nền tảng của hóa
học và sinh học hiện đại.
Lượng
tử ánh sáng (photon) cũng như lượng tử vật chất (thí dụ:
electron) có hai hành tướng, hạt và sóng. Trái với quan điểm
của Niels Bohr cho rằng không bao giờ có thể thấy photon tác
dụng như hạt và sóng cùng một lúc, năm 1992, các vật lý
gia Nhật bản hoàn thành một thí nghiệm do một nhóm vật
lý gia Ấn độ thiết kế và quan sát được hiện tượng
photon tác dụng đồng thời như hạt và sóng. Như vậy, hành
tướng phát hiện là tùy theo trạng huống trong đó thí nghiệm
được thực hiện. Nói theo ngôn ngữ Phật giáo, lượng tử
là một pháp hữu vi siêu việt và hàm dung hai hành tướng
sóng và hạt tương đãi đối nghịch. Đây là đặc tính mâu
thuẫn mà nhất thống của tánh Không của lượng tử.
Sóng
chuyển động tuần hoàn và được xác định bởi hai phẩm
tính: biên độ diễn tả độ cao của sóng và pha diễn tả
sóng ở vào thời kỳ nào của chu kỳ chuyển động. Pha của
sóng điều tiết hiện tượng hai sóng gặp nhau. Nếu hai sóng
đồng tần số tiếp xúc nhau với pha đồng nhất thời ta
bảo chúng “trùng pha” (in phase), với pha khác nhau nửa chu
kỳ thời ta bảo chúng “phản pha” (out of phase).
Khi
hai sóng gặp nhau thời tổng hợp thành một sóng có biên độ
bằng biên độ của hai sóng cộng lại. Sự kiện biên độ
các sóng gặp nhau bất kỳ ở đâu cộng thành biên độ của
sóng tổng hợp được gọi là nguyên lý chồng chập (superposition
principle). Nguyên lý này chỉ áp dụng trong trường hợp biên
độ không lớn và khi không áp dụng được thời gọi là
trường hợp phi tuyến tính (non linearity). Không có gì thêm
hay mất đi mọi khi sóng gặp nhau. Đặc biệt là khi một sóng
truyền dẫn ra khỏi sóng tổng hợp, biên độ của nó vẫn
như trước khi gặp các sóng khác. Sóng tổng hợp chỉ là
một sự chồng chập sóng tạm thời.
Nguyên
lý chồng chập quyết định rằng khi các sóng dao động cộng
lại thời biên độ của sóng tổng hợp tùy thuộc sự tương
quan liên hệ giữa các pha. Khi hai sóng trùng pha, đỉnh sóng
gióng hàng với đỉnh sóng, đáy sóng gióng hàng với đáy
sóng tạo thành một sóng mạnh hơn với biên độ lớn. Nếu
biên độ của chúng bằng nhau (chọn làm 1 đơn vị) thời
sóng tổng hợp có biên độ bằng 2 đơn vị. Đây là trường
hợp giao thoa xây dựng. Khi chúng phản pha, đỉnh của sóng
này gióng hàng với đáy của sóng kia và nếu biên độ của
chúng bằng nhau thời hai sóng hỗ giao tương triệt, tổng hợp
thành một sóng có biên độ triệt tiêu. Trường hợp này
gọi là giao thoa phá hủy. Nếu pha ở đâu đó trong khoảng
giữa trùng và phản pha thời biên độ tổng hợp nằm trong
khoảng 0 và 2.
Ngẫu
duyên và giao thoa, hai nét đặc thù của cơ học lượng tử
được diễn tả toán học bằng một hàm sóng do Schrodinger
sáng thiết với mục đích minh giải sự giao thoa của các
hạt vật chất. Hàm sóng không mô tả hạt mà thông tin về
cơ duyên có thể tìm thấy hạt đâu đó tại nhiều vị trí
khác nhau. Bình phương biên độ của sóng tại bất kỳ chỗ
nào cho biết xác suất tìm thấy phẩm tính vị trí của hạt
ở chỗ đó và dạng sóng thông tin cho biết về tất cả phẩm
tính khác. Hàm sóng chính là trạng thái lượng tử biểu tượng
vừa hiện tượng giao thoa của các hạt vừa tập tính ngẫu
duyên của chúng. Quan hệ giữa tính khả dự tri của hàm sóng
và tính bất khả dự tri của hạt tương tợ quan hệ giữa
hai mệnh đề có vẻ mâu thuẫn nhau: “Xác suất đồng tiền
rơi ngữa là 50%, một đại lượng hoàn toàn khả dự tri”
và “Đồng tiền rơi xuống sau mỗi lần gieo không biết là
sấp hay ngữa, đó chính là một điều bất khả dự tri”.
Hàm sóng có thể biểu trưng hai mệnh đề tương phản như
thế, quả là một sự kiện khác thường!
Tóm
lại, hàm sóng không vận tải năng lượng như sóng nước
hay sóng âm, mà vận tải những khả năng, hay tiềm năng chồng
chập tuyến tính lên nhau. Nói theo Duy thức, hàm sóng là những
làn sóng chủng tử tạo nên thức a lại da, thức này hằng
chuyển, tương tục bất đoạn.
Von
Neumann là người đầu tiên đặt thành vấn đề nhưng không
giải quyết sự đo lường phẩm tính lượng tử. Ông cũng
là người đầu tiên chỉ cho thấy thuyết lượng tử dẫn
khởi vai trò tâm thức của người quan sát thí nghiệm. Ông
cho rằng vật thể tự nó không có phẩm tính nếu quan sát
viên không chú tâm quan sát nó. Khái niệm then chốt trong sự
đo lường lượng tử là sự “sụp đổ của hàm sóng”
phát hiện trong thí nghiệm với màn chắn có hai khe: Một hạt
đơn nhất như một photon hay một nguyên tử natri khi truyền
dẫn thời có dạng sóng, nhưng khi đến nơi thời có dạng
hạt. Theo nhóm Copenhagen do Bohr lãnh đạo, chính tác dụng quan
sát, hay đo lường, sóng làm nó sụp đổ thành hạt.
Hạt
đơn nhất khi đi qua một khe tuồng như đồng thời biết được
khe kia bị che kín hay để hở, do đó cuối cùng chọn lựa
kiểu hình vẽ ra trên màn lân quang, một vùng điểm trắng
hay kiểu hình sóng giao thoa. Nghĩa là, nó ý thức được điều
kiện chẳng những tại một khe mà khắp nơi trong toàn thể
thí nghiệm [Nên nhớ so với kích thước của hạt khoảng
cách hai khe vô cùng lớn]. Tánh nối kết phi cục bộ (non-local
connection) này là nét đặc thù trọng yếu của cơ học lượng
tử. Bảo rằng A nối kết phi cục bộ với B có nghĩa là
(1) nối kết không qua trung gian môi chất nào giữa A và B;
(2) ảnh hưởng của sự nối kết không bị khoảng cách giảm
thiểu; ảnh hưởng vẫn giống nhau dẫu cách xa hàng vạn dặm
hay chỉ một phần rất nhỏ của một ly; và (3) có tánh tức
thời, không bị tốc độ ánh sáng hạn định.
Trong
cơ học lượng tử, tánh nối kết phi cục bộ có tên gọi
là pha vướng mắc (phase entanglement). Mỗi khi hệ lượng tử
A gặp hệ lượng tử B, pha của chúng hỗn hợp: sóng của
A sao một phần pha của nó vào trong sóng của B và ngược
lại. Sự trao đổi pha như thế nối kết vĩnh viễn hai hệ
thống A và B. Tánh pha vướng mắc nối kết hết thảy mọi
hệ thống từng gặp nhau một lần trong quá khứ thành một
sắc sóng duy nhất, sự nối kết không qua trung gian môi chất
nào, không bị khoảng cách giảm thiểu ảnh hưởng, và có
tánh tức thời.
Nhằm
tìm hiểu ý nghĩa toàn thể (holism) của trạng thái chồng
chập và vướng mắc, hãy lấy spin làm thí dụ. Spin là một
tính chất vật lý chỉ được đề cập trong cơ học lượng
tử. Có những hệ thống như electron có spin 1/2 với hai trạng
thái mà thôi, hoặc trạng thái spin “chỉ lên” spin up) hoặc
trạng thái spin “chỉ xuống” (spin down). Giả thiết hai hệ
thống có spin 1/2 cùng phát ra từ một nguồn, rồi sau đó
lìa nhau theo hai ngả đường ngược hướng. Dẫu ly cách bao
nhiêu đi nữa, trạng thái spin của toàn thể, nghĩa là trạng
thái spin nối của hai hệ thống ấy hợp nhau, là trạng thái
chồng chập của hệ thống đầu có spin chỉ lên và hệ thống
thứ hai có spin chỉ xuống với hệ thống đầu có spin chỉ
xuống và hệ thống thứ hai có spin chỉ lên.
Trong
trạng thái chồng chập, riêng mỗi hệ thống, không có hệ
thống nào ở trong trạng thái có spin chỉ lên hay spin chỉ
xuống. Như vậy có nghĩa là, tuy spin cục bộ (local spin) tức
spin của riêng mỗi hệ thống là một phẩm tính khả quan
trắc (local observable), nhưng trong cách thế chồng chập nó
không có một độ đo chính xác mà chỉ với một xác suất
bao nhiêu phần trăm đúng. Spin toàn thể (total spin) của
trạng thái chồng chập mới có một độ đo xác định. Khi
đo spin của một trong hai hệ thống và biết kết quả thời
xác suất đo spin của hệ thống kia biến đổi thành 1, nghĩa
là ta có thể biết chắc spin của nó là chỉ lên hay chỉ
xuống.
Tánh
chồng chập và pha vướng mắc là một thí dụ khoa học về
pháp giới tính là “tính bản nhiên của tất cả sự vật,
nghĩa là của tất cả các chuyển động và các hiện tượng
trong vũ trụ. Tính bản nhiên ấy là tính “trùng trùng duyên
khởi”, nghĩa là tính ảnh hưởng dây chuyền của một sự
vật đối với tất cả sự vật, của tất cả sự vật đối
với một sự vật. Ví như một con cá nhỏ vẫy đuôi, tuy
rung động rất ít, nhưng nếu có khả năng đo lường chính
xác, thì cũng có thể thấy ảnh hưởng cùng khắp bốn bể.”
(Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Lời nói đầu. Tâm Minh Lê Đình Thám)
Vật
lý gia John Stewart Bell chứng minh một định lý toán học xác
nhận rằng thực tại lượng tử phải phi cục bộ. Kết quả
của định lý Bell không tùy thuộc thuyết lượng tử, như
vậy có nghĩa là một ngày kia nếu thuyết lượng tử được
nhận thấy không còn giá trị, không lợi ích nữa, và bị
dẹp bỏ, thời định lý Bell vẫn đứng vững và luôn luôn
đúng. Nên nhớ rằng định lý Bell buộc thực tại chứ không
phải hiện tượng phải phi cục bộ. Đo lường lượng tử
là phương tiện vật lý gia sử dụng để tiếp xúc với thực
tại. Tất cả mọi đo lường lượng tử đều cấu thành
bởi những nhảy lượng tử, chẳng hạn như những chớp sáng
lóe trên màn lân tinh. Các nhảy lượng tử lên xuống từ
thực tại lượng tử tạo thành những mẫu hình tồn tại
và tái diễn có tánh cục bộ, nghĩa là tương giao tác dụng
qua trung gian những môi chất trong không gian và thời gian. Do
tánh pha vướng mắc mà hiện thành một toàn thể hoàn chỉnh
trong đó các lượng tử nối kết phi cục bộ vận hành theo
quy luật của hàm sóng.
Qubit:
Không và Bất không.
Để
tìm hiểu thông tin lượng tử, hãy đặt câu hỏi theo phương
pháp ba giai đoạn của Schumacher. Trong cơ học lượng tử,
tài nguyên vật lý mới nào thay thế chuỗi các bit? Công việc
xử lý thông tin nào có thể thực hiện? Những tiêu chuẩn
thích hợp nào về sự thành tựu công việc xử lý thông tin?
Về
tài nguyên vật lý thời phải kể đến các trạng thái chồng
chập, giống như trường hợp con mèo của Schrodinger là sự
chồng chập hai khả năng sống và chết. Công việc xử lý
thông tin có thể liên can đến sự vận dụng tánh nối kết
phi cục bộ tức pha vướng mắc. So với trường hợp thông
tin cổ điển, tiêu chuẩn về sự thành tựu tinh tế hơn nhiều
bởi vì muốn gom thu kết quả của một công việc xử lý
thông tin thời phải quan sát, hay đo lường, hệ thống. Nhưng
trong cơ học lượng tử, hành động như vậy sẽ biến đổi
hệ thống, hủy diệt những trạng thái chồng chập đặc
biệt chỉ hiện hữu trong vật lý lượng tử mà thôi.
Tài
nguyên căn bản của thông tin lượng tử gọi là bit lượng
tử, quantum bit, hay qubit (đọc là kiubit), danh từ do Schumacher
đề nghị và được cộng đồng vật lý gia chấp nhận vào
thu 1992. Giống như bit là tượng trừu xuất từ những
nguyên lý của vật lý học cổ điển, qubit là tượng trừu
xuất từ những nguyên lý của cơ học lượng tử. Bit,
đơn vị của thông tin cổ điển, được miêu tả bởi trạng
thái của nó, 0 hay 1. Cũng vậy, qubit, đơn vị của thông tin
lượng tử, được miêu tả bởi trạng thái lượng tử của
một hệ thống lượng tử hai thứ nguyên. Có hai trạng thái
lượng tử của qubit gọi là trạng thái cơ bản tương ứng
với hai trạng thái 0 và 1 của một bit cổ điển. Hai trạng
thái cơ bản này thường được ký hiệu là |0> (đọc là
ket 0) và |1> (đọc là ket 1). Tuy nhiên, trong cơ học lượng
tử, hạt nào có hai trạng thái lượng tử khác nhau tất có
một tập hợp gồm vô số trạng thái chồng chập của hai
trạng thái đó. Vì thế qubit có thể được miêu tả bởi
vô số trạng thái chồng chập của hai trạng thái cơ bản
|0> và |1>. Biểu thức của qubit có dạng:
a|0>
+ b|1>
a
và b là phức số, một trong hai phức số này phải khác không.
(Xem Bài toán A lại da duyên khởi. Sách Tánh khởi và Duyên
khởi. Hồng Dương). Có thể nói vắn tắt, qubit là chồng
chập 0 và 1, cũng như nói bit là trị số 0 hay 1.
Bất
cứ hệ thống lượng tử nào có hai trạng thái như spin của
electron hay phân cực của photon đều là hóa thân của một
qubit. Trong một qubit có nhiều hơn một bit thông tin. Tuy nhiên
khi đo qubit để thu lượm thông tin thời chỉ đạt được
chỉ một bit mà thôi.
Xin
mở dấu ngoặc để giải thích sơ lược phân cực của photon
liên hệ như thế nào với qubit. Ánh sáng là những sóng ngang,
thẳng góc (90 độ) với chiều sóng truyền dẫn (chiều dọc),
kết hợp dao động di chuyển của điện trường và từ trường.
Một bộ lọc sóng phân cực như kiến mát Polaroid chẳng hạn,
có công dụng phân cực ánh sáng, nghĩa là để ánh sáng truyền
xuyên qua kiến theo một chiều riêng biệt, chiều của trục
truyền dẫn của bộ lọc. Nếu chiều của trục bộ lọc
thẳng đứng thời chỉ có ánh sáng phân cực thẳng đứng
truyền qua nguyên vẹn, còn ánh sáng phân cực nằm ngang thời
hoàn toàn bị chận lại. Ánh sáng của mặt trời hay của
đèn điện vì là hỗn hợp ánh sáng phân cực khắp mọi hướng
khác nhau cho nên gọi là ánh sáng thường, không có chiều
phân cực nào đặc biệt. Mỗi photon của ánh sáng phân cực
có thể hình dung như có gắn một mũi tên chỉ hướng phân
cực của nó, thẳng góc với chiều truyền dẫn ánh sáng.
Cơ học lượng tử thường nói đến những photon phân cực
theo hai chiều thẳng góc với nhau và với chiều truyền dẫn
của ánh sáng. Như vậy, photon là trạng thái chồng chập của
hai sóng phân cực, sóng phân cực chiều đứng và sóng phân
cực chiều ngang, cho nên được xem như hóa thân của một
qubit.
Thí
nghiệm nào có thể tạo ra một qubit? Cách đơn giản nhất
để tạo qubit là dùng một bộ tách chùm tia (beam splitter).
Bộ tách chùm tia không gì khác là những đĩa thủy tinh dày
độ hơn nửa phân, đường kính lớn trong khoảng từ một
đến hai phân, một mặt được phủ một lớp mỏng kim loại,
kim loại màu vàng, màu bạc, đủ mọi màu, hầu phản chiếu
ánh sáng màu sắc khác nhau. Bộ tách chùm tia có mặt hầu
như khắp nơi, trong nhà, trên xe, nó giúp kiểm soát các tia
chớp laser vi tế trong các máy chơi CD. Chức năng của nó là
tách ra hai chiều một chùm tia sáng chiếu xiên trên mặt nó:
một tia truyền thẳng xuyên qua thủy tinh và tia thứ hai phản
chiếu trên nó như trên một mặt gương. Đặc điểm là nó
bảo toàn năng lượng của chùm tia, không biến chuyển phần
nào ra nhiệt. Nó có tánh đối xứng, nghĩa là tách chùm tia
thành hai phần bằng nhau: tia truyền thẳng và tia phản chiếu,
độ sáng của mỗi tia bằng nửa độ sáng của chùm tia chiếu
tới nó.
Bây
giờ đặt một bộ tách chùm tia nằm ngang song song với nền
nhà. Chiếu xiên một photon tới mặt bên trên của nó, mỗi
photon giả thiết chuyển tải một bit thông tin. Kết quả là
sẽ có hai tín hiệu, một ở phía trên, một ở phía dưới
bộ tách. Tuy nhiên không một photon thứ hai hay một bit thông
tin thứ hai nào được tạo. Theo quy luật lượng tử, thông
tin hiện đang nằm trong trạng thái chồng chập của 1 và 0.
Nếu đặt hai máy dò, cái ở trên, cái ở dưới bộ tách,
thời một trong hai máy dò sẽ phát hiện thông tin nhưng không
biết trước máy nào. Theo quy ước, nếu photon hiện nơi máy
dò phía trên thời có nghĩa là 1, hiện nơi máy phía dưới
thời có nghĩa là 0. Đó là đầu mối quan trọng để nhận
ra một qubit ‘1 và 0’ đã được tác thành. Nó được chuyển
tải bởi hai chùm tia vi tế, cả hai cộng lại vừa đủ năng
lượng của một photon đơn nhất.
Để
hợp hai chùm vi tế ấy lại thành một photon hãy dùng hai tấm
gương G1 và G2 phản chiếu hai tia của bộ tách thứ nhất,
tia truyền thẳng và tia phản chiếu, đến gặp nhau trên một
bộ tách thứ hai. Ta có một giao thoa kế với hai máy dò A
và B như hình sau đây.
Công
dụng của giao thoa kế là triển chuyển 1 thành 0 hay ngược
lại, đúng như công dụng của một cổng NOT (BẤT). [Các phần
tử của mạch logic gọi là cổng (gate) vì chúng kiểm soát
dòng thông tin giống như cổng đập nước kiểm soát dòng
nước]. Vì bit chỉ có hai khả năng, nên “BẤT” khả năng
này tức là chọn khả năng kia. Như vậy, bộ tách chùm tia
thứ nhất có thể xem như “căn số bậc hai của BẤT”,
bởi vì áp dụng hai lần liên tiếp qua hai bộ tách, “căn
bậc hai của BẤT” nhân “căn bậc hai của BẤT”, hóa thành
“BẤT” lại. “Căn bậc hai của BẤT”, một khái niệm
chỉ cơ học lượng tử mới có, là đối phần logic của
khái niệm toán học “căn bậc hai của –1”, còn gọi là
số ảo “i”. Điều này chứng tỏ trong tầng mức sâu thẳm
có một sự liên hệ giữa vật lý (bộ tách chùm tia) và toán
học (ảo số). Theo quan điểm Duy thức, sự liên hệ ấy chính
là thức, a lại da thức.
Số
ảo i tương ứng với góc quay 90 độ, do đó sựï so sánh
với số ảo cho ta hiểu tại sao một hình cầu có thể dùng
để biểu tượng một qubit trong không gian ba thứ nguyên.
Hình
A: Một bit chỉ có thể có một trong hai trạng thái là 0 hay
1. Có thể biểu diễn bit bởi một mũi tên chỉ xuống hay
chỉ lên.
Hình
B: Một qubit có rất nhiều trạng thái khả năng. Mỗi trạng
thái có thể biểu diễn bởi một mũi tên chỉ vào một vị
trí trên một hình cầu. Bắc cực tương ứng với 1, Nam cực
với 0. Tất cả những vị trí khác là sự chồng chập hai
trạng thái 0 và 1.
Hình
C: Một qubit khác với bit ở chỗ là có thể cất chứa những
trị số ở khoảng giữa 0 và 1, vì thế có thể cất chứa
vô hạn số lượng thông tin. Nhưng phải đo lường mới trích
dẫn được thông tin cất chứa trong qubit. Tuy nhiên, theo quy
luật lượng tử, đo lường xóa bỏ hết thảy mọi thông
tin trong qubit ngoại trừ độc nhất một trong hai trạng thái,
0 hay 1, được phát hiện. Kết quả đo qubit luôn luôn là một
bit, 0 hay 1. Xác suất của mỗi kết quả tùy thuộc “vĩ độ”
của qubit. “Kinh độ” của qubit biểu tượng pha, độ sai
biệt tương đối giữa chu kỳ của hai sóng. Tại kinh tuyến
Greenwich với kinh độ zero, hai sóng trùng pha, bên kia nửa vòng
quanh hình cầu, kinh độ là 180 độ, hai sóng phản pha. Tóm
lại, qubit được xác định bởi hai số: vĩ độ chia thành
phần tương đối và kinh độ miêu tả sự sai biệt pha tương
đối giũa hai trạng thái 0 và 1.
Sự
khác biệt được chú ý đầu tiên giữa bit và qubit là khả
năng cất chứa thông tin. Một bộ ghi với hai bit (2-bit register)
có thể cất chứa mỗi lần chỉ một trong 2 lũy thừa 2 tức
4 số: 00, 01, 10, 11 tức theo phép biểu diễn nhị phân, một
trong bốn số thập phân: 0, 1, 2, và 3. Hai qubit cũng cất chứa
những số từ 0 đến 3 như bit. Tuy nhiên, vì hai qubit là trạng
thái chồng chập những trạng thái kê trên cho nên một bộ
ghi với hai qubit có thể cất chứa các số 0, 1, 2, và 3 cùng
một lúc. Nếu gồm tám qubit bộ ghi có thể cất chứa 2 lũy
thừa 8 tức 256 số cùng một lúc. Khi số qubit trong bộ ghi
tăng lên 100, thời số cất chứa tăng lên 2 lũy thừa 100 tức
độ chừng 10 lũy thừa 30 (số 1 đèo 30 zero) số cùng một
lúc. Hiện tại hay trong tương lai gần đây không thể có siêu
máy tính nào có thể xử lý số lượng thông tin lớn như
vậy.
Trên
đây trình bày các thí dụ về thông tin lượng tử theo đúng
phương pháp ba giai đoạn của Schumacher: Cần bao nhiêu qubit
(tài nguyên vật lý) để cất chứa một số lượng thông
tin cổ điển (công việc xử lý thông tin) hầu có thể trích
dẫn thông tin cất chứa một cách xác thực (tiêu chuẩn thành
tựu).
Khả
năng cất chứa vô lượng thông tin phát xuất từ trạng thái
chồng chập là nguyên nhân thúc giục các khoa học gia tìm
cách sáng chế máy tính lượng tử (quantum computer), một loại
máy tính có khả năng cất chứa cùng một lúc một số lượng
thông tin vô hạn trong một số qubit tương đối bé. Ngoài
ra, hiện tượng chồng chập liên hệ tánh pha vướng mắc.
Vướng mắc là khả năng các hệ thống lượng tử hiển bày
những tương giao giũa những trạng thái trong một chồng chập.
Vướng mắc cho phép hai hạt chuyển vận như một, dẫu chúng
cách xa bao nhiêu đi nữa. Nếu có hai qubit vướng mắc, đo
trạng thái của qubit này lập tức xác định được trạng
thái của qubit kia.
Các
vật lý gia áp dụng khả năng tính này để tìm cách chuyển
thông tin đi xa và túc thời (teleportation) mà không bị đọc
lén. Trước hết, họ dùng một dụng cụ như bộ tách chùm
tia tạo sự vương mắc giữa hai hạt, hai photon A và B chẳng
hạn, nhằm mỗi khiï biến đổi trạng thái hạt A thời trạng
thái hạt B bất kỳ ở đâu cũng tức thời biến đổi theo.
Sau đó tạo trạng thái lượng tử cần truyền chuyển đi
xa và tức thời nơi một photon thứ ba, C, rồi tạo sự vướng
mắc giữa hạt A và hạt C. Tức thời trạng thái của B bị
đổi thành trạng thái tạo nơi C, và trạng thái nguyên thỉ
nơi C bị hủy diệt. Một trạng thái biến mất tại một
chỗ tức thời hiện ra tại một chỗ khác!
Nhóm
vật lý gia Đại học Innsbruck, Austria, là những khoa học gia
đầu tiên thành công dùng nguyên tử chuyển thông tin tức
thời xuyên qua sợi quang học (optical fiber) dài 800 mét đặt
trong một cống nước dưới đáy sông Danube nối liền hai
phòng thí nghiệm ở hai bên sông. Tin này được tường thuật
đầy đủ trong tạp chí Nature, ngày 16 tháng 6 năm 2004, làm
phấn khởi các khoa học gia đang tìm cách sáng chế những
siêu máy tính vận chuyển tín hiệu tức thời trong đó tánh
vướng mắc được sử dụng như những mạch dây lượng tử.
John
Archibald Wheeler, giáo sư Đại học Princeton, quan tâm đến vai
trò quan trọng của tâm thức trong vật lý học, đã nêu lên
những thắc mắc mà ông gọi là “Những câu hỏi thực sự
rộng lớn” (Really Big Questions). Năm câu trong số đó là nguồn
cảm hứng của nhiều công trình nghiên cứu vật lý học và
triết học hiện đại: Tại sao lượng tử? (Why the quantum?),
Sự hữu đến như thế nào? (How come existence?), Hiện tượng
phát xuất từ bit? (It from bit?), Một vũ trụ tham gia? (A “participatory
universe”?), và Cái gì làm thành ý nghĩa? (What makes “meaning”?)
Về
câu hỏi “Hiện tượng phát xuất từ bit?” vật lý gia David
Deutsch, Viện Kế toán lượng tử, Đại học Oxford, không chấp
nhận quan điểm thông tin tạo ra thế giới hiện tượng. Trái
lại, ông cho rằng cái thế giới trong đó có cái gọi là
thông tin (information) và những tiến trình gọi là kế toán
(computation) hiện chứa hay ít nhất sẵn sàng chứa những máy
tính phổ quát (universal computers). Trong bài “It from Qubit”
ông giải thích: “Thế giới là do qubit cấu thành. Mọi lời
giải đáp câu hỏi trong thiên nhiên một vật gì đó được
quan sát là có hay không, thật ra là một vật khả quan trắc
nhị phân (Boolean observable). Mỗi vật khả quan trắc nhị phân
là thành phần của một qubit, hệ thống cơ bản đối với
thực tại vật lý nhưng xa lạ đối với kinh nghiệm hằng
ngày của chúng ta. ... ... Cái mà ta tưởng chừng như một
thế giới gồm các biến số chỉ có duy nhất một trị số
thật ra là thành phần của một thực tại rộng lớn hơn
trong đó câu trả lời đầy đủ câu hỏi có-không không thể
nào chỉ là có hay không, không thể nào là cả hai, có và
không, đi song đôi, mà là một lượng tử khả quan trắc,
một vật thể có thể biểu tượng toán học bằng một ma
trận Hermite lớn.“
David
Deutsch lưu ý chúng ta rằng mặc dầu theo thuyết thông tin cổ
điển dung lượng của qubit chỉ chuyển tải độc nhất
một bit, nhưng trong thiên nhiên không có hệ thống cơ bản
nào tương ứng với một bit. Chỉ có qubit mới hiện thành
trong thiên nhiên. Theo ông, “bit, biến số nhị phân, và kế
toán cổ điển hết thảy đều là những phẩm tính xuất
hiện (emergent) hay gần đúng (approximate) của qubit.”
Nhân
quả đồng thời.
Vì
electron và photon đều xem như hóa thân của qubit cho nên thay
vì nói theo ngôn ngữ của thuyết thông tin lượng tử, ‘thế
giới là do qubit cấu thành’ ta có thể nói theo ngôn ngữ
của thuyết lượng tử điện động lực (quantum electrodynamics;
thuyết về ánh sáng và vật chất, sau này sẽ gọi tắt là
QED), ‘mọi sự vật đều xác định bởi sự tương tác giữa
các electron (vật chất) với nhau và với các photon (năng lượng)’.
Thế giới và cả chúng ta tất cả đều do nguyên tử cấu
thành, và nguyên tử gồm một hạt nhân đặc sít ở giữa
bao quanh bởi một đám mây electron. Electron là tướng mạo
của nguyên tử, và tương tác giữa nguyên tử và phân tử
thật ra là tương tác giữa các đám mây electron. Theo QED, electron
tương tác bằng cách trao đổi photon. Một electron phát ra một
photon và chuyển động “giựt lùi”, hay một electron hấp
thu một photon và tiếp nhận một “cái đá”. Mọi biến
cố do tương tác giữa các electron đều có thể diễn tả
như vậy.
Đối
với các thuyết lượng tử vấn đề nan giải là phải giải
thích hiện tượng vướng mắc, cái mà Einstein gọi là ‘tác
động ma quỉ qua khoảng cách’ (spooky action at a distance). Khó
khăn ở đây là phải cắt nghĩa làm thế nào có sự nối
kết tức thời và hai chiều giữa hai lượng tử vướng mắc
pha. QED giải thích như thế nào?
Trước
hết tưởng cần nhắc đến thuyết điện từ động lực
học của James Clerk Maxwell (1864) được tóm tắt trong bốn
phương trình, có thể dùng để giải bất cứ bài toán điện
và từ nào không liên can đến hiệu quả lượng tử. Đặc
biệt là các phương trình này chứa một hằng số ký hiệu
là c tuy xuất phát từ kết quả đo lường điện tính và
từ tính của các điện tích di chuyển hay đứng yên là những
sự kiện không liên quan sóng và tốc độ lớn, thế mà trị
số đo được đúng là tốc độ của ánh sáng. Do đó, ánh
sáng được quan niệm là sóng điện từ truyền dẫn với
tốc độ c bằng ba trăm ngàn cây số mỗi giây.
Phương
trình Maxwell có hai lời giải, lời giải sóng trễ (retarded
wave) mô tả sóng truyền dẫn đi tới trong thời gian từ quá
khứ tới vị lai, và lời giải sóng sớm (advanced wave) mô
tả sóng truyền dẫn đi lùi trong thời gian từ vị lai lùi
vào quá khứ. Hai sóng này truyền dẫn ngược chiều thời
gian nhưng cùng một tốc độ, tốc độ ánh sáng trong không.
Gọi là sóng trễ vì nó đến nơi sau khi được phát ra, còn
sóng sớm thời đến nơi trước khi được phát ra. Sóng trễ
phần nào có thể ví với các làn sóng lan rộng đều khắp
mọi hướng trong không trung từ một anten rađiô hay các sóng
nước lan rộng từ điểm một viên sỏi rơi xuống mặt hồ;
sóng sớm phần nào có thể ví với các làn sóng truyền tới
anten rađiô từ khắp mọi phương hay các sóng nước bắt đầu
từ bờ hồ truyền dẫn cùng về một điểm là trung tâm mặt
hồ.
Từ
trước đến nay không có thí nghiệm nào phát hiện sóng sớm
và tất cả sóng ánh sáng biết được đều là sóng trễ
cho nên lời giải sóng sớm bị gạt bỏ một bên xem như không
lợi ích mặc dầu sóng sớm là một phần của câu hỏi rộng
lớn hơn: tại sao “mũi tên thời gian” trong khi hết thảy
mọi định luật cơ bản của vật lý học không phát hiện
một chiều thời gian nào đặc biệt?
Vào
đầu năm 1941, trước một cử tọa gồm sinh viên và giáo
sư Đại học Princeton, trong đó có Einstein và Pauli, sinh viên
cao học Richard Feynman (có giáo sư hướng dẫn là John Wheeler
và sau này là một trong ba khoa học gia được Giải Nobel Vật
lý 1965 vì có công khai phá QED) trình bày và được tán đồng
kết quả nghiên cứu đầu tay là sử dụng sóng sớm để
giải thích vì sao khi sóng phát ra vừa lìa khỏi electron thời
electron giựt lùi theo chiều ngược lại. Lối nhìn không phân
biệt sóng trễ và sóng sớm của Feynman là nhãn quan căn bản
của thuyết thiết bị hấp thu bức xạ Wheeler-Feynman (The Wheeler-Feynman
absorber theory of radiation).
Theo
Wheeler và Feynman, sự phát sóng không làm electron giựt lùi
như cách giải thích “tác động và phản ứng” của vật
lý học cổ điển. Electron không tương tác với sóng do nó
phát ra. Nó giựt lùi là do tác động của một sóng sớm phát
ra từ một electron khác khi electron này hấp thu sóng trễ do
nó phát. Thuyết Wheeler-Feynman mô tả hiện tượng trao đổi
photon giữa hai electron như sau. Electron A phát ra nhưng không
giựt lùi một nửa sóng (sóng trễ) truyền tới trong thời
gian với tốc độ ánh sáng. Sóng này khi được hấp thu, động
lượng của nó làm giựt lùi thiết bị hấp thu nó, một electron
khác gọi là B. Kích động bởi chuyển động giựt lùi, electron
B phát ra một nửa sóng (sóng sớm) truyền lùi trong thời gian
đến electron A với tốc độ ánh sáng. Động lượng của
sóng này làm electron A giựt lùi khi hấp thu nó.
Theo
thuyết tương đối hẹp, thời gian không hiện hữu đối với
một photon. Thời gian trao đổi photon là zero. Photon không phân
biệt sự truyền dẫn sóng tới hay lùi trong thời gian.
Thuyết
Wheeler-Feynman chỉ đề cập các sóng điện từ. Vật lý gia
John G. Cramer, Đại học Washington, áp dụng thuyết ấy vào
các sóng lượng tử để mô tả sự tương tác giữa
các hệ thống lượng tử. Phương trình sóng Schrodinger sau
khi được biến cải để chấp nhận những hiệu quả của
thuyết tương đối cũng có hai lời giải giống như trường
hợp phương trình Maxwell. Cramer dùng nó mô tả sự tương tác
mà ông gọi là sự “giao dịch” (transaction) giữa hai hệ
thống lượng tử. Ông ví “giao dịch” như cái “bắt
tay” (handshaking) giữa hai hệ thống ở đâu đó trong không
gian và thời gian. Đó là cách ông dùng ngôn ngữ thông thường
(không toán học) để nói đến sự tương tác tức thời,
nghĩa là xảy ra theo hai chiều ngược nhau mà đồng thời.
Tiếc rằng ông không học Duy thức để ví sự tương tác
tức thời với “Tam pháp triển chuyển, Nhân quả đồng thời”,
tổng hợp hai chuyển biến đồng thời và nghịch chiều, kàrana
<= => kàrya.
Hình
sau đây tóm lược cách Cramer giải thích sự “giao dịch”
trong cơ học lượng tử.
Trên
hết: Một electron E dao động phát ra một hỗn hợp hai sóng
ngược chiều, gọi là “sóng đề nghị”: một sóng trễ
và một sóng sớm. Sóng trễ truyền tới vị lai cho đến khi
gặp electron A hấp thu năng lượng nó chuyển tải. Sự hấp
thu làm A dao động và phát ra một sóng trễ mới hỗ giao tương
triệt với sóng trễ trước. Trong vị lai của A, tổng hiệu
quả là không có trường sóng trễ.
Ở
giữa: Electron A cũng có phát ra một sóng sớm gọi là “sóng
xác nhận”, truyền lùi trong thời gian đến nguồn phát xạ
E. Sóng xác nhận bị E hấp thu, làm E giựt lùi và phát ra
một sóng sớm mới truyền vào quá khứ. Sóng mới này hỗ
giao tương triệt với sóng sớm trước. Như thế, không có
bức xạ nào truyền lùi vào quá khứ trước lúc E phát
ra sóng trễ nguyên thỉ.
Dưới
hết: Chỉ còn lại một cặp sóng nối kết nguồn phát xạ
E và hệ thống hấp thu A, cấu thành bởi nửa sóng trễ chuyển
tải năng lượng dương truyền tới vị lai và nửa sóng sớm
chuyển tải năng lượng âm truyền lùi vào quá khứ. Hai sóng
này hỗ tương nhiếp nhập tạo thành sóng “giao dịch”,
truyền dẫn từ nguồn đến hệ thống hấp thu theo mũi tên
thời gian.
Trên
đây diễn tả quá trình các biến cố theo thứ tự trước
sau. Nhưng trong thực tế, quá trình biến cố là phi thời gian,
tất cả đồng thời câu khởi. Lý do: Tín hiệu vận chuyển
với tốc độ ánh sáng hoàn tất tức thời bất kỳ lộ trình
truyền dẫn nào, thời gian truyền dẫn luôn luôn là zero. Quả
vậy, đối với tín hiệu ánh sáng mọi điểm trong Vũ trụ
ở sít ngay bên mọi điểm khác trong Vũ trụ. Trong khung quy
chiếu của chúng thời gian truyền dẫn là zero, và +0 = -0,
cho nên không có sự phân biệt sóng truyền dẫn tới hay lùi.
Trong
Vũ trụ (tức trong không gian và thời gian), khi một electron
dao động nó đồng thời phát ra một sóng (trễ) truyền tới
vị lai và một sóng (sớm) lùi vào quá khứ. Bất kỳ ở đâu
trong Vũ trụ các sóng ấy khi gặp một electron khác sẽ làm
electron này dao động và đồng thời bức xạ trong cả hai
chiều, truyền tới vị lai và lùi vào quá khứ. Kết quả
là hiện thành một mạng lưới sóng điện từ hỗ tương
nhiếp nhập và hỗ giao tương tác, phủ kín toàn thể Vũ trụ,
tất cả do sự dao động của duy chỉ một electron. Áp dụng
phép tính xác suất sẽ thấy hầu hết các sóng tương hủy,
còn lại một số truyền trở về electron nguyên thỉ. Những
gì quan sát được gồm toàn sóng trễ lan truyền theo mũi tên
thời gian, còn sóng sớm bất khả quan trắc thời xác định
vị trí tương đối của electron trong toàn thể mạng lưới
và biểu hiện qua phản ứng giựt lùi.
Điểm
đặc sắc ở đây là electron giựt lùi đồng thời với khi
bức xạ. Hiệu quả rõ ràng nhất của các sóng sớm là nhiếp
nhập mỗi mỗi electron vào trong toàn thể mạng lưới điện
từ phủ kín Vũ trụ. Nếu một electron trong một phòng thí
nghiệm trên quả đất trải qua một sự biến, phản ứng
giựt lùi của nó là bằng chứng các sóng liên hệ ngược
(feedback waves) đã được hấp thu, báo tin mọi hạt tích điện
trong Vũ trụ cách xa quả đất bao nhiêu đi nữa cũng đã biết
tức khắc sự biến ấy, mặc dầu không tín hiệu nào truyền
chuyển qua lại giữa các hạt tích điện trong Vũ trụ nhanh
hơn tốc độ ánh sáng.
“Giựt
lùi” là nói theo ngôn ngữ thông thường để diễn tả một
đại lượng gọi là tánh cản trở bức xạ của electron (radiation
resistance). Electron bức xạ mỗi khi tăng tốc độ vì bị đẩy,
tuy nhiên năng lượng bức xạ không nhiều như năng lượng
dùng để đẩy nó. Cần năng lượng đẩy nó vì phải chế
phục tánh cản trở bức xạ của nó. Gọi là tánh cản trở
bức xạ bởi vì tánh này liên hợp với gia tốc phát sinh
bức xạ. Theo cách giải thích lượng tử tương tác trên đây,
thời tánh cản trở bức xạ của electron là một xuất hiện
tánh (duyên khởi), kết quả tác dụng của tất cả sóng sớm
phát ra từ hết thảy mọi hạt tích điện trong Vũ tru đã
hấp thu sóng trễ nó phát. Như vậy mọi electron đều là vừa
nhân vừa quả của toàn mạng lưới sóng điện từ, hay nói
theo Pháp Tạng, vừa Không vừa Hữu, vừa hữu lực vừa vô
lực.
Thế
giới của electron và photon trong thuyết thiết bị hấp thu
bức xạ có thể xem như một mô hình toán học của Pháp giới
Hoa nghiêm. Sóng truyền tới vị lai hay lùi vào quá khứ diễn
tả khái niệm thời gian quá khứ và vị lai như cuộn tròn
trong giây phút tức thời hiện tại, một cái hiện tại vận
hành bất tuyệt. Trong thế giới phi thời gian đó, tương tác
giữa các biến tượng cá biệt xảy ra tức thời, nghĩa là
theo hai chiều ngược nhau và đồng thời. Trong Hoa nghiêm nghĩa
hải bách môn của Pháp Tạng có những đoạn đồng ý nghĩa
với khái niệm vận hành của sóng và hạt như trình bày trên:
“Hạt bụi ở gần và thế giới mười phương ở xa. Nhưng
hạt bụi không có thể chất nên nhiếp nhập khắp mười
phương. Nói cách khác, mười phương là tất cả phương của
hạt bụi. Do đó ở xa luôn luôn là ở gần ... Mười phương
nhiếp thu trong một hạt bụi cho nên luôn luôn ở gần mặc
dầu ở xa, và hạt bụi phổ cập khắp mười phương cho nên
luôn luôn ở xa mặc dầu ở gần.”
“Hạt
bụi không có tự tính. Khi thể chất hiện tiền và thấm
nhập toàn mười phương thời đó là duỗi ra. Mười phương
không có thể chất và toàn hiện trong hạt bụi do duyên khởi
thời đó là co rút. Kinh (Hoa nghiêm) nói: ‘Một quốc độ
làm đầy cả mười phương, Mười phương nhập vào một (quốc
độ) cũng không dư thừa.’ Khi co lại, hết thảy sự vật
hiện thành trong một hạt bụi. Khi duỗi ra, hạt bụi thu nhiếp
mỗi mỗi sự vật. Duỗi ra luôn luôn là co rút, vì hạt
bụi bao trùm mọi vật. Co rút luôn luôn là duỗi ra vì mọi
vật bao trùm hạt bụi.”
Hồng
Dương