Phần
thứ năm
CÁC
KHUYNH HƯỚNG TRIẾT HỌC
CÓ
HAY KHÔNG CÓ
CON
ĐƯỜNG ĐẾN VỚI IMMANUEL KANT
LÝ
THUYẾT KHOA HỌC CÓ MÔ TẢ ĐƯỢC THỰC TẠI?
HAI
TRƯỜNG PHÁI DUY THỰC VÀ CÔNG CỤ TRONG THỜI ĐẠI MỚI
CÁI
BIẾT VÀ CÁI THẤY
THẾ
GIỚI ĐƯỢC XÂY DỰNG BẰNG Ý THỨC?
CÓ
HAY KHÔNG CÓ
Thế
kỷ thứ 20 đánh dấu những bước tiến vĩ đại của
ngành vật lý. Đặc trưng của ngành khoa học này là
tin nơi một thế giới vật chất khách quan, độc lập
với ý thức của con người. Lên đường đi tìm thực
tại đó tức là nghiên cứu về các gọi là “vật
chất”, tìm những yếu tố tạo nên vật chất, những
gì làm chúng gắn chặt với nhau để tạo thành những
gì làm chúng gắn chặt với nhau để tạo thành thế
giới, tìm những qui luật về sự vận động của chúng.
Thế
kỷ vừa qua đã mang lại những tri kiến chính xác nhất
về vật chất, so với hàng thiên niên kỷ trước. Với
nền vật lý hạt, con người đến được một mức
độ là xác định những viên đá bé nhỏ nhất xây
dựng nên thế giới vật chất. Thế giới của hạt
là một không gian vô cùng bé, hoàn toàn nằm ngoài khả
năng giác quan của con người. Chỉ thông qua những thiết
bị tinh tế, con người mới suy đoán được một cách
gián tiếp sự hiện diện của những phần tử được
gọi là hạt đó. Đồng thời nhiều hạt trong số các
hạt cơ bản nói trên tồn tại vô cùng ngắn ngủi. Sự
hiện diện của chúng chỉ được đo bằng phần triệu
của giây đồng hồ. Ngoài ra các hạt cơ bản cũng có
khả năng biến thành những hạt khác một cách hết
sức sinh động. Chúng chuyển hóa qua lại một cách quá
dễ dàng, câu hỏi về tính “cá thể” của nó dường
như không thể đặt ra. Trong giới các nhà vật lý, chỉ
những điều này đã gây nên sự băn khoăn, liệu những
hạt như thế có được gọi là “tồn tại” thực
sự hay không.
Ngoài
ra trong ngành vật lý hạt cũng xuất hiện khái niệm
các hạt “giả”, sự tồn tại của chúng được xem
là do có một sự phân hủy và hấp thụ một cách giả
thiết. Trong những trường hợp đó, người ta cũng đặt
vấn đề “có-không” một cách nghiêm túc, liệu tất
cả khái niệm và lý thuyết đều chỉ là trò chơi
của tư duy hay thiên nhiên “thực sự” vận hành như
thế.
Ngoài
luận đề có-không vô cùng phức tạp, cơ học lượng
tử còn nêu lên một ý niệm khác nữa là, vật chất
“đích thực” không phải là sóng cũng chẳng phải
là hạt. Sóng hay hạt chỉ là dạng xuất hiện của vật
chất khi người ta tìm hiểu và tra vấn nó. Như một
ngôi tháp, sự vật hình như có niều mặt. Ta phải đến
với nó và đi quanh nó và sẽ thấy nhiều mặt khác
nhau. Mỗi bộ mặt đều là ngôi tháp nhưng không phải
là tất cả ngôi tháp. Đó là cách nhận thức của
triết học Ấn Độ. Chỉ khi ta hiểu nhiều mặt khác
nhau của sự vật, ta mới hiểu sự vật đích thực.
Vì lẽ đó mà ta có thể nói vật chất không phải
là sóng, không phải là hạt; nhưng cũng có thể nói,
vật chất vừa là sóng, vừa là hạt. Nguyên lý này
được Niels Bohr phát hiện một cách hoàn toàn độc
lập mà ông gọi là “nguyên lý bổ túc”. Chỉ vì
ta đồng hóa sự vật là sóng hay hạt, thấy sóng hay
hạt là “tự tính” của vật, ta mới thấy mâu thuẫn.
Mâu thuẫn xuất hiện là do quan niệm của ta chứ không
phải do sự vật. Cũng như điện có thể sinh ra hơi nóng,
phát ra hơi lạnh. Nóng và lạnh mâu thuẫn với nhau nhưng
chúng đều là “dụng” của điện, không phải tự tính
của điện. Hiểu như thế thì không ai thấy điện “mâu
thuẫn” cả.
Cũng
trong ngành vật lý hạt, một vấn đề vô cùng lớn
được đặt ra là tính chất xác suất của chúng. Vận
tốc và vị trí của các hạt không phải là một con
số chính xác nữa mà là một nhóm số mang tính xác
suất được gọi là ma trận. Thế thì những gì là
“chắc chắn” trong thế giới hạ nguyên tử? Không
có gì cả ngoài tính chất thống kê cho một số lượng
lớn những hạt. Khái niệm “có, không” bị đặt lại
thành “có thể có, có thể không”.
Tính
chất xác suất của hạt đưa đến một nhận thức
luận vô cùng đáng ngạc nhiên. Đó là vật chất “khách
quan”, khi nó vận động mà không ai biết đến nó,
thì như thế nào? Theo cơ học lượng tử, trường phái
Copenhagen, thì sự vận động là tổng hợp của mọi
sóng xác suất, tất cả đều là khả năng. Chỉ khi con
người truy tìm vật chất thì quan sát viên mới chính
là tác nhân làm “sụp đổ” các phương trình sóng
xác suất, biến một trong những khả năng đó thành
hiện thực.
Điều
xem ra thật khó hiểu này được Schrödinger cụ thể hóa
thành “nghịch lý con mèo” nổi tiếng: Một con mèo
bị giam trong một cái lồng có bình chứa acid. Giả định
bình acid bị vỡ hay không chỉ vì một sự phân hủy nguyên
tử duy nhất. Sự phân hủy nguyên tử này được giả
định là tác nhân mở khóa đập vỡ bình và xác suất
vỡ bình là 50%, xác suất nguyên vẹn là 50% trong vòng
một tiếng đồng hồ. Nếu bình vỡ, con mèo sẽ chết.
Theo
trường phái Copenhagen, khi người ta chưa mở lồng ra,
chưa xem xét con mèo sống hay chết thì trạng thái của
nguyên tử nọ là sự tổng hợp của hai sóng xác suất
nói trên, trạng thái của nó không được xác định.
Điều đó có nghĩa là số phận con mèo trong thời
gian đó là sự tổng hợp của xác suất “nửa sống
nửa chết”. Với hành động mở lồng, người ta xác
định số phận con mèo là chết hay sống.
Theo
đó thì con mèo chết hay sống chỉ vì hành động mở
lồng. Nhưng “thực tế” là nếu con mèo chết thì
nó đã chết trước đó. Đó là nghịch lý con mèo
nổi tiếng của Schrödinger mà ngày nay người ta còn bàn
cãi. Bản thân Schrödinger, một nhà sáng lập quan trọng
của cơ học lượng tử, là người đã viết nên các
phương trình sóng cũng “khổ sở” với các hệ quả
triết học nghịch thường của lượng tử. Ông từng
nói: “Tôi không ưa nó (cơ học lượng tử), thật đáng
tiếc là tôi đã từng làm việc với nó”.
Nghịch
lý con mèo được Schrödinger nêu lên là để công kích
trường phái Copenhagen. Quan điểm của trường phái này
được Bohr và Heisenberg phát biểu: “Thuyết lượng tử
nói về sự vận hành của tự nhiên trong lĩnh vực
nguyên tử, cho thấy nó (tự nhiên) phản ứng thế nào
khi được các thiết bị đo lường xem xét”. Trường
phái này xem “thiết bị đo lường” có một vai trò
trung tâm. Theo quan niệm này, khi không “đo lường” (tức
là không mở lồng ra xem xét con mèo) thì con mèo không
phải là đối tượng của nền vật lý lượng tử.
Cho nên họ không quan tâm con mèo sống hay chết trước
khi mở lồng. Họ chỉ quan tâm đến những gì quan sát
và đo lường được.
Ngày
nay ta biết rõ hơn, thái độ vật lý được gọi là
“thực chứng” này chứa đựng một nội dung sâu sắc
hơn nữa. Đó là quan niệm thế nào là có và không.
Quan niệm này cho rằng khi sự vật không nằm trong tương
tác với ý thức con người thì nó “không có”. Nếu
con mèo đã không có thì làm gì có con mèo sống hay
con mèo chết.
Bởi
quan niệm trên của Niels Bohr và Heisenberg phải được phát
biểu là “Thuyết lượng tử nói về sự vận hành
của tự nhiên trong lĩnh vực nguyên tử, cho thấy nó
(tự nhiên) phản ứng thế nào khi được nhận thức
bởi một chủ thể có ý thức”. Và nếu phát biểu
về thuyết lượng tử như thế thì ta đến rất gần
với quan điểm của vị giám mục Berkeley “Ess est percipi,
thực tại là thực tại được nhận thức”. Câu này
nghe qua khó hiểu nhưng nếu nói một cách khác, ta có
thể phát biểu” “không có người quan sát thì không
có vật được quan sát”. Không có chủ thể thì không
có khách thể.
Nội
dung của phát biểu vừa rồi có vẻ khá “điên rồ”
nhưng thật ra nó rất phù hợp với quan điểm Trung quán
của Phật giáo mà ta sẽ nói đến sau. Ngày nay có nhiều
nhà vật lý đã nhìn thực tại theo quan điểm nói trên.
Nhà vật lý người Anh cùng thời với chúng ta John Gribbin
từng nói, các hạt như nhân nguyên tử và electron cũng
không hề có trước thế kỷ thứ 20 vì trước đó
không ai thấy chúng cả.
Thế
nhưng ngoài trường phái Copenhagen còn có nhiều quan niệm
triết học “điên rồ” hơn nữa. Trường phái “đa
thế giới” sẽ nói gì về con mèo trong lồng? Đối
với quan điểm này thì có hai con mèo, một con sống
và một con chết. Chúng nằm trong hai thế giới khác
nhau. Theo phép diễn dịch này thì sự phân hủy nguyên
tử đã buộc con mèo lẫn tất cả các thiết bị thí
nghiệm phải tách ra làm hai thế giới, trong thế giới
này thì con mèo sống, trong thế giới này thì con mèo
sống, trong thế giới kia thì con mèo chết. Nếu chúng
ta tìm cách biết con mèo sống hay chết thì bản thân
chúng ta cũng bị tách đôi, trong thế giới này thì ta
thấy con mèo sống, trong thế giới kia ta thấy con mèo
chết. Sau người thứ nhất, nếu có thêm mười người
nữa muốn biết con mèo sống hay chết thì cả mười
người bị tách đôi. Trong thế giới này thì cả mười
một người đồng thanh nói con mèo sống, thế giới
kia thì họ đều thấy con mèo chết. Nếu có ai nói
khác với những người còn lại thì người đó bị
đưa vào “nhà thương điên”.
Nhưng
chưa hết, giả định sau đó con mèo sống bị đưa vào
một tình huống với khả năng xảy ra năm tình trạng
khác nhau thì lập tức có năm con mèo “tách ra” và nằm
trong năm thế giới mới. Còn con mèo chết kia thì sao? Nó nằm
ngoài khả năng nhận thức của người ở thế giới này nhưng
nó vẫn có thật. Các con mèo đều có số phận khác nhau,
đó là lý do mà quan niệm đa thế giới được Hawking và Gell-Mann
gọi tên là thuyết “đa số phận”.
Theo
tinh thần của thuyết đa thế giới thì trong vũ trụ mọi
thứ đều có, nhưng chỉ có một số biến cố lọt vào trong
thế giới riêng lẻ của từng con người. Đó là quan điểm
“tất cả đều có”, một thuyết đã từng có mặt trong
triết học phương Đông, thí dụ của phái Nhất thiết hữu
bộ.
Thú
vị thay, các trường phái diễn dịch cơ học lượng tử nêu
lên những nhận định cực kỳ khó tin và một số trong đó
lại trùng hợp với những luận đề tưởng chừng như phi
khoa học, như của Berkey, của Trung quán luận, của Nhất thiết
hữu bộ. Chúng ta sẽ còn trở lại những luận điểm này.
Cơ
học lượng tử cũng như những phát triển mới nhất của
ngành vật lý còn vạch rõ ra một điều cơ bản nữa. Đó
là cách suy tư và tất cả những khái niệm của chúng ta đều
bị qui định bởi không gian và thời gian đặc biệt của
con người. Đó là một không gian ba chiều và thời gian một
chiều. Thiết bị máy móc của chúng ta cùng để đo lường
cũng bị qui định trong khuôn khổ đó. Nghĩa là khái niệm
và thiết bị của chúng ta vốn luôn luôn “cổ điển”,
còn đối tượng của chúng ta – thí dụ thế giới hạ nguyên
tử - thì tuân thủ các nguyên lý lượng tử. Sự khác biệt
cơ bản là, vật bị quan sát và người quan sát nằm ở trong
hai bình diện khác hẳn nhau. Và khi đo lường và nhận thức
những vận động của cơ học lượng tử, con người không
những dùng khái niệm cổ điển để xem xét chúng mà còn
dùng để mô tả và diễn dịch chúng. Hành động mô tả và
diễn dịch cũng phải dựa trên ngôn ngữ, khái niệm, tức
là dựa trên sản phẩm của một thế giới quan cổ điển
ba chiều. Đó là cái khó cơ bản nhất của con người khi
có tham vọng tìm hiểu tự tính của thực tại. Tức là toàn
bộ nhận thức của con người về thế giới “khách quan”
không thể đúng như nó (thế giới) là, mà bị phụ thuộc
vào chính số phận “ba chiều” của mình.
CON
ĐƯỜNG ĐẾN VỚI IMMANUEL KANT
Các
phát triển mới nhất của ngành vật lý đều giả định
thế giới khách quan có nhiều kích chiều hơn thế giới của
con người. Đó là một thực thể mà về mặt nguyên tắc
con người không thể nhận thức được một cách toàn triệt.
Điều mà con người có thể thấy là phản ánh của thế giới
đó trong thế giới ba chiều của chúng ta. Tham vọng của các
lý thuyết mới là, xuất phát từ những gì chúng ta nhận
thức được trong thế giới ba chiều, suy ngược ra được
tự tính của thế giới đích thực. Đây hẳn là tham vọng
lớn nhất, đồng thời là điều đáng ngờ nhất, liệu có
một ngày nào đó con người phát hiện và mô tả được đến
đó không. Nếu được thì thực tại mà con người phát hiện
và mô tả ra chắc chắn chỉ là một mô hình trừu tượng
của toán học, không thể là đối tượng của cảm quan thông
thường của con người.
Hiện
nay người ta cho rằng vật chất trong vũ trụ phần lớn là
vật chất tối, thứ vật chất không hình thành từ proton,
neutron và electron như của chúng ta. Với một khái niệm đó
thôi thì nó đã nằm ngoài khả năng nhận thức của cảm
quan, nếu có thì nó chỉ được chứng nghiệm một cách gián
tiếp. Thực tế là toàn bộ lý thuyết hạt trong bản thân
thế giới hạ nguyên tử cũng chỉ được chứng nghiệm một
cách gián tiếp, và thông qua ngôn từ và khái niệm cổ điển
của chúng ta. Nếu ta so sánh nhà khoa học với chàng thám tử
tìm cách bắt cướp thì trong thế giới hạ nguyên tử, chàng
chỉ đoán biết nhưng không bao giờ còng tay được thủ phạm
cả.
Vấn
đề nói trên thật ra là một luận đề triết học quan trọng.
Hãy giả định có một thế giới khách quan và đích thực
- ở đây ta hãy gọi là thực tại – với nhiều kích chiều
phức tạp hơn của chúng ta, và những gì ta thấy chỉ là
phản ánh của nó, liệu ta “suy ngược” ra được tính chất
của thực tại, liệu lý tính của chúng ta có thể nắm bắt
được nó? Nói chung, liệu con người có thể thấu hiểu được
tự tính của thực tại?
Trong
lịch sử triết học phương Tây, có một triết gia người
Đức nổi tiếng trả lời dứt khoát: “Không”. Đó là I.Kant.
Xuất
thân từ một gia đình chất phác nhưng mới 16 tuổi Kant đã
vào đại học. Ông ghi tên theo toán học, khoa học tự nhiên,
triết học và thần học. Ông đọc các tác phẩm của Newton
và quan tâm đến các vấn đề triết học đặt ra cho ngành
vật lý. Kant kiếm tiền ăn học bằng cách đi dạy kèm và
với một cái tài mọn là đánh bi-da ăn tiền. Ngày nay người
ta không biết liệu hình ảnh của những trái banh bi-da có
đóng vai trò gì trong tư duy của ông về các thiên thể, nhưng
thực tế là Kant viết một công trình về thiên văn học nói
về sự hình thành của vũ trụ và thái dương hệ, được
công bố năm 1755.
Thế
nhưng, Kant để lại tên tuổi vang dội cho hậu thế không
phải với một công trình về thiên văn học mà với nhận
thức luận của ông, với một nền triết học nói về khả
năng nhận thức con người, tìm hiểu liệu con người có thể
nhận thức được sự vật đích thực - mà Kant gọi là “vật
tự nó” - hay không. Ông cho rằng, với tầm nhìn của con
người, ta không bao giờ nhận thức được từ tính đích
thực của sự vật. Vì lẽ, thế giới là thế giới hiện
lên cho chúng ta, đó là một sự trình hiện đúng như khả
năng và mức độ của con người.
Tư
tưởng của Kant thật sự là một bước ngoặt trong triết
học về tự nhiên, tương tự như thế giới quan của Copernicus
trong ngành thiên văn. Với Copernicus, trái đất quay xung quanh
mặt trời chứ không ngược lại. Trước Kant, người
ta cho rằng ý thức chạy theo để tìm hiểu sự vật, thì
nay với Kant, sự vật được hình thành bởi ý thức quan sát
của con người, nay “sự vật chạy theo ý thức”. Chỉ
với hành động nhận thức mà con người tạo nên thế giới
của mình.
Điều
thú vị nhất là, tư tưởng của Kant – vốn là một hệ
thống triết học – ngày nay có thể soi sáng cho những vấn
đề vật lý đang bức xúc đặt ra cho con người.
Trong
tác phẩm Die Einheit der Natue, nhà vật lý người Đức C.F.Weizsäcker
đã quả quyết: Không thể hiểu cơ học lượng tử nếu trước
đó không đọc Kant. Weizsäcker là giáo sư vật lý và cũng
là giáo sư ngành triết học tự nhiên đã tự nhận rằng,
cứ mỗi khoá dạy, “lòng kính sợ của tôi đối với
Kant lại mỗi tăng lên”. Là một triết gia của thế kỷ
thứ 18, của thời đại mà nền vật lý còn đi những bước
dò dẫm trong thế kỷ tự nhiên, Kant đã nêu một nhận thức
luận có thể làm bó đuốc để soi sáng cho những vấn đề
của lý thuyết tương đối, thuyết lượng tử và các nỗ
lực của kỷ nguyên ngày nay trong việc đi tìm một lý thuyết
chung cho vũ trụ.
Những
dòng trên nghe ra rất to tát nhưng thuyết của Kant lại rất
khiêm tồn – cùng như con người của ông. Theo Kant, như đã
nói, con người không thể nhận thức được “vật tự nó”,
tức là tự tính đích thực của sự vật. Con người không
thể dùng lý tính để nhận thức được cái mà ta gọi là
thực tại. “Thực tại” có thật hay không cũng là điều
không thể biết được, từ “thực tại” chỉ là khái niệm
của đầu óc bày ra.
Thế
nhưng Kant không phải là người theo thuyết “bất khả trị”.
Ông chỉ nói con người không thể nhận thức được “vật
tự nó” với tính cách là một nhận chứ khoa học. Còn sự
vật mà ta gọi là “khách quan” hiện ra trước mắt con người
chỉ là “hiện tượng” xuất hiện với chúng ta, dựa trên
khả năng và cơ sở của chúng ta. Đó là một thế giới cho
chúng ta và vì chúng ta. Muốn nhận thức thế giới đó ta
cần “cảm năng”, các giác quan của ta phải được kích
thích, vì thế nguồn gốc của nhận thức trước hết là
kinh nghiệm. Thế nhưng kinh nghiệm giác quan chưa đủ, chúng
phải được giác tính suy tưởng và sắp xếp. Một khi giác
tính đã hoạt động thì hiện tượng được giác tính xác
định sẽ trở thành đối tượng của nhận thức.
Các
kinh nghiệm giác quan được thâu gồm vào trong các quan nhiệm
hay phạm trù của giác tính bởi một quan năng mà Kant gọi
là “năng lực phán đoán”. Điều quan trọng nhất là Kant
thấy trong cả ba quan năng – cảm năng, giác tính và năng
lực phán đoán – đều có một cơ sở mà Kant gọi là yếu
tố siêu nghiệm. Trong cảm năng thì yếu tố siêu nghiệm là
không gian - thời gian; trong giác tính nó là các phạm trù;
trong năng lực phán đoán nó là các “niệm thức và các nguyên
tắc của giác tính thuần tuý”. Trên cơ sở đó Kant xây
dựng một nền “triết học siêu nghiệm” để lý giải
tại sao chúng ta lại thấy thế giới “khách quan” như cách
chúng ta đang thấy. Những yếu tố siêu nghiệm này có nguồn
gốc “trước kinh nghiệm” (tiên nghiệm) và nó quyết định
chúng ta nhận thức thế giới như thế nào. Nói theo Kant: “Lý
tính chỉ nhận thức được đối tượng bằng những gì do
chính nó trước đó đã đặt vào trong đối tượng”.
Thế
nên thế giới tưởng như khách quan mà chẳng khách quan gì
cả, nó mang nặng dấu ấn của chính chúng ta. Triết học
của Kant có tính chất hoài nghi của David Hume, tức là con
người không thể nhận thức được tự tính của sự vật
– nói chi đến “thực tại” – và con người bị hạn
chế trong thế giới hiện tượng hiện lên với nó. Triết
học của Kant là một siêu hình học mà ở đây là triết
học siêu nghiệm, nhưng nó chứa đầy tính chất khiêm tốn
của một con người như Kant. Ông chỉ dừng lại trong sự
mô tả chứ không có tham vọng đặt cơ sở “tối hậu”
như các triết gia duy tâm về sau. Khi nói về tự tính của
thực tại, ông cho rằng, chỉ Thượng đế, thần linh mới
có một “trực giác trí tuệ” để nhận thức được nó.
Con người không thể có quan năng đó. Trong ngôn ngữ thông
thường của lý tính, nếu có ai nói đến “tự tính đích
thực” thì đó chỉ là khái niệm giả tạo.
Chính
sự khiêm tốn và tính mô tả của Kant làm triết học của
ông được các nhà vật lý hiện đại chú trọng. Các nhà
vật lý cũng đã từng có (và còn có) tham vọng nắm bắt
tự thân của sự vật, để làm sao chỉ dùng một mô hình
mà có thể mô tả toàn bộ tự thân của thế giới. Và đến
khi các nhà vật lý chỉ mới thấy sự mâu thuẫn giữa hai
trạng thái sóng và hạt của các hạ nguyên tử, thì họ liền
bị lúng túng, lý do đơn giản là nhà vật lý nghĩ rằng các
hạt hạ nguyên tử là những vật thể “khách quan”, tự
tính của nó có thể như thế này hoặc thế khác, nhưng phải
dứt khoát cụ thể. Do đó câu nói của Kant “Lý tính chỉ
nhận thức được đối tượng bằng những gì do chính nó
trước đó đã đặt vào trong đối tượng bằng những gì
do chính nó đã đặt vào trong đối tượng” hiện lên như
một sự nhắc nhở về phép nhận thức, gần 150 năm trước
khi cơ học lượng tử ra đời. Áp dụng câu nói đó của
Kant thì ta có thể phát biểu, nếu ta xét ánh sáng như hạt
thì nó hiện ra như hạt, nếu ta xét nó như sóng thì nó hiện
ra như sóng. Và vì thế mà Heisenberg mới tỉnh ngộ: “Điều
mà ta quan sát thấy không phải tự tính đích thực của thiên
nhiên mà là thiên nhiên hiện ra dưới cách vấn hỏi của
ta”.
Ngày
nay, khi nhà vật lý tiên đoán rằng thực tại là một thể
nằm trong một không gian 10 chiều (lý thuyết dây) hay 11 chiều
(lý thuyết siêu trọng trường) hay 18 chiều như trong các thuyết
gần đây và thế giới mà ta đang nhận thức là phản ánh
của thực tại đó trong thế giới ba chiều không gian của
con người thì quan niệm của Kant về không gian và thời gian
– các mô thức tiên nghiệm của trực quan – có thể là
một lý giải quan trọng. Đó là thế giới của chúng ta mang
đầy tính chất chủ quan của con người, một thế giới do
các yếu tố siêu nghiệm của con người xây dựng nên, một
thế giới trình hiện lên đúng như khả năng của ta. Kant
viết: “Điều kiện để nhận thức cũng là điều kiện
để hình thành nên đối tượng nhận thức”. Nhưng các yếu
tố siêu nghiệm – theo cách dùng chữ của Kant – là gì,
chúng có nguồn gốc từ đâu?
Như
thế thì con người thấy sự vật như nó muốn (hay có khả
năng) thấy. Trong hình dưới đây ta có thể thấy đó là một
cô gái hay một bà già, tất cả tùy chúng ta. Bức hình này
là một bức tiêu biểu của loại hình “đa nghĩa”, có thể
được dùng như ẩn dụ cho nhiều vấn đề vật lý và triết
học.
Khi nhìn lâu tấm hình này, trước hết ta sẽ thấy khi thì
nó hiện lên như một cô gái, khi thì như một bà già. Thế
nhưng có một điều bất ngờ nữa là mới đầu, nó hiện
lên một cách tự nhiên là cô gái hay bà già, không theo ý
muốn của ta. Sau đó, với sự cố gắng nội tâm, ta mới
thấy hình ảnh kia. Sau đó nữa, khi đã biết tấm hình đa
nghĩa này, hình ảnh cô gái hay bà già cứ hoán chuyển cho
nhau mà ta không hoàn toàn chủ định được.
Bức
hình này là một ẩn dụ cụ thể cho thấy, những gì ta thấy,
sự vật mà ta nhận thức, là một sản phẩm tổng hòa
của thực tại bên ngoài và hoạt động vô thức nội tại.
Thế giới qủa là sự trình hiện của thực tại cho chúng
ta, theo cách mà chúng ta nhìn nó một cách vô thức.
Hơn
thế nữa, bức hình này còn gợi nhiều suy tư về “thực
tại tự nó” và về luận đề có-không nói trong chương
trước. Cụ thể, ta có thể hỏi, “bức hình tự nó” là
gì, là cô gái hay bà già. Hãy vận dụng hai phép diễn gải
Copenhagen và “đa thế giới” của vật lý lượng tử để
nhìn bức tranh. Theo phép diễn giải Copenhagen, cô gái hay bà
già đều không có nếu không có ai nhìn đến bức tranh. Khi
có kẻ nhìn bức tranh và nhận ra là một cô gái thì cô gái
đó có và có với người đó. Cũng tương tự như thế nếu
có ai thấy hình bà già. Cô gái và bà già không hề mâu thuẫn
lẫn nhau, hai hình ảnh đó chỉ “hiện ra dưới cách vấn
hỏi của ta”, nói như Heisenberg. Còn theo phép diễn giải
đa thế giới thì ta có thể cho cả cô gái lẫn bà già đều
có mà không cần có ai ngó ngàng gì đến hay không. Hơn thế
nữa bức hình này tự tách ra thành hai bức hình, hay hai thế
giới, một của cô gái, một của bà già. Người xem tranh
như chúng ta cũng bị tách ra làm hai phiên bản, một phiên
bản thấy cô gái, phiên bản kia thấy bà già.
Hai
trường phái diễn dịch của cơ học lượng tử khi áp dụng
vào con mèo Schrödinger xem ra cả hai đều vô lý, thế nhưng
khi vận dụng trong bức tranh cô gái-bà già dường như không
còn quá vô lý nữa. Hơn thế nữa cả hai trường phái cũng
không tỏ ra hoàn toàn mâu thuẫn lẫn nhau, hình như chúng chỉ
khác nhau về vấn đề định nghĩa về “có-không”.
Với
bức tranh cô gái-bà già ta dễ đến một nhận định là,
thực tại hình như có nhiều bộ áo ngụy trang khác nhau. Và
con người thấy thực tại bằng những gì nó quen thấy, nói
như Kant là “bằng những gì do chính nó trước đó đã đặt
và trong đối tượng”.
Triết
học của I.Kant một mặt đang làm nền tảng cho những lý
giải quan trọng của nền vật lý hiện đại, mặt khác nó
làm ta sớm nghĩ đến triết học Phật giáo. “Kinh nghiệm
giác quan” và “giác tính” của Kant có thể so sánh với
sự vận hành của “”ngũ uẩn” của Phật giáo. “Trực
giác trí tuệ ” của Kant làm ta nhớ đến “cái biết, cái
thấy” của các vị Phật và Bồ-tát được mô tả trong
Kinh Lăng Nghiêm. Sự tương đồng giữa triết học siêu nghiệm
của Kant với Duy thức học thật là rõ rệt. “Tác giả”
của thế giới hiện tượng này chính là ý thức con người.
Các yếu tố siêu nghiệm là nền tảng, là cơ sở của nhận
thức. Đó là những nhận định chủ yếu suy ra từ triết
học của Kant, chúng hết suc tương tự với quan niệm chiêu
cảm biến hiện của tâm, với khái niệm chủng tử của Duy
thức.
Vì
những lẽ đó, ta không hề ngạc nhiên khi biết rằng, Schopenhauer,
một triết gia người Đức có quan niệm rất gần với Phật
giáo, tự nhận mình là người tiếp nối công trình của Kant.
Schopenhauer xem thế giới hiện tượng chính là “sự tự nhận
thức” của một chủ thể có ý niệm.
LÝ
THUYẾT KHOA HỌC CÓ MÔ TẢ ĐƯỢC THỰC TẠI?
Trong
thời đại này, một câu hỏi được nêu lên từ thời cổ
đại bỗng trở nên hết sức hiện đại. Đó là, liệu các
lý thuyết khoa học, các định luật vật lý, các mô hình
về vũ trụ bao la, về thế giới vi mô như nguyên tử, hạ
nguyên tử…, liệu tất cả những thành tựu vật lý đó
từ 25 thế kỷ qua phản ánh đúng thực tại như nó là, hay
chúng chỉ là các mô hình hay lý thuyết nhắm xếp đặt cho
hợp lý các kinh nghiệm giác quan của con người.
Câu
hỏi này là một luận đề triết học rất căn bản, nó sinh
ra hai quan niệm triết học trong khoa học. Đó là – nói một
cách sơ lược – quan niệm duy thực, nếu cho rằng lý thuyết
của con người phản ánh đúng thực tại khách quan, chúng
nói lên bản thể của sự vật. Thứ hai là quan niệm công
cụ, cho rằng các lý thuyết và qui luật vật lý chỉ là phương
tiện để lý giải những gì quan sát được; còn liệu chúng
có phản ánh đúng một thực tại bên ngoài hay không thì ta
không thể trả lời.
Nhiều
nhà vật lý rất ngỡ ngàng với vấn đề vừa nêu. Đối
với họ, phải có một thế giới khách quan bên ngoài và các
lý thuyết vật lý phải mô tả thực tại đó. Họ là những
người theo quan niệm duy thực mà không hề biết. Thật ra
thì đại đa số các nhà vật lý đều vô thức quan niệm
duy thực cả; và chỉ những đều óc quan tâm đến ý nghĩa
triết học trong khoa học hay các nhà vật lý linh mẫn nhất
mới có một cái nhìn tự phản tỉnh. Họ tự hỏi phải chăng
thực sự có một thực tại khách quan, phải chăng các qui
luật vật lý mô tả thực tại đó, phải chăng chúng
nói lên tính bản thể của thực tại.
Dĩ
nhiên các vị đó nêu lên một vấn đề chẳng những không
đơn giản mà còn có tính siêu hình. Nơi đây mỗi người
đều có một câu trả lời cho riêng mình và câu trả lời
đó lại dựa trên một niềm tin nhất định. Đây chính là
lý do làm phần lớn các nhà vật lý không muốn tiếp cận
với vấn đề này. Einstein, thiên tài của thế kỷ 20 cũng
đặt câu hỏi đó và cuối cùng ông chọn một thái độ duy
thực. Ông là người tin nơi một thực tại khách quan độc
lập với ý thức con người và các qui luật vật lý hiển
nhiên phải mô tả thực tại đó. Trước thế kỷ 20, quan
niệm duy thực hầu như chiếm lĩnh trận địa trong triết
học của khoa học tự nhiên.
Với
Max Plank, Einstein, quan niệm này có trong hàng ngũ những nhà
khoa học xuất chúng. Đồng thời hai vị này là hai nhà kiến
trúc sư của nền vật lý hiện đại. Thế nhưng, điều bất
ngờ là quan niệm duy thực dần dần mất ảnh hưởng, ngược
lại quan niệm công cụ ngày càng có nhiều người thừa nhận
mà một đại biểu của nó là trường phái Copenhagen
của cơ học lượng tử.
Thực
ra quan niệm duy thực và công cụ đã hình thành trong buổi
bình minh của lịch sử khoa học và thực tế là trong quá
trình nghiên cứu, nhiều nhà vật lý trong ngành khoa học cũng
không biết mình đổi đi đổi lại hai quan niệm đó vì chúng
rất dễ bị trộn lẫn vào nhau. Trong quá khứ xa xưa hai chủ
trương này chưa xuất hiện một cách rõ nét, chúng chỉ nói
lên quan niệm của các nhà vật lý về mô hình lý thuyết,
về các khái niệm vật lý và về các công thức phương trình
toán học áp dụng trong vật lý. Ngày nay, một vấn đề được
đặt ra là, liệu thực tại trước mắt ta là thực như nó
là hay không; vì thế hai quan niệm duy thực và công cụ trở
thành luận đề chủ đạo trong ngành vật lý. Chúng nói lên
cả thái độ của nhà vật lý trước một câu hỏi thuộc
về bản thể học.
Trên
nguyên tắc, mỗi nhà vật lý phải tự biết mình quan
niệm thế nào về một thực tại bên ngoài, phải chăng thực
tại tồn tại khách quan và hệ qủa của quan niệm đó là
tính chất của lý thuyết mình sẽ đưa ra, đó là tính chất
duy thực hay công cụ.
Từ
thời Hy Lạp, trong các nhà tư tưởng đã manh nha hai quan niệm
khác biệt về thế giới hiện tượng và vai trò của lý thuyết.
Aristotle thấy cần phải giải thích tại sao hiện tượng
lại là như thế, bản chất của nó là gì. Còn Euxodus thấy
chỉ cần “lý giải được hiện tượng”, nêu lên được
bài toán vận động của thiên thể và tiên đoán sự vận
động đó. Euxodus không thấy cần phải hiểu thực chất của
sự vận động là gì, đối với ông giải thích được hiện
tượng là đủ. Aristotle là người có quan niệm duy thực,
trong lúc Euxodus là người đầu tiên theo quan niệm công
cụ, mặc dù nó xuất phát từ một nguyên nhân hết sức thô
sơ.
Phần
lớn các nhà triết học Hy Lạp đều có quan niệm duy thực
mà kẻ nổi bật nhất phải là Democritus, người đầu tiên
nêu quan niệm về những hạt cơ bản cấu tạo thành vật
chất. Ông tin rằng có một thực tại độc lập với ý thức
con người, nó được cấu tạo bởi những hạt nhỏ li ti.
Thế nhưng một người Hy Lạp khác cũng có quan niệm công
cụ vì thấy rằng có nhiều lý thuyết khác nhau, thế nhưng
lại lý giải một cách đúng đắn một hiện tượng duy nhất.
Đó là Hipparchus, ông nêu lên nhiều mô hình về sự vận hành
của mặt trời quanh trái đất. Mặc dù tất cả mô hình của
Hipparchus đều sai cả - so với quan niệm ngày nay – nhưng
chúng đều lại tiên đoán đúng về một số hiện tượng.
Bởi
thế ngay trong thời cổ đại đã có hai quan niệm duy thực
và công cụ; và cũng trong thời đó, sự khác biệt giữa hai
bên đã tỏ rõ: trong quan niệm duy thực, vì lý thuyết phải
mô tả đúng thực tại nên chỉ có một lý thuyết là đúng,
không thể có nhiều lý thuyết dùng đúng. Còn với quan niệm
công cụ, mỗi mô hình, mỗi lý thuyết đều chỉ là phương
tiện mô tả kinh nghiệm và tiên đoán những gì sẽ xảy ra
nên rất có thể có nhiều mô hình, lý thuyết cùng đúng đắn.
Hiển
nhiên, mỗi nhà vật lý, khi đã nỗ lực tìm hiểu và mô tả
thiên nhiên, đều chờ đợi công trình mình phải phản ánh
đúng bộ mặt thực của tạo hóa. Ngoài ra tâm lý thông thường
của mỗi người đều nghĩ hiện tượng trước mắt mình
phải là thực tại khách quan, ít nhất nó cũng xuất phát
từ một thực tại độc lập với ý thức mình. Vì những
lẽ dó mà dù trong thời cổ đại đã xuất hiện hai thái
độ khoa hoạc, quan niệm duy thực luôn luôn thắng thế. Tại
phương Tây, kể từ thời kỳ phục hưng của khoa học, chủ
trương duy thực hầu như ngự trị trong cộng đồng vật lý.
Đến
thế kỷ thứ 16, quan niệm duy thực được củng cố mạnh
mẽ với Copernicus. Ông tin rằng một lý thuyết chỉ đúng
nếu giả định của nó đúng với thực tại. Kepler tiếp
thu hệ thống “mặt trời là trung tâm” lẫn quan niệm duy
thực của Copernicus. Và Galileo, cha đẻ của nền vật lý thực
nghiệm, là người khẳng định trước cả Giáo hội Thiên
chúa giáo về một thực tại khách quan, không lệ thuộc vào
ý thức con người.
Trong
thời bấy giờ, bất ngờ thay, giáo hội Thiên chúa giáo lại
lấy một quan niệm công cụ trong khoa học. Nếu suy nghĩ
kỹ, ta sẽ thấy đều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Họ
phải xem khoa học chỉ là phương tiện để lý giải các hiện
tượng, còn tự tính của hiện tượng của thực tại phải
là một điều gì thiêng liêng thuộc về Thượng đế. Cũng
vì thế mà Giáo hội Thiên chúa giáo có một quan niệm công
cụ nhưng với một ý đồ khác, đó là không để cho khoa
học xâm nhập vào một lĩnh vực mà họ cho là bất khả xâm
phạm của Thượng đế. Cũng vì quan niệm công cụ đó mà
thuyết của Copernicus một thời được chấp nhận trong các
đại học nhưng khi Giáo hội nhận ra “nguy cơ” của thuyết
duy thực trong đó thì lập tức mô hình tiến bộ của hệ
thống Copernicus bị cấm đoán.
Với
Newton thì sự việc lại rất bất ngờ. Người ta phải nghĩ
rằng Newton là một nhà duy thực tuyệt đối với những phát
hiện vĩ đại của ông. Ông đã thống nhất qui luật của
“thế gian” và của thiên thể chung với nhau trong một nguyên
lý trọng trường duy nhất. Ông đã trả lời thắc mắc của
Aristotle vốn cho rằng giữa con người và “trên trời” phải
có những qui luật khác nhau. Thế nhưng thiên tài của Newton
nằm ở chỗ, ông khiêm tốn nói rõ không biết nguồn gốc
trọng trường là từ đâu, tự tính của nó là gì. Ông cho
Thượng đế là nguồn gốc của lực trọng trường. Tư tưởng
này làm cho Leibniz – người đả kích Newotn – xem luận giải
Priciples của Newton chỉ là những phép toán học nhằm giải
thích hiện tượng, chứ không nói đến tự tính của thực
tại. Leibniz chê Newton là một nhà khoa học theo quan điểm
công cụ.
Nguyên
lý trọng trường là một thí dụ rất sáng tỏ để giải
thích hai quan niệm duy thực và công cụ. Nội dung của nguyên
lý này nói rõ, giữa hai vật có khối lượng sẽ sinh ra một
sức hút lẫn nhau, sức hút đó là nguyên ủy của mọi vận
động của các thiên thể trong vũ trụ, của thái dương hệ,
của mặt trời mặt trăng. Sức hút này cũng chính là lực
kéo trái táo rơi xuống đất. Đứng trước nguyên lý này
con người sẽ có hai thái độ. Một là, với thái độ duy
thực, ta sẽ nghĩ rằng “sức hút giữa các vật có khối
lượng” là có thực, là tự tính của vật chất, là nguyên
lý khách quan không lệ thuộc vào đầu óc con người. Có con
người hay không có con người trên trái đất thì trái đất
vẫn bị mặt trời hút và bản thân trái đất vẫn hút quả
táo.
Hai
là, với thái độ công cụ, ta sẽ nghĩ “sức hút giữa các
vật có khối lượng” chỉ là phương tiện để giải thích
hiện tượng, để thiết lập một công thức toán học, để
tiên đoán những hiện tượng sắp xảy ra. Người theo thái
độ công cụ cho rằng khối lượng hay sức hút đều chỉ
là cấu trúc do đầu óc con người sinh ra, chúng không có thực
trong thiên nhiên. Thế thì thái độ của Newton là gì? Newton
hẳn không phải là người theo thuyết công cụ như Leibniz
nói, vì trong các tác phẩm khác của ông như Opticks, ta đọc
thấy ông cũng đi tìm chất nội tại của vật chất, đi tìm
một chất ê-te nhằm giải thích được sự hiện diện của
trọng trường, của ánh sáng và nhiệt. Nhưng cuối cùng Newton
vẫn không lý giải nổi do đâu mà có một sức hút giữa
các vật, một loại sức hút cách không và tác động tức
thì. Ông đành cho nó có nguồn gốc từ Thượng đế.
Đầu
thế kỷ thứ hai mươi, Einstein chứng minh không có ê-te mà
cũng chẳng có một sức hút trọng trường cách không và tức
thì. Ông giải thích trọng trường bằng không gian cong trong
thuyết tương đối tổng quát. Với thuyết này, quan điểm
công cụ trong thuyết trọng trường đánh dấu một bước
thắng lợi cục bộ: sức hút không hề có thực trong thiên
nhiên, nó chỉ là sản phẩm do con người nghĩ ra. Thế nhưng
mô hình “sai” đó vẫn lý giả một cách xuất sắc mọi
hiện tượng của thiên thể. Và ngày nay, sức hút (tức là
sự tương tác) giữa các vật thể được lý giải như hệ
quả của không gian cong hay như sự trao đổi hạt. Có nhiều
mô hình khác nhau nhưng quả thật chúng lý giải đúng đắn
một hiện tượng duy nhất. Phải chăng tất cả chỉ là những
cấu trúc của tư duy. Phải chăng quan niệm công cụ đang giành
thắng lợi.
Không
đơn giản như thế. Lịch sử tư duy của phương Tây bị ảnh
hưởng nặng nề bởi tư tưởng của Aristotle, đó là quan
niệm luôn luôn cho rằng thế giới có thực, độc lập, con
người có thể tìm hiểu được tự tính của thế giới.
Vì lẽ đó mà quan niệm duy thực luôn luôn ngự trị trong
khoa học và cả triết học. Mà thật ra đó cũng chính là
cứu cánh của ngành vật lý, là động cơ để con người
nỗ lực đi tìm thực tại. Nếu không tin rằng có một thực
tại nằm ngoài ý thức con người và con người có thể nằm
bắt nó thì có lẽ đã không có nền vật lý của ngày nay.
Vì
lẽ đó triết học và về khoa học tự nhiên tại tây Phương
luôn luôn là một triết học duy thực, tin rằng có một thực
tại có thể nắm bắt bằng lý tính. Người đại diện xuất
sắc nhất cho nền triết học đó chính là Descartes. Hiển
nhiên ông là người duy thực nhưng lại còn duy lý, tức là
tin rằng chỉ lý tính mới nắm bắt được sự vật, kinh
nghiệm chỉ là nguồn cung cấp thông tin đơn thuần. Descartes
vẽ một đường ranh chắc chắn giữa “linh hồn” con
người với sự vật và dĩ nhiên ý thức không thể
có tác động lên thế giới vật chất được. Tư tưởng
này ngự trị tại châu Âu các hai thế kỷ sau Descartes.
Thậm chí khoảng từ năm 1850, nền khoa học tại Đức
bị sa vào một thứ chủ nghĩa duy vật cơ giới trầm
trọng, theo đó hiện tượng không nhưng chỉ tồn tại
độc lập, thực có mà còn vận động theo các qui
luật của cơ học thuần túy. Đó là một quan niệm
“duy thực giản đơn”. Trong thời gian này người ta nghĩ
rằng lý thuyết khoa học phản ánh đúng như thực tại,
không mang bất cứ một khái niệm chủ quan nào của đầu
óc cả.
Tình
hình kéo dài như thế đến lúc E. Mach, nhà vật lý
người Áo nêu lại một quan điểm thực chứng về lý
thuyết khoa học. Theo ông, khoa học không khác gì hơn là
lý thuyết về những gì xác nhận được bằng giác
quan. Chỉ những gì giác quan thừa nhận được mới
có chỗ đứng trong khoa học. Hiển nhiên, đầy là một
dạng của quan điểm công cụ vì nơi đây khoa học chỉ
lý giải kinh nghiệm giác quan, nó không có tham vọng nói
gì về bản thể của thực tại.
Với
sự phát hiện đện từ trường của Maxwell, người
ta bắt đầu thấy thực tại dường như tinh tế hơn,
sự vận động của nó không thể phù hợp với
chủ nghĩa duy vật cơ giới. Quan trọng nhất, các nhà
vật lý thấy một biến cố hay sự vật có thể phát
biểu bằng nhiều thuyết khác nhau. Đó là luận cứ
mạnh nhất của thuyết công cụ từ xưa đến nay. Điều
này đi ngược lại với quan điểm duy thực vì nhà duy
thực thấy mỗi thực tại chỉ có thể được phát
biểu bởi một lý thuyết nhất định.
Sự
thành công vang dội của lý thuyết trường điện từ
không những mở đầu cho một kỷ nguyên mới của vật
lý sau Newton, nó còn đưa vào khoa học một khái niệm
mới, đó là trường. Khái niệm này còn gây khó khăn
hơn nữa cho quan niệm duy thực vốn tồn tại cả ngàn
năm nay. Lý do là, rất nhiều hiện tượng vật lý vốn
được lý giải bằng nền vật lý cơ giới nay được
mô tả bằng những hình dung hoàn toàn mới mẻ. Điều
này chỉ giúp cho chủ nghĩa công cụ thêm những nền tảng
vững chắc.
Từ
một góc cạnh khác của khoa học, nhà toán học Pháp
nổi danh Poincaré đến với một quan điểm được gọi
là “qui ước” trong vật lý. Theo chủ trương “qui ước”,
mọi lý thuyết không đúng cũng chẳng sai – đúng, sai
nếu so với thực tại – chúng chỉ giúp chúng ta xếp
đặt cho có lý những quan sát về thiên nhiên cua chúng
ta. Mọi không gian đều có giá trị như nhau, chúng đều
là “qui ước”, miễn sao thuận tiện cho lý thuyết
là được. Đây chính là quan điểm của phái công cụ.
Thế
nên, trong đầu thế kỷ thứ 20, quan điểm công cụ đã
bắt đầu vươn dậy với ba nhà khoa học Mach, Maxwell và
Poicaré. Như chúng ta sẽ thấy, hai trường phái triết
học duy thực và công cụ sẽ phát triển song hành với
sự phát triển của vật lý để đẫn đến một phạm
trù vô cùng then chốt của triết học loài người.
HAI
TRƯỜNG PHÁI DUY THỰC
VÀ
CÔNG CỤ TRONG THỜI ĐẠI MỚI
Như
chúng ta đã biết, vấn đề lớn nhất của triết học
là câu hỏi, thế giới này từ đâu mà có, thực chất
của nó là gì. Nhà triết học băn khoăn thế giới này
có thật hay không, tự tính của nó là gì. Ngược lại,
phần lớn các nhà vật lý đều tự động hiểu thế
giới tồn tại độc lập với con người, ý thức con
người có thể hiểu được thế giới đó, thế giới
chính là đối tượng nhận thức của vật lý. Những
người đó đều theo quan niệm duy thực cả.
Trong
lịch sử nhận thức, bản thân phái duy thực cũng có
nhiều bước phát triển, từ thô sơ đế tinh tế. Phần
lớn con người đều cho rằng thế giới mình thấy
chính là thực tại. Hoa lá cỏ cây trong vườn chính là
thực tại độc lập. Họ cho rằng khi mắt thấy sắc,
tai nghe tiếng, thì đó chỉ là những giác quan thụ động.
Màu sắc và âm thanh có thật trong thiên nhiên đúng như
họ cảm nhận. Đó là quan niệm “duy thực giản đơn”.
Thế
nhưng chỉ cần suy nghĩ xa hơn một chút, ta sớm thấy
màu sắc hay âm thanh ta nghe là sự cảm nhận của con người,
còn thực tại tự nó phải là một cái gì khác. Nếu
cho rằng thực tại tự nó là một cái gì có thật,
độc lập, nằm sau bức màn của hiện tượng thì ta
thuộc về trường phái “duy thực siêu việt”. Theo
trường phái này, muốn nhận thức được thực tại,
con người phải vượt lên hiện tượng do giác quan mang
lại, mới hòng đạt được nó.
Còn
nếu ta nghĩ màu sắc âm thanh là do giác quan cảm nhận,
nhưng cái có thật và độc lập với giác quan là những
thể tính vật lý như sóng ánh sáng, sóng diện từ,
sóng âm thanh... thì như thế ta có quan niệm của “duy
thực khoa học”.
Từ
xưa đến nay, quan niệm duy thực khoa học ngự trị trong
đầu óc của nhà vật lý. Trong các giáo trình, điều
đó hiển nhiên tới mức mà người ta cũng không mấy
khi tháo luận đề tài này. Đối với họ những khái
niệm cơ bản như khối lượng, lực, năng lượng, điện
tích, sóng âm thanh... đều là có thật trong thiên nhiên.
Nhà duy thực khoa học cho rằng, lý thuyết của vật lý
nói lên sự vận hành đích thực của sự vật trong
thiên nhiên. Nó nói về bản chất của sự vật, nó
có tính bản thể học.
Trong
quá trình phát triển của vật lý, các khái niệm nói
trên cũng không đứng yên, nội dung của chúng bị thay
đổi theo. Thí dụ những mô hình hay khái niệm mới
được phát sinh, như không gian cong trong thuyết tương đối
hay electron, các hạt cơ bản trong vật lý hạt nhân. Thế
nhưng nhà duy thực vẫn dễ dàng thay đổi theo, họ cho
rằng mình đã tinh tế hoá các khái niệm và tin rằng
có không gian cong, có electron thực sự. Thậm chí một
thời người ta tưởng có chất ê-te; và nhiều mô hình
cũng như lý thuyết được xây dựng trên tính chất
của một chất liệu ê-te giả định. Ngày nay vật lý
khẳng định không có chất ê-te giả định. Ngày nay vật
lý khẳng định không có chất ê-te trong thiên nhiên, tất
nhiên các mô hình đó bị đào thải.
Trong
khoảng giữa thế kỷ 20, lúc mà người ta háo hức sắp
khẳng định đâu là những chất liệu cuối cùng tạo
nên thế giới vật chất thì lạ thay, bộ mặt
thật của một thực tại khách quan bỗng nhiên lu mờ.
Sự phát hiện các qui luật trong cơ học lượng tử
làm cho người ta đặt lại vấn đề. Đó là thiên nhiên
được quan sát dường như không phải là một thực tại
độc lập mà nó đang tương tác với ý thức vốn
đã tra hỏi về nó. Những đơn vị cuối cùng của thế
giới vật chất như nguyên tử, các hạt cơ bản... hành
xử rất kỳ lạ. Chúng có nhiều bộ mặt và tính
chất hoàn toàn mâu thuẫn lẫn nhau, nếu lấy phép tư
duy thông thường của chúng ta mà xét. Heisenberg nói: “Nguyên
tử không phải là vật”. Bohr, nhà vật lý lượng tử
xuất sắc, tổng kết sau nhiều năm làm việc với nền
khoa học này: “Không hề có một thế giới lượng
tử, chỉ có một sự mô tả lượng trừu tượng”.
Với nhận định này, Bohr cũng như trường phái Copenhagen
đã từ bỏ thái độ duy thực trong khoa học mà lấy
thái độ công cụ. Đó là thái độ xem lý thuyết chỉ
là phương tiện để giải thích hiện tượng, nó không
thể nói gì về tự tính của hiện tượng, nó không
thể nói gì về tự tính của hiện tượng, tự tính
của thế giới.
Trong
quan niệm công cụ, tất cả mọi khái niệm vật lý như
khối lượng, năng lượng, điện tích, sóng, hạt... đều
chỉ là cấu trúc của tư duy. Theo triết gia xuất sắc
nhất hiện nay của phái công cụ – Basvan Fraassen – thì
“mục đích của khoa học là cho ta những lý thuyết tương
thích với thực nghiệm; và khi chấp nhận một lý
thuyết tức là tin rằng nó tương thích với thực nghiệm.
Một lý thuyết là tương thích chính xác với thực
nghiệm nếu những gì nó nói về những vật thể
và biến cố quan sát được trong thế giới là đúng
đắn”.
Các
lý thuyết hay cụ thể hơn, các khái niệm vật lý chỉ
là “công cụ” của tư duy nhằm mô tả một cách thuận
tiện nhất các hiện tượng trước mắt. Thực tế
là các lý thuyết và các khái niệm bị thay đổi liên
tục, nhất là trong thế kỷ 20, nên quan niệm công cụ
ngày càng được chấp nhận. Thí dụ, khối lượng
trong thời đại Newton được hiểu như một chất liệu
hoàn toàn cứng nhắc, không thay đổi theo thời gian và
không gian. Ngày nay, trong vật lý tương đối, khối lượng
được xem là năng lượng đang “đứng yên”. Trong vật
lý hạt, tính cứng chắc của vật thể được xem là
hệ qủa của tương tác điện từ.
Nền
vật lý hiện đại cho thấy, ta có thể giải thích một
hiện tượng duy nhất bằng nhiều mô hình khác nhau và
điều đó làm quan niệm công cụ thêm thuyết phục. Các
khái niệm cổ điển của vật lý dần dần được
thay đổi về nôi dung, thậm chí bị xem xét lại một
cách cơ bản. Nhà vật lý đoạt giải Nobel, Richard Feynman,
cho thấy mọi sự đều “có thể hiểu như là các
nguyên tử đang tương tác với nhau đúng theo qui luật
của vật lý”. Ông còn cho rằng qui luật bảo toàn năng
lượng – một qui luật được xem như “bất khả xâm
phạm” trong ngành vật lý – chỉ là một nguyên lý
toán học, chủ không phải là “sự mô tả cơ học hay
bất cứ cái gì cụ thể cả”. Ông còn đi xa hơn và
nói rằng “Thật là quan trọng khi biết rằng, trong nền
vật lý ngày nay, chúng ta không biết năng lượng là
gì cả”. Cả Feynman cũng xem năng lượng chỉ là một
sự trừu tượng. Đã thế thì qui luật bảo toàn năng
lượng còn có nghĩa gì? Nhà thiên văn danh tiếng Sir
A. Eddingdon cho rằng “Trong thế giới bên ngoài không có
qui luật nào có khuynh hướng gìn giữ không cho thay đổi
các thực thể nằm trong đó; nhưng ý thức (con người)
trong lúc miệt mài tìm hiểu đã lựa ra những cấu
trúc khả dĩ, chúng chỉ có tính bất biến trong các
cấu trúc này, và bằng cách cho chúng một trị số,
bằng cách bỏ qua những cái còn lại, ý thức đã dựng
lên một qui luật bảo toàn các trị số đó”.
Trong
nền vật lý hiện đại, khi con người đang nêu lên những
mô hình mới nhất về thế giới và vũ trụ, người
ta bắt đầu thấy các khái niệm cũ về vật chất
dường như ngày càng mất giá trị. Khi đã thấy rằng
thế giới mà ta đang nhận thức, kể cả thế giới
cực tiểu cũng như dực đại chỉ là phản ánh của
một thực tại to lớn lên trên thế giới với không
gian ba chiều của con người, thì nhiều nhà vật lý
phân vân không biết liệu con người – với không gian
ba chiều và cách tư duy đặc biệt do không gian đó sinh
ra – ngày nào đó có thể nhận thức được thực
tại như nó là hay không. Liệu các khái niệm vật lý
có tính bản thể, thực sự hiện hữu trong thiên nhiên
hay chúng chỉ là do con người bày ra. Nói cách khác,
quan niệm duy thực đang bị thử thách nặng nề và thái
độ công cụ dần dần được nhìêu người thừa nhận.
Về
mặt lịch sử thì thuyết công cụ có sự tương đồng
nhất định với quan niệm thực chứng mà người sáng
lập được xem là triết gia người Pháp, A. Comte. Theo
Comte, đối tượng của khoa học chỉ được hạn chế
trong những hiện tượng có thực, cái có thực, rõ
rệt được kinh nghiệm thừa thận, được xem là vật
khách quan đích thực. Mô hình, lý thuyết hay công thức
khoa học chỉ có thể được xây dựng trên các khái
niệm đó thôi. Tất cả mọi khái niệm có nguồn gốc
siêu hình, không thể kiểm chứng, chúng không có chỗ
đứng trong khoa học. Trong thế kỷ 19 và 20, quan niệm thực
chứng có nhiều ảnh hưởng trong giới vật lý mà nhà
khoa học người Áo, Mach, là một đại biểu nổi tiếng.
Thuyết
công cụ và thuyết thực chứng chỉ quan tâm đến những
hiện tượng có thể quan sát được, không chủ trương
đi tìm “tự tính” của sự vật nên có nhiều điểm
tương đồng. Thậm chí có nhiều người sử dụng lẫn
lộn hai từ này. Hiện nay, nhiều người xem là thuyết
thực chứng đã được thuyết công cụ thay chỗ khi nói
về một chủ trương nhất định trong ngành vật lý.
Chủ trương đó là không quan tâm đền tự tính của thực
tại nữa, mà xem mọi lý thuyết và mô hình chỉ là
phương tiện của đầu óc nhằm lý giải hiện tượng.
Trong
thời đại hiện nay nhà vật lý được xem là xuất
sắc nhất là Stephen Hawking. Hawking cùng viết chung một
cuốn sách với một nhà vật lý nổi danh khác là
Roger Penrose. Trong tác phẩm nổi tiếng này, ông tranh luận
với đồng tác giả cuốn sách – và cũng là một
người bạn thân mến – về vật lý và thực tại.
Hawking nói: “... sự khác biệt giữa Roger và tôi hết
sức rõ ràng. Anh ta là một người theo phái Plato còn
tôi là một người theo quan niệm thực chứng. Anh ta lo
lắng cho con mèo Schrödinger ở trong một trạng thái lượng
tử, nơi đó nó nửa sống nửa chết. Thế nhưng điều
này không làm phiền tôi. Tôi không đòi hỏi một lý
thuyết phải ăn khớp với thực tại vì tôi không biết
thực tại là gì cả. Thực tại không phải là một mức
độ mà bạn có thể thử nghiệm với que thử bằng
giấy. Tất cả mọi thứ mà tôi quan tâm là lý thuyết
phải tiên đoán được kết quả của sự đo lường.
Thuyết lượng tử thực hiện được điều này rất
thành công...”.
Thế
nên, trong khung cảnh mới mẻ của vật lý hiện đại,
tư tưởng I.Kant – xem con người không thể nhận thức
được “sự vật tự nó” một cách khoa học, thế
giới chỉ là hiện tượng xuất hiện ra với con người
– trở lại với khoa học hiện đại như ánh sáng soi
đường. Tư tưởng của Kant ngày nay trở thành nền tảng
triết lý của chủ thuyết công cụ trong khoa học. Đó
là một quan niệm hết sức khiêm tốn cho rằng, con người
chúng ta chỉ nhận thức và lý giải được thế giới
hiện tượng đang trình hiện trước mắt ta. Còn tự
tính của thế giới đó là gì, tầm nhìn của con người
không thể vươn tới.
CÁI
BIẾT VÀ CÁI THẤY
Thái
độ “công cụ” trong khoa học xem mọi lý thuyết, khái
niệm vật lý đều là do tư tưởng của con người bày
ra để diễn đạt thiên nhiên, chúng không nhất thiết
phải là bản chất của thực tại. Chủ trương này mới
nghe qua có vẻ hiền lành và khiêm tốn nhưng thật ra
nó chứa đựng một nội dung rất sâu sắc và triệt
để.
Thật
ra, đứng sau thái độ công cụ có nhiều loại tư duy
khác nhau về triết học. Tất cả đều công nhận lý
thuyết và mô hình chỉ để lý giải hiện tượng chứ
không nói lên bản chất của hiện tượng. Thế nhưng
cũng có hai trường phái chính trong chủ thuyết công cụ,
“mềm dẻo” và “cứng rắn”.
Trường
phái thứ nhất cho rằng, tuy ta không nắm bắt được
tự tính của hiện tượng nhưng hiện tượng vẫn là
một thể khách quan. Trường phái thứ hai thấy rằng
hiện tượng cuối cùng đều chỉ là sự phản ánh
của tư duy con người, chứ không gì khác cả. Trong khuynh
hướng thứ hai, có nhiều nhà khoa học nghiêm túc đặt
câu hỏi, giữa giấc mộng và “thực tại” có cái
gì khác, cái gì giống. Nơi đây, câu trả lời là, cái
giống nhau giữa giấc mộng và thực tại là cả hai
đều có tác động lên con người. Còn cái khác nhau
là, giấc mộng thì chỉ có một người thấy, còn
“thực tại” thì nhiều người thấy. Thế thì phải
chăng cái được gọi là “khách quan” chỉ là cái được
nhiều người cùng thấy? Và câu hỏi quyết liệt tiếp
theo là phải chăng cái khách quan chẳng qua là một sự
“tưởng tượng tập thể”? Suy nghĩ này làm ta nhớ
tới khái niệm “cộng nghiệp” của Duy thức tông trong
Phật giáo.
Quan
niệm xem khách quan “là phản ánh của nhận thức”
nói trên tuy xa lạ với nền vật lý cổ điển nhưng
thật ra đã hiện diện từ lâu tại phương Tây. Đó
là quan điểm cho rằng thế giới mà con người nhận
thức được chỉ là hình ảnh của chính bản thân con
người. Henri Poincaré, một nhà toán học lớn của Pháp,
người được xem là nhà bác học “vạn năng” – xuất
sắc trong mọi ngành kho học và triết học – cuối cùng
của thế kỷ 20, một người thuộc phái công cụ, đã
ví chúng ta như những người tiền sử ngồi trong hang
động. Họ nhìn bóng hình mình do ánh sáng bên ngoài
chiếu lên vách hang và cho những hình bóng đó là “thế
giới khách quan”. Ẩn dụ của Poincaré đã quá rõ ràng
thế giới chỉ là tâm thức của con người đang phản
chiếu.
Đối
với quan niệm công cụ, câu hỏi của bản thể học “bản
thân thế giới là gì” không quan trọng, thậm chí vô
nghĩa. Poincaré cho rằng “một thực tại hoàn toàn độc
lập với tinh thần mà tinh thần lại nhận thức nó,
thấy nó hay cảm nó, nếu nó có thật, thì chúng ta
cũng không bao giờ tiếp cận được”.
Trong
nền vật lý hiện đại, khi con người bắt đầu cảm
nhậtn rằng, phải chăng thực tại là một thể tính
nằm “cao” hơn không gian ba chiều của chúng ta, phải
chăng thế giới mà ta cảm nhận chỉ là sự phản ánh
của thể tính đó trong không gian của loài người, quan
niệm công cụ trong khoa học dần dần được coi trọng.
Con người bắt đầu thấy rằng, khi nhìn thế giới
“bên ngoài”, ý thức đóng một vai trò quan trọng chứ
không hoàn toàn thụ động. Ta nhớ rằng, trong thời Trung
cổ, con mắt được xem như một chiếc hộp tí hon và
hoàn toàn thụ động, nó “in” hình ảnh của thế giới
bên ngoài lên thần kinh thị giác. Ngày nay hình ảnh về
con mắt đã khác hơn xưa.
Trong
khoảng thế kỷ 19, vai trò thụ động của con mắt đã
biến mất. Người ta sớm biết rằng, thế giới “thực
có” ở bên ngoài chỉ là nguyên tử, phân tử, hạt
và sóng; và chính con mắt là nhân tố cảm nhận màu
sắc và “làm nền” màu sắc. Tương tự như thế,
ý thức con người nói chung – và sản phẩm của ý
thức là các lý thuyết và mô hình vật lý nói riêng
– không phải là nơi thu nhận và tổng kết một cách
thụ động hình ảnh của “bên ngoài” mà là tác nhân
đưa đường dẫn lối cho ta “thấy” thế giới hiện
tượng. Cả các nhà vật lý duy thực cũng phải dần
dần thừa nhận vai trò tích cực của ý thức con người
trong các lý thuyết vật lý. Chính Einstein, nhà duy thực
kiên trì nhất của thế kỷ 20 đã chỉ cho Heisenberg –
lúc Heisenberg mới là một nhà khoa học trẻ và đại
diện cho quan niệm thực chứng, chỉ quan tâm đến những
gì “quan sát được” – rằng “chính lý thuyết là
yếu tố quyết định con người quan sát được những
gì trong thiên nhiên”. Nơi đây ta thấy tính biện chứng
hết sức đối xứng trong vật lý. Đó là lý thuyết
được xây dựng từ thông tin, kinh nghiệm, trị số đo
lường trong thiên nhiên; và ngược lại, lý thuyết lại
là yếu tố cho phép ta đo lường và xem xét những gì
của thiên nhiên. Cần nói thêm, bản thân các thiết bị
đo lường, nhất là trong ngành vật lý hạt, đều được
suy nghiệm và triển khai từ lý thuyết và mô hình cả.
Một
trong những vấn đề gây khủng hoảng trong nhận thức
luận của vật lý ngày nay là vai trò của ý thức con
người đối với thiên nhiên. Nó thụ động hay chủ động;
và nếu chủ động thì chủ động đến mức nào. Ý
thức chỉ là tác nhân tiếp nhận thôi hay nó tác động
lại lên thiên nhiên. Câu hỏi ngược lại, thế thì thiên
nhiên là gì, thiên nhiên “tự nó” là gì, sự vật
là có hay không có. Cuối cùng phạm trù “có-không” lại
hiện nguyên hình buộc cộng đồng vật lý phải trả lời.
Đây lại là luận đề mà con người nêu lên từ nhiều ngàn
năm trước, câu hỏi về “cài đầy và cái không”.
Thế
nhưng cái khác vói thời kỳ của Plato và Aristotle là
ngày nay người ta đã tìm đến với những đơn vị nhỏ nhất
của vật chất, của cái mà người ta cho là “có”. Và tại
đơn vị cơ bản nhất của cái “có”, tức là lĩnh vực
của thế giới hạ nguyên tử, người ta thấy vật chất dường
như vừa có vừa không. Vật chất có hai mặt, mặt sóng và
mặt hạt. Ngày nay sóng được hiểu là “khả năng” xuất
hiện của sự vật, còn hạt là sự vật đã xuất hiện thật,
khi sự vật bị con người quan sát. Đây là cốt tủy cách
diễn dịch cơ học lượng tử của trường phái Copenhage,
cách diễn dịch được thừa nhận nhất hiện nay.
Cách
diễn dịch này làm quan hệ “có-không” thêm phức tạp.
Như thế phải chăng “có” là do con người quan sát mới
có. Phải chăng khi không có cái tôi quan sát thì không có sự
vật? Điều này cũng hết sức vô lý, xem ra không thể chấp
nhận được. Con mèo của Schrödinger nếu không ai quan sát
nó thì phải chăng nó vừa sống vừa chết? Trước thế kỷ
20 không có nguyên tử lẫn electron vì chưa ai biết đến chúng?
Các
phạm trù “có, không”, “khách quan, chủ quan”, “vật
chất, ý thức”, “khả năng, hiện thực” ngày nay tụ hội
trong ngành vật lý một cách tinh tế, sâu sắc và gay gắt.
Chúng là những phạm trù triết học cơ bản nhất của con
người, chúng đã được sinh ra từ ngày con người biết suy
tư. Xưa nay, trả lời những câu hỏi xung quanh từng vấn đề
này tức là nêu lên hẳn cả một trường phái tư tưởng.
Với ngành vật lý, dần dần con người đã tiếp cận triết
học bằng cách nêu lên những phạm trù này, nhưng xuất phát
từ một tầm nhìn khác. Trong thời đại mới, triết học
và khoa học gần nhau tới mức chúng không còn có thể được
phân biệt. Song song, các phạm trù mới này cũng có nhưng nội
dung rõ nét hơn với những phát hiện quan trọng của vật
lý. Trong triết học những mặt mâu thuẫn nói ở trên tưởng
như chỉ là trò chơi của tư duy thuần túy. Nay, với cách
đặt vấn đề mới của vật lý, chúng trở thành phép nhận
thức cụ thể, cách xem xét vật chất đang vận động trước
mắt con người.
Ngoài
ngành vật lý với những phát hiện về những tính chất lạ
lùng của vật chất trong thế giới vi mô, con người còn đến
với những nhận thức mới trong ngành thể chất học. Đó
là một ngành khoa học mới mà đối tượng của nó là mối
liên hệ giữa thân và tâm, sự hình thành của cái thấy,
cảm xúc, nhận thức, tư duy. Ngành khoa học ngày nay đã trở
thành một lĩnh vực không thể không viết đến, khi tìm hiểu
về vật lý và triết học. Nó chính là cầu nối giữa một
bên là “vật chất”, bên kia là “tinh thần”, giữa khách
thể và chủ thể. Trong thời đại này người ta tìm thấy
vô số công trình, tài liệu… về ngành thể chất học và
hầu như không ai có được một tầm nhìn toàn thể, có tính
chất kết luận về đề tài này. Thế nhưng, nhìn chung, người
ta đi đến với sự nhất trí rằng, mối liên hệ giữa thân
và tâm là phức tạp hơn hẳn so với những gì người ta biết
đến trong những thế kỷ trước, chúng có một mối quan hệ
mật thiết và có tính chất “tương tác” lẫn nhau. Kết
luận quan trọng nhất là tâm không phải là một thể thụ
động, chò đợi vật chất tác động lên, mà nó “tương
tác” với vật chất để sinh ra mọi cái mà ta gọi là nhận
thức, cảm xúc, tư tưởng.
Cái
gì làm ta thấy ly sữa là ly sữa chứ không phải là một
thế giới như các vi sinh vật có thể thấy? “Ý niệm”
về ly sữa hẳn phải có khi ta thấy ly sữa. Thế nhưng ý
niệm đó có từ bao giờ, từ ngày ta còn là một trẻ sơ
sinh? Một khán giả không có “ý niệm” về lỗi việt vị
trong bóng đá sẽ không bao giờ “thấy” lỗi việt
vị. Thế thì phải chăng ý niệm có trước, cái thấy có
sau? Cái thấy do dâu mà có, nó đến từ “vật chất bên
ngoài” hay từ “ý niệm bên trong”? Ý niệm là một thế
giới khách quan thực có hay nó có tính chủ quan của mỗi
người? Và nếu nó là chủ quan thì ta là tiên nhiên có trước
hay sau khi con người sinh ra, do cha mẹ và môi trường giáo
dục? Nơi đây, ta gặp những quan niệm cổ điển nhất của
Plato và những phát hiện mới mẻ nhất trong khoa học.
Peter
Medawar, giáo sư y khoa lãnh giải Nobel y học năm 1960, nhắc
ta đừng quên rằng, “… những gì (con người) thấy mới
đầu không chuyển tải thông tin gì cả, mãi cho đến lúc
nó biết những gì nó chờ đợi sẽ thấy”. Con người biết
trước khi nó thấy, nó thấy những gì nó muốn thấy. Điều
này làm ta nhớ đến ý nghĩa những gì Einstein nói với Heisenberg:
“chính lý thuyết là yếu tố quyết định con người quan
sát được những gì trong thiên nhiên”. Niels Bohr cũng nói
điều tương tự khi phát biểu: “… Trên tất cả mọi thứ,
chúng ta phải nhớ và xem như một điều hiển nhiên rằng,
mọi kinh nghiệm mới mẻ hiện ra cho chúng ta trong khuôn khổ
của những quan niệm và củng những dạng nhận thức quen
thuộc”.
Thật
ra, nhận thức của Medawar không phải mới mẻ, cái mới chỉ
vì ông là một giáo sư y khoa, vốn được các nhà khoa học
trọng vọng hơn, nếu so với “người điên” Nietzsche. Triết
gia người Đức Nietzschem đã từng viết: “mọi thứ mà ta
ý thức được đều đã được thu xếp, giản lược, cho
vào khuôn khổ, được lý giải”.
Cái
biết nội tâm và thông tin từ ngoại cảnh tương tác với
nhau để sinh ra nhận thức, đó là kết luận xem ra được
thừa nhận nhất hiện nay trong khoa học. Thông tin ngoại
cảnh (như sóng hay hạt) đến với ta, chạm vào các giác
quan như mắt, tai. Các giác quan này tương tác với những
thông tin đó mà sinh ra màu sắc, âm thanh hay cảm xúc nóng
lạnh.
Thiết
bị đo lường của con người thật ra cũng thế. Có thể
chúng là nhiệt kế, thiết bị đo áp suất hay đo hiệu
điện thế nhưng tất cả chúng đều tương tác với
thông tin bên ngoài và tùy theo cấu trúc bên trong của
chúng mà sinh ra những con số hay dấu hiện nhất định.
Rồi con người đọc những con số và dấu hiệu đó
và lý giải theo cách mà con người hiểu biết về sự
vật. Thế nên những tương tác giữa con người và ngoại
cảnh cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, được xây
dựng trên nhiều quá trình “trao đổi” khác nhau. Trong
thế giới hạ nguyên tử, vấn đề lại càng rắc rối
hơn. Khi con người không thể tận mắt thấy được các
hạt vật chất tí hon, khi con người phải phụ thuộc
vào nhiều thiết bị mà bản thân của chúng cũng được
cấu tạo bởi nhiều tầng tương tác thì ta càng không
được quên rằng mọi nhận thức đều nhuộm tính chủ
quan của người nhận thức và của cấu trúc nội tại
của thiết bị đo lường.
Bởi
thế, nơi đây ta có thể lý giải một cách giản lược
về sự nghịch lý của sóng và hạt. Đó là ta phải
xem thực tại là một thể chẳng phải sóng chẳng phải
hạt và nó xuất hiện bằng cách tương tác với thiết
bị. Khi thiết bị chỉ có thể “thấy” sóng thì thực
tại xuất hiện với tính chất của sóng và ngược
lại.
Vài
trò chủ động của cái biết, của ý thức, của quan
sát viên khi nhận thức thế giới ngày nay đã được
khoa học thừa nhận. Kể cả thiết bị cũng thế, nó
được xem là sự tinh tế hóa của người nhận thức,
là cánh tay nối dài của quan sát viên.
Với
những phát hiện trên, ngành thể chất học đã đặt
lại vấn đề khách thể và chủ thể, một vấn đề
quan trọng nhất của triết học phương Tây và là then
chốt trong khoa học kể từ Descartes. Màu sắc, âm thanh,
nóng lạnh… vốn được xem là khách quan thì nay bị
đưa vào phạm trù chủ quan. Thế giới của chủ quan đang
mở rộng phạm vi của mình về hướng hiện tượng.
Đường phân cách giữa chủ thể và khách thể nay đã
được vẽ lại. Ngày nay người ta còn đang xem nguyên tử
và các hạt của chúng là khách thể. Liệu chúng là
khách thể tồn tại độc lập với con người, hay chúng
cũng thuộc chủ thể nốt; hay liệu chúng chỉ là sản
phẩm của đầu óc con người; hay tất cả thế giới
đều là hoạt động của tư duy. Tất cả những câu hỏi
này đều là những luận đề thú vị nhất, mà tại
đó triết học, vật lý, thể chất học, tâm lý học,
bản thể học… đều đang tụ hội.
Trong
vật lý hiện đại, con người vẫn tiếp tục nỗ lực
nghiên cứu và phát minh ở mọi lĩnh vực, thế nhưng,
người ta biết rằng, tình hình này đòi hỏi một sự
bừng tỉnh lớn lao trong vật lý, một cuộc cách mạng
về nhận thức. Chỉ một sự đảo lộn về tư duy mới
họa chăng có thể giải quyết một lúc những mâu thuẫn
nói trên.
THẾ
GIỚI ĐƯỢC XÂY DỰNG BẰNG Ý THỨC?
Một
trong những phát hiện lớn nhất và sinh ra nhiều suy
luận triết học nhất của nền vật lý hiện đại
là cơ học lượng tử. Nền cơ học này có một ý
nghĩa hết sức to lớn ở chỗ, nó tìm hiểu tính
chất của thế giới vật chất nội tại “cái nôi”
của vật chất, tức là nghiên cứu các phần tử cuối
cùng cấu tạo nên vật chất.
Tại
đó, người ta thấy vật chất không gì khác hơn là
một khoảng không bao la, trong đó có vài phần tử được
mệnh danh là “hat”. Kỳ lạ hơn nữa các “hạt” tí
hon trong khoảng không đó vừa có tính liên tục của sóng,
vừa có tính phi liên tục của hạt. Nhưng khó hiểu hơn
tất cả mọi thứ là vai trò của con người. Chỉ khi
nào con người tìm cách đo lường, quan sát các hạt
đó thì đối tượng mới tự “cụ thể hóa” bằng
những hạt hẳn hoi, còn nếu không có quan sát viên thì
sự vật tự nó là gì, đó là câu hỏi con người
không thể trả lời được. Câu hỏi này, mới nghe qua
thì ta có thể tưởng nó chỉ là một vấn đề phụ,
thế nhưng nó sớm dẫn đến phạm trù triết học lớn
nhất của loài người, đó là sự vật “có” hay
“không”. Và nếu “có” thì cái gì làm cho nó là
“có”.
Từ
khoảng 80 năm qua, các vấn đề của cơ học lương tử
đã sinh ra những luận giải triết học lớn trong giới
các nhà vật lý. Có thể nói một cách chắc chắn,
các nhà vật lý tầm cỡ của thế kỷ 20 đều là
việc với các phạm trù triết học then chốt nhất của
con người như tính liên tục và phi liên tục của vật
chất, tính ngẫu nhiên và tất yếu, tính khách quan
và chủ quan, vật chất và ý thức, mối quan hệ giữa
khả năng và hiện thực, thế giới có thực hay không
có thực... các vấn đề đó liên hệ với nhau rất
chặt chẽ và thu hút những bộ óc tinh mẫn nhất của
thời đại.
Ngày
nay ta có thể tìm thấy vô số sách báo, tài liệu
về các luận đề đó và hầu như không ai có thể
tìm đọc hết và phân loại chúng. Nếu ta có cố gắng
tìm hiểu những luận điểm triết học của ngành vật
lý hiện đại thì có lẽ điều nổi bật nhất là
chúng rất khác nhau, không để cho ta xếp loại trong những
trường phái có thể định nghĩa chính xác được.
Thế nên, một đặc tính nữa trong vật lý hiện đại
là nếu các khái niệm cổ điển được thống nhất
một cách bất ngờ, thì ý nghĩa triết học của nó
lại bị phân kỳ một cách không thể cứu vãn được.
Do đó người ta thường nói đến một cuộc khủng hoảng
trong nhận thức luận của vật lý học.
Dù
vậy, ta thử tìm một vài manh mối quan trọng nhất của
triết học và bản thể học của ngành vật lý hiện
đại. Dĩ nhiên ở đây ta phải chấp nhận sự khái lược
hóa tối đa để có thể đơn giản hóa vấn đề: Trong
các luận đề triết học nói trên thì dường như cốt
tủy hơn cả là mối quan hệ giữa ý thức và vật
chất. Làm sáng tỏ được mối quan hệ đó tức là
trả lời được một phần các vấn đề còn lại.
Thế nhưng trong vấn đề này thì ý kiến giữa các
nhà vật lý lại càng xa nhau một trời một vực.
Ý
kiến chính thống ngày nay của ngành vật lý là, thực
tại một thể khách quan, không phụ thuộc vào ý thức
con người. Tuy nhiên, có thể là con người không bao giờ
nắm bắt được thực tại đó, con người chỉ tiếp
cận được dần dần, ngày càng chính xác hơn. Vì
thể tư tưởng chính thống của vật lý có thể chấp
nhận triết học của Kant và Popper.
Một
loại tư tưởng khác coi trọng vai trò của ý thức hơn là
những suy tư của Wheeler, Wigner, Gribbin, R. Penrose… Giữa các
nhà vật lý này cũng có rất nhiều khác biệt trong tư tưởng
nhưng nói chung, họ xem thế giới mà chúng ta đang nhận thức
là sản phẩm của một sự tương tác qua lại giữa thế giới
vật chất và thế giới của ý thức. Cho nên thực tại mà
ta tưởng là khách quan thực chất là có sự “tham dự”
của ý thức mà ta không hề biết.
Một
tư tưởng khác, thừa nhận triệt để hơn nữa vai trò của
ý thức được đề xuất bởi H.Stapp, hiện nay là giáo sư
vật lý tại đại học Berkeley, Mỹ. Xuất phát từ bản thể
luận của Heisenberg về sóng và sự “sụp đổ” của sóng
để sinh ra hạt, Stapp phố hợp với tư tưởng của Whitehead
và Von Neuman để đề ra một quan niệm về vai trò của ý
thức trong sự hình thành thế giới. Theo ông, có một chất
liệu mà từ đó cả vật chất lẫn ý thức bắt nguồn. Vũ
trụ là một phương trình sóng khổng lồ của chất liệu
đó, phương trình đó diễn tả mọi khả năng xảy ra của
sự vật. Mỗi khi phương trình sóng bị sụp đổ là một
biến cố thực đã xảy ra. Mỗi lần, mỗi phương trình sóng
bị sụp đổ là mỗi lần nó ảnh hưởng đến toàn bộ cả
vũ trụ. Và kẻ làm cho phương trình sóng bị sụp đổ chính
là ý thức, là sự quan sát, nói chung là cái biết, là hoạt
động của ý thức. Mỗi người chúng ta là một “người
biết”, một kẻ có quyền làm phương trình sóng sụp đổ,
tức là kẻ chủ động gây nên một biến cố trong vũ trụ
và nó có ảnh hưởng lên toàn bộ thế giới. Theo Stapp, “tình
trạng của vũ trụ là một tập hợp khách quan của mọi cái
biết chủ quan”. Mỗi tác động là do chủ quan nhưng tập
hợp các tác động chủ quan đó là một trạng thái khách
quan. Cũng như mỗi người đi bầu cử có một phiếu, mỗi
sự lựa chọn là chủ quan nhưng tập hợp của tất cả cử
tri là một tình trạng khách quan.
Điểm
thiết yếu của quan niệm này của Stapp là, vũ trụ chính
là những gì ta biết về nó và ý thức con người là tác
nhân biến khả năng thành hiện thực, ý thức con người là
tác nhân biến khả năng thành hiện thực, ý thức là yếu
tố xây dựng nên thế giới. Thực tại vật lý là một
chuỗi những biến cố xếp lại với nhau, mà những biến
cổ lại do con người dùng ý thức để làm sụp đổ các
phương trình sóng của các khả năng. Và cứ mỡi biến cố
hình thành là cái biết của con người lại gia tăng. Và cứ
mỗi biến cố hình thành là cái biết của con người lại
gia tăng và cái biết đó trở lại quyết định biến cố
nào sẽ hình thành. Theo Stapp quá trình này diễn ra qua ba giai
đoạn:
-
Quá trình Schrödinger trình bày tất cả mọi khả năng có thể
xảy ra, chúng tuân thủ qui luật nhân quả, có tính chất quyết
định luận. Đó là phương trình của các xác suất.
-
Quá trình Heisenberg là gian đoạn mà con người – vì cần
hiểu biết – đặt thiên nhiên một câu hỏi. Khi câu hỏi
đó được đặt ta, thiên nhiên sẽ trả lời bằng một biến
cố do sự sụp đổ các phương trình Schrödinger. Qua đó con
người sẽ tác động để một biến cố xảy ra thực và
nhờ đó mà tạo tác thế giới.
-
Quá trình Dirac là giai đoạn trả lời của thiên nhiên, đó
là một câu trả lời có tính ngẫu nhiên, không tuân thủ
qui luật nhân quả. Một biến cố sẽ xảy ra nhưng không nhất
thiết theo đúng những gì con người muốn, do đó con người
chỉ có thể tạo tác thiên nhiên trong một mức độ nhất
định.
Quan
điểm của Stapp về thế giới chính là một dạng mới của
chủ thuyềt của Berkeley, thường được gọi là “duy tâm
chủ quan”. Đó là thế giới mà ta đang nhận thức không
phải là thế giới tự nó mà cái biết của ta về thế giới,
cái biết đang hiện trước mắt ta. Stapp còn cho rằng mỗi
người đều tác động lên thế giới chung đó bằng cái biết
của mình, một người nhận thức sẽ tác động lên nhận
thức của tất cả những người còn lại.
Thế
nhưng Stapp còn đi xa hơn Berkeley một mức, ông cho rằng ý
thức con người là động cơ làm thế giới chuyển động
từ trạng thái này qua trạng thái khác, nó chính là tác nhân
biến khả năng thành hiện thực. Theo Stapp, thế giới (mà
ta đang nhận thức) không phải được xây dựng bằng những
hạt vật chất độc lập với con gười mà bằng một “cấu
trúc mang nhận thức”. Stapp dựa vào quan niệm của William
Jame để cho rằng “nhận thức” là một quá trình đang vận
động, như một “tấm lưới được buộc chặt, đan kết
bới tư duy và ý nhiệm, chúng đẩy lẫn nhau như những con
cờ đô-mi-nô”. Và Stapp đủ táo bạo để quả quyết rằng
“những qui luật của sự đan kết đó chính là những qui
luật lượng tử; và nói một cách chính xác, chúng chính là
qui luật toán học phát biểu cái biết của chúng ta đan kết
với nhau như thế nào”.
Cả
Jame lẫn Stapp đều có một thái độ rất mới về nhận thức
luận, họ cho rằng, sự vận động tương tự như những con
cờ đô-mi-nô đẩy lẫn nhau, cái đã xảy ra đẩy cái đang
xảy ra, cái đang xảy ra đẩy cái sẽ xảy ra. Có sự vận
động nhưng không có người nằm sau sự vận động, có sự
nhận thức nhưng không có người nhận thức. Nhận thức luận
này rất gần với thuyết vô ngã của đạo Phật mà ta sẽ
nói đến sau. Quan niệm của Stapp, cho ý thức là nguồn gốc
của thế giới và tính vô ngã nói trên làm người ta liên
tưởng đến triết học Phật giáo. Điều thú vị là Stapp
lại là một giáo sư ngành vật lý đương thời.
Quan
niệm triết học của Stapp hiện nay không được nhiều người
trong cộng đồng vật lý thừa nhận, mặc dù thật ra nó chính
là cách lý giải về cơ học lượng tử của trường phái
Copenhagen được đẩy tới mức cuối cùng.
Gribbin,
Penrose cũng như Stapp đều là những nhà vật lý xuất sắc
của thời đại chúng ta và đều đến với những kết luận
khá kỳ lạ vế vai trò của ý thức trong vũ trụ. Nó làm
nhiều người có cảm giác nhiều nhà vật lý trở lại với
thuyết duy ý niệm của Plato hay với chủ thuyết duy tâm. Những
vấn đề này làm cộng đồng vật lý rất khó chịu, họ
cho rằng chúng sẽ đưa vật lý vào con đường của tôn giáo,
của mê tín. Họ cần có một thực tại khách quan để tự
khẳng định mình, tự tách mình ra khỏi chiếc nôi thần bí
của tôn giáo. Nhưng ngược lại, nếu nhất định đòi hỏi
một “thực tại khách quan”, người ta hầu như bị buộc
phải chấp nhận thuyết “đa thế giới”. Thuyết này lại
càng khó tin hơn nữa. Trong mọi trường hợp, cái gọi là
“thực tại” ngày càng mờ nhạt và không thể định nghĩa.
Ngày
nay nền vật lý đã tới một điểm là, nếu không có một
sự bừng tỉnh lớn lao của tư duy thì dường như những kết
qủa thực nghiệm không thể lý giải được. Heisenberg, Penrose,
Stapp hay Everett, Feynman, Gell-Man, Hawking, Weinberg cũng như nhiều
nhà khoa học trong tương lai đều cố gắng nêu những mô hình,
chúng phải ăn khớp càng nhiều càng tốt các kết quả thực
nghiệm, nhưng đồng thời chúng dựa trên một số giả định
mới nghe qua có thể rất xa lạ. Thật ra đó là phương pháp
khoa học mà ngày xưa Max Plank, Einstein hay Dirac cũng đã làm.
Lịch sử ngành vật lý đã luôn luôn minh chứng rằng, một
sự bừng tỉnh của tư duy thường được khởi đầu bằng
sự từ bỏ một định kiến triết học.
Sau
khoảng 25 thế kỷ, khoa học vật lý đứng trước một tình
hình rất lạ thường. Xuất phát từ một giả định có tính
bản thể học – thế giới hiện tượng là một thực tại
độc lập với ý thức của con người – nhà vật lý đã
đi một khoảng thời gian rất dài, với hàng trăm thế hệ
các nhà khoa học xuất chúng, phát hiện những bí ẩn hết
sức bất ngờ của thiên nhiên, đến với những thành tựu
về khoa học và kỹ thuật vĩ đại. Trong thời đại ngày
nay, khi người ta có cảm giác nền vật lý sắp tiến đến
tri kiến chung cuộc về thế giới, ta lại đứng trước một
câu hỏi về bản thể học. Đó là thế giới hiện tượng
trước mắt ta thực chất nó là gì, nó liên hệ thế nào
với ý thức con người. Tại điểm xuất phát và cũng là
điểm “kết thúc” này thì những luận đề của vật lý
chính là triết học. Và chúng ta thừa biết triết học thì
không thể có kết thúc.
Tại
tâm điểm của khoa học và triết học thì cái thấy, cái
biết có khi phải dựa trên cái tin. Thế nên nơi đây những
luận đề của tôn giáo về bản thể học trở nên hấp dẫn
đối với nhà vật lý. Ngày nay nhiều nhà vật lý đã nhất
trí với nhiều nhà triết học là sự vật tự nó không thể
được tiếp cận bằng tư duy, bằng lý tính thuần túy. Người
ta tự hỏi “trực giác trí tuệ” của Kant là gì, nếu lý
tính bó tay chịu thua. Đó cũng chính là quan niệm “bất khả
tư nghì” cảu đạo học phương Đông, mặc dù các nhà đạo
học đến với thực tại vằng một con đường hoàn toàn
khác.
Cả
hai đều nói về một thực tại nằm ngoài khả năng nắm
bắt của đầu óc luận lý. Phải chăng hai bên có những điểm
chung?
Vì
những lẽ đó, phần sau của cuốn sách này sẽ đi vào một
số luận đề về thực tại, do triết học Phật giáo nêu
lên. Hiển nhiên, triết học Phật giáo cũng lại là một hệ
thống vô cùng bao quát và phức tạp, không mấy ai đủ sức
để trình bày một cách đầy đủ và chính xác. Thế nhưng,
nhằm tập trung vào nhận thức luận do vật lý hiện đại
đề ra, ta có thề thử đi tìm vài luận điểm chung.
WP:
Hoàng Ngọc Anh