Phần
thứ sáu
TRIẾT
HỌC PHẬT GIÁO
HAI
PHƯƠNG TRỜI CÁCH BIỆT?
SỰ
IM LẶNG CAO QUÍ
THẾ
GIỚI HIỆN TƯỢNG THAY ĐỐI LIÊN TỤC
CÁI
NÀY SINH THÌ CÁI KIA SINH, CÁI NÀY DIỆT THÌ CÁI KIA DIỆT
KHÔNG
CÓ AI CẢ TRÊN ĐỜI NÀY
CHẲNG
ĐẾN CŨNG CHẲNG ĐI
NGOÀI
THỨC KHÔNG CÓ GÌ CẢ
CÓ
SỰ TÁI SINH NHƯNG KHÔNG CÓ NGƯỜI TÁI SINH
MỖI
NGƯỜI SỐNG TRONG MỘT THẾ GIỚI RIÊNG?
TỪ
THỨC ĐẾN VẬT CHẤT
HÓA
THÂN TRONG NHIỀU THẾ GIỚI
HAI
PHƯƠNG TRỜI CÁCH BIỆT?
Tôn
giáo và khoa học, Phật giáo và vật lý, phải chăng đó là
những lĩnh vực hoàn toàn xa lạ, nhất là trong thế kỷ thứ
21, lúc mà thần học đã bị tách khỏi khoa học từ ngày
Galileo khai sinh nền khoa học thực nghiệm cách đây đã gần
400 năm?
Nhìn
lại lịch sử mấy trăm năm qua, ta phải khâm phục công trình
vĩ đại của Galileo. Ông đã xây dựng một nền móng vững
chắc cho nền khoa học thực nghiệm với đòi hỏi, mọi lý
thuyết, mô hình về thực tại vật lý phải được các thí
nghiệm trong thực tế thừa nhận, phải được lặp lại với
nhiều người, trong nhiều nơi trốn và thời gian khác nhau.
Vật lý không thể là một nhận thức riêng tư chỉ có giá
trị cho một số người nhất định mà phải là một nền
khoa học được sự thừa nhận chung. Người trọng tài chung
quyết có quyền phán đoán đúng sai trong các mô hình đó chính
là kết quả thực nghiệm chứ không phải là những tín điều
tôn giáo.
Vì
những lẽ đó, khi vật lý được tách ra khỏi thần học,
nó tận hưởng được một sự tự do chưa hề có, đồng
thời chịu một thước đo đúng sai, phải trái – kết quả
thực nghiệm – vừa hết sức khách quan vừa rất khắt khe.
Sự tiến bộ nhảy vọt của khoa học về tự nhiên trong 400
năm quan đã chứng minh tiền đề của Galileo là đúng đắn.
Không thể nghi ngờ gì, nguyên lý này phải tíêp tục kim chỉ
nam trong mọi hoạt động nghiên cứu khoa học của con người.
Cộng
đồng các nhà vật lý có một niềm tin chung là, họ tin nơi
một thực tại khách quan, tồn tại độc lập với con người.
còn thực tại đó do đâu mà có, liệu có ai tạo dựng ra
nó và đứng trên nó để điều hành mọi sự…, đó là những
câu hỏi thuộc về tôn giáo và thần học mà mỗi khoa
học thường có ý kiến khác nhau. Trong đầu thế kỷ thứ
20, khi các nhà khoa học phát hiện ra thuyết tương đối và
thuyết lượng tử, cộng đồng vật lý đứng trước những
đề tài hết sức kỳ lạ của thực tại, chúng đòi hỏi
một cách mạng trong tư duy của loài người để lý giải
thực tại là gì. Trong một loạt những vấn đề đó, con
người thấy dường như ý thức đóng một vai trò tích cực
hơn trong thế giới hiện tượng và nhận thức thực tại.
Tuy nhiên, dù có vô số những luận giải và mô hình khác
nhau – nói chung cộng đồng vật lý vẫn xemlà có một thực
tại tồn tại độc lập với ý thức con người. Thực tế
là nếu không có tiền đề này thì vật lý với ý thức con
người. Thực tế là nếu không có tiền đề này thì vật
lý mất vị trí khoa học của nó và dễ dàng rơi lại vào
trong bóng tối của thần học.
Nhiều
người nhắc nhở rằng, nhiều nhà khoa học xuất chúng như
Max Planck hay Einstein có đầu óc rất “tôn giáo”. Ta cần
hiểu từ “tôn giáo” ở đây một cách tinh tế. Thí dụ,
Max Planck trước sau vẫn là một nhà duy thực kiên trì, ông
tin nơi một thực tại khách quan bên ngoài được phản ánh
trung thực vào “bên trong” thông qua giác quan, dù những giác
quan đó không hoàn hảo. Tâm thức được gọi là “tôn giáo”
của Planck chỉ nằm ở chỗ, ông không thấy hai lĩnh vực
khoa học và tôn giáo phải loại trừ lẫn nhau. Trong tác phẩm
Religion und Naturwisswnschaft (Tôn giáo và khoa học tự nhiên),
năm 1937 ông viết: “Tôn giáo và khoa học tự nhiên gặp gỡ
trong vấn đề đi tìm tự tính của một năng lực tối cao
điều hành thế giới: và nơi đây những câu trả lời của
hai bên là có thể so sánh được, ít nhất ở một mức độ
nhất định. Chúng không hề mâu thuẫn lẫn nhau, mà cả
hai đều tới những điểm chung là: thứ nhất, có một trật
tự thế giới tồn tại độc lập với con người; và thứ
hai, tự tính của trật tự thế giới đó không bao giờ được
hiểu thấu, mà chỉ được nắm bắt một cách gián tiếp
hay chỉ được đoán biết thôi”. Dù con người không bao
giờ nắm được tự tính đó nhưng xem ra Planck không tin nơi
một Thượng đế tạo dựng thế giới này theo ý muốn của
mình.
Einstein
nói rõ hơn, ông không bao giờ tin nơi một Thượng đế sáng
tạo ra con người rồi lại ra tay ân thưởng hay trừng phạt
những gì mình sáng tạo. “Tôi không tin nơi một vị Thượng
đế có nhân trạng và cái “tôn giáo” nơi tôi chỉ là lòng
ngạc nhiên khâm phục vô bờ bến đối với cấu trúc của
thế giới này mà khoa học đã khám phá ra”.
Tâm
thức “tôn giáo” của Planck hay Einstein đều dựa trên một
lòng kính sợ đối với sự bí nhiệm của thiên nhiên. Các
nhà vật lý vĩ đại đó tin rằng thiên nhiên có một cấu
trúc, một trật tự nhất định. Thế nhưng cả hai đều khơng
tin có một vị Thượng đế mang tính cá thể tạo dựng nên
thế giới và loài người, và có toàn năng trên số phận
của vũ trụ. Hiển nhiên cả hai nhà khoa học đó đều sống
trong truyền thống của Thiên chúa giáo hay Do thái giáo và
một khi nói đến “Thượng đế”, họ muốn phân biệt rõ
Thượng đế được hiểu ở đây là một nhân trạng toàn
năng hay một trật tự điều hành toàn thể thế giới. Cả
hai vị đều từ chối quan niệm một Thượng đế mang tính
trân trọng. Còn nếu hiểu Thượng đế như một thể tính,
một tự tính nội tại, một trật tự của vũ trụ thì
xem ra họ có thể chấp nhận được.
Ngày
nay trong công đồng vật lý, có nhiều người dùng từ “Thượng
đế”, với ý nghĩa thứ hai, vừa nói ở trên. Với tư cách
nhà vật lý, ít người có thế tin thế giới này do một bàn
tay của một cá thể toàn trí toàn năng tạo dựng nên và
sau đó lại ban ơn giáng họa lại cho sinh vật được tạo
dựng. Thế nhưng cũng chính các nhà vật lý đó, khi họ rời
phòng thí nghiệm để đi và giáo đường, có người lại
tự động thay đổi quan niệm và tin vào một Thiên chúa toàn
năng. Đó là một trong những sự thật mà bản thân họ cũng
không lý giải được.
Nhìn
chung, cộng đồng vật lý tin nơi một thực tại khách quan
nằm ngoài ảnh hưởng của ý thức con người. Thế nhưng,
kể từ thế kỷ 20, thực tại đó ngày càng khó hiểu, càng
ảo diệu và dường như là một thể tương tác với ý thức
con người. Thế giới tự nhiên huyền nhiệm đến mức người
ta sẵn sàng dùng từ “Thượng đế” để nói đến nguyên
lý điều hành sự vận động của nó.
Trong
tình huống này có một mới tương quan ngày càng rõ nét. Đó
là nếu có một thứ tôn giáo, bác bỏ thần quyền, xem Thượng
đế là nguyên lý nội tại của vũ trụ thì tôn giáo đó
rất có thể được khoa học vật lý coi trọng, được tìm
hiểu và xem như kẻ đồng hành. Thực tế là ngành vật lý
lý thuyết ngày nay chính là ngành bản thể học, mục đích
cuối cùng của nó phải là lý giải thế giới được hình
thành bởi những yếu tố gì, do đâu mà có, vận động như
thế nào.
Hệ
tư tưởng nào, tôn giáo nào vừa trả lời những câu hỏi
đó, đồng thời bàc bỏ thần quyền? Tại phương Tây thì
không có một tôn giáo như thế, Thiên chúa giáo đã không
mà Hồi giáo cũng không. Thế nhưng tại châu Á thì rất có
thể. Bởi thế nhiều nhà vật lý nhìn về châu Á một cách
cởi mở và hào hứng. Trong số các hệ tư tưởng đó người
ta nhắc nhở đến Phật giáo nhiều nhất.
Các
đầu óc vật lý vĩ đại nhất của thế kỷ 20 dường như
đã biết điều đó. Bohr đã tìm hiểu hệ tư tưởng của
Trung Quốc để củng cố quan niệm “bổ sung” của mình
trong cơ học lượng tử và thế giới quan. Heisenberg cho rằng
những nền văn minh bắt nguồn từ những môi trường tư tưởng
và tôn giáo khác nhau, khi chúng gặp nhau, thường mở màn cho
những phát hiện “mới mẻ và thú vị”. Và điều ngạc
nhiên nhất là, Einstein, nhà vật lý duy thực kiên định
nhất của thế kỷ trước đã từng viết về vai trò của
tôn giáo tương lai: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một
tôn giáo liên quan đến toàn vũ trụ. Nó phải vượt lên một
Thượng đế có tính nhân trạng và phải tránh tính chất
giáo điều và thần học.Nó phải dựa trên thế giới tự
nhiên cũng như tính chất tâm linh. Cơ sở của nó là một
cảm thọ tâm linh, cảm thọ đó xuất phát từ sự chứng
nghiệm rằng mọi sự của tự nhiên cũng như tính chất tâm
thức hình thành một thể thống nhất có ý nghĩa. Phật giáo
đáp ứng được với sự mô tả này. Nếu có một nền tôn
giáo mà đứng vững được trước đòi hỏi của khoa học
hiện đại, thì nó chính là Phật giáo”.
Einstein
phát biểu những lời trên khoảng một năm trước khi ông
mất. Ông nói về một “cảm thọ tâm linh”, về một chứng
nghiệm cho rằng mọi sự của tự nhiên và tâm thức nằm
trong một “thế thống nhất”. Những điều này nghe qua như
lời của một thiền sư Phật giáo nhưng lại là của một
nhà khoa học đi tìm một phương trình diễn tả một vũ trụ
“khách quan”. Kỳ lạ thay, điều gì đã đưa Einstein đến
phát biểu này.
Gần
đây tại Mỹ ra đời một tác phẩm của MacFarlane và WesNisker
với nhan đề “Einstein và Đức Phật”. Các tác giả này,
vốn là nhà vật lý và toán học, ghi lại những nhận thức
đầy trùng hợp giữa một bên là một thiên tài của ngành
vật lý của thế kỷ 20, một bên là một thánh nhân về đạo
học sống 25 thế kỷ trước đó.
Tác
phẩm này được sự chú ý của nhiều học giả trong nhiều
ngành khác nhau. F. A.Wolf, nhà vật lý và tác giả cuốn Mind
into Matter, The Spiritual Universe, viết: “Einstein và Buddha cung
cấp những tri kiến sâu sắc, giản đơn và trích dẫn đưcợ,
chúng giúp ta nối liền khoảng cách giữa khoa học và tâm
linh. Nếu lấn ngón tay che xuất xứ của các lời trích dẫn,
bạn sẽ chịu không biết được ai đã nói điều gì và lúc
nào”. R. Leonard, nhà tâm lý tại đại học Necasa, Las Vegas,
viết: “Einstein và Buddha là một sự cố gắng gây đầy hứng
khởi để thỏa ứng yêu cầu của thế kỷ 21 tạo nên một
thế giới quan tổng hợp. McFarlane cho ta các trích dẫn song
song, của thiền giả phương Đông và khoa học gia phương Tây
với quán sát, sự sáng tỏ và sự tổng hòa của tri thức”.
Sự
trùng hợp giữa Einstein và Buddha là đại biểu cho sự song
hành giữa nhận thức luận Phật giáo và vật lý hiện đại
mà những chương sau đây cố gắng tìm hiểu.
SỰ
IM LẶNG CAO QUÍ
Triết
gia người Đức Karl Japers cho rằng, thời kỳ 500 năm từ 750
đến 250 trước công nguyên là một giai đoạn hi hữu của
lịch sử loài người, đó là một thời kỳ “đột biến”,
là thời đại của một “trục tư tưởng”. Trong thời kỳ
này có nhiều thiên tài về triết học và tư tưởng ra đời
mà ta có thể kể vài vị như Zarathustra (660-583), giáo chủ
Vardhamana Mahavira (599-527), Phật Thích-ca Mâu-ni (566-486), Khổng
Tử (551-497), Socrates (470-399), Plato (427-347), Aristotle (388-322).
Đó
là thời kỳ của những thánh nhân vĩ đại mà hệ tư
tưởng của họ trở thành cội nguồn tư duy, triết học cho
cả loài người trong hàng ngàn năm sau. Socrates và những triết
gia Hy Lạp sau ông vẫn còn đóng một vai trò ưu việt trong
quan niệm về vũ trụ, con người và thế giới hiện tượng.
Khổng Tử vẫn là vị “vạn thế sư biểu” của nền văn
minh Đông Á.
Phật
Thích-ca là người sáng lập đạo Phật, ngày nay là một trong
những tôn giáo lớn trên thế giới. Thế nhưng ta sẽ sớm
thất vọng nếu muốn tìm nơi Đức Phật một nền triết
học hoàn chỉnh về nhận thức, một vũ trụ quan hẳn hoi,
một lời giải thích tường tận về thế giới hiện tượng.
Lý do là, Đức Phật đến với đời không phải là để lý
luận về vũ trụ về thế giới. Ngài không trình bày những
nhận thức triết lý như những nhà triết học Hy Lạp. Mục
đích của Đức Phật là tuyên bố cho thế gian biết cuộc
đời này là “khổ”, là “phiền não”, thế nhưng có những
cánh để thoát khổ, để diệt phiền não.
Vì
những lẽ đó, Đức Phật không hề là một vị “Thượng
đế” toàn năng sáng tạo ra thế giới như nhiều người
lầm tưởng. Con đường Ngài chỉ dạy - ở đây gọi là Đạo
– cũng không có nghĩa là một “tôn giáo” hay thần quyền
theo nghĩa của phương Tây. Theo tinh thần phương Đông, Đạo
không hề đối lập với khoa học. Nói một cách chính xác,
đạo Phật là “đạo diệt khổ”. Đức Phật chỉ là một
người đã “giác ngộ” về con đường dẫn đến sự
diệt khổ và muốn chỉ dạy cho chúng ta. Trong ý nghĩa
đó, Đức Phật chỉ là một người thầy giáo. Có người
ví Đức Phật như một y sĩ, là người tuyên bố rằng chúng
ta đang có bệnh và bệnh đó có thể chữa lành. Dù thầy
giáo hay y sĩ, Đức Phật không hề xưng là Thượng đế, thần
linh, cũng không có dáng dấp của một triết gia nêu lên những
nhận thức hay kết luận về vũ trụ và tìm cách chứng minh
hay bào chữa cho chúng.
Một
điểm nữa làm Đức Phật khác với các vị hiền triết Đông-Tây
khác là chỉ trình bày giáo pháp của mình sau một thời gian
bản thân Ngài phải khổ công rèn luyện những phép tu học
tâm linh và chứng đạt một trạng thái mà ta có thể gọi
là thăng hoa của ý thức. Vì lẽ đó nhiều người gọi Ngài
là bậc “giác ngộ” và đạo Phật có khi cũng được mệnh
danh là đạo giác ngộ.
Được
mệnh danh là Buddha – người giác ngộ- nên thời xưa, khi
Ngài còn tại thế, nhiều đạo sĩ, hiền triết đã tìm Ngài
để hỏi về những vấn đề liên quan đến vũ trụ như thế
giới này có thực hay không; về siêu hình như sinh mạng con
người là còn hay mất. Trước các câu hỏi đó, Đức Phật
đều giữ im lặng. Người đời sau gọi đó là một sự “im
lặng cao quí”. Thay vì nói lên quan điểm của mình như các
nhà hiền triết Đông-Tây, Ngài cho rằng, trả lời những
câu hỏi đó là vô ích, nó không giải thoát khỏi khổ đau,
không dẫn đến “chính kiến”. Ngài kiên trì chỉ nói về
cái khổ và con đường thoát khổ.
Thế
nhưng, ta cũng đừng nghĩ Đức Phật không bao giờ phát biểu
về một thế giới quan. Ngài chỉ nói đến nó khi cần phải
trình bày hay minh họa giáo pháp thoát khổ của mình. Và muốn
kết luận cuộc đời là “khổ”, dĩ nhiên Phật phải có
một tầm nhìn quán triệt về tự tính của thế giới, về
tính chất của con người, về mọi sự tồn tại trên thế
gian. Phật không muốn đi vào các câu hỏi triết học hay siêu
hình, không phải vì Ngài không có sẵn những câu trả lời
mà Ngài biết quá rõ, người nghe sẽ không hiểu hay hiểu
sai về những điều mà con người chỉ thông qua một sự rèn
luyện tâm thức mới giác ngộ được. Trả lời cho những
câu hỏi đó hiển nhiên là hoàn toàn không ích lợi, thậm
chí có thể làm cho người nghe bị lạc hướng.
Vì
những lẽ đó, khi đến với Phật Thích-ca để tìm một quan
điểm về thế giới hiện tượng, thế giới vật lý, ta cần
phải cẩn trọng. Một mặt, ta có thể tìm nơi Ngài những
nhận định sâu xa nhất về thế giới, mặt khác ta đừng
vội tin rằng mình có thể tiếp thu ngay những thế giới quan
đó. Lý do là chúng không xuất phát từ lý luận của đầu
óc mà từ những nhận thức của một trí tuệ đã được
nâng cao và mở rộng bằng phép thiền quán.
Triết
lý đạo Phật có thể vừa rất bao quát, có giá trị không
những cho thế giới loài người mà cho cả loài “hữu tình”
của các thế giới khác. Đồng thời triết lý đó lại nhắm
vào từng người, rất riêng biệt mang tính cá thể. Một mặt,
những nhận thức của Phật là có tính chất chung nhất cho
toàn vũ trụ. Mặt khác giáo pháp của Ngài cũng có tính “tùy
bệnh cho thuốc” nên đọc trong kinh sách, người ta cũng thấy
có nhiều nơi nhiều chỗ dường như mâu thuẫn lẫn nhau.
Một
lý do nữa mà ta cần phải rõ là đạo Phật đã phát triển
từ 25 thế kỷ qua và triết học của nó đã trở thành một
hệ thống đồ sộ mà không mấy ai nắm vững được hết.
Từ những phát biểu của Phật Thích-ca mà ngày nay người
ta còn giữ lại trong kinh sách của Phật giáo Nguyên thủy,
đạo Phật đã nhanh chóng phát triển thành một hệ tư tưởng
vô cùng phong phú, được gọi là tư tưởng Đại thừa. Giữa
hệ Nguyên thủy và Đại thừa có nhiều khác biệt lớn về
tư tưởng và giữa bản thân các hệ phái trong Đại thừa
cũng có nhiều nhận thức luận khác nhau. Điều đặc biệt
là kinh sách Đại thừa, tuy phát triển sau khi Phật nhập diệt,
nhưng vẫn được xem là lời của Phật Thích-ca giáo hóa trong
những “pháp hội” đặc biệt.
Ngoài
Đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, lịch sử Phật giáo còn
ghi lại các vị luận sư xuất chúng. Nhờ các vị đó, đạo
Phật được phát triển trong nhiều thế kỷ qua mà tác phẩm
của họ được gọi là “Luận” để phân biệt với “Kinh”,
là tên chỉ dành cho những lời Phật dạy. Ba hệ Kinh, Luận,
Luật trở thành ba tạng kinh điển đồ sộ của đạo Phật.
Hiển
nhiên, từ kinh điển đạo Phật, người ta có thể rút
ra nhiều kết luận về nhận thức luận của Phật giáo nói
về thế giới hiện tượng.Vấn đề khó ở đây là vì kinh
sách đạo Phật quá phong phú, vì lịch sử tư tưởng của
Phật và của các vị luận sư quá mênh mông, luận đề triết
học này không thề đươc tóm gọi trong vài ba chương sách.
Thậm chí tư tưởng của một vị luận sư suy nhất trong vô
số nhà tư tưởng của đạo Phật đã là đề tài của những
biên khảo công phu. Ngày nay trên thế giới, người ta thường
đi vào những biên khảo chuyên môn như những công trình nói
về các trường phái tư tưởng Phật giáo như Thắng luận,
Trung quán, Duy thức, Thiền tông, Mật tông…
Vì
những lẽ trên, trong phạm vi cuốn sách này, cũng như trong
các chương trước về các lĩnh vực chuyên môn của vật lý,
ta chỉ có thể đề cập một cách sơ lược đến quan niệm
về thế giới hiện tượng của Phật giáo. Dựa trên những
kết luận và vấn đề hiện nay của ngành vật lý, ta thử
tìm hiểu Phật và các nhà tư tưởng trong Phật giáo quan niệm
thề nào về một thế giới khách quan bên ngoài, độc lập
với ý thức con người. Thế giới mà trong đó chúng ta đang
sống do đâu mà thành, tính chất của nó là gì và quan hệ
cùa nó đối với ý thức của con người ra sao.
THẾ
GIỚI HIỆN TƯỢNG THAY ĐỔI LIÊN TỤC
Hãy
bắt đầu bằng một điều mà mọi nền triết học đều
nhất trí với nhau, đó là nhận thức rằng thế giới hiện
tượng luôn luôn biến đổi.
Heraclitus,
nhà hiền triết Hy Lạp sống khoảng năm 500 trước công nguyên,
cùng thời với đức Phật, đã thấy thế giới hiện tượng
luôn luôn thay đổi. Ông tuyên bố thể giới “đang trôi chảy”
và xem mọi sự luôn luôn ở trong trạng thái “trở thành”.
Nền vật lý của chúng ta từ xưa đến nay cũng khẳng định
rằng sự vật liên tục vận động. Đặc biệt trong nền
vật lý hạt hiện đại, người ta thấy tính vận động của
sự vật nằm ngay trong tính chất của các hạt cơ bản, chúng
không những vận hành liên tục mà tác động lẫn nhau
để sinh ra những hạt mới. Đạo Phật cũng khẳng định
sự vật luôn luôn biến đổi, “vạn pháp là vô thường”,
không có gì tồn tại vĩnh viễn cả.
Thế
nhưng, nhận thức “sự vật cận động” mới nghe qua thì
dường như có một nôi dung như nhau, nhưng nó ngầm chứa đựng
nhiều triết lý và thế giới quan khác hẳn nhau. Đó là vấn
đề, đằng sau một bộ mặt luôn luôn thay đổi của hiện
tượng, phải chăng có một “thực thể”, một “tự tính”
không thay đổi. Phải chăng cái thay đổi chỉ là tính chất,
hình dạng, tướng trạng… của một cái bất biến. Hay là
nằm đằng sau bộ mặt luôn luôn thay đổi đó không có gì
cả. Đây là câu hỏi trung tâm nhất của mọi nhận thức
về sự biến dịch.
Nhằm
minh họa hai quan niệm trên, ta hãy lấy hai ẩn dụ của triết
học Ấn Độ, của một nền triết lý đã suy tư về đề
tài này từ nhiều ngàn năm trước. Hình ảnh thứ nhất là
cái nồi làm bằng đất sét. Trước khi cái nồi thành hình,
nó là một khối đất sét. Giá định sau đó cái nồi bị
vỡ. Cái nồi không còn là cái nồi, nhưng những mảnh vụn
của nó vẫn là chất đất sét. Khối đất sét, cái nồi,
mảnh vụn đều là những dạng hình, chúng là vô thường,
đang vận động, đang trở thành, nhưng chất đất sét là
tự tính đích thực của chúng. Đất sét không bao giờ thay
đổi. Cũng thế, đằng sau thế giới hiện tượng đang thay
đổi kông ngừng có một thực thể, một tự tính bất biến.
Đó là ẩn dụ thứ nhất, nó nói lên thế giới quan thứ
nhất về vũ trụ.
Trong
thế giới quan nói trên, thực thể này được gọi là Thượng
đế, “Đại ngã”, linh hồn bất tử… Thế giới đang vận
động là tướng trạng khác nhau của một thực tại bất
biến, của một tự tính bất sinh bất diệt. Trong quan niệm
này thì bản thân con người cũng là một dạng xuất hiện
của thực tại đó; trong con người chứa đựng tự tính đó.Con
người có một “Tiểu Ngã” xuất phát từ Đại Ngã, cũng
như những ngọn đèn con lấy lửa từ một ngọn đèn lớn.
Ẩn
dụ thứ hai là hình ảnh của “củi tàn thành tro”. Giả
định ta có một que củi, khi cháy xong nó thành tro. Tro từ
củi sinh ra nhưng tro không phải là củi. Quan trọng nhất,
trong sự vận động đó, trong sự hoại diệt và sinh thành
đó, không có một thực tại bất biến nào đứng đằng sau.
Ngoài hai trạng thái củi và tro, không có một chất liệu
nào tồn tại chung cả. Sự vận động theo cách dựa lên nhau
mà thành, cái này sinh ra cái kia, nhưng không có một thực
tại bất biến nào đi từ cái này qua cái kia cả. Thế giới
chỉ là những dạng hình biến thiên theo thời gian, vắng bóng
một tự tính riêng biệt, không hề có một chủ thể trường
tồn trong mọi biến thiên đó.
Thế
giới hiện tượng chỉ “xếp” bên nhau (về mặt không gian),
diễn ra cái này sau cái kia (về mặt thời gian) chứ không
có gì làm chủ thể của chúng cả. Thế gian chỉ tương tự
như một con đường để đóng phim trong một phim trường tại
Holywood, chỉ gồm những mặt tiền giả tạo của những ngôi
nhà giả tạo, sau những bộ mặt đó không có gì cả. Những
cảnh tượng đó của thế giới có vận hành thực, nhưng
vận hành vô chủ, chúng không có một Đại Ngã nào làm nguồn
gốc cho chúng cả. Theo quan niệm này thì bản thân con người
cũng chỉ là một tập hợp của các yếu tố thân thể và
tâm lý. Các yếu tố đó cũng vận hành vô chủ, không có
một cái “Tôi” nào đứng đằng sau các yếu tố đó.
Hai
quan niệm triết học này có những nền tảng hết sức sâu
sắc. Quan niệm thứ nhất cho rằng đứng sau mọi hiện tượng
thân và tâm là một chủ thể. Chủ thể đó tồn tại độc
lập, có tự tính riêng của nó, nó có thể có nhiều bộ
phận, nhiều thành phần, nhiều bộ mặt…
Khi
một nền vật lý cho rằng thế giới tốn tại độc lập
tự nó hay khi cho rằng thế giới vật chất do nhiều hạt
cơ bản với tự tính độc lập hình thành thì nền vật lý
đó đã lấy quan niệm thứ nhất làm cơ sở. Với quan niệm
đó thì nhà vật lý thấy công việc của mình là nghiên cứu
tính chất của thế giới khách quan đó, tìm hiểu thế giới
do những gì hình thành, tự tính của những vật liệu cơ
bản đó là gì.
Quan
niệm thứ hai là mới mẻ và khó hiểu đối với phần lớn
độc giả lần đầu tiên tiếp cận với triết học Phật
giáo. Quan niệm này cho rằng mọi sự trên thế gian đều chỉ
là những dạng nhìn, biến cố xếp lên nhau. Chúng tác động
lẫn nhau để cái này sinh ra cái khác theo một qui luật nhất
định. Thế nhưng chúng không có một chủ thể tự thân. Con
người ngắm nhìn thiên nhiên và tưởng rằng thiên nhiên tồn
tại tự nó, tưởng rằng có một chất liệu chắc thật cấu
tạo nên thiên nhiên. Đó chỉ là một sự nhầm lẫn của
giác quan, của đầu óc tư duy. Con người ngắm nhìn chính
mình và tưởng rắng có một linh hồn làm chủ thể xác, tưởng
rằng có một cái Tôi sở hữu thân thể và sự vận hành
của tâm thức. Đó cũng là một sự nhầm lẫn của giác quan,
của đầu óc tư duy.
Quan
niệm thứ hai này là thái độ triết học của Phật giáo
mà thuật ngữ của chủ trương này là “pháp vô ngã, nhân
vô ngã”. Một khi chấp nhận quan niệm này, con người phải
đặt thêm câu hỏi: nếu sự vật không tồn tại trên cơ
sở của tự tính riêng biệt và tự nó, chỉ xuất hiện vì
bị một số nguyên nhân khác tác động thì tại sao tất cả
lại phải xuất hiện, tại sao thực tại không “nằm yên”,
nguyên nhân đầu tiên của chúng là gì. Mối quan hệ giữa
sự vật là gì, phải chăng chúng tác động với nhau theo một
qui luật nhất định. Phải chăng sẽ có ngày trong đó mọi
sự sẽ “biến mất”?
Bản
thân con người cũng là một sản phẩm của những hoạt động
của thân và tâm, là một loạt những trạng thái thân tâm
xếp liền nhau, nhưng lại vắng bóng một chủ thể làm “nền”
cho chúng. Thế nên, điều đáng chú ý là, với đạo Phật,
tính chất cơ bản của thế giới hiện tượng và thế giới
tâm thức là như nhau, cả hai thế giới đó chỉ gồm những
trạng thái xếp cạnh bên nhau một cách vô ngã. Đã thế thì
giữa con người và thế giới hiện tượng hẳn phải đã
có mối liên hệ khăng khít. Và, cuối cùng, nếu theo đạo
Phật, tất cả chỉ là mặt nổi của một thế giới trống
rỗng tự tính, phải chăng thực tại chỉ là một cõi hư
vô mà con người tưởng nhầm nó có tính chất đích thực?
Nếu
đầu óc ta lỡ quen với thế giới quan và phép suy luận của
khoa học vật lý và phép giải thích phương Tây, phải nói
rằng, thật khó mà hiểu ngay được quan niệm “pháp vô ngã,
nhân vô ngã” của đạo Phật. Hiểu ngộ thấu đáo được
quan niệm này thật ra là một cuộc cách mạng tư duy về nội
tâm mà không mấy người thực hiện nổi vì hai lẽ. Lẽ thứ
nhất là giác quan và đầu óc của ta luôn luôn lừa dối chúng
ta, luôn luôn cho sự vật, thế giới và nhất là cái tôi tồn
tại thực sự, có tự tính riêng biệt. Lẽ thứ hai là quan
niệm này không thể được hiểu ngộ bằng luận lý mà bằng
sự chứng nghiệm dần dần của bản thân. Điều này giải
thích tại sao Đức Phật giảng pháp của mình sau khi “chứng
đạo”, sau một thời kỳ mà ta gọi là chuyển hoá ý thức
lên một bình diện khác hẳn với mức độ của con người.
Thế
nên, quan niệm này về thực tại là rất xa lạ với cộng
đồng vật lý. Trong lúc ngành vật lý cho rằng thực tại
là một thể độc lập, có tự tính riêng biệt, tồn tại
trên cơ sở tự tính đó thì quan niệm này thấy thực tại
chỉ là những hình ảnh xuất hiện trong thời gian và không
gian. Chúng tác động lẫn nhau để sinh thành theo những qui
luật nhất định, nhưng chúng không có một chủ thể, một
chất liệu chung. Chúng chỉ là củi và tro, hai trạng thái
nối tiếp nhau, không có một cái gì đi từ củi và tro. Trong
số các nhà vật lý, những người cho rằng thế giới do một
số chất liệu cơ bản (thí dụ hạt cơ bản) hình thành thì
không thể chấp nhận thái độ triết học nói trên. Các nhà
vật lý theo chủ nghĩa duy thực cũng khó đồng ý với quan
niệm này vì họ cho rằng có một thực tại tồn tại độc
lập với ý thức con người, điều mà quan niệm này cũng
phủ nhận nốt.
Trong
giới vật lý, chỉ những ai cho rằng thế giói xuất hiện
đúng như cách con người tra vấn nó, chỉ những người xem
thế giới hiện tượng đơn thuần là một trình hiện –
không có thực chất, chỉ những kẻ theo quan niệm công cụ
xem mọi lý thuyết và khái niệm vật lý là sản phẩm của
con người đề ra để mô tả thiên nhiên, những người đó
mới có thể thấy quan niệm triết học nói trên là có đôi
chút gần gũi với thế giới quan của mình. Thậm chí họ
có thể thấy bài phát biểu này thoạt nghe qua không có gì
mới mẻ lắm. Thế nhưng, như ta sẽ thấy, đạo Phật triến
khai một nền triết học nhận thức rất mạnh dạn và đến
với nhiều kết luận bất ngờ.
Các
chương sau đây sẽ cố gắng làm sáng tỏ dần dần quan niệm
về thực tại nói trên và nêu lên một số luận điểm khác
của Phật giáo về vũ trụ và con người.
CÁI
NÀY SINH THÌ CÁI KIA SINH,
CÁI
NÀY DIỆT THÌ CÁI KIA DIỆT
Tại
Bodh Gaya, dưới gốc cây bồ-đề, sau một thời gian thiến
định, Đức Phật đạt chứng ngộ toàn triệt và chung quyết
về thế giới con người. Theo kinh sách ghi lại, Ngài tự thấy
nhận thức của mình quá sâu xa và khó hiểu cho người đời
và vì thế mà không có ý định giảng giải. Chỉ sau khi nghe
lời khẩn cầu của thiên nhên và khi quán tưởng thấy chúng
sinh tuy có khác nhau nhưng luôn luôn hướng đến sự giác ngộ,
Ngài mới bắt đầu “chuyển pháp luân”.
Là
người thấy rõ tính chất của “vạn pháp”, Đức Phật
phát biểu gì về bản chất của vũ trụ? Dù không chủ trương
luận giải về vũ trụ, chỉ tập trung nói về sự Khổ và
con đường thoát Khổ, Ngài cũng phải nêu lên một quan niệm
về con người trong thế giới hiện thực để làm nền cho
“đạo diệt khổ” của mình.
Khi
nói về thế giới, Đức Phật không hề nói về một chất
liệu mà trên đó thế giới được xây dựng, không nói về
những hạt nguyên tử mà quan niệm Ấn Độ cũ cũng đã
biết tới. Ngài bác bỏ quan niệm có một chất liệu cơ bản
của thế giới, tức là không chấp nhận một thế giới tồn
tại trên cơ sở có tự tính tiêng. Quan điểm của Đức Phật
về thế giới là “cái này có thì cái kia có, cái này không
thì cài kia không, cái này sinh thì cái kia sinh, cài này diệt
thì cái kia diệt”. Đó là thế giới quan của Phật mà Phật
tử thường gọi là lý thuyết “Duyên khởi”.
Trước
hết ta cần thấy rằng, quan niệm về con người và thế giới
của Phật rất khác với cách nhìn của các nhà triết học
Hy Lạp và của các nhà vật lý. Từ Socrates đến các nhà
triết học phương Tây trong các thiên niên kỷ sau, ta đã thấy
rằng họ xem thực tại bên ngoài như một thể khách quan và
con người chỉ ngắm nhìn thực thể đó. Dĩ nhiên trong số
họ có những nhà triết học duy tâm, những kẻ xem thực tại
chỉ là phản ánh của tâm thức con người lên thế giới.
Thế nhưng không mấy ai trong số các nhà triết học lẫn khoa
học đặt câu hỏi, phải chăng ta phải chuyển hoá và thăng
hoa tâm thức để có thể nâng cao khả năng nhận thức về
thế giới, về vũ trụ và về chính bản thân mình.
Các
nhà vật lý thời xa xưa thì lại càng dứt khoát hơn. Họ
giả định ngay từ đầu – như một định đề tiên quyết
– là có một thế giới thực tại, tồn tại tự nó, hoàn
toàn độc lập với ý thức con người. Con người sống trong
thế giới đó, nhận thức được nó, khám phá và phát biểu
được những qui luật trong thế giới đó với sự trợ giúp
của toán học. Con người là chứng nhân thụ động trong thiên
nhiên, mọi sự vật thông qua giác quan con người mà vào “bên
trong”, tạo một hình ảnh trung thực của thế giới lên
ý thức con người.
Mãi
đến thế kỷ thứ 11, người ta vẫn còn cho con mắt (thị
giác) chỉ là một bộ phận hoàn toàn thụ động như một
chiếc hộp đen, cho phép hình ảnh từ ngoài đi vào trong. Đến
khi nền vật lý khám pha ra nguyên tử và các hạt trong nguyên
tử, tính chất của sóng ánh sáng và màu sắc, người ta mới
biết một cách chung cuộc, hình thể, màu sắc, mùi vị…
không hề là thực tại tự nó, chúng chỉ là tác động của
sóng, hạt lên con người. Mắt đã làm nên màu sắc, tai đã
tạo thành âm thanh. Thế giới mà ta đang thấy không hề tồn
tại như nó là, chính chúng ta là kẻ cảm nhận như thế,
thậm chí có thể nói “tạo nên” nó.
Nàh
vật lý đứng trước một tình hình mới, đó là thế giới
tự nó là gì thì chưa ai khẳng định được, còn thế giới
mà mọi người cùng cảm nhận là kết quả một sự “tương
tác” giữa người và cảnh. Đầu thế kỷ 20, với sự phát
triển của cơ học lượng tử, người ta bắt đầu thấy
không thể loại bỏ ý thức ra khỏi thực tại mà thực tại
xem ra là câu trả lời của thiên nhiên đối với câu hỏi
do ý thức con người đặt ra. Với sự phát triển của nền
vật lý mới nhất, người ta thấy rõ thế giới mà ta cảm
nhận phải là một sản phẩm giữa một bên là “thực tại
độc lập”, bên kia là ý thức con người.
Nền
vật lý hiện đại bỗng thấy đường ranh giới giữa khách
thể - chủ thể ngày càng mờ nhạt. Họ bắt đầu thấy vũ
trụ quan phương Đông – trong đó người ta cho rằng mức
độ “giác ngộ” của con người đóng một vai trò chủ
đạo khi nhận thức thế giới – không quá vô lý. Thế nhưng
nền vật lý vẫn quyết giữ một tiền đề cơ bản, đó
là phải có một thực tại tự nó, hoàn toàn độc lập với
ý thức con người, dù thực tại đó ngày nay được quan niệm
là tạo nên với hạt hay sóng, hay đối hạt, hay vật
chất tối, hay bất cứ cái gì mà con người sẽ phát hiện
ra. Nhất định thực tại phải là một cái gì độc lập,
có tự tính riêng biệt, tồn tại tự nó. Nếu không thì không
có ngành vật lý nữa!
Triết
thuyết của Phật khác với các triết gia Hy Lạp và
các nhà vật lý ở nơi đây. Lý thuyết duyên khởi
là một nhận thức bao quát, là “công thức” của
vũ trụ nhưng nó lập tức được sử dụng để nói
về sự hình thành của con người. Điều đó xuất
phát từ hai lý do. Một là đạo Phật quan niệm, như
ta sẽ thấy, sự hình thành của con người cũng là sự
hình thành của thế giới, của vạn hữu. Con người
và thế giới (của nó) là hai thế tương tác vơi nhau,
đúng như lýthuyết duyên khởi: “cái này có thì cái
kia có, cái này sinh thì cái kia sinh”. Hai là, đạo Phật
ra đời không phải để giải thích vũ trụ mà để diệt
Khổ. Cho nên lý thuyết duyên khở vừa nêu rõ sự thình
thành của con người và thế giới; vừa đồng thơi
vạch ra tiến trình của sự diệt Khổ.
Vì
hai lẽ đó mà lý thuyết duyên khởi được cụ thể
hóa trong một chuỗi “Mười hai nhân duyên”, được
hiểu như 12 giai đoạn hình thành và phát triển của
một đời tái sinh của con người, cái này làm tiền
đề cho cái sau, cái này sinh thì cái kiasinh, cái này
diệt thì cái kia diệt. Mười hai nhân duyên đó là Vô
Minh sinh Hành, Hành sinh Thức, Thức sinh Danh Sắc, Danh Sắc
sinh Lục Căn, Lục Căn sinh Xúc, Xúc sinh Thụ, Thụ sinh Ái,
Ái sinh Thủ, Thủ sinh Hữu, Hữu sinh Sinh, Sinh sinh Lão Tử.
Các
thuật ngữ trên của đạo Phật có thể xa lạ với nhiều
người chưa tiếp cận với triết học Phật giáo. Nơi
đây ta chỉ lướt qua nội dung chủ yếu của chúng. Vô
Minh là sự hiểu biết và cảm nhận sai lầm. Hành là
hành động dẫn đến một hậu, có hậu quả mới
được gọi là Hành. Vì Hành mà Thức được sinh ra,
đó là Tâm thức làm nền tảng cho một đời sống
mới. Danh Sắc là kết quả của Thức trong bụng mẹ,
nó là tổng thể tâm lý của bào thai. Lục căn là các
giác quan, gồm có năm giác quan và khả năng suy nghĩ.
Lục căn tiếp xúc với thế giới bên ngoài để sinh
Xúc. Thông qua Xúc, con người cảm nhận, đó là Thụ.
Vì cảm nhận con người sinh ra yêu thích, đó là Ái.
Từ lòng yêu thích, con người muốn chiếm hữu, đó
là Thủ. Với Ái và Thủ, một thứ được sinh ra, đó
là Nghiệp lực. Nghiệp lực sinh ra thân tâm và thế
giới, đó là Hữu, là toàn bộ sự tồn tại. Với
hữu, với thế giới xuất hiện, con người cá thể
cảm nhận một sự sống, một đời sống, đó là
Sinh. Và cuối cùng, vì có Sinh nên có diệt, đó là
sự già chết, Lão Tử.
Trong
rừng kinh sách và luận giải về đạo Phật xưa nay,
ta luôn luôn gặp lại thuyết “Mười hai nhân duyên”.
Lý thuyết này là một trong những nền tảng cơ bản
nhất khi nói về thế giới quan tâm lý và vật lý
của Phật giáo. Nó được khai triển trong nhiều tầm
nhìn khác nhau, thí dụ trong mối tương quan nhân-quả hay
trong mối liên hệ thời gian, trong chuỗi sự sinh thành
hay tiến trình hoại diệt của sự vật. Trước những
luận giải thâm sâu đã có, sách này sẽ không nhắc
lại những tư tưởng đó, mà chỉ muốn rút ra vài kết
luận của đạo Phật về thế giới “khách quan” và
vai trò con người trong thế giới đó.
Phần
lớn các nhà khoa học, khi đọc qua 12 mối liên hệ nói
trên, có cảm giác chúng không nói gì về một thế
giới bên ngoài, về một thực tại khách quan. Họ dễ
có cảm giác chúng nói về một hệ thống đạo đức,
vì khởi thuyết mọi vận hành là “Vô Minh”, nghe qua
như một sự phê phán có tính chất đúng sai. Ái và
Thủ dường như cũng là những thuật ngữ có tính phê
phán về mặt đạo dức, nhiều lắm thì chúng cũng
chỉ được liệt vào lĩnh vực của tâm lý. Sinh và
Lão Tử, sự sống chết của con người là một điều
đã qua hiển nhiên, không ai không biết. Thế thì chuỗi
“Mười hai nhân duyên” này có giá trị gì khi nói về
một thực tại khách quan của nhà vật lý?
Trong
chuỗi dây xích “Mười hai nhân duyên” có một thuật
ngữ mô tả thế giới, thực tại, đó là Hữu. Hữu
là toàn bộ sự tồn tại, toàn bộ thực tại, là
vũ trụ, thế giới hiện tượng. Thế nhưng tại sao Hữu
lại do Ái và Thủ sinh? Ái, Thủ là gốc của Nghiệp,
từ đó xuất phát một cái tự ngã, một cái Tôi
nói theo thuật ngữ triết học hiện đại thì Ái, Thủ
chính là chủ thể. Một khi chủ thể xuất hiện thì
khách thể hiện tiền, cái này có thì cái kia có.
Thế
thì theo quan niệm của “Mười hai nhân duyên”, thế giới
hiện tượng, “thực tại độc lập” xuất hiện cùng
một lúc với chủ thể, với thứ tâm thức tưởng
mình có một tự ngã. Theo đó thế giới hiện tượng
không hề là một thực tại độc lập tồn tại trên
cơ sở tự tính riêng mà nó là khách thể xuất hiện
cùng một lúc với chủ thể. Khách thể không có tự
tính riêng biệt, nếu chủ thể diệt thì nó diệt theo,
cái này diệt thì cái kia diệt. Đối với đạo Phật,
thế giới “có” là có cho một chủ thể nhất định,
không có chủ thể thì không có thế giới. Thế giới
như một giấc mơ hiện ra cho người nằm mơ, nếu người
mơ tỉnh dậy thì giấc mơ diệt. Thế nhưng tại sao thế
giới lại trình hiện ra cho một chủ thể, tại sao lại
có chủ thể?
Hữu
do Thủ sinh ra, Thủ lại do Ái sinh, nếu “truy” tận gốc
thi cuối cùng là Vô Minh. Thế nên ta có thể nó thế
giói do Vô Minh sinh, hay dùng một từ khác, thế gian do
“vọng tâm” mà có. “Nếu vọng tâm sinh khởi thì các
pháp đều sinh khởi. Vọng tâm diệt thì các pháp đều
diệt”. Đó là quan niệm của đạo Phật.
Quan
niệm này dĩ nhiên là hết sức kỳ lạ đối với ngành
vật lý cũng như đối với nhiều người khác. Nếu
như thế thì mỗi người phải có một thế giới riêng
mà “thực tế” thì chỉ có một thế giới, một
vũ trụ chung. Nếu mỗi người sống riêng trong thế giới
của mình thì lý giải thế nào về mối quan hệ giữa
người này với người khác. Nếu thế giới của tôi
do vọng tâm của tôi sinh ra thì gia đình, bạn hữu người
thân, kẻ thù phải chăng đều do vọng tưởng của tôi
sinh ra cả? Và như thế thì cuốn sách tôi đang cầm trong
tay này cũng chính là tác phẩm của chính tôi? Trong một
thế giới do vọng tưởng của tôi sinh ra thì quan niệm
thế
nào về thiện ác, phải trái. Đạo Phật là đạo diệt
Khổ, thế thì phải chăng Khổ cũng không có thật, cũng
chỉ do vọng tâm sinh ra? Nếu Khổ không có thật thì cần
gì phải diệt? Việc thiện không có thật, cần gì
phải làm. Đức Phật cũng không có thật nốt, cần
gì phải nghe?
KHÔNG
CÓ AI CẢ TRÊN ĐỜI NÀY
Ta
cần biết rõ, thuyết Mười hai nhân duyên là một cách
cụ thể hóa của thuyết Duyên khởi để lý giải sự
sinh thành và hoại diệt của Nghiệp, của đời sống,
nhất là của Khổ. Hiển nhiên đó là nội dung quan trọng
nhất của thuyết Duyên khởi, nhưng thuyết Duyên khởi
bao quát hơn Mười hai nhân duyên. Duyên khởi là thế giới
quan trình bày tính chất chung của mọi hiện tượng,
của mọi “pháp hữu vi” thuộc vật chất lẫn tâm
thức. Nhiều người qui lý thuyết Duyên khởi đồng
nghĩa với Mười hai nhân duyên, họ không biết sử dụng
thuyết duyên khởi như một pháp nhận thức vô cùng
quan trọng mà nền vật lý ngày nay đang cần đến.
Thuyết
Duyên khởi khẳng định mọi sự vật dựa lên nhau mà
sinh thành và hoại diệt, thực tại vật lý đang vận
động, đó là điều xưa nay ai cũng biết, nhưng đạo
Phật cho rằng cơ sở của sự vận động là mọi sự
làm điều kiện cho nhau. Điều này mới nghe qua thì rất
tầm thường. Thế nhưng ngay từ đầu, thuyết Duyên khởi
loại bỏ một điều còn lưu hành từ thời Thượng
cổ đến bây giờ, đó là tư tưởng cho rằng động
lực của sự vận động nằm trong tay một đấng sáng
tạo. Thuyết Duyên khởi nêu lên một nhận thức mà ngày
nay nền vật lý đang thừa nhận: sự vận động là
qui luật nội tại của thực tại, nguồn gốc của sự
vận động không nằm ở đâu khác ngoài tính chất
nội tại của vũ trụ.
Đó
là cái chung giữa Duyên khởi và ngành vật lý nhưng
cái khác biệt thì sâu sắc hơn mà trong chương trước
ta đã đề cập tới. Đó là thuyết Duyên khởi khẳng
định rằng thực tại không tồn tại tự nó, không có
tự tính riêng biệt, nó tồn tại vì nó nằm trong một
thể tương tác, “đối đãi” với con người. Đó
là nội dung của tư tưởng “pháp vô ngã” của đạo
Phật.
Còn
bản thân con người thì sao? Phật giáo cho rằng, con người
cũng không có tự tính, không tồn tại trên cơ sở tự tính,
không có môt cái Tôi đứng sau mọi hiện tượng của cá thể,
đó là tư tưởng “nhân vô ngã”.
Khi
Đức Phật giảng về Duyên khởi, một bị tu sĩ hỏi: “Bạch
Thế Tôn, ai cảm xúc, ai thọ, ai khát ái, ai chấo thủ?”.
Phật trả lời: “Như Lai chỉ dạy Xúc, Thọ, Ái, Thủ…
chớ không dạy người nào Xúc, Thọ, Ái Thủ… nên các câu
hỏi đó không phù hợp với lý Duyên khởi. Câu hỏi phù hợp
với lý Duyên khởi phải là, do duyên gì Xúc sinh, Thọ sinh…?”.
Nội dung của câu trả lời này thật là khó hiểu cho những
ai chưa quen với đạo Phật. Đó là có sự khát ái chứ không
có người khát ái; có sự Sinh, có LãoTử nhưng không có ai
sinh hay chết. Có Vô Minh nhưng không có ai vô minh, có sự giác
ngộ nhưng không có người giác ngộ. Đó là tư tưởng “nhân
vô ngã” của đạo Phật, một nền tảng cơ bản cả triết
học Phật giáo.
Tư
tưởng nhân vô ngã được trình bày khéo léo và thú vị nhất
trong kinh Na-tiên tỉ-kheo, cũng có tên là Di-lan-đà vấn đạo
kinh. Bộ kinh này xuất hiện lần đầu tiên trong khoảng thế
kỷ thứ nhất và ngày nay được dịch ra hầu hết các thứ
tiếng trên thế giới. Hãy dựa vào vài ẩn dụ trong tác phẩm
này để đến với quan niệm vô ngã. Theo quan niệm này, tất
cả mọi sự trong thế gian đều là “giả danh”. Mọi sự
chỉ là một tập hợp cả nhiều phần tử và chỉ mang một
danh tánh có tính qui ước, không có thực chất.
Hãy
nhìn một sự vật thông thường trong đời sống hàng ngày,
thí dụ một chiếc xe máy. Ta hay nói, chiếc xe này có động
cơ, có giàn xe, có bánh lái, có đèn trước đèn sau… nói
như thế thì ai cũng hiểu nhưng thật ra câu nói đó không
chính xác. Câu nói đó dường như cho rằng chiếc xe là một
thực thể có sẵn, nó sở hữu những thứ như động
cơ, giàn xe, bánh lái…, dường như thiếu đi những thứ đó
thì vẫn có chiếc xe. Thực tế là – điều mà ai cũng biết
– những thứ vừa kể phải được tập hợp lại, và tập
hợp theo một trật tự và qui luật nhất định thì mới hình
thành chiếc xe. Cho nên phải nói chính xác là, chiếc xe là
sự tập hợp cua các chi tiết đó. Chiếc xe có tính cách là
một thực thể riêng biệt không hề có, nó chỉ là một tập
hợp. Về mặt ngôn ngữ, chiếc xe không hề có cái gì cả,
mà nó là những cái gì khác xác lập nên. Động từ có phải
được thay bằng động từ là.
Nơi
đây không phải là trò chơi chữ vô bổ mà điều này phản
ánh một nhận thức luận sâu sắc. Đạo Phật xem chiếc xe
không tồn tại trên cơ sở tính, nó chỉ là “giả danh”,
chiếc xe là vô ngã.
Một
sự tập hợp của nhiều thành phần, theo một trật tự nhất
định, sẽ hình thành một “vật”, vật đó tuy tồn tại
với một danh tánh riêng biệt nhưng nó không có tự tính riêng,
nó chỉ tồn tại một cách “qui ước”.
Thế
nên, đạo Phật quan niệm mọi sự vật “vô ngã” vì sự
vật nào cũng đều gồm những phần tử khác hợp lại. Thực
tế là không có sự vật nào trên thế gian mà không có cấu
trúc nội tại, không do nhiều phần tử khác hợp thành.
Theo
đạo Phật, sự vật là vô ngã, vì ngoài tính chất có một
cấu trúc nội tại, chúng còn một lý do khác, đó là chúng
luôn luôn nằm trong một mối quan hệ nhất định với các
vật khác. Trong thí dụ trên, “chiếc xe” còn được cái
may mắn là luôn luôn được gọi là chiếc xe, các sự vật
khác chưa chắc được như thế. Tập hợp của một miếng
gỗ với bốn cái chân, khi nó mang đề đạc sách vở thì
được gọi là “cái bàn”, khi người ta dùng nó để ngồi
thì nó mang tên “cái ghế”, dùng để nằm thì là “cái
giường”. Cái bàn, cái ghế hay cái giường – với tính
cách vật thể có tự tính riêng – không hề có thật, chúng
đều là giả danh. Thông qua thí dụ cái bàn hay cái ghế, ta
thấy sự vật phát sinh và tồn tại thông qua một mối quan
hệ nhất định. Trong quan hệ với người sử dụng mà một
vật có thể có những danh tánh khác nhau.
Hãy
lấy một ẩn dụ khác cơ bản: một bà mẹ sinh ra đứa con.
Ta thường nói đứa con được bà mẹ sinh ra. Nhưng ta cũng
có thể nói bà mẹ được đứa con sinh ra. Tại sao? Nếu không
có đứa con thì người đàn bà đó không bao giờ được gọi
là bà mẹ, người đó chỉ là một phụ nữ, một nữ sinh
viên, một chị bán hàng, một cô y tá… Thế nên, “bà mẹ”
và “đứa con” được sinh ra đồng thời, cả hai phải dựa
lên nhau mà có, cả hai nằm trong một mối quan hệ mà thuật
ngữ tiếng Việt của đạo Phật gọi là “đối đãi” nhau
mà sinh ra.
Trên
cơ sở “đối đãi” đó, mọi sự vật, mọi hiện tượng,
mọi khái nệm trên thế gian được gọi là “có”, nhưng
chúng tồn tại một cách tương đối, qui ước. Chúng không
thể tồn tại riêng, cũng như “bà mẹ” không thể tồn
tại nếu không sinh con. Tương tự như thế, không thể có
“ngừơi mua” nều không có “người bán”, không thể có
“tốt” nếu không có “xấu”, không thể có “khách quan”
nếu không có “chủ quan”, không thể có Phật nếu không
có chúng sinh, không thể có Niết-bàn nếu không có Sinh Tử.
Tất cả đều là danh tánh giả hợp, chúng chỉ tồn tại
nếu một quan hệ đối đãi nhất định được thiết lập.
Lý luận vô ngã này được Long Thụ, luận sư nổi tiếng
của đạo Phật trình bày rõ trong Trung Luận, giáo pháp chủ
yếu của Trung quán tông.
Vì
những lý do trên, thuyết vô ngã của đạo Phật được xem
như có hai cơ sở. Một là, mọi sự vật – kể cả các hiện
tượng tâm lý, nói chung là mọi “pháp hữu vi”- đều do
nhiều yếu tố khách hợp thành. Hai là, mọi sự vật đều
nằm trong một quan hệ đối đãi lẫn nhau. Thế nhưng cả
hai cơ sở này đều bắt nguồn từ thuyết Duyên khởi với
nội dung “cái này có thì cái kia có”. Giữa hai cái thì
cơ sở đầu tiên – mọi sự vật đều do nhiều yều tố
hợp thành, mọi sự vật đều có cơ cấu nội tại của nó
– là điều dễ hiểu và dễ áp dụng cho thực tại vật
chất hơn. Cơ sở thứ hai – quan hệ đối đãi – là tinh
tế hơn và dễ vận dụng hơn trong các vấn đề triết học
và bản thể học của thế giói hiện tượng.
Chiếc
xe là ẩn dụ nổi tiếng của Na-tiên. Dĩ nhiên ngày xưa, chiếc
xe đó là chiếc xe ngựa của nhà vua Di-lan-đà, ngày nay là
chiếc xe máy hay xe hơi chạy quanh đường phố. Thế nhưng
mọi sự vật trong thế gian đều như chiếc xe, chúng đều
là những giả hợp, tên của chúng đều là giả danh. Không
có một sự vật gì mà không do các phần tử khác tạo thành,
mọi sự vật đều có một cơ cấu nội tại của nó, kể
cả các vật nhỏ nhất như phân tử, nguyên tử. Nền vât
lý hiện đại cho thấy nguyên tử do các hạt hạ nguyên tử
hình thành và bản thân các hạt này do các hạt nhỏ hơn nữa
tập hợp. Các hạt “nhỏ nhất” đó lại chuyển hoá được
lẫn nhau và là dạng của năng lượng vô hình.
Như
ta đã biết, nhiều nhà vật lý tìm hiểu “tự tính” của
vật chất, chúng là sóng hay hạt, tại sao chúng “mâu thuẫn”
lãn nhau. Họ đi tìm tự tính vì họ cho rằng vật chất có
tự tính, cho rằng vật chất tồn tại trên cơ sở tự tính.
Nếu vận dụng nguyên lý của đạo Phật, cho rằng mọi vật
không có tự tính, nó chỉ là một tập hợp giả danh thì
cái “mâu thuẫn” giữa sóng và hạt biến mất. Tập hợp
nọ có khi là cái bàn, có khi là cái ghế, không có gì mâu
thuẫn giữa bàn và ghế cả vì tất cả đều là giả danh.
Cả hai khái niệm sóng và hạt dều là giả danh, chúng là
do con người đặt tên ra cả, đúng như phái công cụ trong
vật lý đã nhận thức. Vật chất hiện ra như sóng nếu ta
hỏi nó theo một cách nhất định, vật chất hiện ra như
hạt nếu ta hỏi nó một cách khác. Đó là điều mà Heisenberg
đã khẳng định với câu “Điều mà ta quan sát thấy không
phải tự tính đích thực của thiên nhiên mà là thiên nhiên
hiện ra dưới cách vấn hỏi của ta”.
Đến
đây, với quan niệm cho rằng mọi sự vật là một tập hợp,
không có tự tính riêng, chỉ là giả danh, ta thấy tuy nó mới
lạ nhưng còn có thể hiểu được. Thế thì đạo Phật nói
gì về bản thân con người?
Cũng
lại là vị tỉ-kheo Na-tiên giảng giải vấn đề này một
cách duyên dáng và thú vị. Ông hỏi nhà vua Di-lan-đà từng
thứ, cái gì “là đại vương”, phải chăng là tóc, tai,
da thịt; phải chăng là ý niệm, là cảm thọ vui buồn. Di-lan-đà
không tìm đâu ra là cái Tôi cả. Cũng như chiếc xe chỉ là
giả danh. Chỉ một tập hợp của những thành phần cấu tạo
thành xe, thì con người cũng chỉ là một tập hợp của hai
thành phần tâm lý và thể chất, cũng chỉ là một giả danh.
Theo
đạo Phật, thành phần tâm lý gồm có bốn mức độ, bốn
giai đoạn mà thuật ngữ gọi là Thọ, Tưởng, Hành, Thức.
Bốn yếu tố này cũng với yếu tố thể chất (Sắc)
hợp thành “năm yếu tố” mà đạo Phật gọi là Ngũ
uẩn. Năm yếu tố này vận hành theo lý thuyết Duyên khởi,
có cái này thì có cái kia, thúc đẩy lẫn nhau, làm nền tảng
cho nhau, sinh thành và hoại diệt theo nhau để hình thành hoạt
động của con ngừoi. Chỉ có năm yếu tố vận hành, không
có cái gì làm chủ nhân của chúng, không có một cái Tôi
nào đứng đằng sau chúng. Cái Tôi mà mỗi chúng ta nghĩ là
“chính mình” chỉ là một sự nhầm lẫn của tri thức.
Đó là quan niệm “nhân vô ngã” của đạo Phật.
Cái
Tôi vắng bóng cũng như “chiếc xe” không có thật, cả hai
đều là một sự tập hợp giả danh. Cả hai đều không có
thực thể để tự mình sở hữu một cái gì, cả hai đều
là một trạng thái nhất định, cả hai đều không có, chỉ
được xem là “có” một cách qui ước.
Nếu
ẩn dụ chiếc xe là dễ hiểu thì nhận thức rằng con người
chỉ là dạng vận động vô chủ của năm nhóm vật lý và
tâm lý, rằng chúng xếp bên nhau, sau lưng chúng không có gì
cả, nhận thức đó thật khó hiểu cho mỗi người chúng ta.
Có thể nói rằng, nhận thức này khó chấp nhận tới mức
mà, nếu ai nghe hay đọc nguyên lý “nhân vô ngã” lần đầu
mà không bị choáng váng thì phải nói người đó chưa hiểu
nguyên lý này.
Con
người chỉ là tập hợp của những cảm xúc, nhận thức,
ý niệm, hành động... đang vận hành vô chủ. Những
trạng thái đó là hậu quả cùa một trạng thái trước
và là nguyên nhân sinh ra một trạng thái sau, chúng vận
hành có nguyên nhân và theo một qui luật nhất định
nhưng không có một chủ thể đưa đường dẫn lối cho
chúng. Vì thế nên Đức Phật mới nói: “Như Lai chỉ
dạy Xúc, Thọ, Ái, Thủ... chớ không dạy người nào
Xúc, Thọ, Ái, Thủ...”.
Nếu
xem Xúc, Thọ, Ái, Thủ... là những tình trạng được
cụ thể hóa như những viên bi thì những biên bi đó
có động lực, chúng vận động và thúc đẩy lẫn
nhau như những trái banh bi-da. Và vô ngã có nghĩa là
giữa những viên bi đó không có một sợi dây nào nối
chúng lại với nhau cả, chúng chỉ đẩy lẫn nhau. Cũng
trong ẩn dụ này thì quan niệm hữu ngã được hình
dung như có một sợi dây kết những viên bi lại với
nhau, thí dụ như một xâu chuỗi hạt trai và sợi dây
chính là chủ thề. Đạo Phật từ chối sợi dây đó.
Con người vì “vô minh” nên nhầm lẫn tưởng mình
có một cái Tôi và đó là nguyên nhân của mọi phiền
toái trong đời sống vô tận mà thuật ngữ đạo Phật
gọi là Sinh Tử.
Tới
đây ta cần nhớ lại thời kỳ lúc Đức Phật nêu lên
những luận điểm này. Đó là thời đại mà trên thế
giới, kể cả Ấn Độ, loài người còn đắm chìm
trong quan niệm về một chủ thể sáng tạo tuyệt đối,
toàn năng. Đức Phật đã nêu lên những nhận thức
hết sức mạnh dạn và triệt để về sự vận động
của thế giới và tính chất vô ngã của mọi sự vật.
Đó là, mọi sự vật dựa lên nhau mà vận hành, sự
vận động là tính chất nội tại của sự vật, không
có một thần quyền nào điều khiển sự vận động
đó. Đó là, mọi sự vật là một giả hợp, không
có tự tính, không tồn tại riêng biệt, chỉ tồn tại
tương đối trong một mối quan hệ nhất định.
Hai
nhận thức trên được gọi là hai “pháp ấn” của
Phật giáo mà thuật ngữ gọi là Vô Thường và Vô
Ngã. Vô thường chỉ nói lên tính chất biến dịch cùa
sự vật mà nền triết học Đông Tây nào cũng biết
tới. Thế nhưng Vô Ngã mới là điều đặc sắc của
đạo Phật mà cả Ấn Độ giáo cũng không quan niệm.
Trong Vô Thường ta có thể có hai quan niệm hữu ngã
và vô ngã, nếu ta nhớ lại hai ẩn dụ của cái nồi
đất sét và củi tàn thành tro. Vô Thường của đạo
Phật là Vô Thường Vô Ngã. Vì lẽ đó không thể quên
Vô Ngã khi nói đến Vô Thường trong đạo Phật.
Trong
một thời đại cách đây 25 thế kỷ, hai nhận thức
đó là một cuộc cách mạng về triết học tự nhiên
– mặc dù Đức Phật không hề muốn triết lý. Và,
lạ thay, trong thời đại ngày nay, hai nhận thức đó không
bị khoa học hiện đại phản bác mà ngược lại , ngày
càng được sự chú ý của cá giới vật lý.
CHẲNG
ĐẾN CŨNG CHẲNG ĐI
Trước
những luận đề triết học lớn nhất của con người
như vũ trụ này do đâu mà có, thế giới hiện tượng
này do những gì cấu tạo nên, qui luật vận động của
nó là gì..., đạo Phật cho ta một số lý giải đáng
chú ý. Thế nhưng, Đức Phật cũng như cái vị thánh
nhân Phật giáo xưa nay chưa bao giờ khuyên ta dùng đầu
óc của tri thức và lý luận để đi tìm thực tính
của thế giới. Các vị đó cho rằng, tự tính của
vạn pháp có thể liễu ngộ được, nhưng thông qua con
đường của tu tập, của thiền quá, của sự thăng hoa
ý thức. Đến một lúc nào đó, con người sẽ nhận
thức tự tính của thế giới một cách trực tiếp.
Phật là người được sự chứng thực đó và Ngài
được gọi là bậc “giác ngộ”.
Vì
những lẽ đó Đức Phật thường im lặng trước những
câu hỏi về vũ trụ, về tự tính của thế giới hiện
tượng. Thậm chí trong nhiều trường phái Phật giáo
có quan niệm cho rằng càng giải thích, càng dùng đầu
óc tri thức để hiểu thực tại thì con người càng
xa rời sự thật. Sự kiện này gây khó khăn cho chúng
ta vì không phải ai cũng có thể (và muốn) tu tập thiền
quán. Hơn nữa chúng ta vẫn nghĩ rằng, khoa học phải
là nhận thức chung của tất cả mọi người; còn chứng
thực riêng của một số người thì nằm ngoài phạm
vi của khoa học. Đây chính là chỗ cách ly truyền thống
giữa đạo Phật và khoa học.
Thế
nhưng, trong thời đại ngày nay, khi nền vật lý đã chạm
tới cánh cửa cuối cùng của thế giới hiện tượng,
đã tìm đến vói những “hạt cơ bản” tưởng chừng
không còn gì nhỏ hơn của vật chất, người ta lại trở
về và đứng trước những tiềnđề cơ bản nhất
của nền vật lý. Những giả định đó quá cơ bản
nên suốt 25 thế kỷ qua, người ta tưởng nó là sự
thật. Những giả định đó là; thực tại vật lý là
một thể khách quan tồn tại độc lập với con người,
không bị ý thức con người ảnh hưởng, có tự tính
riêng và qui luật riêng. Thêm một giả định nữa là,
tuy thế con người vẫn tiếp cận được với thực
tại đó, tìm hiểu và phát biểu những qui luật của
thực tại đó bằng các phương pháp toán học.
Như
trong phần đầu cuốn sách này ta đã đề cập, những
giả định nói trên là những giả định siêu hình vì
không ai chứng minh chúng được cả. Người ta tin như thế
thôi. Và chúng thật là đáng tin, cũng như mỗi người
chúng ta đều tin có một cái tôi làm chủ thể cho mọi
hành động, suy tư và cảm giác của mình.
Vì
lòng tin đó – nói một cách chính xác – mà vật
lý cũng có một tính chất siêu hình hẳn hoi. Thế
nhưng xưa nay người ta vẫn thấy vật lý thật là “khoa
học” vì những kết qủa của nó là có thể kiểm
nhận chung được, nó không dành cho riêng ai cả, không
đòi hỏi bất cứ ai phải tu tập và “thăng hoa” cả.
Đến
thời đại của thế kỷ 20 và qua thế kỷ 21, tình hình
đã bắt đầu khác. Một mặt con người đi vào những
biên giới cực tiểu và cực đại của vũ trụ và phát
hiện ra nhiều nghịch lý, chúng không thể được mô
tả bằng ngôn ngữ thông thường; mặt khác con người
thấy nhiều giả định truyền thống xem ra không hề đứng
vững được nữa, nhất là về một thực tại hoàn
toàn độc lập với ý thức con người. Nhiều lý thuyết
được đề ra, trong đó có người cho rằng thực tại
này chỉ là một dạng xuất hiện của một thực tại
khác sâu sắc hơn. Hoặc nhiều quan niệm được nêu lên,
xem mọi lý thuyết của con người chỉ là “công cụ”
mô tả những gì mình cảm nhận, liệu chúng có phù
hợp với thực tại hay không là một vấn đề khác.
Hoặc nhiều đề nghị xem thế giới là dạng thực tại
hiện lên theo “tầm ý thức” của con người đang ngắm
nhìn nó. Nói tóm lại, nội dung chính của vật lý hiện
đại đã trở thành triết học, đã trở về với nền
tảng siêu hình học nguyên thủy. Trong khung cảnh này, vật
lý hiện đại bắt đầu lắng nghe đạo Phật nói gì
về quan đểm của mình về thế giới hiện tượng,
về tự tính của sự vật.
Như
ta đã biết, vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni đã nói
về thuyết Duyên khởi, về Vô Thường và Vô Ngã. Những
luận đề đó là hết sức hữu ích cho nhà vật lý
muốn tìm hiểu một thế giới quan khác về vũ trụ
và con người. Thế nhưng lịch sử Phật giáo còn liên
tục sản sinh nhiều nhà luận giải và nhiều trường
phái triết học khác. Thành tựu của các vị đó làm
toà nhà triết học Phật giáo ngày càng đồ sộ và
phong phú. Tập sách nhỏ này sẽ không thể trình bày
đầy dủ các hệ tư tưởng đó, dù chỉ một cách
sơ lược, nó chỉ đề cập tới vài tư tưởng được
xem là phù hợp với nội dung của cuốn sách, đó là
tư tưởng Trung quán và Duy thức.
Khoảng
700 năm sau Thích-ca Mâu-ni, một vị luận sư ra đời tại
Ấn Độ, mang tên Long Thụ. Ông được xem là người chịu
lý luận nhất trong lịch sử Phật giáo.
Long
Thụ là người đầu tiên nêu lên khái niệm “tự tính”.
Theo ông, một vật có tự tính hay “tồn tại trên cơ
sở tự tính” khi nó tồn tại độc lập, không nương
nhờ bất cứ một điều kiện nào khác. Một vật
như thế mới được gọi là “thực có”. Một vật
có tự tính thì nó không được sinh ra từ vật khác,
nó cũng chẳng hoại diệt, vì nếu một trong hai trường
hợp đó xảy ra thì nó đã phụ thuộc vào một đều
kiện khác rồi. Một vật như thế thì có sẵn, tồn
tại vĩnh viễn và không bao giờ hoại diệt.
Theo
Long Thụ, thế giới hiện tượng thì không như thế,
vì nó được sinh thành, nó bị hoại diệt. Thế nên
ta phải kết luận là thế giới hiện tượng không có
tự tính, không tồn tại trên cơ sở tự tính, nó không
“thực có”, theo định nghĩa “thực có” của Long
Thụ. Theo Long Thụ, thế giới “có” nhưng không “thực
có”. Tương tự như người đau mắt, nhìn trong không
turng thấy có hình ảnh, màu sắc. Hình ảnh màu sắc
là “có” nhưng không “thực có”. Bởi thế không
thể nói thế giới là có, cũng không thể nói thế
giới là “không có”. Cả hai khái niệm “có” và
“không” đều là hai cực biên. Tự tính của hiện
tượng là “không có tự tính”, sự trống rỗng đó
được gọi là “Không”. Cho nên ta cũng có thể nói
“Không” là tự tính của mọi hiện tượng. Long Thụ
nói: “Chưa từng có một pháp nào mà từ nhân duyên
sinh. Thế nên hết thảy pháp, không pháp nào mà chẳng
là không”.
Nói
“hiện tượng không có tự tính” hay “tự tính của
mọi hiện tượng là Không” là một cách nói, nhưng
đó là cách nói thụ động. Nói một cách tích cực
là, chính nhờmọi sự không có tự tính mà chúng có
sinh thành, có vận động, có hoại diệt, chúng tuân
thủ luật Duyên khởi. Chính nhờ mọi sự là Không mới
có tu tập, có thăng hoa, có chuyển hóa, có đạt đạo,
có thành Phật. Do mọi sự là Không nên mới có thế
giới thiên hình vạn trạng. Từ trong Không lưu xuất mọi
hiện tượng, nhưng mọi thứ đó lại không thật có.
“Có” nhưng không “thực có”, đó là nghĩa trung đạo,
là tư tưởng cơ bản của Trung quán luận.
Bởi
thế trong đạo Phật có hai loại “thực tại” tương
đối hay thực tại qui ước, hai là thực tại tuyệt
đối. Trong bình diện của thực tại tương đối thì
mọi sự đều được xem là tồn tại, là có thực,
chúng có qui luật vận động của chúng. Chính trong bình
diện này vũ trụ hiện lên như một thực thể thực
tại thiên hình vạn trạng dựa trên tính chất giả danh,
phi tự tính cúa nó. Đó chính là thế giới hiện
tượng của chúng ta, của các nhà vật lý. Cũng trong
bình diện này có sự vận động tâm linh, có giác
ngộ, có đắc đạo, có Phật, Pháp, Tăng.
Còn
bình diận của thực tại tuyệt đối thì như thế nào?
Đây là câu hỏi xưa nay của nhiều kẻ tầm đạo. Phải
chăng lúc hiện tượng không còn tồn tại, lúc hình
ảnh và màu sắc trong không gian đã biến mất thì thế
giới sẽ là một cõi hư vô? Lại nữa, lúc mà cả Sinh
Tử và Niết-bàn cũng không còn thì còn gì lạc thú?
Đối với câu hỏi này Đức Phật cũng như các vị
thiền sư đều im lặng.
Long
Thụ thì chịu giảng giải hơn, ông cho rằng Sinh Tử và
Niết-bàn không hề khác nhau, thế giới hiện tượng
và thế giới tuyệt đối là một, Sắc chính là Không,
Không chính là Sắc. Đối với Long Thụ, hành giả - con người
tu học – cốt đừng để bị mê hoặc bởi cái muôn hình
muôn vẻ của thế giới hiện tượng, đừng rong ruổi chạy
theo nó, như thế con người sẽ tới với sự “lặng yên”,
thì cái Tôi diệt, Ái diệt, Thủ diệt và Vô Minh diệt. Quá
trình giải thoát sẽ hình thành và tới một lúc nhất định
hành giả tự trực nhận thực tại tuyệt đối không thể
nghĩ bàn. Đây là sự chứng thực – đặc trưng của Phật
giáo – chỉ dành cho những người chịu tu tập, không dành
cho đầu óc lý luận suông.
Trong
phạm vi của tâp sách này chúng ta sẽ chỉ dừng lại ở trên
bình diện của thực tại tương đối. Bình diện này chính
là toàn bộ thế giới tâm lý và vật lý của loài người
và tất cả các loài “hữu tình” khác. Nơi đây, ta cần
chú ý đến một khái niệm quan trọng của đạo Phật, khái
niệm “pháp”. Trong Phật giáo, “pháp” có nhiều nghĩa
mà một trong những nghĩa là “tất cả những gì có đặc
tính riêng – không khiến ta lầm với cái khác – có khuôn
khổ riêng để phát sinh trong ta một khái niệm về nó”.
Thế nên Pháp chỉ mọi hiện tượng thuộc tâm lý hay vật
lý, bao gồm mọi dạng xuất hiện thuộc thế giới khách quan,
bên ngoài, hay chủ quan bên trong – nếu ta muốn sử dụng
từ ngữ của triết học phương Tây. Pháp bao gồm cả những
điều không có thật thí dụ “lông rùa, sừng thỏ”, những
khái niệm chỉ cái không hiện hữu; hay “người mẹ chưa
bao giờ sinh con”, những khái niệm nói lên tính mâu thuẫn
nội tại.
Đạo
Phật thống nhất mọi khái niệm thuộc tâm thuộc vật trong
một khái niệm chung là Pháp và đa số kết luận của triêt
lý Phật giáo đều nói chung về Pháp. Thí dụ khi Long Thụ
nói “thế nên hết thảy pháp, không pháp nào mà chẳng là
không”, ta cần hiểu điều này có giá trị chung cho tất
cả mọi hiện tượng tâm vật. Sự đại đồng nhất tâm
vật này trong Phật giáo là vô cùng quan trọng, khác hẳn với
sự phân chia tâm-vật trong triết học phương Tây và vì thế
nơi đây cần mở một dấu ngoặc để nói, trong đạo Phật
khồng hề có khái niệm duy tâm, suy vật theo cách hiểu của
phương Tây.
Vì
lẽ đó những nhận thức của Phật giáo về “các pháp”
có giá trị cho thực tại vật lý lẫn thế giới tâm lý.
Nội dung cuốn sách này chủ yếu tập trung lý giải thực
tại vật lý, thế thì nó rút được những kết luận gì
từ Trung quán luận của Long Thụ?
Như
ra đã biết, xuất phát trên thuyết Duyên khởi của Phật
Thích-ca mà Long Thụ luận giải lý Trung quán.Thuyết Duyên
khởi nêu rõ mọi sự dựa trên nhau mà có, mà sinh diệt. Thuyết
Duyên khởi bác bỏ một thực tại tồn tại độc lập, tự
nó. Thuyết này cũng nói đến những dạng tâm lý của con
người nhưng không có một chủ thể sở hữu những dạng
tâm lý đó. Đức Phật đã mở đường cho Trung quán luận
bằng thuyết Duyên Khởi, thuyết Vô ngã. Ngài cũng là người
đầu tiên chủ trương tránh hai biên kiến nói về thế giới
“có” hay “không” với câu: “Chấp có là một biên kiến,
chấp không là một biên kiến khác. Như Lai lìa hai biên kiến
đó mà thuyết pháp một cách trung đạo.”
Long
Thụ nói rõ hơn, mọi pháp không có tự tính, chỉ tồn tại
một cách giả danh. Như ta đã biết, tính giả danh xuất phát
từ hai lí do, hoặc là nó do một tập hợp tạo thành, hoặc
là vì nó nằm trong một thể tương quan. Chiếc xe gồm nhiều
bộ phận là một tập hợp giả danh. Bà mẹ sinh ra đứa con
nhưng đứa con cũng sinh ra bà mẹ. Bà mẹ và đứa con nằm
trong một mối tương quan nếu không sinh con thì không ai gọi
người phụ nữ đó là bà mẹ. Hai người bạn giao thiệp
vói nhau nhưng nếu một người bán cho người kia một cái
gì thì lập tức xuất hiện một “người mua” và một “người
bán”. Nếu dự định mua bán không thành thì lập tức người
mua và người bán biến mất, dĩ nhiên hai người bạn đó
vẫn còn.
Mọi
pháp, mọi hiện tượng, mọi vật… trong thực tại đều
là giả danh. Long Thụ nói như sau về mọi pháp đó: “Chẳng
sinh cũng chẳng diệt, Chẳng thường cũng chẳng đạo, Chẳng
một cũng chẳng khác, Chẳng đến cũng chẳng đi”. Đó là
bốn câu kệ “bát bất” (tám không) nổi tiếng của Long
Thụ trong chương “Quán về nhân duyên” của Trung luận.
Có nhiều cách hiểu bốn câu kệ này, trong đó có cách hiểu
rằng, thực tính của các pháp là Không mà Không thì phi tính
chất, hoàn toàn đứng trên mọi đối lập nhị nguyên. Ở
đây ta có thể hiểu một cách khác và vận dụng chúng vào
thực tại vật lý để hiểu nội dung cụ thể của chúng.
Hãy
lấy ẩn dụ chiếc xe. Các bộ phận của chiếc xe khi nằm
rải rác vô trật tự thì chiếc xe chưa có. Khi chúng được
lắp đặt lại với nhau thì “chiếc xe” xuất hiện. Chiếc
xe đến từ đâu? Ta phải nói là chiếc xe chẳng đến từ
đâu cả. Nó không có tự tính, nó là một giả hợp nên không
thể nói nó đến từ đâu nếu người thợ tháo gỡ chiếc
xe ra, giả hợp đó không còn là chiếc xe nữa, chiếc xe đi
về đâu? Chiếc xe chẳng đi về đâu cả. Chiếc xe chẳng
đến cũng chẳng đi.
Khi
việc mua bán không thành người bán người mua đi về đâu?
Chẳng đi về đâu cả, hai giả danh đó chỉ không còn nữa,
không có một vật liệu, một cá nhân nào bị “diệt” cả.
Củi tàn thì lửa tắt lửa không đến từ đâu, chẳng đi
về đâu. Một đội đá bóng cùng nhau tranh tài trên sân cỏ
thì có đội bóng, sau tiếng còi tan cuộc thì “đội bóng”
không có, chỉ còn những cầu thủ đơn lẻ, không thể hỏi
đội bóng đi về đâu. Tương tự như thế, từ câu kệ “Chẳng
đến cũng chẳng đi” ta có thể suy ra ý nghĩa của cac câu
còn lại.
Nhiều
thắc mắc xuất phát từ chỗ, một bên Đức Phật nói mọi
pháp có sinh có diệt, bên kia Trung quán lại nói “chẳng sinh
chẳng diệt”, không phải là mâu thuẫn ư? Lại lấy thí
dụ chiếc xe: khi các bộ phận được ráp đầy đủ thì chiếc
xe được sinh ra, nhưng chỉ là một giả danh, không có một
chiếc xe thực. “Có sinh có diệt” là có một giả danh được
sinh ra, có một giả danh hoại diệt. Trung quán nói “chẳng
sinh chẳng diệt” vì thực tế không có một chiếc xe đích
thực nào được sinh ra, một chiếc xe đích thực nào bị
hủy hoại. Sinh và Diệt cung như Đến và Đi, Sinh không từ
đâu lại, Diệt không đi về đâu.
Thế
nên, trong cách nhìn của Trung quán thì mọi pháp, mọi sự
vật là một sự trình hiện. Trong quan niệm “trình hiện”
này thì điều đáng nhớ là trình hiện cho một chủ thể,
không có chủ thể thì không có trình hiện, cũng như không
có người mơ thì không có giấc mơ. Trong vũ trụ, mọi sự
vật, mọi pháp không có tính chất riêng tư, chúng không đến
không đi, chúng không thật có sinh có diệt…. chúng chỉ xuất
hiện như thế trong tương quan với mọi sự xung quanh và với
người đang ngắm nhìn chúng.
Còn
chủ thể con người, khi sinh ra đã tưởng vũ trụ, thế giới
và mọi vật là có sẵn, có tự tính, tồn tại độc lập.
Đó là một sự nhầm lẫn của tri thức. Và sự nhầm
lẫn tai hại nhất là, chính mình cũng chỉ là một
giả hợp của các yếu tố tâm lý và thể chất, nhưng
lại tưởng là một cái Tôi riêng biệt nằm sau chúng
và điều khiển chúng..
Trong
vật lý hiện đại thì “hạt” là một pháp. Do đó
hạt là một sự trình hiện khi ta nhìn nó và thấy
nó có tính chất của hạt, như khi ta thấy một vật
bằng gỗ để ngồi và gọi đó là “cái ghế”.
Cho nên, theo Trung quán, ta không thể đặt câu hỏi, nếu
ta không quan sát hạt thì hạt ở đâu. Vì hạt chỉ có
trong mối tương quan với quan sát hạt thì hạt ở đâu.
Vì hạt chỉ có trong mối tương quan vói người quan sát
viên, nên khi không ai quan sát hạt cả thì không có hạt.
Khi chưa ai mở lồng xem con mèo của Schrödinger sống chết
thế nào thì không có con mèo đối với ai cả. Cũng
như khi không ai mua bán cả thì không có người bán lẫn
người mua.
Hãy
nhớ lại vài phát biểu của những nhà vật lý trong ngành
cơ học lượng tử. Heisenberg từng nói “nguyên tử không
phải là một vật”. Ở đây ông đã thừa nhận nguyên tử
không có chất liệu, và như thế là đã từ bỏ quan niệm
“chất liệu” truyền thống của ngành vật lý khi nghĩ về
thực tại vật lý. Trong quá trình quan sát hạt, khi phải làm
“sụp đổ” phương trình sóng để xác định vị trí hay
xung lượng của hạt, nhiều nhà vật lý băn khoăn, thế thì
khi ta không quan sát hạt thì hạt ở đâu. Heisenberg cho rằng
câu hỏi đó là “vô nghĩa”; và ông đã có một quan niệm
rất gần với của thuyết Trung quán về các pháp.
R.J.
Oppenheimer, nhà vật lý xuất sắc người Mỹ, từng viết về
hạt electron: “Thí dụ khi ta hỏi, liệu electron vẫn giữ
nguyên vị trí hay không, ta phải trả lời “không”; khi ta
hỏi, liệu vị trí electron có thay đổi theo thời gian không,
ta phải trả lời “không”; khi ta hỏi liệu electron nằm
yên, ta phải trả lời “không”; khi ta hỏi liệu nó đang
vận động, ta phải trả lời “không”. Đó là “bốn không”
của Oppenheimer, mới nghe rất giống “tám không” của Long
Thụ. Oppenheimer nói thế vì mỗi lần con người quan sát electron,
ta lại thấy hạt, nhưng không thể biết trường đó
nó ở đâu và sau đó nó sẽ ở đâu và chỉ có thế cho nó
một tính chất xác suất. Nếu Long Thụ còn sống, ông sẽ
nói, trước đó và sau đó làm gì có electron mà định nghĩa
ở đâu. Không có electron vì không có người quan sát nó, nó
chỉ có trong tương quan với người quan sát.
Những
gì có giá trị cho electron cũng có giá trị cho mọi “pháp”,
mọi vật trong thế giới thực tại, từ cực vi đến cực
đại. Phải chăng thế giới mà ta đang thấy chỉ là sự trình
hiện đối với chúng ta? “Cái gì” đang diễn ra cho chúng
ta thấy? Và cuối cùng, chúng ta là ai? Nơi đây, câu hỏi của
nhà vật lý chính là câu hỏi về “bản lai diện mục”
của Thiền tông Phật giáo.
NGOÀI
THỨC KHÔNG CÓ GÌ CẢ
Thế
giới là một sự trình hiện, một dạng xuất hiện dưới
mắt của một chủ thể. Như ta đã biết, cái “khách quan”
đó phải cần một chủ thể nhận thức mới có. Vấn đề
còn phức tạp và nan giải hơn khi ta nhớ rằng cái khách quan
lẫn cái chủ quan là không có tự tính. Cả khách quan đang
trình hiện lẫn chủ quan đang nhận thức đều là vô ngã,
đều là Không. Đó là một nội cũng quan trọng trong Trung
quán luận của đạo Phật vàcũng là một điều hết sức
khó hiểu cho những ai mới làm quen với nền triết học này.
May
thay, chủ thể nhận thức tuy là vô ngã, vắng bóng một tự
tính riêng biệt nhưng không phải là không có gì. Chủ thể
đó cũng tồn tại, nhưng tồn tại trên bình diện tương đối.
Đó cũng là một nội dung của Trung quán. Vì lẽ đó mà nền
triết học này xa lìa hai biên kiến cố-không và mang tên là
“Trung luận”.
Thế
giới thực tại được quan niệm là sự trình hiện đối
với một chủ thể, không có thực tại nếu không có chủ
thể, cũng như không có “người mua” nếu không có “người
bán”. Thế nên ta có thể tìm hiểu được thế giới thực
tại nếu nắm được tính chất của chủ thể. Con mèo Schrödinger
là con mèo đáng thương đối với nhà khoa học như nó là
thần chết đối với con chuột. Phải chăng giữa hai bên,
chủ thể đang ngắm nhìn và thực tại đang trình hiện có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau? Phải chăng hãy biết rõ
chủ thể, ta sẽ biết rõ thực tại của chủ thể đó? Đây
chính là nhận thức và cách tiếp cận của Phật giáo.
Như
ta đã biết, Trung quán luận của Phật giáo xem cả thế giới
thực tại lẫn con người nhận thức đều không có tự tính,
đều là “Không”. Nơi đây cần làm sáng tỏ một điều:
“không có tự tính” thật ra không thể đồng nghĩa với
“Không”. Cụm từ trước “không có tự tính” là một
tính từ, nghe qua ta có thể hiểu nó là một “thể”, dù
cho thể đó phi tính chất, phi hình tướng.
Thật
sự là, trong lịch sử tư tưởng đạo Phật, quả thật đã
có một sự chuyển biến từ tính từ qua danh từ mà thật
ra đó chính là chuyển nội dung của “Không” từ Tiều thức
quan Đại thừa Phật giáo. Trung quán luận, một trường phái
lớn của Đại thừa xem Không là một danh từ, là thể tính
của mọi hiện tượng. Thế nhưng thể tính đó lại hoàn
toàn trống rỗng, không có bất cử một tính chất nào. Không
thể luận bàn, không thể mô tả. Trung quán luận còn nhấn
mạnh thêm rằng, chính nhờ cái trống không đó mà mới
có thể mang chứa mọi thiên hình vạn trạng của tâm và vật.
Nhiều
người đã cố nghĩ ngợi về cái “Không” đó, nhưng thực
tế là càng nghĩ đến nó, ta càng cho nó một số tính chất
nhất định. Điều đó càng sai lầm, càng làm ra xa rời nó.
Khoảng
300 năm sau Long Thụ, có một nhân vật đặc biệt ra đời,
đó là Maitreyanatha. Nhân vật này đặc biệt ở chỗ, không
ai biết ông có thật hay chỉ là truyền kỳ. Người ta chỉ
nghe rằng ông là thầy dạy của Vô Trước, mà Vô trước
là đại luận sư đầu tiên của trường phái Duy thức. Vì
thế Maitreyanatha có thể được xem là người sáng lập Duy
thức tông. Nhiều người xem Maitreyanatha chính là vị Bồ-tá
Di-lặc, sống ở cung trời Đâu suất. vô Trước là người
hân hạnh được lên trời để học Duy thức và truyền lại
cho đến ngày nay. Người truyền Duy thức qua Trung Quốc và
từ Trung Quốc, Duy thức qua đến Việt Nam – chính là Huyền
Trang, nhà đại dịch sư của thế kỷ thứ bảy.
Duy
thức hay Du-già hành tông là một phát triển của Đại thừa
Phật giào và trở thành cột trụ thứ hai của Triết học
Đại thừa, bên cạnh Trung quán tông. Hai tông phái này không
phải là không có một nhận thức khác nhau, nhưng nói chung,
Trung quán là tông phái nói về tự tính của các pháp, còn
duy thức nói về tướng trạng và sự vận hành của mọi
hiện tượng tâm lý và vật lý. Có thể nói, Trung quán nói
về “lý” hay “tính”, hay “bản thể”, Duy thức nói
về “sự” hay “tướng”, hay “hiện tượng”. Đó là
hai hệ thống khác nhau, tuy xuất phát từ cùng một nguyên
lý chung của Đức Phật nhưng cách lý luận khác nhau, nhất
là thuật ngữ khác nhau rất nhiều.
Trước
hết phải nói ngay, “Không”, tự tính của các pháp trong
Trung quán có một ý nghĩa khác trong Duy thức. Trong Trung quán,
“Không” là một thể thụ động, vắng lặng, phi tính chất,
như tấm gương phản chiếu muôn vật mà không dính mắc với
vật gì trong gương. Duy thức tông, nền triết học về tướng
trạng của sự vật, thì xem thể tính cuối cùng của vạn
pháp, ngoài mặt thụ động là “Không”, còn có một mặt
chủ động, tạo tác mà tên gọi của nó là “Thức”.
Trong mỗi chúng sinh đều có Thức, năng lực của Thức là
phân biệt, biết được cái khác và tự biết chính mình.
Duy
thức tông quan niệm rằng, sông núi, người vật, khách quan,
chủ thể…đều do Thức biến hiện cả. Chiếc xe cũng do
Thức biến hiện, người sử dụng chiếc xe cũng do Thức biến
hiện nốt. Thế gian do Thức biến hiện và chủ thể sống
trong thế giới đó cũng là sản phẩm của Thức.
Điều
đó có nghĩa mọi hiện tượng khách quan và chủ quan, vật
lý và tâm lý đều do Thức biến hiện, phóng chiếu ra cả.
Một từ tương tự với Thức là Tâm. Trong nhiều bộ Kinh
Phật giáo, ta thấy khẳng định “vạn sự tại Tâm” này
của Duy thức tông. Thí dụ “Nhất thiết duy tâm tạo” trong
Kinh Hoa Nghiêm, “Tâm dẫn đầu các pháp” trong Kinh Pháp Cú,
“Do tự tâm chấp trước, tâm hiện tợ cảnh bên ngoài, cảnh
được thấy đó chẳng phải có thật; thế nên nói duy tâm”
trong Kinh Lăng Già.
Duy
thức tông do Maitreyanatha, Vô Trước, Thế Thân sáng lập trong
khoảng thế kỷ thứ 4. Theo Thế Thân thì mọi hiện tượng
tâm vật, thực tại bên ngoài lẫn hoạt động tâm lý dựa
trên ba biến hiện của Thức: thứ nhất là sáu thức nhận
biết, thứ hai là thức tư duy (cũng gọi là thức thứ bảy
hay Mạt-na thức) và thứ ba là thức tàng chứa (cụng gọi
là thức tứ tám hay Tàng thức hay A-lại-da thức).
Theo
cách trình bày của Thế Thân trong Duy thức tam thập tụng,
ta hãy bắt đầu bằng thức thứ tám. Thức thứ tám hay Tàng
thức, A-lại-da thức là thức sâu xa nhất, cơ bản nhất,
là nguồn cội của các thức còn lại. Thức A-lại-da là kho
chứa tất cả “chủng tử” của một “dòng tâm thức”.
Chủng tử là những hạt giống nhận thức, tâm lý và kinh
nghiệm đã được giao từ vô thủy chúng có khả năng biến
thành Nghiệp lực khi có đầy đủ điều kiện sinh thành.
Như
đã
nói, thức có khả năng nhận thức lại chính mình. Một khi
tàng thức tự nhận thức chính mình thì đối tượng của
nó (tức là chính nó) lập tức biến thành thế giới ngoại
cảnh, trở thành cái mà ta gọi là thực tại vật lý. Khi
có một đối tượng khách quan thì phải có một chủ thể
để nhận thức cái khách quan đó. Điều đó có nghĩa, từ
A-lại-da thức, thế giới và thân tâm được hình thành, do
thức “biến hiện”ra. Tính cách của thế giới lẫn thân
tâm của dòng tâm thức đó phù hợp với các chủng tử đang
hiện hành trong A-lại-da thức, đúng với Nghiệp lực đang
tác dụng.
Từ
thức A-lại-da, thức Mạt-na (thức thứ bảy) được hình
thành. Đặc điểm chung của thức thử bảy này là lấy thức
A-lại-da làm tự ngã của mình, tưởng rằng A-lại-da là tự
tính riêng biệt của mình. Thức Mạt-na là nguồn gốc của
sự nhầm lẫn về một cái Tôi trường tồn trong mỗi cá
thể. Thức A-lại-da chỉ biến hiện một cách thụ động
thành thân tâm và cảnh giới. Còn thức Mạt-na chủ động
thẩm định chúng và cho rằng đây là Tôi, nọ là vật khách
quan bên ngoài. Thức Mạt-na chính là tác giả của ngã chấp,
của sự chấp thủ một cái Tôi thường còn, là nguyên nhân
của sự nhầm lẫn tri thức mà ta đã nói đến.
Biến
hiện thứ ba của thức là sáu thức còn lại gồm năm giác
quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức. Trong Phật giáo
sáu thức này được ghép chung với nhau trên cơ sở, nếu
màu sắc là đối tượng của mắt (nhãn thức) thì ý là đối
tượng của ý thức. Sáu thức này vận hành theo một cơ chế
giống nhau và ăn khớp với nhau để nhận thức cảnh vật
của thế giới “bên ngoài”, rồi biến những cảm nhận
này thành cái biết ở bên trong. Thế nhưng ý thức (thức
thứ sáu) khác với năm thức với năm thức còn lại ở chỗ,
nó thấy thức Mat-na là cơ sở để thẩm định những ấn
tượng từ bên ngoài vào. Thức thứ sáu lấy cái Tôi của
Mạt-na để phân biệt, đánh giá, yêu ghét, cấp nhận hay
từ chối một ấn tượng, một cảm nhận, một biến cố
nhất định.
Thế
nên tám loại thức nói trên lại được qui về bốn tính
chất. Theo Bát thức qui củ tụng: “Thức thứ tám, thường
hằng, không thẩm xét; thức thứ bảy thường hằng, thẩm
xét; thức thứ sáu, thẩm xét, không thường hằng; năm thức
trước, không thẩm xét, không thường hằng”.
Tất
cả các thức nói trên liên hệ với nhau chặt chẽ, tác động
qua lại với nhau trong cả hai chiều để tạo thành toàn bộ
thế giới hiện tượng, thành tất cả hoạt động của tâm
và thân. Từ chủng tử trong A-lại-da mà mỗi cá thể nhận
thức, chứng thực, kinh nghiệm… theo cách của mình về đời
sống và thế giới tưởng như bên ngoài. Rồi từ năm giác
quan, thông qua ý thức, trong tâm của cá thể được tạo nên
vô số ấn tượng, thói quen, ước vọng, ý chí…, chúng lại
được đưa vào và cất giữ trong A-lại-da thức ở dạng
chủng tử.
Cứ
như thế mà A-lại-da thức ngày càng trở thành phức tạp
và tinh tế. Quan trọng nhất là, Thức đó là thể siêu việt
trên sự sống chết, nó là động cơ đưa đến sự tái sinh
trong một đời sống mới. Chính do xuất phát từ A-lại-da
mà ta có yếu tố “Thức”, yếu tố thứ ba trong Duyên khởi,
để Thức sinh ra Danh Sắc, bào thai trong bụng mẹ. quá trình
cứ lặp lại vô tận. Bao lâu Thức còn bị “ô nhiễm”,
còn bị nhị nguyên chi phối, còn chấp chặt thế giới thực
tại bên ngoài là thực có thì cái Tôi vẫn là thực có. Một
khi Thức bắt đầu giác ngộ, vô minh vọng nghiệp dần dần
tan biến và nhường chỗ cho chính kiến thì Thức chuyển hóa
thành “Trí” và nhận thức thực tại như một nhất thể
mà kinh sách gọi là “Chân như” hay “Pháp thân” không
thể mô tả được.
Đối
với những ai chưa quen với tư tưởng Duy thức, đây thật
là một hệ thống phức tạp và khó chấp nhận. Thông thường
ta chỉ nói tới năm giác quan và ý thức. Đằng sau của ý
thức thường là một khái niệm mơ hồ, thiếu chính xác mà
phương Tây hay gọi là vô thức, tiềm thức hay vô thức, gọi
chung là “linh hồn”. Tại phương Tây, ai cũng thừa nhận
là có một thể tính đó nhưng không mấy ai nói về nó một
cách rạch ròi, càng không có một sự nhất định nào về
nó, kể cả trong giới chuyên môn về tâm lý học. Ngược
lại, Duy thức tông cho ta một cái nhìn rất chính xác về
các yếu tố tâm lý, với những mô tả tỉ mỉ về số lượng
và tính chất của các loại tâm thức mà phương Tây không
hề biết đến.
Tư
tưởng Duy thức là một hệ thống nhất quán của nhận thức
luận và triết lý hành động. Trong hệ thống đó, quan điểm
trung tâm là mọi sự, mọi pháp đều là biến hiện của thức.
Không có gì nằm ngoài thức. Chủng tử, tập khí ở trong
thức biến hiện thành thế giới mà ta gọi là thực tại
vật lý. Duy thức cho rằng hễ mỗi dạng của thức, khi trở
thành đối tượng để quan sát, thì lập tức nó lấy một
sắc hình nhất định. Chủng tử cũng biến hiện trong mỗi
cá thể để thành các dạng tâm lý như nhận thức, khả năng,
ý thích, ước vọng, tư tưởng… Xuất phát từ vọng thức
sai lầm, ta thấy mình có một tự ngã,đồng thời thấy thế
giới bên ngoài tồn tại khách quan. Trong mối quan hệ giữa
chủ thề và khách thể đó mà tất cả chung qui chỉ là thức
biến hiện, ta càng tiếp tục gieo rắc chủng tử, bồi dưỡng
tập khí… để cung cấp lại cho A-lại-da thức. Và chính
thức đó sẽ đưa đường dẫn lối để ta chứng nghiệm
một cuộc đời mới và cứ như thế mà con người mãi mãi
nằm trong vòng Sinh Tử.
Thế
nhưng, đạo Phật sẽ không là đạo Phật nếu không có cảnh
giác sau đây: nói Duy thức là dùng phương tiện để giảng
bày, để nói rõ, cảnh bên ngoài không thực có, cảnh chỉ
do Thức biến hiện mà ra. Duy thức chỉ là tên gọi để đối
trị với quan niệm sai lầm có một th