Phần
thứ tư
NỀN
VẬT LÝ HIỆN ĐẠI
MAX
PLANCK, CON NGƯỜI NGAY THẲNG
TẤT
CẢ ĐỀU TƯƠNG ĐỐI
CÁC
MÔ HÌNH CỦA NGUYÊN TỬ
NHỮNG
BƯỚC NHẢY LƯỢNG TỬ
DIRAC
VÀ ĐỐI VẬT CHẤT
NHỮNG
“HẠT CƠ BẢN” CỦA VẬT CHẤT
LỰC
LÀ CÁC HẠT ĐANG “TƯƠNG TÁC”
CÁC
PHÁT TRIỂN MỚI
MAX
PLANCK, CON NGƯỜI NGAY THẲNG
Khoảng
giữa thế kỷ thứ 19, nước Đức sản sinh một nhà khoa học
lớn với một số phận cuối đời bi thảm. Đó là Max Planck.
Thuộc
dòng dõi của một gia đình khoa bảng ngành luật và thần
học, Max Planck sớm trở thành một học sinh xuất sắc. Trước
ngưỡng cửa đại học, ông phân vân không biết nên học
ngành vật lý hay không. Một vị giáo sư thời đó là Philipp
Von Jolly khuyên Max Planck không nên theo học vật lý vì “phần
lớn mọi kiến thức trong vật lý đã được phát hiện cả
rồi”.
Quả
thật, châu Âu của cuối thế kỷ thứ 19 rơi vào một quan
niệm bảo thủ. Sau nhiều thế kỷ đầy những phát kiến
to lớn trong mọi lĩnh vực, người ta cho rằng đã hết những
cái mới và tìm cách bảo tồn những gì đang có. Thú vị
thay, trong ngành vật lý, đó cũng là thời kỳ mà nguyên lý
bảo toàn năng lượng đã được khám phá và được xem là
đỉnh cao của trí tuệ.
Không
nghe lời khuyên của Von Jolly, Max Planck cứ ghi tên theo học
ngành vật lý. Năm 21 tuổi, ông hoàn thành luận án tiến sĩ
vật lý với một đề tài thuộc phạm vi nhiệt động học.
Ta
cần biết rằng, nhiệt động học là một phạm vi hết sức
hấp dẫn cảu ngành vật lý. Chỉ cần ngẫm nghĩ một chút,
ta sẽ khám phá cả một thế giới hiện tượng nằm sau bức
màn của nhiệt. Toàn bộ vũ trụ của chúng ta được xây
dựng trên cơ sở nhiệt lượng. Thế nhưng, một thực tế
của khoa học vật lý là người ta chỉ tìm đến với ngành
nhiệt sau khi đã nghiên cứu gần như cạn kiệt ngành cơ học.
Thậm chí người ta tìm cách lý giải nhiệt học bằng những
quan niệm của cơ học theo thói quen và định kiến của trào
lưu khoa học và tiết học trong thế kỷ 19. Và bất ngờ thay,
ngành nhiệt đã mở đường cho một hướng phát triển hoàn
toàn mới của cơ học trong thế kỷ 20 mà chương này sẽ
nói đến.
Trong
thế kỷ thứ 19, ba nhà khoa học Robert Julius Mayer, Jame Prescott
Joule và Hermann Helholtz đã chứng minh nhiệt là một dạng của
năng lượng và không thể bị hủy hoại, nhiệt chỉ có thể
được chuyển hóa thành các dạng năng lượng khác. Định
luật này được gọi là “nguyên lý bảo toàn năng lượng”
và chính là “Định luật thứ nhất” trong ngành nhiệt động
học. Nó là một trong những phát hiện quan trọng nhất của
loài người và sẽ còn chi phối mọi lĩnh vực khác của vật
lý. Thế nhưng trong thế kỷ thứ 19, khi còn quá nghiêng về
vai trò của cơ học, người ta thừa nhận nó là “tương
thích với nền vật lý cơ giới”, nó hỗ trợ cho quan niệm
rằng lực và chất liệu là yếu tố điều hành thế giới.
Sau
“định luật thứ nhất” này, người ta phát hiện thêm
một “định luật thứ hai” và trong đó, Max Planck có những
đóng góp quan trọng. Trước đó, nhà khoa học người Đức
Rodolf Clausius cũn thừa nhận năng lượng không thể bị hủy
hoại làm chỉ có thể bị chuyển hóa. Thế nhưng Clausius nhận
ra một khía cạnh mới, đó là nếu năng lượng cơ học có
thể chuyển hết ra năng lượng nhiệt được thì ngược lại,
năng lượng nhiệt không thể chuyển hết ra năng lượng cơ
học. Trong thực tế nhiệt năng luôn luôn bị “rơi rớt”,
dù tổng trị số của năng lượng được bảo toàn trên lý
thuyết.
Clausius
tổng quát hóa nhận thức của mình và tiến tới định luật
thứ hai, đó là phát hiện cho rằng nhiệt luôn luôn có khuynh
hướng đi từ một vật nóng đến một vật lạnh hơn, nhiệt
luôn luôn lan tỏa trong không gian, nhiệt luôn luôn giảm thiểu
mức độ “tập trung” của nó, tính chất “tán loạn”
của nhiệt luôn luôn tăng trong một hệ thống khép kín. Nếu
ta gọi mức độ “tán loạn” (ít tập trung) là entropy thì
entropy luôn luôn bằng hay tăng trong một hệ thống. Đó là
định luật thứ hai của nhiệt học.
Định
luật thứ hai cho rằng sự vật luôn luôn vận động hướng
đến sự phân tán, điều này mới nghe qua thật ngớ ngẩn.
Dường như nó không hề ngang tầm với định luật thứ
nhất, nguyên lý bảo toàn năng lượng. Đinh luật thứ hai
này xem ra nói về những điều rấ hiển nhiên mà ai cũng biết.
Thí dụ một cục than hồng tỏa hơi nóng xung quanh và càng
lúc càng nguội đi chứ cục than không bao giờ “hút” hơi
nóng xung quanh về cho mình. Thí dụ hai chất lỏng hòa tan vào
nhau sẽ càng lúc càng đồng thể với nhau để trở thành
một, không thể tự nhiên mà tách rời khỏi nhau. Thí dụ
một bàn viết hay một căn phòng mới đầu có thứ tự ngăn
nắp thì càng ngày càng mất thứ tự nếu không có ai để
mắt tới. Đó là một điều rất tự nhiên mà nói với ngôn
ngữ vật lý thì quả là tính chất “tán loạn” ngày càng
tăng trong tự nhiên.
Max
Planck tập trung nghiên cứu định luật thứ hai của ngành
nhiệt động học. ông chia mọi quá trình vật lý thành hai
thể loại, một là loại đảo ngược được, hai là loại
không thể đảo ngược được. Max Planck cho rằng entropy còn
là một đại lượng để mô tả một quá trình vật lý. Ông
thấy rằng entropy của một quá trình không thể đảo ngược
thì luôn luôn tăng. Ông tìm trong các quá trình đó những mối
liên hệ về sự cân bằng và phát hiện những sự cân bằng
về nhiệt và hóa.
Trong
những năm cuối thế kỷ 19, những công trình của Max Planck
vẫn không được các nhà vật lý quan tâm. Họ thấy khái
niệm entropy là một “bóng ma mơ hồ”. Bị qui định quá
nặng nề bởi những khái niệm cơ học cụ thể, cộng đồng
vật lý vẫn còn xa lạ với những nội dung trừu tượng.
Ngày
nay chúng ta biết rằng, entropy là khái niệm cơ bản của các
quá trình không thể đảo ngược và chính nó nói lên tính
chất của thời gian. Trong nền cơ học cổ điển, thời gian
chỉ là một biến số với hai chiều rõ rệt và đối xứng,
quá khứ và tương lai. “Biết các thông số của quá khứ
thì biết diễn biến của tươnglai. Biết các thông số của
hiện tại thì ta có thể suy ra tình trạng của quá khứ. Thế
nhưng, với entropy, ta biết rõ có những quá trình không thể
đảo ngược, ta biết rõ “thời gian chỉ có một chiều và
khuynh hướng của thời gian là gì”.
Xuất
phát từ những công trình về trao đổi nhiệt, năm 1900 Max
Planck phát hiện một định luật vô cùng quan trọng để người
đời sau tôn ông là cha đẻ của ngành cơ học lượng tử.
Trong
những năm cuối của thế kỷ thứ 19, nhiều nhà khoa học
đi tìm công thức của bức xạ nhiệt từ một vật thể nhằm
mục đích so sánh với các kết quả đo lường. Mới đầu,
nhà khoa học Wien, đồng nghiệp của Planck nêu lên một lý
thuyết về sự phát tán của nhiệt và được Planck cụ thể
hóa trong một công thức. Về sau người ta thấy rằng công
thức đó lại không phù hợp với những dạng bức xạ có
độ dài sóng lớn, để rồi chúng được thể hiện trong
lý thuyết của Lord Rayleigh, một nhà vật lý người Anh. Công
trình vĩ đại của Max Planck là nghiệm ra được một lý thuyết
mới, nó bao trùm hai công trình kia, nó xem lý thuyết của Wein
lẫn của Lord Rayleigh đều là các dạng đặc biệt của bức
xạ nhiệt cả. Thế nhưng, nhằm nêu lên lý thuyết của mình,
Max Planck phải từ bỏ một định kiến bất di bất dịch
trong ngành vật lý. Định kiến đó cho rằng sự thay đổi
năng lượng – mà cụ thể của nhiệt năng – phải diễn
ra một cách liên tục, phi gián đoạn.
Từ
xưa đến nay người ta chỉ nghĩ, nhiệt năng phát ra từ một
vật có tính chất liên tục, nó phải như một nguồn nước
chảy thành dòng. Với quan niệm mới của Planck thì nước
không chảy thành dòng nữa mà là từng “giọt”, từng các
đơn vị tuy nhỏ nhưng có được định lượng cụ thể. Quan
niệm cũ đi từ một giả định rất sâu xa, đó là sự vận
hành trong thiên nhiên có tính liên tục, thiên nhiên không “nhảy
cóc”. Giả định này thật ra rất hữu lý, nó bắt nguồn
từ sự quan sát mọi vận hành, thí dụ của thiên thể, của
sự tăng trưởng trong giới động vật cũng như thực vật.
Thế nhưng trong lĩnh vực cực nhỏ của thiên nhiên, Planck
là người đầu tiên phát hiện và nêu lên tính phi liên tục
của sự vận động.
Để
phù hợp với tất cả các kết quả thực nghiệm, Max Planck
đưa ra một giả định, đó là năng lượng phát ra không hề
liên tục mà ở dạng từng “bó”, từng hạt có trị số
tuy nhỏ nhưng hữu hạn, từng lượng tử. Những bó năng lượng
đó chỉ tùy thuộc vào tần số của bức xạ và một hằng
số h mà ta gọi là hằng số Planck.
Tháng
12 năm 1900, khi Max Planck nêu lên lý thuyết này, cả ông lẫn
tất cả mọi người đều không ngờ khái niệm “lượng
tử” lại mở đường cho một nền cơ học mới. Mãi đến
năm năm sau, Einstein mới đề nghị, khái niệm lượng tử
không chỉ giới hạn trong bức xạ nhiệt mà còn được áp
dụng trong mọi dạng của sóng bức xạ, kể cả ánh sáng,
ánh sáng cũng có lượng tử. Từ những “lượng tử ánh
sáng” hay quang tử mà sinh ra khái niệm photon của Einstein
để lý giải nhiều hiện tượng của điện. Thế là Einstein
khai sinh lại quan niệm hạt ánh sáng của Newton. Và quan trọng
nhất là về sau, mô hình cấu tạo nguyên tử của Bohr cũng
sử dụng khái niệm lượng tử đó để khái sinh nền cơ
học lượng tử mà ngày nay vẫn còn trên đà phát triển.
Từ
khái niệm lượng tử trong bức xạ nhiệt đến quang tử photon
của Einstein và đến cơ học lượng tử, hằng số Planck đóng
một vai trò trung tâm. Thế nhưng nếu trong lĩnh vực bức xạ
nhiệt, phát minh của Planck chỉ giải quyết một hiện tượng
vật lý, thì trong cơ học lượng tử, nó đã mở đầu một
kỷ nguyên mới về nhận thức luận trong thế giới tự nhiên.
Như
ta sẽ biết, với cơ học lượng tử, tính tất yếu của
nền vật lý cổ điển đã được thay bằng tính xác suất,
nguyên lý quyết định luận không còn rõ nét. Với nền vật
lý lượng tử, loài người đã đặt lại vấn đề, phải
chăng tương lai là kết quả “tất yếu” của quá khứ hay
nó ngầm chứa một yếu tố của sự ngẫu nhiên thì phải
chăng sự ngẫu nhiên là cơ bản trong thiên nhiên hay nó chỉ
là sự biểu hiện của một cái gì mà con người chưa biết
tới.
Đây
là bước ngoặt về mặt triết học tự nhiên quan trọng nhất
kể từ ngày Galileo khai sinh nền vật lý thực nghiệm trong
thế kỷ thứ 17. Là cha đẻ của cơ học lượng tử nhưng
Max Planck lại là người chống trả quyết liệt nền triết
học được khai sinh từ nền vật lý đó. Đó là bi kịch
của đời ông hay hậu thế lại sẽ chứng minh là ông có
lý? Ông là người tin nơi quyết định luận, một qui luật
nhân quả rốt ráo trong thiên nhiên, tin nơi một thế giới
có thực độc lập với nhận thức của con người.
Trong
các cuộc tranh cãi đó, dù có khi bất đồng ý kiến với
ông, tất cả đồng nghiệp cũng như học trò của ông đều
thừa nhận Max Planck là một con người trung thực khiêm tốn,
một người đầy lòng hảo tâm trung hậu mà cách tư duy của
ông phải làm ta quí trọng. Trong phần chấm dứt bài Die Kausalität
der Natur (Tính nhân quả trong thiên nhiên), ông nói: “Hiển
nhiên là tính nhân quả trong thiên hiên vừa không được minh
chứng vừa không thể bị phủ nhận; thế nhưng nó là một
nguyên lý để phát hiện, một bảng chỉ đường, và theo
tôi là bảng chỉ đường quí báu nhất mà ta có thể thấy
cái đúng trong thiên hình vạn trạng của các biến cố và
nêu lên chiều hướng mà các công trình nghiên cứu khoa học
phải đi theo mới đạt được kết quả. Cũng như luật nhân
quả đã cắm rễ trong tâm hồn mới lớn của trẻ con, để
cho chúng liên tục đặt câu hỏi “tại sao” thì luật đó
cũng đi theo nhà nghiên cứu suốt cả đời và không ngừng
nêu lên vấn đề mới. Vì khoa học không phải là sự yên
nghỉ trong những tri kiến chắc chắn đã đạt được mà
là sự lao động không phải là sự phát triển tiến lên,
hướng về một mục đích, về một cái mà ta đoán biết
nhưng không bao giờ hoàn toàn nắm vững được”.
Đoạn
cuối đời của Max Planck mới thật sự là một bi kịch. Con
trai đầu của ông tử trận trong Thế chiến Thứ nhất. Sau
đó hai nàng con gái sinh đôi của ông sớm chết trên giường
bệnh. Đầu năm 1945 con trai thứ của ông bị xử tử hình
vì chống lại nhà độc tài Hitler. Ông đau đớn gần như
muốn chết. Trong Thế chiến Thứ hai, nhà cửa và tài liệu
khoa học của ông bị phá hủy hoàn toàn. Max Planck và gia đình
từng phải cắm lều ngủ tạm trong rừng. Ông biết thư cầu
viện với nhà vật lý người Đức Lise Meitner, người học
trò nữ xuất sắc nhất của ông và ngày nay người ta còn
giữa lại thư cám ơn của vợ ông: “Cô hãy tin rằng, nếu
không có cô cứu viện thì ông (Max Planck) đã không qua nổi
mùa đông vừa rồi”.
Hai
năm sau khi đứa con trai của ông bị hành hình, Max Planck cũng
từ giã thế giới, một cõi mà ông luôn luôn cho rằng có
một trật tự siêu việt trên ý thức của con người mà tự
tính của nó chúng ta không bao giờ nắm bắt được, nhiều
nhất là chỉ cảm nhận được nó. Max Planck không bao giờ
giấu giếm mình là một người có tâm hồn hồi giáo sâu
sắc. Với tư cách của một nhà bác học luôn luôn trung thực
với những gì mình suy nghĩ, Max Planck để lại cho hậu thế
một nhân cách mà sau ông khó có người nào đạt đến.
TẤT
CẢ ĐỀU TƯƠNG ĐỐI
Năm
năm sau công trình to lớn của Max Planck, một nhà khoa học
người Đức gốc Do Thái công bố một loạt những thành quả
vĩ đại, mở đường cho nền vật lý hiện đại của thế
kỷ 20. Đó là Albert Einstein.
Einstein
sinh năm 1879, học trung học tại Munich (Đức) và là một học
sinh kém và lơ đãng, bị thầy chê là sẽ “không ra trò trống”
gì. Năm 1894, vì gia đình bị phá sản, Einstein ra khỏi trường
mà chẳng có bằng cấp gì trong tay. Chàng thanh niên Einstein
lúc 16 tuổi xin thi vào Viện Kỹ thuật tại Zürich (Thụy Sĩ).
Chỉ khá được môn toán, các môn khác đều kém, Einstein hỏng
thi, phải đợi năm sau mới được vào học. Khoảng năm 21
tuổi, sau khi bị từ chối một chân phụ tá trong đại học,
Einstein xin làm trong viện bản quyền kỹ thuật tại Bern (Thụy
Sĩ). Chính tại Bern, thiên tài Einstein bừng nở như một đóa
hoa tới kỳ. Chỉ trong vòng vài năm từ 1902 đến 1909, Einstein
viết 32 công trình khoa học, trong đó có ba phát minh lớn mà
nếu chỉ một phát minh trong số đó thôi cũng đã dưa ông
đi vào lịch sử của ngành vật lý.
Ba
thành tựu đó là lý thuyết chuyển động của các phân tử,
lý thuyết hạt của ánh sáng và thuyết tương đối. Với
thuyết chuyển động của phân tử, ông lý giải các chuyển
động có tính ngẫu nhiên trong lĩnh vực vi mô và có nhiều
cống hiến to lớn cho ngành cơ học xác suất. Trong phát hiện
thứ hai, Einstein thừa hưởng sáng tạo của Max Planck trong
khái niệm “bó năng lượng” để đưa ra hình dung về ánh
sáng gồm một chuỗi những hạt quang tử mà ta có thể tính
năng lượng của từng hạt. Với lý thuyết hạt ánh sáng
này, ngành vật lý có thể lý giải một loạt những hiện
tượng chưa ai hiểu được. Thế nên Einstein cũng là một
người tiên phong trong ngành cơ học lượng tử, tương tự
như Max Planck. Với phát minh này, ông đoạt giải Nobel năm
1921.
Nhưng
Einstein được xem là thiên tài vật lý số một của thế
kỷ 20 vì lẽ ông là người sáng tạo ra thuyết tương đối.
Xuất
phát từ một tính chất của vật lý thực nghiệm là ánh
sáng có vận tốc bất biến trong mọi chiều hướng, độc
lập với tình trạng di chuyển trong hệ qui chiếu của người
quan sát, Einstein đi tới tận cùng trong lý luận toán học
của mình. Khi đi đến mức chung cuộc của lý luận và khi
đứng trước thực tế là vận tốc ánh sáng là một hằng
số bất di bất dịch, Einstein buộc phải từ bỏ tính chất
tuyệt đối của không gian và thời gian. Không gian và thời
gian không hề có tính tiên thiên tuyệt đối nữa mà chúng
phụ thuộc vào tình trạng di chuyển của hạt vật chất,
chúng trộn lẫn với nhau vào trong một hệ qui chiếu bốn
chiều.
Hệ
quả này của thuyết tương đối mới nghe qua tưởng chừng
như có tính toán học trừu tượng nhưng nó lật đổ
hoàn toàn khái niệm thông thường về không gian và thời
gian của nền cơ học cổ điển. Hơn thế nữa, nó thách
thức tư duy của con người vốn luôn luôn thấy không gian
thời gian có tính tuyệt đối. Vì thế, không mấy ai
hiểu thuyết tương đối dù ta có thể chấp nhận hệ
quả toán học của nó.
Thuyết
tương đối do Einstein đề xuất năm 1905 – được gọi
là thuyết tương đối đặc biệt – tuy khó hiểu nhưng
lập tức được các nhà khoa học quan tâm. Nó lý giải
những hiện tượng trong thế giới nguyên tử với các
hạt có vận tốc cao, nó trả lời thắc mắc tại sao
vật chất tăng khối lượng khi di chuyển. Einstein còn
thiết lập một quan hệ bất ngờ và hết sức đơn
giản giữa khối lượng và năng lượng (E=mc2). Với công
thức này ta có thể quan niệm khối lượng là một
dạng của năng lượng, khối lượng là năng lượng “đọng”
lại. Mối quan hệ này sinh ravô số những suy luận triết
học, mở đường cho một công trình đại thống nhất
của các quan niệm khác nhau về vật lý. Với công thức
này người ta lập tức nêu câu hỏi, thế thì “năng
lượng” là gì.
Nếu
năng lượng cũng là nguồn gốc của ánh sáng và khối
lượng cũng là một dạng của năng lượng thì vật
chất cũng có “bà con” với ánh sáng. Thế thì quan
niệm của vị giám mục thời trung cổ Grosseteste, cho rằng
vật chất là “ánh sáng đọng lại”có gì là sai?
Nếu hiểu năng lượng là “Thượng đế” thì cả
thần học Thiên chúa giáo lẫn các quan niệm về vũ
trụ của phương Đông xem ra cũng có thể có lý. Nếu
thay từ “Thượng đế” bằng “năng lượng” trong
những phát biểu của Thomas Aquinas thì quan niệm của nhà
thần học Thiên chúa giáo này không cách quá xa với
hình dung của nhà vật lý.
Mười
năm sau Thuyết tương đối đặc biệt, Einstein công bố Thuyết
tương đối tổng quát, trong đó ông đưa lực trọng trường
vào lý thuyết của mình. Lực trọng trường là một trong
các lực cơ bản trong vũ trụ mà chính Newton cũng không thể
giải thích nguồn gốc. Với thuyết tương đối tổng quát,
Einstein minh chứng không gian và thời gian không những tương
đối thôi mà chúng còn bị khối lượng gây ảnh hưởng,
chúng bị “cong” khi có sự hiện diện của khối lượng.
Khối lượng là tác nhân tạo nên hình thái của không gian
và thời gian xung quanh mình. Nói một cách tổng quát, không
gian và thời gian là “thuộc tính” của khối lượng, của
vật chất.
Công
trình vĩ đại của Einstein ảnh hưởng đến quan niệm về
thế giới vi mô của vật lý nguyên tử và hạ nguyên tử.
Đồng thời nó cũng góp phần giải thích mô hình vĩ mô của
vũ trụ, của các thiên hà, của sự hình thành thế giới.
Hơn thế nữa, công trình của Einstein đặt lại toàn bộ vấn
đề triết học về tự nhiên mà quan trọng nhất là tự tính
của không gian, của thời gian, của vật chất, của lực và
của năng lượng. Vũ trụ và giới hạn của vũ trụ, người
sáng tạo ra vũ trụ và tính chất vô tận của Thượng đế.
Những vấn đề thuộc về nhận thức luận được nêu lên
từ thời Hy Lạp, kéo dài đến ngày nay với các triết gia
như Descartes, Leibniz, Kant… nay phải được phát biểu lại
hoàn toàn mới.
Thuyết
tương đối của Einstein là lý thuyết hoàn chỉnh nhất kể
từ Newton, nó cho thấy hạn chế của nền vật lý cổ điển.
Nói chính xác hơn, thuyết tương đối bao trùm nền cơ học
cổ điển, nó xem nền cơ học của Newton chỉ là một dạng
đặc biệt của chính mình, khi vận tốc của vật thể không
đáng kể so với vận tốc của ánh sáng. Trong khuôn khổ của
sự thống nhất cao độ này, thuyết tương đối chứng minh
khối lượng và năng lượng chỉ là một, không gian và trọng
trường chỉ là một, thời gian và không gain nằm chung trong
một hệ qui chiếu duy nhất.
Nền
cơ học Newton có bốn yếu tố cơ bản: vật thể, lực tác
dụng, không gian và thời gian. Với Einstein, bốn yếu tố đó
được thống nhất chỉ còn hai yếu tố: vật thể và trường
không gian. Thuyết tương đối đặc biệt có thể được xem
là sự mô tả mối quan hệ qua lại giữa vật thể và không
gian, được biểu thị bằng một loại thời gian riêng tư.
Thuyết tương đối tổng quát lại thống nhất vật chất
và không gian với nhau, để cuối cùng chỉ còn “vật chất”.
Có
người hỏi Einstein, ông đã phát hiện được những gì, điều
gì là đặc biệt quan trọng nơi những phát minh của ông và
yêu cầu ông trả lời chỉ bằng một câu duy nhất. Einstein
trả lời: “Xưa kia người ta nghĩ rằng, nếu mọi vật trên
đời biến mất thì sẽ còn lại thời gian và không gian; thế
nhưng theo thuyết tương đối thì thời gian và không gian cũng
biến mất theo với mọi vật”.
Câu
trả lời trên của Einstein hẳn phải là cốt tủy để ta
suy tư về những vấn đề triết học do Thuyết tương đối
đề ra. Những vấn đề triết học này đã lập tức xuất
hiện cùng một lúc với thuyết tương đối đặc biệt trong
đầu thế kỷ thứ 20 và một trăm năm sau, ngày nay chúng vẫn
còn là đề tài thảo luận của các hội nghị khoa học và
triết học. Hiển nhiên, các luận đề triết học do thuyết
tương đối nêu lên và giải đáp là vô cùng sâu xa; nhưng
ở đây có lẽ điều then chốt nhất là chúng cho thấy vật
thể là chủ đạo, mọi hiện tượng khác như không gian, thời
gian, lực...đều là dạng xuất hiện, là thuộc tính của
vật chất cả.
Nói
đến vật thể, thói quen thúc ta nghĩ đến các vật có khối
lượng nằm trong không gian trống rỗng. Trong nền vật lý
hiện đại, ta cần quan niệm vật thể luôn luôn tạo nên
một trường xung quanh mình. Chính Einstein cũng coi trường là
cơ bản, coi hạt vật chất là “điểm kỳ dị” của trường.
Vật chất là yếu tố tạo nên đặc tính của không gian xung
quanh và trường không gain xung quanh lại tác động lên đường
đi của vật chất. Vì thế giữa vật thể và trường không
gian có một mối liên hệ phi tuyến tính mà cơ học Newton
không hề có.
Bởi
thế ta không thể nói hai yếu tố cơ bản vật chất và trường
không gian là độc lập với nhau mà chúng liên hệ với nhau
trong một thể chung mà ta gọi là vật chất. Thế thì, vật
chất là gì?
Thế
kỷ thứ 20 là thời đại mà nền vật lý vừa phát triển
cao độ, vừa thống nhất cao độ. Dường như mọi nẻo đường
đều qui về một mối, đó là tìm hiểu tự tính của vật
chất, cấu trúc của nó và cách vận hành của các phần tử
của vật chất (nếu có). Trong bước đường đó Max Planck
và sau đó là Einstein đã đóng một vai trò tuyệt đối quan
trọng. Sau hai nhà khoa học lớn này là một thế hệ của
những nhà vật lý tài ba trong ngành vật lý lượng tử, vật
lý nguyên tử và hạ nguyên tử. Càng ngày họ càng đi sâu
vào những ngõ ngách bí ẩn và vi tế nhất của vật chất.
Trong cuối thế kỷ 20, người ta hy vọng chỉ còn vài chục
năm nữa thôi là vén mở được bức màn che bộ mặt thật
của vật chất. Thế nhưng, bất ngờ thay, càng đi sâu vào
thế giới đó, người ta chỉ thấy vật chất ngày càng mâu
thuẫn và khó hiểu.
Trong
cuộc phiêu lưu tìm đường nắm bắt vật chất, các vấn
đề triết học về tự nhiên luôn luôn được đặt ra. Một
trong những luận điểm đó là vấn đề về tính tất yếu
và ngẫu nhiên trong tự nhiên, nó đã được bắt đầu với
công trình của Max Planck. Và cũng như Max Planck, thiên tài Einstein
đứng về một phía với quan điểm cho rằng sự vận hành
của thế giới tuân thủ nghiêm ngặt luật nhân quả, không
có chỗ cho sự ngẫu nhiên.
Thế
hệ học trò của Einstein có thể không đồng tình với Einstein
trong những nhận thức triết học nói trên nhưng tất cả
đều thừa nhận ông là thiên tài vật lý của thế kỷ 20,
vị trí của ông là ngang hàng hay hơn cả những “người
khổng lồ” Galileo, Newton trong lịch sử khoa học.
CÁC
MÔ HÌNH CỦA NGUYÊN TỬ
Khoảng
năm thế kỷ trước công nguyên đã có người cho rằng thế
giới được cấu tạo bởi những hạt nhỏ bất khả phân
chia. Người ta gọi những hạt bất hoại đó là “nguyên
tử” dựa trên từ Hy Lạp atomos. Dĩ nhiên, trong thời bấy
giờ, ý niệm về nguyên tử chỉ hình thành trong tư tưởng,
nó không hề có một cơ sở thực nghiệm nào.
Mười
mấy thể kỷ trôi quan, ý niệm về nguyên tử nằm yên trong
đầu óc các nhà khoa học. Dù không ai xác nhận hay bác bỏ
nó, ý nhiệm về những đơn vị cơ bản làm nền tảng cho
thế giới vật chất nghe qua rất dễ tin khi người ta liên
tưởng đến một tòa kiến trúc to lớn được xây dựng bằng
những viên gạch bé nhỏ hay toàn bộ một ngôn ngữ được
hình thành bởi một số những chữ cái nhất định.
Khi
Newton khai sinh nền cơ học cổ điển, khi ông lấy một chất
điểm bất hoại làm cơ sở, ông đã xem chất điểm đó đại
diện cho vật chất có khối lượng. Sự thành công của nền
cơ học cổ điển càng làm cho ra dễ liên tưởng rằng, vật
chất cuối cùng cũng sẽ do những hạt nhỏ và đặc cứng
cấu tạo nên.
Thế
nhưng khái niệm nguyên tử như là thành phần nhỏ nhất của
vật chất vẫn chưa được khoa học nhắc nhở tới, mãi cho
đến đầu thế kỷ thứ 19. Đó là khi một nhà hóa học người
Anh tên là John Dalton nêu lên ý niệm về các nguyên tố hóa
học cơ bản và về các phản ứng hóa học. Ông cho rằng
các nguyên tố hóa học đều do nguyên tử cấu tạo nên; và
mọi phản ứng hóa đều do sự liên kết hay tách lìa của
nguyên tử mà sinh ra, trong đó các nguyên tử không hề thay
hình đổi dạng. Một cấu trúc hóa học chính là sự giao
kết của các nguyên tử của những nguyên tố khác nhau trong
một tỉ lệ nhất định.
Hai
trăm năm đã trôi quan kể từ hình dung đầu tiên đó đến
ngày nay nhưng những nhận định của John Dalton vẫn còn giá
trị. Quả thực mọi phản ứng hóa học đều là sự hoán
chuyển của nguyên tử. Thực tế là hóa học và vật lý cuối
cùng đều chỉ là một ngành khoa học duy nhất. Vì những
lẽ đó người ta càng thấy vững tin vào ý niệm, nguyên tử
phải là cấu trúc cuối cùng của vật chất, hiểu được
nguyên tử là hiểu được vật chất. Và nếu có ai khai mở
được bí ẩn của nguyên tử, người đó lý giải được
thế giới, giải được bài toán của vũ trụ.
Nguyên
tử là gì? Chúng phải là những hạt vật chất rất nhỏ
và đặc cứng. Năm 1879 nhà khoa học J. Thomson phát hiện bức
xạ catod thoát ra từ các phần tử được gọi là “nguyên
tử” là một loạt những hạt mang điện tích âm. Ông tính
toán được mối quan hệ giữa điện tích và khối lượng
của các hạt đó mà ông gọi là electron.Nơi đây Thomson nêu
lên một thực tế hoàn toàn mới. Đó là nguyên tử không
hề là những hạt đặc cứng mà bản thân nó gồm nhiều
phần tử tạo thành. Chưa ai biết các phần tử khác là gì
nhưng điều chắc chắn là có một hạt nhỏ tên gọi là electron.
Năm
1888 khoa học phát hiện một số kim loại, khi chúng bị tia
cực tím bắn vào thì hiều điện tích âm văng ra. Thomson xác
định những điện tích âm đó cũng chính là các electron mà
ông biết từ các loại nguyên tử khác. Thế là Thomson đến
với một phát hiện cũng quan trọng không kém: nhiều nguyên
tử khác nhau có chung một hạt electron như nhau. Sau đó Thomson
đưa ra một mô hình về nguyên tử: Nguyên tử có hình cầu,
có điện tích dương nhưng được trung hòa bởi các electron
nằm trong nguyên tử. Đối với Thomson, electron là “như những
hạt nho khô nằm trong một ổ bánh ngọt”. Electron rất nhẹ
so với nguyên tử và có thể bị hút ra khỏi nguyên tử bằng
một điện trường. Với những phát hiện này Thomson được
trao giải Nobel năm 1906.
Năm
1911 một nhà vật lý người Anh là Rutherford đi một bước
dài trong việc phát hiện cơ cấu của nguyên tử. Trong thời
kỳ đó người ta chỉ mới biết tới electron là một phần
tử của nguyên tử và phỏng đoán bản thân nguyên tử là
một vật có khối lượng được phân bố đều. Rutherford
tìm hiểu cơ cấu nguyên tử bằng cách lấy một tấm giấy
đồng rất mỏng với độ dày chỉ khoảng 4 micron tấm giấy
ấy. Tia alpha là một phát hiện mới trong thời đó, có đặc
tính là khá “nặng” so với các nguyên tử khác và mang điện
tích cao. Vì thế ông chờ đợi là tia alpha sẽ dễ dàng đục
xuyên qua tấm giấy và có thể bị khuếch tán đôi chút. Kết
quả làm ông kinh ngạc. Đó là tia alpha xuyên qua thực nhưng
lại có một ít bị bắn ngược trở lại. Các tia dội ngược
lại là điều không thể vì các hạt alpha vốn quá nặng
và tấm giấy không thể cản được sức “công phá” của
tia alpha. Ông thốt lên: “Hầu như không thể tưởng tượng
được, cũng như bạn bắn một trái đạn 15 inch vào một
tấm giấy lụa và trái đạn dội lại trúng bạn”.
Từ
thực tế đó và trên cơ sở số lượng của những tia bị
dội lại, bị nghiêng qua một bên và những tia đi thẳng,
Rutherford nêu lên một hình dung hoàn toàn mới về nguyên tử:
Nguyên tử có một hạt nhân rất bé nhưng chứa gần như tất
cả khối lượng và toàn bộ điện tích của nguyên tử. Hạt
nhân chính là đối thủ tầm cỡ, đương đầu ngang sức,
làm cho những tia alpha dội lại.
Toàn
bộ nguyên tử hầu như rỗng không nếu ta nhớ rằng kích
thước của nguyên tử gấp khoảng 100.000 lần kích thước
hạt nhân. Điều đó có nghĩa nếu nguyên tử to bằng sân
bóng đá thì hạt nhân chỉ là một hạt bụi nằm giữa sân.
Và các electron cũng là những hạt nhỏ hơn nữa quay vòng nơi
chỗ khán giả ngồi xem trận bóng đá.
Thế
nên các tia alpha không hề chen lấn mệt nhọc với các nguyên
tử như Rutherford tưởng mà chúng thong thả bay trong vườn
không nhà trống, qua những khoảng không gian hầu như vô tận.
Thính thoảng có tia alpha xui xẻo bị dội vào một vật rất
nhỏ nhưng có tỉ trọng cực cao mà ta gọi là nhân nguyên
tử, cuối cùng Rutherford nêu lên một mô hình nguyên tử gồm
có một hạt nhân mang điện tích dương và nhiều electron mang
điện tích âm quay quanh nhân với một bán kính rất lớn.
Phần lớn kích thước của nguyên tử là chân không. Chân
không - theo quan niệm thời bấy giờ - thì hẳn không có gì
để bàn, người ta đi thêm một bước và tập trung xem xét
hành tung của electron và của hạt nhân.
Năm
1911, khi Rutherford công bố kết quả nghiên cứu mô hình nguyêntử
của mình thì có một sinh viên vừa hoàn thành luận án tiến
sĩ vật lý. Đó là một người Đan Mạch, tên là Niels Bohr.
Trong năm đó Bohr tìm đến Rutherford và xin cộng tác với ông.
Hai năm sau, Bohr công bố ba công trình, nêu lên mô hình mới
về nguyên tử. Mô hình này phải là sự tổng hợp hình ảnh
của thái dương hệ, trong đó các hành tinh quay quanh mặt
trời của mô hình Rutherford, với phát minh của Max Planck về
“bó năng lượng”, với phát hiện của Einstein về “quang
tử”.
Theo
Bohr, nguyên tử là một cơ cấu gồm hạt nhân nằm giữa với
nhiều electron quay tròn xung quanh. Thế nhưng, ý niệm mới của
Bohr là các quĩ đạo của electron không hề tùy tiện mà chúng
có cấp bậc hẳn hoi, electron chỉ vận hành trong các cấp
bậc đó.
Các
electron có thể đổi quĩ đạo, chúng “nhảy cóc” từ quĩ
đạo này qua quĩ đạo khác và mỗi quĩ đạo tượng trưng
cho một mức độ năng lượng nhất định. Khi electron nằm
trong quĩ đạo gần hạt nhân nhất, ta gọi đó là “tình
trạng cơ bản” của electron, nơi đó nó mang ít năng lượng
nhất. Nếu electron hấp thụ một ít năng lượng đủ cho nó
nhẩy lên một quĩ đạo cao hơn thì nó đổi quĩ đạo. Năng
lượng đó là một “quang tử” photon. Ngược lại khi một
electron từ một qũi đạo cao nhảy xuống một quĩ đạo thấp
hơn , nguyên tử nhả ra một photon. Mô hình này cho thấy thiên
nhiên không hề liên tục trong việc hấp thụ hay phát tán
năng lượng mà “nhảy” từng bước nhỏ, điều mà Max Planck
đã phát hiện hơn mười năm trước đó.
Với
mô hình này, Bohr lý giải thỏa đáng một loạt những hiện
tượng vật lý và hóa học mà với mô hình Rutherford người
ta không hiểu được. Thí dụ những vạch tròn trong quang phổ
của nguyên tử hydrogen, chúng chính là dấu hiệu của photon
được nhả ra khi electron nhảy từ quĩ đạo cao xuống tháp.
Người ta cũng giải thích các quang phổ của các hiện tượng
kim loại khác bằng mô hình của Borh hết sức dễ dàng. Ngay
sau khi Bohr công bố thành tựu này, phòng thí nghiệm của Rutherford
cũng minh chứng bằng thực nghiệm lý thuyết của Bohr khi đo
dộ dài sóng của các quang tuyến X.
Với
mô hình của mình, Bohr là người đầu tiên áp dụng thuyết
lượng tử để giải thích cơ cấu của nguyên tử. Điều
quan trọng nhất nơi đây là tính chất liên tục mà người
ta tưởng là tính chất cơ bản của thiên nhiên nay đã bị
gạt bỏ. Với Max Planck người ta biết rằng năng lượng không
hề phát tán một cách liên tục mà “từng bó”. Với
Bohr, các quĩ đạo của electron không hề giống như quĩ đạo
của các thiên thề quay quanh mặt trời, mà electron “nhảy”
từng “bước lượng tử” từ vòng này qua vòng khác. Nơi
đây ra bắt đầu thấy có một nhận thức vô cùng mới mẻ
đã xuất hiện, đó là tính liên tục của thiên nhiên bị
đặt lại vấn đề. Luận đề này mới nghe thì không có
gì to tát nhưng nó sẽ đưa đường dẫn lối tới những khám
phá vô cùng bất ngờ về sau cũng như sinh ra những nhận thức
triết học mà cả những thiên tài đi tiên phong như Max Planck
hay Einstein cũng choáng ngợp.
NHỮNG
BƯỚC NHẢY LƯỢNG TỬ
Như
ta biết, năm 1905, dựa trên khái niệm lượng tử của Max
Planck, Einstein quả quyết ánh sáng cũng có tính chất hạt
mà ông gọi là quang tử photon. Einstein trở lại với hình
dung của Newton về hạt ánh sáng, dĩ nhiên lần này vói một
quan niệm hạt có định lượng hẳn hoi và nhất là kết quả
của thực nghiệm không thể bác bỏ.
Quan
niệm hạt ánh sáng của Einstein không làm nhiều người ưa
thích, vì ánh sáng vốn là một dạng sóng thì làm sao nó lại
là hạt được. Sóng là một hiện tượng tỏa rộng trong
không gian, còn hạt là một điểm cụ thể có thể xác định
được, làm sao một vật vừa là sóng vừa là hạt được.
Đó là một nghịch lý không thể giải thích bằng tư duy vật
lý thông thường.
Thế
nhưng, hai mô hình vẫn tồn tại song song với nhau. Trong một
số hiện tượng nhất định, mô hình sóng lý giải thỏa
đáng và tiên đoán được các tiến trình tiếp theo. Trong
một số hiện tượng khác, mô hình hạt ánh sáng phải được
sử dụng thì người ta mới có thể hiểu được vấn đề.
Hơn thế nữa nhà vật lý có thể thiết lập mối quan hệ
toán học giữa tính chất của hai mô hình sóng và hạt ánh
sáng.
Về
mặt toán học, sóng thì có độ dài sóng, còn hạt thìcó
một “xung lượng”, tức là tích số giữa khối lượng
và vận tốc của hạt. Độ dài sóng (từ đó mà suy ta tần
số) là đặc trưng của hiện tượng sóng, còn xung lượng
là đặc trưng của hiện tượng hạt. Nay mối liên hệ toán
học giữa sóng và hạt được thiết lập giữa dộ dài sóng
và xung lượng, biểu thị qua hằng số Planck, với một trị
số hết sức nhỏ. Cứ mỗi sóng là ta có một xung lượng
nhất định. Độ dài sóng càng ngắn, tức là tần số càng
cao thì xung lượng càng mạnh. Qua cách này người ta xem sóng
và hạt tương đương về mặt toán học.
Hãy
trở lại với mô hình nguyên tử của Bohr. Mô hình này cho
thấy electron nhảy từ quĩ đạo này qua quĩ đạo khác và
khi chúng từ cao nhảy xuống thấp thì chúng lại nhả ra một
quang tử photon. Mô hình của Bohr đã được thừa nhận là
chính xác. Thế thì photon phải hiện hữu thật, tức là hạt
ánh sáng có thực. Năm 1923 nhà khoa học Arthur Compton xác nhận
tính chất lượng tử của quang tuyến X và cho thêm một bằng
cớ thực nghiệm vế tính chất hạt của các bức xạ có
độ dài sóng cực nhỏ. Điều đó có nghĩa là ánh sáng dứt
khoát vừa có tính chất sóng, vừa có tính chất hạt. Không
những thế, mọi loại sóng bức xạ - không riêng gì ánh sáng
- phải có tính chất của hạt.
Năm
1923, một nhà khoa học người Pháp tên là Louis De Broglie có
một ý nghĩ lạ khi quan sát hành tung của electron xuyên qua
những cấu trúc pha lê. Ông thấy electron mà cũng có hiện
tượng nhiễu xạ, một hiện tượng đặc trưng của sóng.
Trong luận án tiến sĩ của mình, ông cho rằng nếu mỗi sóng
có tính chất hạt thì mỗi hạt cũng có tính chất sóng –
được gọi là “sóng vật chất” – và mối liên hệ toán
học giữa hai dạng tồn tại này là như đã nói ở trên,
tức là giữa độ dài sóng và xung lượng. Ý niệm này của
De Broglie là hết sức kỳ dị, không ai có thể chấp nhận
được. Giáo sư chủ nhiệm của ông là Langevin không thể
quyết định được nên viết thư hỏi ý kiến của Einstein.
Nhà khoa học lớn Einstein trả lời: “Dù cho ý niệm này mới
xem ra có vẻ điên rồ, nhưng nó đã bắt đầu lớn mạnh”.
Cuối cùng Langevin đồng ý cho De Broglie bảo vệ luận án trong
tháng 12.1924. Năm năm sau, De Broglie nhận giải Nobel nhờ phát
minh của mình.
Xuất
phát từ ý niệm sóng vật chất, người thiết lập phương
trình sóng là một nhà vật lý xuất sắc người Áo tên là
Schrödinger. Electron là hạt thì nó cũng phải có tính chất
sóng. Schrödinger là người đầu tiên nêu phương trình sóng
của electron năm 1926 và lý giải được chính xác mọi tính
chất của electron. Nền cơ học của ông được gọi là cơ
học sóng và nó là một cơ sở căn bản của nền cơ
học lượng tử của thế kỷ 20.
Song
song với Schrödinger, một nhà vật lý người Đức tên là
Heisenberg xây dựng một phép tính toán khác về chuểyn động
của electron mà điều thú vị nhất là kết quả của Schrödinger
và của Heisenberg là tương thích với nhau.
Năm
1925, Heisenberg nêu lên một quan điểm thực chứng trong khoa
học về cấu trúc nguyên tử bằng cách chỉ nghiên cứu mối
quan hệ giữa những đại lượng “có thể quan sát được”
như tần số, biên độ, độ phân tán của các bức xạ
để hình thành một phép tính toán mà không cần biết đến
mô hình vận hành đích thực của electron.
Đó
là thời kỳ mà Heisenberg còn là học trò của nhà vật lý
Đức Max Born, Born đã đào tạo khá nhiều người về sau lãnh
giải Nobel và bản thân ông cũng lãnh giải Nobel năm 1954. Born
nhận ra tài năng đặc biệt của Heisenberg và nhất là phép
tính mới, ông cùng Heisenberg và thêm một người thứ ba nữa
là Jordan hoàn thiện phép tính này mà người ta gọi là cơ
học ma trận. Trong nền cơ học này thì vị trí cũng như xung
lượng của các hạt electron không còn là những con số giản
đơn nữa mà là những ma trận với nhiều trị số khác nhau,
diễn tả tính xác suất của các đại lượng đó. Cơ học
ma trận và cơ học sóng của Schrödinger là hai cột trụ của
cơ học lượng tử và chúng cho một kết quả như nhau.
Thế
nhưng công lao quan trọng nhất của Born là người đầu tiên
nêu lên cách giải thích các hàm số sóng của Schrödinger,
ông cho rằng ta phải xem các hàm số đó nói lên “xác suất
lưu trú” của electron, chúng cho biết xác suất hiện hữu
của một electron tại một thời điểm nhất định. Đó là
cách diễn giải đầu tiên về cơ học lượng tử, ngành cơ
học này là khoa học nói về hành tung của các hạt hạ nguyên
tử, nhưng không phải về “số phận” từng hạt mà nói
chung về một số lượng rất lớn các hạt, trong dạng phát
biểu về xác suất hay thống kê của chúng. Về sau ta sẽ
làm quen với nhiều cách lý giải khác và sẽ thấy cơ học
lượng tử đề ra nhiều vấn đề triết học hết sức hóc
búa.
Năm
1927, Heisenberg nêu lên nguyên lý bất định của hạt điện
tử, trong đó ta không thể cùng một lúc đo được chính xác
vị trí và vận tố (hay chính xác hơn: xung lượng) của electron.
Sự bất khả đó không xuất phát từ thiết bị đo thiếu
chính xác mà nó có tính nguyên tắc: Một khi biết được
chính xác vận tốc của electron thì không thể có quan niệm
về một vị trí chính xác và ngược lại.
Để
thấy sự khác biệt căn bản giữa cơ học cổ điển và cơ
học lượng tử ở đây ta hãy nêu lên một hiện tượng.
Trong cơ học cổ điển, ta có thể tính trước được vị
trí, vận tốc của vật thể sau một thời gian vận động.
Thí dụ một vật bay với vận tốc 1m/s, bay đến một vách
tường cách đó 2m. Sau hai giây vật thể sẽ đụng vách và
ta biết rõ nó sẽ gặp vách ở chỗ nào. Trong cơ học cổ
điển, quĩ đạo của vật trong thời gian và không gian là
được xác định rõ.
Tình
hình lại không xảy ra như thế đối với một electron. Giả
định electron bay từ bên trái và xuyên qua một khe thẳng đứng
để gặp một vách tường ở bên phải. Hạt electron đó sẽ
gặp vách tường và sinh ra một chấm đen, nhưng gặp ở chỗ
nào thì ta không biết được. Quĩ đạo của nó không được
xác định. Thế nhưng nếu ta bắn rất nhiều hạt electron
thì dựa trên những chấm đen khác nhau mà ta biết được
xác suất phân bố, tức là chỗ nào có “hy vọng” hạt
electron sẽ gặp vách tường. Xác suất phân bố có hình dạng
của một sóng, và nơi có biên độ cao nhất là nơi có hy
vọng hạt electron sẽ bắn trúng vách tường chỗ đó.
Cơ
học lượng tử mô tả đúng như kết quả của thực nghiệm,
tức là nó đưa ra những lời giải của phương trình sóng
Schrödinger, nhưng những sóng này là sóng xác suất, chúng diễn
tả khả năng mà ta “bắt gặp” được một hạt electron
trong quá trình vận động của nó. Trong quá trình đó thì
vận tốc và vị trí của hạt không thể cùng lúc xác định
chính xác về vận động của những hạt riêng lẻ mà chỉ
có những kết luận có tính chất thống kê về một số lượng
lớn các hạt. Nhờ tính thống kê về hoạt động của số
lượng lớn các hạt mà các thiết bị điện tử, các phản
ứng hạt nhân... lại vận hành đúng như người ta tiên đoán.
Dù
thế, tính chất xác suất của sự mô tả electron cũng như
nguyên lý bất định trong các trị số cơ học của chúng
là hết sức khó hiểu với nền vật lý cổ điển. Thực
tế là, chúng tạo nên một cuộc cách mạng trong nhận thức
luận của con người về thế giới vi mô, thế giới cơ sở
của vật chất và đề ra vô số vấn đề về triết học
mà đến nay vẫn còn được bàn cãi ráo riết.
Hiện
nay, tính chất xác suất của cơ học lương tử khi xác định
số lượng lớn của các hạt cơ bản được xem là có sự
thừa nhận chung của cộng đồng vật lý. Thế nhưng, cách
diễn giải cơ học lượng tử để tìm hiểu “số phận”
của một hạt, hay tìm hiểu sự vận động đích thực của
sự vật, hay lý giải thế giới thực chất là gì thì lại
vô cùng khác nhau. Một trong những kết luận cốt tủy nhất
của cơ học lượng tử là, khi hai hạt có điều kiện ban
đầu (vị trí và vận tốc) như nhau thì diễn biến về sau
của chúng không nhất thiết phải giống nhau. Điều đó đặt
vấn đề tính “nhân quả” trong ngành cơ học này. Ngoài
ra cần nói thêm là điều kiện đầu của một hạt cũng không
thể được xác định chính xác, cũng lại vì nguyên lý bất
định.
Ngày
nay người ta cho rằng có ít nhất tám phép diễn giải cơ
học lượng tử. Ngoài phép diễn giải thống kê thì lý thuyết
được xem như chuẩn mực là phép diễn giải Copenhagen mà
những người chủ đạo là Bohr và Heisenberg. Theo quan điểm
này thì sự vật đích thực không phải là hạt cũng chẳng
phải là sóng. Sóng và hạt đều chỉ là dạng xuất hiện
của sự vật khi người quan sát tra tìm nó theo cách này hay
cách khác. Tính chất của sự vật nhờ cả sóng lẫn hạt
mà được hiểu rõ, được xác định. Đó là nguyên lý bổ
túc nổi tiếng của Niels Bohr.
Theo
phép diễn giải Copenhagen thì sự vật nằm trong một thể
“khả dĩ”, được biểu diễn bằng các hàm số sóng. Khi
quan sát viên truy tìm để đo lường vật đó – thí dụ tìm
vị trí của nó – với thiết bị đo lường, quan sát viên
đã “ép” sự vật phải lấy một vị trí, quan sát viên
đã làm “sụp đổ” dạng sóng của nó. Thế nên chính sự
truy tìm của quan sát viên đã can thiệp vào sự vật và vì
thế mà ta không thể tách rời người quan sát và vật bị
quan sát. Còn nếu sự vật không được quan sát thì hạt nằm
ở đâu, vận hành thế nào, sự vật thực chất là gì, câu
hỏi đó đối với phép diễn giải Copenhagen là “vô nghĩa”.
Trên nguyên tắc, ta không thể biết những điều đó và trường
phái Copenhagen cũng chỉ làm việc với những đại lượng
có thể quan sát được (quan niệm thực chứng). Phép lý giải
này rất mới mẻ so với nền cơ học cổ điển; và chính
Bohr, cha đẻ của phép này nói: “Những ai mới đầu không
choáng váng với nền cơ học lượng tử thì kẻ đó chưa
hiểu nó”.
Phép
diễn giải này tuy không thỏa mãn được nhiều nhà vật lý
nhưng hiện nay nó được thừa nhận nhiều nhất vì không
có cách lý giải nào tốt hơn. Einstein cho đến cuối đời
vẫn không chấp nhận tính xác suất của cơ học lượng tử,
và ông từ chối phép diễn giải Copenhagen. Ông nói đầy ẩn
dụ: “Thượng đế không chơi trò xúc xắc”. Einstein cho
rằng sở dĩ cơ học lượng tử phải chấp nhận tính xác
suất vì nó “không đầy đủ”. Thế nhưng Einstein cũng phải
thừa nhận là lý thuyết cơ học lượng tử trong bản thân
nó là “nhất quán”. Điều đó có nghĩa, muốn vượt lên
tính xác suất của cơ học lượng tử, con người phải phát
hiện một hệ thống cơ học hoàn toàn mới mẻ.
Một
phép lý giải khác là quan điểm “đa thế giới” do nhà
vật lý Mỹ Hugh Everett nêu lên năm 1957. Theo quan điểm này
thì các hàm số sóng Schrödinger – thay vì chỉ là thể
“khả dĩ” như quan niệm của phái Copenhagen – thì mỗi
sóng là một thế giới thực có. Các hàm số sóng chẳng hề
“sụp đổ” gì cả mà chúng đều là một thế giới riêng
biệt. Vì sự vật gồm vô số sóng giao thoa nên sự vật tồn
tại thực sự cùng lúc trong vô số sóng giao thoa nên sự vật
tồn tại thực sự cùng lúc trong vô số thế giới. Các thế
giới này không phải là những thế giới song hành với nhau
mà chúng bị chia chẻ từ một dạng đi trước nó. Mỗi lần
nhà vật lý xác định hay đo lường một sự vật, tức là
nắm bắt nó trong một thế giới nhất định thì lập tức
sự vật có nhiều dạng biến thiên khả dĩ và mỗi dạng
đó hóa hiện ngay thành một thế giới mới. Sự vật “tự
tách ra” thành nhiều sự vật, cả các thiết bị đo lường
lẫn người quan sát cũng bị tách ra để trở thành những
thế giới với đầy đủ mọi tính chất của nó.
Theo
quan điểm đa thế giới thì vũ trụ là một vũ trụ lượng
tử, nó đã bị chia chẻ từ vô thủy để sinh ra vô số vũ
trụ. Chúng ta là người “tình cờ” sống trong vũ trụ này
và hầu như chắc chắn có những “phiên bản” của chúng
ra đang sống ở những vũ trụ khác.
Phép
diễn giải “đa thế giới” này nghe qua thật hết sức điên
rồ và không được nhiều người thừa nhận. Thế nhưng,
phải chăng phép diễn giải Copenhagen cũng “điên rồ” không
kém? Thật ra những kết luận của cơ học lượng tử cũng
bất ngờ và khó tính như những kết luận kỳ lạ về không
gian, thời gian, khối lượng... của nền vật lý tương đối
khi Einstein đề ra lần đầu.
Gần
đây nhất phép diễn giải đa thế giới này lại được các
nhà vật lý xuất sắc đương thời coi trọng. Người ta cho
rằng, mặc dù không ai tưởng tượng được một hình ảnh
đa thế giới, đa vũ trụ nhưng hệ quả toán học của cơ
học lượng tử buộc ta phải chấp nhận thuyết đa thế giới,
nếu ta không muốn chấp nhận vai trò của ý thức con người
trong phép diễn giải Copenhagen. Vấn đề rất lớn được
đặt ra về vai trò của ý thức là, trong phạm vi nhỏ của
nguyên tử thì có ý thức của người quan sát thật, còn bản
thân cả vũ trụ thì ai quan sát nó. Ai là kẻ đứng ngoài
để quan sát vũ trụ? M.Gell-Mann thắc mắc như thế, còn K.Gödel
thì cho rằng vũ trụ “tự quan sát và đo lường bản thân
mình”.
Thế
nên Gell-Mann và một lý thuyết gia xuất sắc khác của nền
vật lý đương thời là S.Hawking đứng về phía thuyết đa
thế giới. Hai ông cho rằng danh xưng “thuyết đa thế giới”
là không chính xác, họ đề nghị “thuyết đa số phận”.
Trong hình ảnh này, mỗi sự vật lúc bị chia chẻ, có một
“số phận” riêng diễn ra trong một thế giới riêng. Ngoài
hai nhà vật lý này còn có Feynman và S.Weinberg cũng chấp nhận
thuyết đa thế giới.
Cả
phép lý giải Copenhagen lẫn quan niệm “đa thế giới” đều
đặt lại một quan niệm mới về thực tại, đó là trong
trường hợp nào ta gọi thực tại là có và không có. Nền
vật lý cổ điển quan niệm có một thực tại độc lập,
tồn tại tự nó. Với trường phái Copenhagen, ta có thể quan
niệm thực tại chỉ có khi ta quan sát và đo lường nó. Khi
ta không quan sát một vật thì vật đó không tồn tại. Ngược
lại, với quan niệm “đa thế giới” ta có thể nói rằng
có vô số thế giới, vô số thực tại, tất cả đều có.
Mỗi thế giới được xác định là vừa hiện hữu thì lập
tức nó lại sinh ra nhiều thế giới khác. Ta có thể nói,
hai trường phái diễn giải cơ học lượng tử đó là hai
cực biên của luận đề có-không mà về sau ta sẽ trở lại
và soi sáng chúng dưới một ánh sáng khác.
Như
ta thấy, nền cơ học lượng tử nêu lên nhiều luận điểm
hết sức hóc búa về triết học, chúng chạm đến lĩnh vực
của bản thể học và thậm chí của tôn giáo. Về các luận
điểm này hiện nay không có sự đồng thuận nào trong cộng
đồng vật lý.
Luận
đề có-không nói trên sẽ được trở lại trong các chương
sau và chính nó là nội dung của sách này khi ta tìm hiểu các
quan niệm triết học khác, nhất là của Phật giáo.
DIRAC
VÀ ĐỐI VẬT CHẤT
Dường
như ngành cơ học lượng tử chưa đủ khó hiểu, năm 1928,
con người lại phát hiện ra một điều lạ lùng.
Nhà
vật lý người Anh, Paul Dirac sớm tiếp thu hai phát hiện mới
của thế kỷ, đó là nền vật lý tương đối và cơ học
lượng tử. Chỉ trong vòng ba mươi năm, kể từ ngày Max Planck
đề ra ý niệm lượng tử vào năm 1900, nền vật lý hiện
đại đã phát hiện quá nhiều điều mới mẻ và khó hiểu,
nó lật đổ toàn bộ nền tảng của tư duy cũ. Con người
hầu như choáng ngợp trước vô số những kết quả thực
nghiệm, những phát hiện trong thực tế, những lý thuyết
mới và cả những phép diễn giải khác nhau về cùng một
lý thuyết trên mặt khoa học và triết học.
Trong
thế kỷ hai mươi, các nhà vật lý không còn thống nhất với
nhau nữa khi nhận thức về thế giới và tự tính của vật
chất. Đó là một điều hoàn toàn mới so với các thế kỷ
trước. Con người đã đi vào những lĩnh vực nằm xa đời
sống bình thường. Hoặc là chúng thuộc về lĩnh vực vĩ
mô với vận tốc và năng lượng cực lớn, hoặc là lĩnh
vực vi mô với kích thước thật bé nhỏ. Cả hai phía đều
đem đến những kết luận mà tư duy con người – vốn bị
trói buộc trong lĩnh vực của đời sống hàng ngày – không
thể đạt đến nổi chỉ tính sắc bén của toán học cộng
với những kết quả thực nghiệm không thể chối cãi mới
buộc con người phải tin những lý thuyết đó là đúng. Thế
nhưng trong thế kỷ hai mươi xuất hiện một khái niệm mới,
đó là ta “diễn giải” thế nào về một lý thuyết, về
một hiện tượng, về một công thức... khi chúng nói về
những điều mà đầu óc thông thường của ta không quan niệm
được. Bởi vậy trong thế kỷ hai mươi, nền vật lý đi
tới tình trạng “phân kỳ” khi ta suy tư về “ý nghĩa”
của mọi sự.
Mặc
dù con người bị phân kỳ trong việc đi tìm ý nghĩa triết
học của các phát hiện vật lý, một khả năng và cơ hội
khác lại hiện ra làm nức lòng các nhà vật lý. Đó là khả
năng thống nhất của ngành vât lý trong thời đại mới. Trong
một chương trước ta đã nói, nền vật lý Newton, cho thấy
nền vật lý cổ điển có thể được suy ra từ vật lý tương
đối, khi vận tốc của vật thể nhỏ hơn so với vận tốc
ánh sáng.
Ngành
cơ học lượng tử cũng có sức thống nhất cao độ. Nó chứng
minh nền cơ học thông thường trong phạm vi hàng ngày cũng
có thể suy ra được từ cơ học lượng tử khi mối liên
hệ bất định theo ý nghĩa của Heisenberg tại nơi đó quá
nhỏ, không đáng kể.
Thế
nhưng giữa vật lý tương đối và cơ học lượng tử chưa
được thiết lập mối quan hệ nào cả. Và đó là đối tượng
nghiên cứu của Dirac vào năm 1928. Ông tìm ra được cách “ghép”
chúng lại với nhau, nhưng quan trọng hơn, ông phát hiện ra
– về mặt lý thuyết – một dạng vật chất được gọi
là đối vật chất.
Xuất
phát từ Thuyết tương đối đặc biệt, Dirac xem khối lượng
là một dạng của năng lượng, ông phát biểu lại phương
trình của năng lượng và nêu lại phương trình sóng của
hạt electron. Khi giải phương trình sóng này Dirac gặp hai lời
giải, trong đó một lời giải cho thấy năng lượng là một
số dương và trong đáp án kia, năng lượng là một số âm.
Giải pháp thứ hai không thể chấp nhận được vì năng lượng
không thể âm. Hãy tưởng tượng diện tích một hình vuông
là 4m2, mỗi cạnh hình vuông là bao nhiêu. Về mặt toán học
ta có hai lời giải, đó là mỗi cạnh hình vuông là 2m và
-2m. Về mặt vật lý chỉ có lời giải thứ nhất là chấp
nhận được vì trong giải pháp thức hai, cạnh hình vuông
là một số âm. Đó là điều “vô lý”.
Dirac
chạm trán với sự “vô lý” này với năng lượng âm của
ông và chần chừ suốt một năm mới công bố đề nghị của
mình. Ông cho rằng toán học đã cho giải pháp thì thực tế
cũng phải như thế. Ông công bố công trình chứa một thứ
năng lượng âm và điều đó dẫn tới khái niệm của một
hạt electron “ngược”. Đó là một hạt có khối lượng
và tính chất giống như electron nhưng mang điện tích
dương mà ông gọi là “đối electron”. Dĩ nhiên tất cả
những gì đã nêu đều xuất phát từ lý thuyết, không có
thực nghiệm nào chứng minh.
Kỳ
lạ thay, năm 1932 một nhà khoa học tên là David Anderson phát
hiện ra hạt “đối electron” thực. Ông phát hiện ra hạt
này từ các tia bức xạ trong thiên nhiên. Hạt này đúng như
tiên đoán của Dirac, có khối lượng và tính chất như electron,
nang điện tích dương. Anderson đặt tên cho nó là positron.
Năm 1933 Dirac lãnh giải Nobel vật lý nhờ phương trình của
mình, còn Anderson cũng lãnh giải đó nhờ công trình phát hiện
bằng thực nghiệm. Dirac còn đi xa hơn, ông quả quyết mỗi
hạt trong nhân như pronton và neutron đều có đối hạt của
chúng. Quả nhiên, năm 1955 và 1956 người ta lần lượt phát
hiện đối hạt của proton và neutron.
Vấn
đề kế tiếp là khi những đối hạt của proton và neutron
gặp nhau, liệu chúng có thể kết hợp trở thành một hạt
nhân, tức là một hạt nhân đối ngược với hạt nhân nguyên
tử thông thường hay không. Năm 1965 hai nhóm nghiên cứu độc
lập, một tại Thụy Sĩ, một tại Mỹ, thực hiện được
công trình đó. Và gần đây, năm 1995, người ta đã thực
hiện được một công trình ly kỳ, tạo ra một nguyên tử
đối vật chất bằng cách ghép positron với hạt nhân đối
vật chất.
Thế
nên, về mặt nguyên tắc mỗi nguyên tử đều có một nguyên
tử đối nghịch. Nhưng chúng nằm ở đâu?
Người
ta không biết nhiều về lĩnh vực đối vật chất. Đến nay
người ta chỉ biết rõ khi vật chất và đối vật chất gặp
nhau, chúng hủy hoại lẫn nhau và biến thành năng lượng.
Vậy, ta có thể nói, cả hai dạng đều do năng lượng tạo
thành. Thế nhưng liệu chúng thật giống nhau hay không, người
ta chưa biết rõ. Thực tế là không đâu có sẵn đối vật
chất để mà nghiên cứu và thực hiện những thí nghiệm,
chúng chỉ xuất hiện hết sức ngắn ngủi trong những thử
nghiệm hiếm hoi. Trong thời gian gần đây, với các thiết
bị gia tốc khổng lồ người ta đã có thể phân hủy quang
tử photon thành hai hạt electron và posotron, tức là có thể
“chế tạo” hạt đối vật chất được. Thế nhưng vận
tốc của chúng rất lớn, con người cần nhiều kỹ thuật
cao cấp mới “tóm” được chúng cũng như giảm thiểu vận
tốc của chúng lại. Vấn đề lớn nhất là hầu như ta không
thể cất chứa các hạt đối vật chất được vì lẽ, khi
chúng tiếp xúc với vật chất thông thường thì sẽ phát
nổ. Hai loại hạt đó gặp nhau là liền tiêu diệt lẫn nhau
để sinh ra năng lượng.
Nhiều
người cho rằng, vật chất và đối vật chất đều xuất
hiện cùng lúc và cùng có số lượng trong vụ nổ ban đầu
(Big Bang), chúng đều là dạng xuất hiện có “giá trị tương
đương” của năng lượng. Thế nhưng trong vũ trụ của chúng
ta chỉ có vật chất, còn đối vật chất chỉ xuất hiện
khi ta khổ công tìm kiếm nó. Phải chăng đối vật chất đã
hình thành một vũ trụ khác, song hành với vũ trụ chúng ta.
Phải chăng mỗi một nguyên tử, mỗi một vật thể, mỗi
một con người cá thể... đều có dạng đối vật chất trong
vũ trụ song hành đó?
Lĩnh
vực nói trên là vô cùng hấp dẫn cho các câu chuyện khoa
học giả tưởng và quả thực đã có nhiều tiểu thuyết
và phim ảnh được xây dựng tên đề tài này. Trong ngành
vật lý cùa các nhà khoa học đạo mạo, người ta không ưa
nghe những chuyện hoang đường thiếu căn cứ. Thế nhưng các
hạt đối vật chất rất được các nhà vật lý coi trọng
vì môt lẽ đơn giản: nó đóng một vai trò then chốt trong
việc tìm hiểu sự hoạt động và chuyển hóa của các hạt
cơ bản, các hạt nằm trong lòng nguyên tử, trong lĩnh vực
“hạ nguyên tử”. Trong lĩnh vực đó, các đối hạt có
những vai trò và tác động hẳn hoi mà chúng ta sắp nói đến
trong những chương sau. Đó là lĩnh vực vi mô. Liệu các cơ
cấu vĩ mô của các đối hạt – nói chung là các cơ cấu
đối vật chất – sẽ được phát hiện và đóng một vai
trò trong thực tại vật lý thông thường của con người hay
không, hiện nay chúng ta chưa thể trả lời.
Công
trình ban đầu của Dirac đã dẫn tới những phát hiện lạ
lùng mà thiên tài và sự liều lĩnh của ông là dám cho rằng
thiên nhiên tuân thủ những lời giải lý thuyết của toán
học. Nơi đây, một câu hỏi cũ của chúng ta lại được
đặt lại, tại sao thiên nhiên lại chịu tuân thủ những
kết luận lý thuyết, sản phẩm của đầu óc con người?
NHỮNG
“HẠT CƠ BẢN” CỦA VẬT CHẤT
Năm
1911, Rutherford đã khám phá ra nguyên tử không hề là những
hạt cuối cùng của vật chất mà chỉ là một khoảng không
trống rỗng gồm có một hạt nhân tí hon và một số electron
vận hành xung quanh hạt nhân với một khoảng cách rất lớn.
Qua đó, người ta thấy rằng bản thân nguyên tử cũng có
một cơ cấu và cơ cấu đó tương tự như hệ thống các
hành tinh quay xung quanh mặt trời. Cho nên nguyên tử là một
hệ thống gồm những hạt nhỏ hơn tạo thành; và lĩnh
vực của những hạt nhỏ đó được gọi là “hạ nguyên
tử”. Trong cơ cấu hạ nguyên tử mới đầu người ta chỉ
biết rõ có một thứ hạt mang tên electron với các tính chất
của nó. Thế thì hạt nhân nguyên tử là một khối cứng
chắc hay bản thân nó cũng gồm nhiều hạt nhỏ?
Năm
1919, Rutherford lại phát hiện trong nhân nguyên tử có các hạt
mang điện tích dương nhằm trung hòa với diện tích âm của
các electron mà ông gọi là proton. Năm 1921 hai nhà khoa học
Chadwick và Bieler quả quyết trong nhân phải có một thứ lực
rất mạnh để giữ proton lại với nhau vì proton đều có
điện tích dương, lẽ ra chúng phải đẩy lẫn nhau, không
thể nằm gần nhau. Thứ lực đó về sau sẽ được phát hiện
là lực hạt nhân mà hiệu quả của nó sớm được các nhà
chính trị sử dụng. Năm 1932 Chadwick phát hiện trong nhân có
một loại hạt nữa mang tên là neutron, hạt này không mang
điện tích.
Như
thế khoảng năm 1932, người ta đã biết đến ba hạt: electron,
proton và neutron của cơ cấu nguyên tử. Ngoài ra người ta
đã biết thêm một thứ hạt thứ tư nữa, đó là hạt quang
tử photon.
Khoảng
từ những năm 1930 người ta bắt đầu khám phá rất nhiều
hạt hạ nguyên tử khác trong khi phát hiện tính chất phóng
xạ của nguyên tử. Người ta thấy rằng có nhiều hạt, nhất
là các hạt không mang đện tích như hạt neotron tự phân hủy
để sinh ra các hạt khác có mang điện tích với điều kiện
là tổng số điện tích phải trung hòa như hạt nguyên thủy.
Trong quá trình tự phân hủy đó chúng còn sinh ra những hạt
khác nữa có điện tích trung hòa mà người ta gọi là neutrino.
Ngoài ra có nhiều trường hợp các hạt bị “vỡ” ra không
phải do sự tự phân hủy mà do các thí nghiệm trong đó các
hạt va chạm nhau dữ dội, với vận tốc và năng lượng cao.
Song
song người ta còn phát hiện những hạt được sinh ra do sự
hoán chuểyn giữa các hạt khác. Chính sự hoán chuyển đó
tạo nên các lực liên kết trong nội bộ hạt nhân nguyên
tử.
Trong
thiên nhiên, trên các vùng núi cao người ta cũng phát hiện
nhiều loại hạt đặc biệt. Trong các tia vũ trụ các nhà
khoa học cũng tìm thấy nhiều loại hạt, dường như chúng
xuất phát từ những phản ứng trong các hệ hành tinh xa xôi.
Sau
đây là tiến trình phát hiện các hạt cơ bản từ cuối thế
kỷ trước đến khoảng 1995.
Sau
khoảng 30 năm hào hứng phát hiện liên tục các hạt cơ bản
từ 1930 đấn 1960, người ta đứng trước một loạt những
loại hạt khác nhau với tính chất khác nhau. Kể từ đó,
người ta bắt đầu tìm cách phân loại và xếp đặt chúng
trong một hệ thống, tương tự như bảng phân loại tuần
hoàn các nguyên tố hóa học. Con số các hạt “cơ bản”
được phát hiện lên tới hàng trăm, mức độ mà người
ta không thể xem là “cơ bản” nữa, chúng không thể là
những hạt nguyên thủy tạo nên thế giới vật chất nữa.
Liệu bản thân chúng cũng do một số các hạt “cơ bản hơn”
cấu tạo thành, phải chăng có một mô hình nào đó biểu
diễn được cấu trúc của chúng?
Năm
1964 nhà vật lý Gell-Mann đề nghị khái niệm quark, một loại
hạt nhỏ hơn nựa để xây dựng các hạt cơ bản đã được
biết. Ông sử dụng ba hạt quark với ba “mùi vị” khác
nhau mà ông gọi là “up”(u), “down”(d) và “strange”(s)
và ba đối hạt của chúng.
Với
mô hình quark thì một proton được xem là do hai hạt quark “up”
và một hạt quark “down” tạo nên. Hạt Pion (p+) sẽ do một
hạt quark “up” và một đối hạt của quark “down” hợp
thành. Tổng quát hơn, các hạt nặng baryon do ba hạt quark hình
thành, trong lúc các hạt trung bình meson do một quark và một
hạt đối hạt của quark tạo nên.
Các
hạt quark cho phép lý giải rất thỏa đáng những tính chất
của các hạt, thậm chí mô hình này cũng cho phép tiên đoán
cả sự hiện diện của một số hạt mà sau này người ta
phát hiện được, thế nhưng không ai tìm được hạt quark
riêng lẻ nào cả. Điều chắc chắn là thực nghiệm cho thấy
proton có một cấu trúc bên trong và người ta đoán nó phải
là những hạt quark và cho chúng một cái tên là các hạt quark
“bị giam giữ”.
Lần
lượt trong các năm 1975, 1977 và 1995 người ta phát hiện các
hạt quark thứ tư, thứ năm và thứ sáu mà tên của chúng
là charm (c), bottom (b) và top (t). Hiện nay người ta vẫn chưa
biết, liệu cá hạt quark “có thật” hay chúng chỉ là một
giả định toán học.
Song
song với hạt hạt quark – vốn là các hạt xây dựng hạt
nhân nguyên tử - là các hạt lepton, đó là các hạt nhẹ,
ngang tầm với electron. Điều đáng ngạc nhiên nhất là nếu
ta có 6 hạt quark thì ta cũng chỉ có 6 hạt lepton mà một trong
6 hạt lepton đó là electron. Ngày nay nhà vật lý hạt có tổng
cộng 12 hạt cơ bản, đó là 6 hạt quark và 6 hạt lepton cùng
với các đối hạt của chúng. Những hạt cơ bản này là
chất liệu xây dựng toàn bộ hạt nhân, nguyên tử, tức là
toàn bộ vật chất. Những hạt này được chia làm ba hạng
nhẹ (I), vừa (II) và nặng (III).
Đây
là mô hình cơ bản của hạt đến cuối thế kỷ thứ 20 và
là mô hình cho phép lý giải thoả đáng rất nhiều hiện tượng
hạ nguyên tử. Thật là lạ lùng khi nhìn các hạt cơ bản
nói trên, những hạt được xem là nền tảng của thế giới
vật chất, của thiên nhiên. Dường như chúng mang một tính
đối xứng, dấu ấn của đầu óc suy tư lý luận của con
người. Thế nhưng đó là mô hình mới nhất của vật lý,
được phần lớn các nhà khoa học thừa nhận. Hiện nay mô
hình này được sử dụng chung trong cộng đồng, nó là nền
tảng của một ngành vật lý rất phức tạp mang tên là “hạt
cơ bản”. Mặc dù tự tính của hạt quark rất khó hiểu,
thế nhưng mô hình này cho phép lý giải và phân loại một
cách đầy thuyết phục các hiện tượng hạ nguyên tử. Đây
là một sự đồng thuận hiếm hoi của ngành vật lý hiện
đại.
Trong
chương này, các hạt vật chất vi tế nhất, cơ bản nhất
đã được phát hiện và trình bày bằng hai biểu đồ đầu
tiên. Theo quan điểm của các nhà vật lý, đó là những viên
gạch lớn bé xây nên tòa lâu đài vật chất của vũ trụ.
Vì số lượng các viên gạch đó quá lớn, người ta đi tìm
mô hình của chấu trúc nội tại của chúng và đến với
một tập hợp gồm 12 hạt nhỏ hơn. Dù chưa cô lập riêng
được từng hạt của 12 hạt đó, nhưng hiện nay người ta
vẫn xem chúng là có thực và là cấp bậc cuối cùng của
vật chất. Tại mức độ bí nhiệm này dĩ nhiên người ta
không còn “thấy” được các hạt. Phương pháp tư duy ở
đây là, nêu giả định về cấu trúc nội tại của vật
chất và trên cơ sở đó mà tiên đoán các hiện tượng vật
lý. Và khi thực nghiệm cho thấy các tiên đoán đó là đúng
thì giả định vê cấu trúc của vật chất là đúng.
Bất
chấp tính chất hòa toàn trừu tượng của phép tư duy này,
nền vật lý hạt vẫn có những thành công bất ngờ, nhất
là nó thống nhất và lý giải những hiện tượng tưởng
chừng không liên quan gì đến cấu trúc nội tại của vật
chất, kể cả các hiện tượng thuộc thế giới vĩ mô.
LỰC
LÀ CÁC HẠT ĐANG “TƯƠNG TÁC”
Trong
nền vật lý cổ điển Newton, người ta cho “lực” trọng
trường là một tác động từ xa và tức thời mà nguồn gốc
của nó nằm trong tay Thượng đế. Trong thời kỳ đó của
thế kỷ thứ 17, nhiều người đã nêu nghi vấn, làm sao có
một thứ lực tác động “cách không”, làm sao không tiếp
xúc với nhau và tương tác lên nhau được.
Cuối
thế kỷ thứ 19, với trường điện từ của Faraday, Maxwell,
người ta đến với khái niệm chung về trường. Các nhà vật
lý thật rằng trường là một thực tại vật lý độc lập
và phát sóng tỏa khắp không gian. Trong các thứ trường đó,
các vật bị tác động trực tiếp, được thay thế. Quan trọng
nhất là, trường không phải là sản phẩm của hai vật thể
đang hút hay đẩy lẫn nhau mà chính nó là một thực tại
riêng. Trường tồn tại xung quanh một vật thể, thậm chí
có quan niệm cho rằng vật thể chỉ là điểm cô đọng nhất
của trường.
Với
thuyết tương đối tổng quát của Einstein, lược trọng trường
bỗng nhiên được lý giải một cách hoàn toàn mới. Trong
thuyết này, không gian mất tính tuyệt đối, dạng hình của
nó bị vật thể quyết định. Khối lượng của một vật
thể làm không gian xung quanh nó cong lại và làm thay đỗi quĩ
đạo của một vật thể khác đang vận hành gần đó. “Trọng
trường” trở thành một thực tại vật lý, hệ quả của
nó là “ép” vật thể đang vận hành gần đó theo một đường
con đường về trung tâm trường, một điều mà xưa nay
ta quan niệm là vật thể hút lẫn nhau.
Với
sự phát triển của cơ học lượng tử, người ta sớm nhìn
trường – trọng trường hay điện từ trường – dưới
một ánh sáng mới. Điện từ trường là một thực tại vật
lý có tính chất sóng. Thế nhưng, theo nguyên lý lương tử,
mỗi hiện tượng sóng đều được xem là tương đương với
một hiện tượng hạt. Thế thì trường điện từ có những
hạt gì? Đó là câu hỏi đầu tiên.
Người
đi xa hơn một bước và suy ra rằng, mỗi lực đẩy hay hút
đều được quan niệm là mỗi trường phát sóng, thế thì
các lực đó cũng phải do “hạt đang trao đổi” mà thành.
Einstein cho rằng trọng trường phải là một thực thể có
dạng sóng. Thế thì liệu trọng trường có “hạt” chăng?
Trong hạt nâan nguyên tử có proton cả neutron, thế thì lực
gì giữ chúng lại với nhau, liệu lực đó cũng có hạt chăng.
Tổng cộng có bao nhiêu loại lực trong thiên nhiên, liệu tất
cả các lực đều có hạt cả không và các hạt đó có gì
giống nhau, có gì khác nhau với 12 hạt trong thế giới hạ
nguyên tử mà ta nói đến trong chương trước?
Tất
cả những loại vấn đề này được nêu trong những lý thuyết
của ngành “tường lượng tử”, một ngành vật lý hết
sức thú vị mà hướng phát triển của nó còn hết sức mạnh
mẽ và chứa vô số bất ngờ. Nếu giải quyết được hết
những câu hỏi này, người ta hy vọng tiến đến một sự
đại thống nhất giữa lý thuyết tương đối và cơ học
lương tử, sẽ viết nên được công thức cuối cùng của
vũ trụ. Liệu con người có bao giờ đạt được mục đích
đó chăng? Thiên tài của thế kỷ hai mươi, Einstein, dành gần
30 năm cuối đời mình để nghiên cứu các luận đề này
nhưng cũng không đạt đươc kết quả nào đáng kể.
Khi
nghiên cứu các loại lực trong vũ trụ, từ vũ trụ cực đại
đến cực tiểu, vật lý hiện đại phát hiện một điều
giản đơn. Đó là tất cả các loại lực đó dường như
có một cơ chế chung: tất cả đều là hệ quả của sự
tương tác của cá hạt cực nhỏ. Các hạt vi mô mà ta sắp
nói đến cũng tương tự như các hạt trong thế giới hạ
nguyên tử và bản thân chúng cũng tác động lên các hạt
hạ nguyên tử đó.
Như
ta đã biết, ngày nay ta có mô hình chuẩn với 12 hạt hạ
nguyên tử. Chúng được chia thành hai loại: quark và lepton,
mỗi loại 6 hạt. Nếu dựa trên sức nặng của chúng thì
ta chia chúng làm 3 loại I, II và III, mỗi loại có 2 hạt quark
và 2 hạt lepton. Tất cả 12 hạt đó được gọi là các hạt
hợp thành nguyên tử của vật chất, chúng được gọi chung
là fermion.
Nền
vật lý hạt cơ bản ngày nay phát hiện, ngoài 12 hạt fermion,
còn một số hạt khác nữa. Các hạt này đóng vai trò “tương
tác” trong các hiện tượng vật lý mà một trong những hệ
qủa của sự tương tác đó là sinh ra lực. Tất cả các hạt
đóng vai trò tương tác được gọi là boson. Hiện nay người
ta phát hiện được 6 hạt boson.
Điều
thú vị nhất trong sư phát hiện này là khi nghiên cứu các
hạt tương tác, người ta không những lý giải được các
hiện tượng vật lý khác như sự bức xạ, sự nhiễu xạ…,
nhất là sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các hạt, tức là tính
chất của bản thân các hạt fermion và boson, tự tính của
vật chất và của cả chân không. Nơi đây người ta đụng
đến cánh cửa cuối cùng của vật chất, của chân không,
của cái đầy và cái không, của cái hiện hữu và phi hiện
hữu.
Sáu
hạt boson gồm có: hạt quang tử photon, hạt gluon, ba hạt W+,
W-, Z0 và hạt cuối cùng
là graviton. Các hạt đó tác động trong bốn loại tương tác:
tương tác trọng trường, tương tác yếu, tương tác điện
từ và tương tác mạnh.
Trong
toàn bộ vũ trụ cực đại và cực tiểu, ta chỉ có bốn
loại tương tác nên trên. Đối với con người thì tương
tác trọng trường là quen thuộc nhất. Ai cũng cảm thấy sức
nặng của một vật khi cầm trên tay. Tương tác điện từ
thì tưởng chừng như ít quen thuộc hơn, thế nhưng nó hcính
là nguyên nhân làm mọi vật chất có tính cứng nhắc. Nếu
không có lực điện từ thì sàn nhà của chúng ta chỉ là
một khoảng không vô tận và tất cả mọi người sẽ bị
lực trọng trường kéo xuống mặt đất cả. Tương tác yếu
thì xa lạ với hiện tượng bức xạ. Còn tương tác mạnh
thì thật ra con người không thể cảm nhận được, nó chỉ
xảy ra trong hạt nhân nguyên tử và trong một phạm vi hết
sức nhỏ. Thế nhưng nó chính là nguyên nhân giữ vật chất
tồn tại và một khi con người phóng thích được sức mạnh
của nó thì không có lực nào có thể so sánh được với
mức độ của lực này.
Tại
sao “lực trọng trường” bây giờ được gọi là tương
tác trọng trường? Thế nào là sự tươngtác? Nhà vật lý
hạt cơ bản quan niệm mọi sự vận hành là do các hạt tác
động lên nhau và sự tác động đó không hề trừu tượng
mà phải có những hạt “đi lại” với nhau. Những hạt
đó chính là boson, chúng dường như đóng vai trò “sứ giả”
giữa các hạt fermion (quark và lepton). Chúng tác động lên
fermion và giữa bản thân chúng cũng có tác động lẫn nhau.
Từ đó mà sinh ra lực cũng như các hiện tượng vật lý khác.
Hãy tìm hiểu sơ lược về bốn loại tương tác.
Tương
tác điện từ có một nguyên lý duy nhất: một hạt có điện
tích (thí dụ một electron, một lepton, một quark…) tại một
lúc nhất định tự phóng thích hay hấp thụ một quang tử
photon và đổi hướng vận động. Quang tử photon chính là
“sứ giả” của hạt nói trên. Chính quang tử này giải
thích tại sao khi hai hạt electron tiến gần nhau lại bị đẩy
đi. Thông thường ta cho là có một “lực đẩy” giữa hai
electron. Nhưng trong vật lý hạt, chính quang tử photon l2 sứ
giả trao đổi làm hai electron đối hướng.
Hạt
electron phía trên phóng thích một quang tử và quay hướng ngược
đi lên và đổi vận tốc. Hạt dưới hấp thụ quang tử đó
và quay đầu đi xuống. Biểu đồ được gọi là biểu đố
Feyman và l2 phép diễn tả sự tương tác của tất cả các
hạt trong mọi tương tác. Hiển nhiên các biểu đồ Feyman
khác phức tạp hơn nhiều, nhất là khi có sự tham dự của
nhiều hạt khác nhau và với các đối hạt.
Hãy
nhớ lại rằng tương tác điện từ làm mọi vật chất có
tính cứng chắc trên mặt vĩ mô. Cục đá nặng làm ta u đầu
hay kết cấu xây dựng bền bừng làm nên nhà cửa đều do
tương tác điện từ mà ra cả. Thế nhưng tất cả lực đó
đều do những hạt quang tử photon phi khối lượng trao đổi
mà thành cả. Sự cứng chắc của vật chất có nguyên ủy
từ ánh sáng! Đó là kết luận hiện nay. Ai có thể ngờ được
điều đó?
Tương
tác mạnh chỉ xảy ra giữa các hạt quark trong hạt nhân nguyên
tử và các hạt tương tác được gọi là gluton. Các hạt
gluton này “dán chặt” các quark lại với nhau và đó là
lý do chúng có tên “gluon”. Hiện nay người cho rằng có
8 hạt gluton với những đặc tính khác nhau. Chính sự tương
tác này làm nên lực hạt nhân nếu phóng thích chúng. Trước
đây người ta tưởng lực hạt nhân là do proton và neutron
trong nhân tạo nên nhưng nay vật lý đã chứng minh rằng chính
các hạt quark trong proton và neutron đã tương tác với nhau
khi hai loại hạt đó tiến sát với nhau. Các hạt quark đó
chỉ bắt đầu tương tác khi chúng sát nhau ở khoảng mức
độ mà con người không thể tưởng tượng được, khoảng
10-15m.
Tương
tác yếu xảy ra trong các tiến trình phân hủy của các hạt,
mà từ đó người ta có các hiện tượng phóng xạ hay bức
xạ. Các hạt bị phân hủy thường là các hạt quark và lepton
nặng để trở thành các hạt quark và lepton nhẹ hơn. Khi một
hạt bị phân hủy thường thường ta có hai hay nhiều hạt
mới nhưng tổng số khối lượng của những hạt mới không
bằng khối lượng cũ vì một số đã biến thành động năng.
Loại tương tác này rất khó được quan sát vì nó hay bị
các loại tương tác khác che lấp. Tương tác yếu được thực
hiện bởi các hạt “sứ giả” với khối lượng lớn như
W+, W- và Z0 nên phạm vi của nó nhỏ. Nó khác hẳn tương tác
điện từ, nơi mà hạt quang tử photon đóng vai trò “sứ
giả” thì lại không có khối lượng nên có khả năng lan
ra trong phạm vi rộng.
Tương
tác trọng trường được xem do một loại hạt graviton tác
động. Đến nay người ta chưa phát hiện được graviton cũng
như chưa xác định được sóng trọng trường. Lý do là tương
tác trọng trường có trị số quá nhỏ. Theo Newton, tương
tác trọng trường tỉ lệ thuận với tích số của hai khối
lượng. Hãy xem hai proton tương tác trọng trường với nhau,
tích số của chúng sẽ nằm ở mức độ 10-54kg2. Có lẽ vì
mức độ trọng trường quá nhỏ, ngành vật lý chưa khám
phá được hạt graviton, mặc dù về mặt lý thuyết phải
có sự hiện diện của chúng.
Ta
có thể rất ngạc nhiên về kết luận trên vì trên mặt vĩ
mô, mọi vận hành của vật chất đều tuân thủ luật trọng
trường một cách nghiêm nhặt. Điều đó không khó hiểu nếu
ta biết rằng hệ thống vĩ mô là tập hợp của vô số những
nguyên tử và qua đó khối lượng của chúng được nhân lên
vô số lần. Để có hình dung về mức độ của sự tương
tác, sau đây là bảng tỉ lệ của các loại tương tác, nếu
ta cho tương tác mạnh một mức chuẩn là 1.
Tương
tác trọng trường 10-38
Tương
tác yếu 10-5
Tương
tác điện từ 10-2
Tương
tác mạnh 1
Những
chỉ số trên cho thấy tương tác trọng trường thường bị
bỏ qua trong khi ta nghiên cứu vận động của hạt trong thế
giới hạ nguyên tử.
Mô
hình 12 hạt cơ bản kết cấu thế giới vật chất vi mô và
sáu hạt “sứ giả” (hạt graviton chưa được phát hiện)
trong bốn phép tương tác để sinh ra lực là mô hình chuẩn,
mô hình cuối cùng trong nền vật lý hiện đại, được thừa
nhận chung của cộng đồng khoa học. Chúng lý giải rất tốt
các hiện tượng xảy ra cũng như tiên đoán các kết quả
thí nghiệm trong ngành vật lý hạ nguyên tử. Nhà vật lý
Feynman, người ta đoạt giải Nobel vật lý năm 1965, đã nói
vê mô hình này: “Mô hình chuẩn vận hành thật tốt”. Mô
hình này bao gồm các hạt kết cấu vật chất lẫn các hạt
đại diện cho sự tương tác của vật chất để sinh ra lực.
Đây là mức độ mà hạt vừa có thể hình thành ánh sáng,
vừa tạo tác nên những phần tử nhỏ nhất của vật chất.
Thế
nhưng giữa nền cơ học lương tử và thuyết tương đối
vẫn chưa có sự tương thích với nhau. Nhắm tiến tới một
sự đại thống nhất trong ngành vật lý, người ta đang nỗ
lực tìm những mô hình mới, chúng phải có khả năng bao trùm
tất cảa mọi tri kiến hiện nay. Đến nay, chưa có dấu hiện
nào của sự thành tựu này.
CÁC
PHÁT TRIỂN MỚI
Chắm
một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Max Plank nêu lên tính
chất phi liên tục của năng lượng nhiệt đến ngày các nhà
vật lý thiết lập được mô hình chuẩn của các hạt. Trong
lịch sử loài người có lẽ chưa có thế kỷ nào có sự
thành tựu vĩ đại trong ngành vật lý như thế kỷ 20. Trong
thế kỷ này, con người đã mở rộng tầm nghiên cứu và
phát hiện được những mối liên hệ trong thế giới tự
nhiên từ phạm vi nhỏ nhất (khoảng 10-15m) đến phạm vi lớn
nhất (hàng tỉ năm ánh sáng). Tầm hiểu biết của con người
vươn rộng từ những vận động bình thường trong thế giới
loài người đến những vận tốc gần bằng vận tốc ánh
sáng, từ những vật thể tí hon như các hạt hạ nguyên tử
đến những đối tượng to lớn như các thiên hà mà đầu
óc con người không thể tưởng tượng được.
Đến
đầu thế kỷ thứ 21, con người có trong tay hai lý thuyết
hoàn chỉnh, đó là thuyết tương đối và mô hình chuẩn
của hạt với cơ sở chính là cơ học lượng tử. Mỗi một
lý thuyết này lại bao gồm những lý thuyết nhỏ hơn, chúng
có giá trị trong phạm vi chuyên môn của riêng chúng. Thế
nhưng hai rường cột đó hiện nay chưa được thống nhất
vào một mối. Chưa có một lý thuyết nào bao trùm cả hai,
giải thích một cách nhất quán thế giới tự nhiên, từ cực
tiểu đến cực đại.
Nhà
vật lý luôn luôn có một niềm tin là không sớm thì muộn
phải có một lý thuyết chung kết mô tả một cách trọn vẹn
thế giới tự nhiên. Họ mơ ước sẽ tìm đến với “phương
trình vũ trụ” đó trong vài chục năm tới đây. Niềm tin
của họ có một lý do chính đáng, đó là, trong những thế
kỷ qua, sự phát triển của ngành vật lý luôn luôn được
một lý thuyết mới hơn bao trùm, nhiều khái niệm tưởng
như độc lập với nhau cuối cùng là các mặt của một khái
niệm duy nhất. Thí dụ các lý thuyết về tương tác giữa
các hạt có thế lý giải tự tính của lực; hiện tượng
của thế giới nguyên tử, phân tử; thống nhất vật lý và
hóa học vào một ngành khoa học duy nhất; lý giải các hiện
tượng quang học, bức xạ, sự tự phân hủy của các hạt.
Cũng
chính vì có một phần sự thống nhất đã đạt được trong
thế kỷ trước đó, các nhà vật lý của thế kỷ 21 tự
hỏi: phải chăng bốn lọai tương tác được trình bày trong
chương trước chẳng qua chỉ là bốn dạng của một phép
tương tác? Tại sao lại có đến 12 hạt cơ bản, có các hạt
“sứ giả” sinh lực cũng như các đối hạt của chúng,
phải chăng chúng nằm trong một dòng họ duy nhất, phải chăng
chúng chỉ là những dạng khác nhau của một thực thể khác?
Tại sao lại có sự phân biệt giữa các hạt cấu thành vật
chất và các hạt mang lực, phải chăng sự phân biệt đó
hết sức giả tạo? Tại sao chúng ta chỉ quan sát được vật
chất, còn đối vật chất hầu như không thể thấy được,
mặc dù ta tin rằng vật chất và đối vật chất phải đối
xứng với nhau. Tại sao mô hình chuẩn không thể lý giải:
vì sao có hạt khối lượng, hạt khác thì không (thí dụ quang
tử photon)?
Đó
là những luận đề lớn đặt ra cho mô hình chuẩn. Các câu
hỏi quan trọng khác thuộc về trọng trường cũng vẫn chưa
được giải đáp: “vật chất tối” là gì, tại sao ta không
thấy nó nhưng nó lại đóng vai trò quan trọng trong trọng
trường. Tại sao chưa ai tìm ra được hạt graviton? Tại tương
tác này quá nhỏ hay có một vấn đề nguyên tắc?
Vì
những lý do trên, dù ngành vật lý đạt những thành công
vang dội, người ta vẫn cho rằng thế kỷ mới sẽ còn mang
lại nhiều phát hiện bất ngờ hơn nữa. Các nhà vật lý
– dù thuộc ngành lý thuyết hay thực nghiệm – đều miệt
mài nghiên cứu các mô hình mới nhằm lý giải tốt hơn nữa
các hiện tượng. Các mô hình đó một mặt phải bao trùm
những gì đã có sẵn, mặt khác phải thống nhất hơn nữa
các lý thuyết hiện không tương thích với nhau. Hiện nay có
bốn hướng phát triển của vật lý hiện đại.
Thứ
nhất, nhiều nhà vật lý tin rằng bốn loại tương tác –
tương tác mạnh, tương tác điện từ, tương tác yếu và
tương tác trọng trường – chỉ là các dạng khác nhau của
một thứ tương tác lực duy quát GUT. Nhưng làm sao chúng có
thể hợp nhất được khi trị số của chúng khác nhau một
trời một vực. Thế nhưng, người ta đang hy vọng ít nhất
ba loại tương tác đầu tiên có thể hợp nhất trong một
loại tương tác. Lý do là khi xét các loại tương tác đó
trong môi trường có năng lượng cao thì xem ra chúng đồng
qui với nhau.
Tuy
thế, trong tương lai dù ba loại tương tác đó được hợp
nhất thì loại tương tác trọng trường vẫn là một bài
toán khó giải đáp vì hai lý do: thứ nhất người ta chưa
tìm ra được hạt graviton; thứ hai, trị số của tương tác
trọng trường quá bé nhỏ. Ở đây có lẽ người ta phải
lý giải cho được vai trò của vật chất tối.
Hướng
phát triển thứ hai là lý thuyết về “siêu đối xứng”.
Trong lý thuyết này, người ta cho rằng mỗi hạt cấu tạo
thành vật chất (fermion) hay mỗi hạt “sứ giả” mang lực
(boson) đều có một “đối tác” liên hệ với mình. Đối
tác của hạt vật chất là một hạt mang lực và ngược lại
đối tác của một hạt mang lực là một hạt vật chất.
Như
thế vũ trụ phải có gấp đôi số hạt. Với giả định
này người ta hy vọng giải quyết được một số vấn đề
về “phân kỳ” mà mô hình chuẩn không giải thích được.
Đến nay con người vẫn chưa phát hiện được các đối tác
nói trên của mô hình siêu đối xứng. Các nhà khoa học tin
rằng, sở dĩ ta chưa phát hiện được chúng trên mặt thực
nghiệm là vì khối lượng của chúng quá lớn và do đó đòi
hỏi năng lượng quá cao. Vì thế, họ tin rằng đó chỉ là
vấn đề thời gian.
Một
điều làm nhà vật lý hào hứng là câu hỏi, phải chăng các
hạt đối tác này chính là chất liệu làm nên vật chất
tối. Người ta xác nhận được lực trọng trường của một
thứ vật chất vô hình mang tên vật chất tối nhưng không
thể thấy được loại vật chất này. Dường như nó không
phải do proton, neutron và electron tạo nên, phải chăng nó được
hình thành bởi các hạt đối tác siêu đối xứng này? Trong
luận đề này, người ta nêu lên điều đáng ngờ là phải
chăng thực tại có nhiều chiều hơn thực tại ba chiều của
chúng ta, và đó là lý do tại sao vật chất tối “trốn”
không cho ta thấy nó.
Hướng
phát triển thứ ba là các “lý thuyết dây”. Đây là lý
thuyết bắt đầu được đề cập tới từ những năm 70 của
thế kỷ 20 và có nhiều triển vọng nhất. Xuất phát từ
yêu cầu thống nhất thuyết tương đối tổng quát – trong
đó trọng trường đóng vai trò trung tâm và hạt graviton vẫn
chưa được phát hiện – với mô hình chuẩn của hạt với
kích thước hết sức bé nhỏ, người ta đến với hạt là
biểu hiện của những dạng kích động của một sợi dây
cơ bản. Hãy nghĩ đến một sợi dây đàn. Tùy theo độ căng
của nó mà dây phát ra những “tiếng trầm bổng” của một
sợi dây vô cùng nhỏ bé. Độ lớn của sợi dây này liên
hệ với mức độ phi liên tục được biểu diễn bởi hằng
số Planck và có kích thước khoảng 10-33cm. Hiển nhiên ta không
thể thấy được sợi dây đó vì nó quá nhỏ!
Sợi
dây này có những kích chiều vô cùng nhỏ bé và vận động
trong thời gian không gian. Nó được xem có nhiều chiều hơn
không gian ba chiều của chúng ta và vì thế đây là một khái
niệm hoàn toàn trừu tượng, đối với đầu óc con người
thì nó chỉ là một mô hình toán học. Lý thuyết dây được
sử dụng để tìm hiểu các hạt boson (hạt mang lực) cũng
như các hạt fermion (hạt vật chất). Khi nó bao trùm cả hai
loại hạt thì lý thuyết dây phải sử d