Phần
kết
SÂN
KHẤU ĐỜI NGƯỜI
TRỞ
VỀ THỜI GIAN
Với
cặp mắt thiện nghiệp của thiên nhân, Thiện Tài thấy ở
đâu cũng đầy châu báu, sáng đẹp và thanh tịnh. Cũng với
cặp mắt thánh nhân Thiện Tài trực tiếp thấy thế giới
Hoa Tạng với vô số thực tại lồng vào nhau, tác động lên
nhau trong nguyên lý trùng trùng duyên khởi.
Chúng
ta, với thân người nặng nề, còn bị ràng buộc và cuốn
hút bởi thực tại vật lý, thì thấy thế gian được xây
dựng bằng một chất liệu mà ta gọi là “vật chất”.
Quan niệm về chất liệu này đã được nghiên cứu
và trình bày suốt 25 thế kỷ qua, kể từ thời cổ
đại Hy Lạp. Sự phát triển của quan niệm về vật
chất đi từ những nhận thức sơ lược đến tinh tế,
từ bình diện thông thường đến lĩnh vực vi mô nằm
ngoài tầm nhận thức trực tiếp của con người.
Trong
sách này ta đã lần lượt đến với nhiều nhận
thức khác nhau. Trong vật lý cổ điển, vật chất là
những hạt cứng chắc bất hoại; trong thế giới nguyên
tử, người ta thấy nó dường như là một cơ cấu
trống rỗng với hạt nhân và những electron tí hon; trong
nền vật lý hạ nguyên tử người ta thấy chất liệu
cơ bản này gồm các hạt hoán chuyển được với nhau
và có thể biến thành năng lượng. Trong Phật giáo,
người ta cho rằng, vật chất là do Thức biến hiện,
là do Nghiệp lực chiêu cảm nên thực tại trình hiện
với ta trong dạng đó.
Đó
là những quan niệm có tính chất lý thuyết, thậm
chí siêu hình về cấu trúc cuối cùng của vật chất.
Thế nhưng coon người chúng ta không hề sống trong thế
giới vi mô của lĩnh vực hạ nguyên tử. Do đó, vật
chất vẫn hiện ra như một thể cứng chắc và độc
lập. Nó phát biểu một cách lạnh lùng nhất những
giới hạn tự nhiên của thân vật chất chúng ta. Cả
trong quan điểm của đạo Phật thì chúng ta cũng đang
nằm trong bình diện của thực tại tương đối, trong
đó ta thấy có khách thể, chủ thể, có một thế
giới độc lập và có cái Tôi của chúng ta.
Con
người bình thường không thể mải bay bổng trên các thực
tại của Thiện Tài được mà phải trở lại với thế gian,
trở về với nền vật lý chung, với môt thực tại vật chất.
Các nghiên cứu trong những chương trước không hề có ý định
trả lời giữa các thế giới quan đã được trình bày, ai
đúng, ai sai. Luận đề về bản chất của thực tại đã
được nghiên cứu suốt 25 thế kỷ qua và sẽ còn tiếp tục
mãi mãi, hiển nhiên không ai có thể kết luận điều gì.
Vả chăng vấn đề thuộc bản thể học không phải là đối
tượng của phân tích đúng sai, không ai chứng minh được
một luận điểm nhất định là phải hay trái. Vì lẽ đó,
để kết luận cuốn sách này, câu hỏi ở đây là: Liệu
có một triết lý nhận thức chung giữa vật lý và Phật giáo?
Liệu có một triết lý hành động chung giữa con người hiện
đại và Phật giáo?
Khái
niệm trung tâm của vật lý từ xưa đến nay là vật chất,
mà vật chất thường được hiểu là “chất liệu”, ít
nhất là đến đầu thế kỷ 20. Người ta luôn luôn nghĩ là
phải có một chất liệu làm nền tảng cho thế giới. Khi
nền vật lý điện từ trường ra đời, người ta biết dạng
của điện từ là sóng lan rộng trong không gian. Thế nhưng
người ta vẫn xem là phải có một chất liệu nhất định
bị rung động, tương tự như nước phải rung mới có sóng,
không khí phải rung mới có âm thanh. Nay sóng điện từ là
do chất liệu gì dao động mà thành? Chất đó được người
ta đặt trước một cái tên là ê-te.
Đầu
thế kỷ 20, người ta xác nhận không có ê-te. Điều đó có
nghĩa là sóng điệntừ chỉ có thể là dạng rung động của
một yếu tố mà ta gọi là năng lượng. Đó là thời điểm
mà người ta phải từ bỏ khái niệm cho rằng thực tại vật
lý phải có một chất liệu. Thậm chí có thuyết còn cho rằng
những thứ được gọi là có chất liệu chẳng qua là nơi
mà trường phi chất liệu “dày khít” lại với nhau để
sinh ra điểm vật chất.
Bước
ngoặt đích thực của nền vật lý hiện đại là ở chỗ,
con người phải từ bỏ khái niệm chất liệu trong hình dung
về thực tại của mình. Thực tại không hề có chất liệu!
Bước ngoặt này quan trọng hơn, cơ bản hơn cả những phát
minh vĩ đại về thuyết tương đối và thuyết lượng tử
về sau. Đây là một trong những phát kiến làm nền vật lý
tiến rất gần với triết học Phật giáo vốn đặt vấn
đề một cách khác hẳn, nó tóm chung cả “tam giới”, bao
gồm cả thế giới vật chất lẫn toàn bộ hiện tượng tâm
lý trong một từ “Sắc”. Tất cả các Sắc đó đều lưu
xuất từ Thức mà Thức được xem là mặt tích cực của
một Tính Không. Thực tại phi chất liệu của vật lý và
Tính Không của Phật giáo có thể gợi mở nhiều điều đáng
suy nghĩ. Tuy hai mức độ thế giới quan khác hẳn nhau, nhưng
nơi đây ta có một đồng qui thú vị về hiện tượng luận
giữa vật lý và Phật giáo.
Một
bước ngoặt thứ hai trong vật lý là quan điểm “công cụ”.
Đó là thái độ cho rằng những lý thuyết, khái niệm của
vật lý chỉ là sản phẩm của đầu óc con người nhằm mô
tả thiên nhiên, chúng chưa chắc có trong thực tại. Thái độ
“công cụ” xem lý thuyết và khái niệm – những thứ tưởng
chừng như đại diện trung thực của thiên nhiên khách quan
– không gì khác hơn là sự mô tả về cái biết của chính
chúng ta. Nhà công cụ nổi tiếng H. Poincaré từng ví
chúng ta như những người tiền sử ngồi trong hang động,
tưởng bóng hình mình do ánh sáng bên ngoài chiếu lên vách
hang là thực tại khách quan. Quan điểm này đi rất gần với
tư tưởng Duy thức, đó là một điều thật đáng kinh ngạc.
Với
quan điểm công cụ và Duy thức tông thì một câu hỏi từ
xưa đến nay trong vật lý – một câu hỏi mà nhà duy thực
Einstein vẫn thắc mắc tới cuối đời – là tại sao con người
nhận thức được thiên nhiên độc lập, tại sao thiên nhiên
khách quan lại tuân thủ các phép toán học do con người bày
ra, được dễ dàng trả lời. Theo Duy thức, thì cả thiên
nhiên lẫn cách mô tả về nó cũng như tư duy chúng ta đều
là biến hiện của một suối nguồn duy nhất, đó là Thức.
Nếu
không có Duy thức thì câu trả lời phải là Thượng đế.
Nó vốn đã được các nhà thần học và khoa học trong thời
Trung cổ - thậm chí được Newton khi đặt vấn đề nguồn
gốc của trọng trường – qui về một nguồn gốc, đó là
Thượng đế. Đối với họ phải có một chiếc cầu bắc
giữa con người, thiên nhiên và toán học. Chiếc cầu đó
là, thiên nhiên phải do Thượng đế sáng tạo, nhưng toán
học cũng là sản phẩm của Thượng đế, còn con người được
Thượng đế tạo nên theo hình ảnh của Ngài. Thế nên con
người mới nhận thức được thiên nhiên bằng toán học.
Vật
lý không thể chấp nhận hình ảnh một Thượng đế toàn
năng, nhưng với Duy thức tông,v ật lý gặp lại một khái
niệm tương tự, đó là Thức. Thức biến hiện ra mọi dạng
thứ tâm vật, sinh ra thực tại vật lý lẫn toàn bộ tâm
lý. Nhưng Thức khác với Thượng đế của thời Trung cổ
ở chỗ, nó cũng biến hiện linh hoạt, nhưng nó vô ngã, vận
hành vô chủ và chỉ là dạng động của một Tính Không.
Trong
hai mươi thế kỷ qua, nền vật lý đi từ một khoa học mà
mới đầu nhiều khái niệm còn phải dựa dẫm vào một “Thượng
đế”, sau đó khoảng từ thế kỷ thứ 16 đã tự giải phóng
khỏi quan điểm thần quyền. Kể từ thế kỷ 20 nhiều khái
niệm và lý thuyết đã được phát biểu hoàn toàn mới, trong
đó vai trò của ý thức và sự tương tác giữa thiên nhiên
và con người trở thành một luận điểm then chốt. Người
ta thấy không thể rạch ròi tách rời ý thức con người ra
khỏi thực tại vật lý được. Phải chăng Duy thức tông
sẽ cung cấp cho vật lý vài câu trả lời?
Ta
cần cẩn trọng khi tìm mối liên hệ này giữa hai hệ tư
tưởng. Sự thuyết phục của khoa học vật lý trong suốt
mấy mươi thế kỷ qua dựa trên mối liên hệ chặt chẽ giữa
lý thuyết và thực nghiệm, với sự tham gia thẩm định của
nhiều người. Phương pháp ưu việt đó đòi hỏi nhiều thời
gian và luôn luôn vẫn là nền tảng của khoa học.
Ở
đây ta thử xem vài hình dung của Duy thức tông, liệu chúng
có thể được sử dụng trong nhận thức luận hiện đại
chăng. Đó là quan niệm về thực tại trong Duy thức tông.
Theo Duy thức, mỗi mong ước, mỗi cảm xúc, mỗi tưởng tượng,
mỗi hoạt động tâm lý đều có thực tại của chúng. Thực
tại đó là như thế nào, có liên quan gì với thực tại vật
chất? Phải chăng khi chúng đủ nhân duyên, đủ năng lực
và các điều kiện phụ thì chúng trở thành thực tại vật
chất, thì chúng “lọt” vào thế giới ba chiều của chúng
ta. Phải chăng có thể quan niệm, các hoạt động tâm lý là
những thực tại “khả dĩ” hay “xác suất” và chỉ một
trong số đó là “lọt” được vào thực tại vật chất.
Phải chăng các thực tại khả dĩ đó có dạng sóng và khi
chúng trở thành thực tại thì chúng mang dạng hạt, như một
cách nói của cơ học lượng tử?
Câu
hỏi quan trọng hơn nữa là, điều gì làm cho nhữung năng
lượng tâm lý như ý chí, tưởng tượng, mơ ước… trở
thành biến cố hiện thực, làm cho chúng lọt vào trong thế
giới ba chiều? “Nhân duyên” ở đây là những gì để một
sự vật chất hóa được thực hiện.
Hãy
nghĩ đến một nhà họa sĩ Anh có cảm xúc, suy tư, tuởng
tượng, hình dung, linh ảnh… và trên cơ sở đó, anh vẽ một
bức tranh. Một khi nội tâm anh đã chín muồi và điều kiện
vật chất như thời giờ, giấy, vải, mực… đầy đủ thì
bức tranh sẽ hình thành. Theo quan điểm của Duy thức thì
mỗi khi nội tâm anh suy tư và tưởng tưỡng về bức tranh
thì anh đã sống với nó, bức tranh cũng đã thành hình rồi
trong thực tại đó rồi. Thế nhưng khi anh đang cầm cọ và
vẽ bức tranh thì mức độ chứng thực của anh đã “đông
đặc” một cách cao độ để thực tại mà anh vẫn sống
với bức tranh giờ đây đã “lọt” vào trong thế giới
ba chiều. Tác phẩm của anh vốn đã có từ lâu nhưng nay nó
đã được vật chất hóa, nó đã thành vật thế trong thế
giới vật lý.
Về
mặt nguồn gốc thì bức tranh chưa thành và bức tranh đã
thành đều như nhau, đều là từ Thức biến hiện cả. Thế
nhưng bức tranh chưa thành còn nằm trong một thể mà con người
chưa xem là vật chất, nó nằm dưới mức độ của vật chất.
Thể tính này có thể là điều mà H. Stapp nói đến trong luận
đề của ông. Tuy thế, bức tranh chưa thành đã mang một năng
lượng nhất định và nó có sự tương tác với các năng
lượng khác. Nếu năng lượng đó đủ mạnh và tiếp tục
được tác giả của nó là nhà họa sĩ nọ cung ứng cùng
với các năng lực khác hỗ trợ thì hình ảnh của bức tranh
sẽ được đông đặc, nó lọt vào thế giới vật chất bằng
cách thể hiện trên giấy và màu.
Hình
dung vừa nói sẽ bị nhiều người phản đối. Họ cho rằng
bức tranh chỉ là một vật thể vô tri, nếu nó có thành hình
là hoàn toàn do người họa sĩ vẽ nên. Nói như thế
là quên tính vô ngã của cá thế mà ta gọi là người họa
sĩ. Người họa sĩ nọ không khác gì hơn là một tập hợp
của cảm xúc, của tưởng tượng, tư duy, tức là của Thức.
Tư duy và tưởng tượng đó đã đồng hóa thành một với
bức tranh chưa thành. Bức tranh (chưa thành) là một hóa thân
của chính người họa sĩ. Thế nên khi người họa sĩ vẽ
bức tranh, ta phải quan niệm là một hóa thân của người
vẽ đang tự vật chất hóa chính mình.
Đối
với Duy thức, một biến cố xảy ta trong thế giới vật chất
được quan niệm như là một hoạt động nhất định của
Thức đã đủ mạnh, đủ nồng độ, đủ năng lực và chiêu
cảm đủ điều kiện phụ để nó lọt vào trong thực tại
này.
Ngày
nay khi nền vật lý hiện đại xem khối lượng là một dạng
của năng lượng, xem một vật chất nằm im thật ra là năng
lượng đang tụ hội, xem vật thể là một “biến cố”,
ta có thể nói cách nhìn đó rất phù hợp với quan điểm
Duy thức. Vì đối với Duy thức, mọi biến cố và vật thể
trong thế giới ba chiều của chúng ta đều là sự phóng chiếu,
sự biến hiện của Thức cả. Chúng là những hoạt động
của Thức trong tầm nhìn của ta vốn chỉ tập trung trong thế
giới vật chất. Thế giới vật chất chỉ là đỉnh núi thấy
được của một tảng băng sơn vĩ đại.
Điều
đó có nghĩa là phần lớn thực tại đều không được chúng
ta biết đến, chúng nằm dưới một mức độ mà chúng ta
cho là “thực có”. Thế nhưng thực tại vật chất cũng
không hề bị tách lìa khỏi toàn bộ thực tại đó mà ngược
lại, thực tại vật lý phản ánh một cách trung thực sự
hoạt động của cái toàn thể.
Trong
đời sống bình thường, mang thân người, tất nhiên chúng
ta coi trọng thực tại vật lý, đó hính là thực tại tương
đối của chúng ta. Ta mong cái may mắn sẽ xuất hiện, cái
rủi ro đừng bao giờ tới. Con người muốn có thành công,
sức khỏe, sung túc và muốn tránh rủi ro, thất bại, bệnh
tật. Làm sao con người tác động được để những thứ
tốt đẹp đó xuất hiện trong thế giới ba chiều của mình,
những điều không tốt biến mất khỏi thực tại của mình?
Duy thức tông có phương pháp gì giúp cho người?
Đúng
như tên gọi của nó. Duy thức tông cho rắng mọi thứ đều
do Thức của cá thể biến hiện ra cả. Không ai giúp chúng
ta xoay chuyển được tình thế, ngoài chính chúng ta. Hãy thay
đổi cá thể mình, hãy thay đổi bản thân mình thì thế giới
và cả thực tại vật lý cũng sẽ thay đổi theo. Đó là kết
luận của Duy thức.
NẰM
MƠ XEM KỊCH
Hãy
thay đổi bản thân, thế giới sẽ thay đổi theo! Đó là khẳng
định của tư tưởng Phật giáo. Mặc dù quan niệm này không
dễ thuyết phục và cũng không dễ thực hiện, thế nhưng
đó là kết luận nhất quán của triết lý đạo Phật. Kết
luận này không xuất phát từ những nguyên tắc luân lý hay
từ lòng hiếu hó cảu đạo Phật như có người thường nghĩ,
mà đó là nhận thức luận về tính chất của thế gian và
con người. Kết luận này thật ra cũng không phải chỉ áp
dụng cho loài người mà cho cả tất cả loài hữu tình trong
“ba cõi” – trong vũ trụ của đạo Phật.
Thế
giới chung quanh (của mỗi người) là Thức đang biến hiện,
là “y báo” của một dòng tâm thức có tính cá thể. Chúng
ta cảm nhận chung một thế giới như nhau vì tất cả đều
dó chung một “cộng nghiệp”. Đó là kết luận lạ lùng
của đạo Phật mà không mấy nhà vật lý nào chấp nhận,
chỉ trừ một vài nhà khoa học không ngại bị lên án là
“duy tâm”, “từ bỏ phương pháp khoa học”. Mặc dù hiện
nay có nhiều thuyết về vật lý nghe ra chúng rất xa lạ và
thậm chí điên rồ về bản thể học vủa vũ trụ nhưng thật
ra chúng còn đứng rất xa với kết luận trên của đạo Phật.
Lý do là, muốn đến với kết luận đó, con người phải
hiểu tính chất giả danh của mọi sự vật: thế giới là
giả danh (pháp vô ngã), bản thân con người là giả danh (nhân
vô ngã). Rồi trên cơ sở của Vô Ngã và Tính Không, Phật
giáo luận về tính chất hoạt dụng củ Thức và hiểu tính
chất đích thực của thế giới hiện tượng. Đi một con
đường như thế thì dường như chưa có nhà vật lý tiếng
tăm nào đã từng đi cả.
Sự
thực nói trên xuất phát từ truyền thống tư tưởng của
phương Tây. Nền khoa học và triết học tự nhiên của truyền
thống này vốn chịu ảnh hưởng nặng nề của Socrates, người
tin rằng có một thực tại tồn tại độc lập với con người.
Suốt 25 thế kỷ qua, cho dù nền khoa học tự nhiên này đã
nhiều lần thay đổi tận gốc rễ, song quan niệm về một
thực tại độc lập ở bên ngoài thật ra chưa bao giờ bị
thử thách nghiêm trọng. Ngược lại, truyền thống tư tưởng
của Ấn Độ ngay từ thuở bình minh của triết học đã xem
thế giới hiện tượng là một dạng xuất hiện với một
chủ thể nhận thức. Muốn biết rõ qui luật của thế giới,
hãy biết rõ chính mình; muốn thay đổi thế giới, hãy chuyển
hóa chính mình. Vì thế điều khác biệt to lớn giữa Đức
Phật và các vị cũng như các khoa học gia phương Tây là ở
chỗ, Ngài chỉ giảng pháp của mình sau khi đã thực chứng
một sự chuyển hoá tâm thức.
Do
sự khác biệt về truyền thống tư tưởng đó, dù vật lý
hiện đại có nhiều bước tiến gần với thế giới quan
đạo Phật thì giữa hai bên còn cách nhau rất xa; và ta không
nên chờ đợi là triết học Phật giáo sẽ cung cấp một
cơ sở nào đó cho vật lý. Thực tế là cơ sở tư tưởng
của Phật giáo là những tri kiến được con người chứng
thực trong một dạng phi thường mà ta gọi là thiền định.
Ngược lại không có nhà vật lý nào tuyên bố mình phát kiến
ra một cái gì mới là nhờ thiền định, họ vốn có một
cách tư duy khác.
Có
thể trong vài thập niên tới đây người ta sẽ phát hiện
được một cách chính xác rằng, những điều mà hiện nay
ta không gọi là vật chất – cũng có những thực tại của
chúng, cũng có những dạng hình thấy được bằng thiết bị,
cũng có năng lượng đo được, thậm chí trong một mức độ
nhất định, người ta sẽ thấy mối liên hệ rất cụ thể
giữa tâm thức và vật chất, thế nhưng những phát kiến
đó nếu có cũng còn rất xa với triết lý của đạo Phật,
vì tất cả đều còn nằm trong phạm vi mà Phật giáo gọi
là chân lý tương đối. Chúng còn quá xa với triết học Tính
Không, triết lý Vô Ngã. Bởi thế đối với thế giới hiện
tượng, ta có thể tạm kết luận rằng, nền vật lý ngày
nay đang mở cánh cửa đi vào lĩnh vực của bản thể học,
một lĩnh vực thú vị nhất của triết học loài người.
Trên bước đường đi đó, vật lý có nhiều tương đồng
đáng ngạc nhiên với vài quan niệm của đạo Phật?
Muốn
thế ta cần hiểu về A-lại-da thức. hiển nhiên những gì
luận giải trong sách này chắc chắn là hết sức hạn chế
vỉ một mặt kông ai có thể hiểu hết về hoạt động của
nó, nguồn gốc của thực tại vô tận mà ta gọi là “Diệu
hữu”; mặt khác hẳn ta không thể dùng ngôn từ để mộ
tã về nó, vì chính ngôn từ và tư duy của chúng ta cũng là
biểu hiện của A-lại-da thức. Thế nhưng hãy thử lý giải
vài câu hỏi kể trên với luận lý thông thường.
Theo
Duy thức, thức thứ tám, A-lại-da là nơi tàng trữ tất cả
tập khí, kinh nghiệm, khả năng, mong ước, tư duy… trong dạng
hạt giống, chủng tử. Những chủng tử khi đủ điều kiện
thì sẽ hiện hành, như hạt mầm đủ hơi ẩm, ánh sáng sẽ
đâm chồi nẩy lộc. Đặc biệt, A-lại-da thức không thẩm
định mọi chủng tử đó, nó không đánh giá chúng là tốt
hay xấu, lành hay dữ, gây an vui hay đau khổ cho người mang
nó. Thậm chí về sau, khi thức này biến thành Trí thì trí
này cũng “chỉ” là “Đại viên cảnh trí”, là tấm gương
tròn đầy chiếu sáng mọi sự, không phân biệt. Sự thẩm
định về tốt xấu, hay dở, thiện ác là nhiệm vụ của
thức thứ 7 (Mạt na thức) và thức thứ 6 (ý thức).
Nghiệp
và cách tác động của Nghiệp là: Tất cả mọi kinh nghiệm
của con người trong cuộc sống được lưu giữ trong A-lại-da
như một thứ vết tích và những vết tích đó cần phải
được chứng thực.
Hãy
lấy một thí dụ cụ thể. Trong một hoàn cảnh nhất định,
một người bắn chết một người khác. Kẻ giết người,
sau khi thực hiện hành động đó, lòng thấy hối hận ăn
năn và tự biết đó là một điều sai trái, lỗi lầm. Điều
gì sẽ đi vào A-lại-da của người đó? Nơi đây ta thử dùng
phép phân tích và đơn giản hóa thật nhiều mới hy vọng
hiểu được. Tàng thức của người đó sẽ có một dấu
ấn rất mạnh về hành động giết. Theo Duy thức, thực tế
là kẽ giết người đã làm hành động đó với A-lại-da
của chính mình vì người bị giết cũng lưu xuất từ thức
đó mà ra. Vì thế A-lại-da thức (của người đó) sẽ nhận
một vết tích “bị giết”. Chúng tử “bị giết” đó
trong A-lại-da sẽ nằm chờ, đợi đầu đủ nhân duyên mà
hiện hành. Sau khi giết người, kẻ đó ân hận, thề từ
nay không phạm tới hành động đó; anh thề không bao gờ cầm
khẩu súng trong tay nữa, ta hãy giả định như thế. Tàng thức
người đáo sẽ có một đấu vết thứ hai, đó là quyết
tâm nhất định không giết người, xa lánh mọi thứ vũ khí,
nhất là khẩu súng.
Ta
hãy giả định A-lại-da thứ chỉ nhận dấu vết đó thôi,
mặc dù dĩ nhiên vấn đề phức tạp gấp bội lần. Hai dấu
vết “bị giết” và “nhất định không giết người”
sẽ trở thành hai chủng tử. Tính phi thẩm định của A-lại-da
thức là nó để cho cả hai chủng tử trưởng thành và nếu
đến lúc thì hiện hành, nó không ngăn cản chủng tử thứ
nhất, cũng chẳng hối thúc chủng tử thứ hai. Điều đó
có nghĩa, trong đời này hoặc đời sau, khi chủng tử thứ
nhất hội đủ điều kiện, cá thể nọ sẽ chịu cảnh bị
giết, A-lại-da của anh ta đã biến hiện ra như thế. A-lại-da
thức phi thẩm định ở chỗ nó không cần biết cá thể sẽ
đau khổ. Cảm nhận đau khổ hay hạnh phúc là việc thẩm
định của hai thức kia, thứ bảy và thứ sáu. Bởi thế nên
kẻ giết người sẽ bị giết lại, nhưng không có một quan
tòa nào ra lệnh cả và kẻ đó dĩ nhiên cũng không hề muốn.
Tương
tự như thế, chủng tử thứ hai “nhất định không giết
người” sẽ trở thành một châm ngôn của người đó trong
đời này và những đời sau. Có thể anh ta sẹ lâm và những
tình huống phải giết người, thí dụ vì tranh giành quyền
lợi. Nhưng anh ta nhất định không làm, A-lại-da của anh không
thể biến hiện ra hành động giết người. Lương tâm của
anh hay xã hội sẽ khen anh là người có đạo lý. Thế nhưng
A-lại-da thức, nơi chức chủng tử đó, không hề thẩm định
đó là thiện mỹ, là hạnh phúc cho anh. Nó chỉ trồng một
chủng tử “đừng giết người”. Sau đó, có thể nó nhận
thêm một kinh nghiệm thứ ba là, từ bỏ giết hại thì tâm
tư thỏa mái. Kinh nghiệm đó trở thành chủng tử mới.
Thí
dụ của hai chủng tử trên đã bị giản đơn hóa cùng cực
để lý giải tính không thẩm định của A-lại-da thức và
sự hiện hành của chủng tử. Các chủng tử tăng trưởng
và hiện hành độc lập, chúng không thể “khấu trừ ”
cho nhau, không thể “cấn” lẫn nhau. Do đó ta vẫn nghe nhiều
vị thánh tăng đắc đạo vẫn phải chịu những cảnh ngộ
đau thương vì nghiệp lực xưa cũ của họ. Thí dụ nói trên
chỉ có tính phân tích để trình bày cơ chế hoạt động
của Nghiệp, nhưng thật ra tư duy của chúng ta không thể hiểu
ngộ được hoạt động bí nhiệm của A-lại-da thức.
Theo
đạo Phật, mỗi hoạt động trong đời sống của chúng ta,
trong thế giới ba chiều cũng như trong các thực tại phi vật
chất khác, đều để lại “dấu vết” cả. Tất cả các
biến cố đem lại hiểu biết và kinh nghiệm, dù đó là năng
lực, tư duy thói quen, hành động, yêu thương, thù hận, xúc
cảm, ức chế… cũng thế. Nói chung là toàn bộ đời sống
trên ba bình diện thân, khẩu, ý đều để lại dấu vết,
đều để lại chủng tử trong tàng thức cả. một khi chúng
để lại chủng tử htì A-lại-da thức biếnhiện cho các thể
đó được chứng thực. Cá thể sẽ giải đáp, trả lời,
“thanh lý” chúng bằng cách sống thực, nếm trải, chứng
nghiệm những dấu vết đó trong thế giới riêng của mình
và chiêu cảm những hoàn cảnh nhất định đến với mình.
Vì
thế, theo quan niệm Nghiệp lực, kẻ giết người sẽ bị
giết lại, kẻ dối trá sẽ bị lừa đão, kẻ ích kỷ sẽ
bị cô đơn, kẻ bủn xỉn sẽ bị nghèo khổ, kẻ ham học
sẽ được sáng dạ, kẻ hay giúp sẽ gặp người ơn, kẻ
yêu nhau sẽ gặp lại nhau để chung sống, kẻ ghét nhau cũng
sẽ gặp lại vì còn nợ nần nhau, kẻ thù nhau cũng gặp nhau
lại để báo oán. Những hoàn cảnh đó xuất hiện một cách
“tự động”, không cần ai xem xét và dàn xếp. Chúng đều
là những sự trình hiện của Thức đối với cá thể và
cơ chế cộng nghiệp sẽ đem những cá thể có liên hệ với
nhau lại gần nhau, trong đó nhiều thế giới cùng trình hiện,
lồng vào nhau không hề ngăn ngại.
Trong
sự tác động này của Nghiệp, điều bí nhiệm nhất là mối
quan hệ giữa cộng nghiệp – nghiệp chung của một nhóm người,
một xã hội và cả loài người – và biệt nghiệp, nghiệp
riêng của mỗi cá thể. Chúng đan kết vào nhau vô ngại, biến
hóa thiên hình vạn trạng và tạo cảm tưởng như chỉ có
một thế giới, một thực tại, Nghiệp lực tạo thành tâm
lý và thể chất của mỗi cá thể, tạo thành môi trường
xung quanh, kết thành gia đình và xã hội. Trên loài người,
dục giới, vô số các quốc độ khác và toàn bộ vũ trụ.
Đạo Phật nói Nghiệp là Nghiệp của “loài hữu tình”,
tức là của toàn bộ hiện hữu, từ sinh vật cấp thấp nhất,
động vật rồi đến loài người, thiên nhân, các loài sống
trong cõi sắc và vô sắc.
Tất
cả những điều vừa kể đều chỉ là suy luận của tri thức
chúng ta; và ta biết khả năng của tri thức là rất hạn chế
vì bản thân tri thức cũng là kết quả của Nghiệp. Thế
nên Nghiệp và tác động của nó là vô cùng huyền nhiệm,
nằm ngoài phạm vi lý tính của con người. Một khi chúng ta
chưa hiểu nổi rằng, mỗi người sống riêng trong một thế
giới, mỗi người cảm nhận một lúc nhiều thực tại, cũng
như chưa hiểu sự tác động qua lại của nhiều cá thể với
tất cả hóa thân của họ thì dứt khoát ta không thể dùng
lý trí để giải thích Nghiệp được. Con người chỉ có
thể thấy những tác động trực tiếp nhất, đơn giản nhất,
cụ thể nhất của Nghiệp.
Bởi
thế, quan niệm Nghiệp của đạo Phật không phải dễ hiểu
và dễ chấp nhận. Thậm chí nó sinh ra hai phản bác chính,
một là phải chăng mọi biến cố xảy ra là do con người
đã gây ra và bây giờ thì ráng chịu; hai là phải chăng con
người chịu sự chi phối của tiền định, con người không
có tự do? Có vô số sách vở đề cập tới các luận điểm
này và vì thế mà cuốn sách này sẽ không đi sâu và các
vấn đề đó. Chỉ cần nói thêm là một biến cố xảy ra
vừa là kết quả của một biến cố cũ, vừa là nguyên nhân
một biến cố của tương lai. Cuộc sống là một dòng tâm
thức bất tận, không đầu không đuôi. Nếu hôm nay ta nhức
đầu thì có lẽ tại hôm qua ta uống rượu quá nhiều chứ
không do một lẽ bất công nào cả. Và ngay hôm nay ta có thể
chấm dứt uống rượu để ngày mai ta khỏi nhức đầu, đó
là sự tự do mà mỗi cá thể đều có và có ngay bây giờ.
Trong thế giới Phật giáo, không có một vị quan tòa nào,
chỉ có một sự vận hành có qui luật của Thức, theo một
cơ chế mà thực ra tư duy của ta có thể hiểu được một
phần.
Hãy
đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng
ta là như ngày hôm nay. Trước đó đã có vô số ngày và sau
đó cũng còn vô số ngày. Vô số những ngày trước đó đã
tạo ra một tâm thức có tính cá thể mà ta gọi là Tôi. Tính
cá thể đó được cụ thể hóa bằng vô số chủng tử nằm
trong A-lại-da. Cứ trong mỗi đời mỗi kiếp, các chủng tử
hiện hành trở thành thế giới và thân tâm chúng ta, mang lại
nhiều hạnh phúc nhưng cũng có thể gieo bao nhiêu tai họa.
Mỗi
chúng ta chính là tác giả của những chủng tử đó. Chúng
ta đã tự tay gieo trồng chúng, đã mong chờ, đã tưởng tượng,
đã thiết tha được chứng nghiệm. Mỗi người chúng ta là
kẻ xây dựng nên thế giới, môi trường, gia đình và bè
bạn trong đó. Tất cả những cảnh tựong đó do ta bày ra.
Họ đều là những nhân vật trên một sân khấu mà chính
ta là đạo diễn. Sân khấu cũng chính do ta xếp đặt và trang
trí nên. Chính ta là kẻ viết kịch bản, bày vẽ ra các biến
cố và đồng thời đóng vai chính. Đến khi vào cuộc, chúng
ta lại nhập vai quá say sưa và quên mất rằng đây chính là
vở kịch do mình bày ra. Chúng ta vui buồn, mừng vui và thất
vọng theo tuồng tích của chính mình và tất cả mọi kinh
nghiệm đó lại được chứa chấp vào trong tâm tư của ta
để một vở kịch mới sẽ ra đời.
Theo
quan niệm của đạo Phật, con người có thể thoát khỏi cảnh
ngộ đó, điều mà Phật gọi là Khổ. Nếu con người không
tự giải thoát được thì cuộc đời cứ tiếp diễn, cứ
tái sinh, cứ chất dứt rồi lại tái sinh. Mỗi cuộc đời
như một cơn mộng lớn và ta thì không hề biết mình đang
đóng kịch, mình đang nằm mơ. Trong giấc mơ lớn đó ta lại
cảm nhận thêm nhiều huyễn cảnh, nhiều giả tướng, nhiều
vọng tưởng và lại cho chúng là thật.
Cảnh
tượng đó nào có khác gì kẻ nằm mơ xem kịch. Tầm như
nhà họa sư, vẽ cảnh thế gian với vô vàn chập chùng thế
giới. Tấm lưới của hiện hữu đó, có khi được mệnh
danh là “Lưới trời Đế Thích”, là một tra vấn mang tính
triết học nguyên thủy của loài người và có lẽ sẽ không
bao giờ có câu trả lời chung cuộc.
WP:
Hoàng Ngọc Anh