Phần
thứ nhất
NHỮNG
NGƯỜI KHAI PHÁ
MẢNH
VƯỜN ĐẦY HOA
ĐẦU
NGUỒN TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
CÁI
ĐẦY ĐẶC VÀ CÁI TRỐNG RỖNG
KHÔNG
GIAN BA CHIỀU VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THIÊN THỂ
BÓNG
TỐI VÀ ÁNH SÁNG TRONG THỜI TRUNG CỔ
KHOA
HỌC TỰ NHIÊN TRONG THỜI TRUNG CỔ
Tác
hữu trần sa hữu
Vi
không nhất thiết không
Hữu
không như thủy nguyệt
Vật
trước hữu không không
Có
thì muôn sự có
Không
thì tất cả không
Có,
không trăng đáy nước
Đừng
mắc có cùng không
Từ
Đạo Hạnh (?-1115)
MẢNH
VƯỜN ĐẦY HOA
Hai
ngàn năm trăm năm trước, Heraclitus, một triết gia Hy Lạp,
nhìn dòng nước trôi và khẳng định: “Tất cả đều trôi
chảy”. Cũng trong thời đại đó, Khổng Tử, một thánh nhân
phương đông cũng nhìn dòng đời và cảm khái: “Tất cả
đều trôi chảy thế này ư”.
Nhận
thức rằng “sự vật đang biến dịch” là một kết luận
lớn của con người, dù mới nghe qua nó không có gì vĩ đại
cả. Đó là một trong những điều chủ yếu còn đọng lại
sau nhiều suy tư sâu sắc, sau bao nhiêu quan sát và cảm nhận.
Liệu có còn những kết luận cốt tủy hơn nữa về cuộc
đời thiên hình vạn trạng, trong đó mỗi người một chứng
nghiệm một cách riêng biệt? Trên thế giới với nhiều châu
lục, nhiều nền văn hóa, nhiều cách nhận thức, nhiều quy
tắc lễ nghi khác nhau, ta có thể có những kết luận chung
về bản chất của con người và thiên nhiên hay không.
Những
câu hỏi, những vấn đề trên sẽ đến với mỗi người,
dù mới đầu chúng xem ra không thiết thực, không bức xúc.
Thật ra những băn khoăn đó đều là những điều xưa như
trái đất, cổ hơn lịch sử. Bao nhiêu thế hệ đã trôi qua
trên địa cầu này, đến rồi đi như những đợt sóng, trong
đó luôn luôn có nhiều người tự vấn, suy tư về những
điều cổ xưa đó. Và cũng vô số người đã trả lời, mỗi
người mỗi khác. Vì làm sao khác được, hễ có ý thức là
con người biết hỏi, hễ có câu hỏi là có câu trả lời
và có nhiều luận đề không ai giải đáp được một cách
chung cuộc vì chúng không giản đơn, vì mỗi người chứng
nghiệm cuộc đời một cách khác nhau.
Trẻ
con đến tuổi nào thì bắt đầu “thấy” thể giới bên
ngoài, vài tháng tuổi, hai ba tuổi hay bốn năm tuổi? Không
ai biết đích xác điều đó. Không ai có thể nhớ ngày xưa
mình bắt đầu “thấy” những gì và kể từ lúc nào. Thế
nhưng điều chắc chắn là khi ta lớn lên, thấy cha mẹ, thấy
anh em, thấy nhà cửa ruộng vườn, dần dần thấy thế giới
quanh mình. Ta thấy trái chuối vàng trên tay, thấy màu xanh
cây lá, thấy bông hoa rực đỏ, thấy dòng nước mềm mại,
thấy viên đá cứng nhắc, ta ngửi mùi thơm thức ăn, nghe
tiếng nhạc êm đềm. Tất cả những cảm quan đó đến từ
thế giới bên ngoài, chúng làm ta vui thích. Rất sớm, ta cũng
đã nhận ra, có thứ làm ta khó chịu, thậm chí đau đớn,
như lửa làm nóng tay, mặt trời chói mắt, tiếng ồn làm
nhức tai điếc óc.
Từ
bên ngoài còn có những ấn tượng khác đến với ta. Lời
nói êm dịu làm ta vui thích, tiếng gắt gỏng làm ta buồn
bực. Đến với ta không những chỉ là ấn tượng của cảm
quan do sự vật cụ thể sinh ra, mà cả những lời nói, tư
tưởng, tình cảm có tính chất trừu tượng. Ta dùng mắt
để thấy hình ảnh, tai để nghe âm thanh nhưng những điều
trừu tượng thì phải cần đến ý thức đề cảm nhận chúng.
Với
thời gian, cuộc đời dần dần trở nên phức tạp. Ta bắt
đầu ý thức về chính con người mình, đồng thời thấy
một thế giới bên ngoài bao bọc ta. Thế giới đó gồm những
gì, ta không thể biết hết, nhưng điều chắc chắn là nó
độc lập với ta, không theo ý ta, nằm ngoài khả năng kiểm
soát. Cây cối, sỏi đá, chim chóc, bàn ghế, tất cả đều
là thế giới của ta, chúng vô cùng dễ thương nhưng có thể
rất dễ ghét. Trái cây kia ngon ngọt biết bao, ta thưởng thức
nó, nhưng cái dao gọt trái cây có thể làm ta đứt tay chảy
máu. Đời ta nằm trọn trong môi trường thiên nhiên, nó có
thể cung ứng phục vụ cho ta, nó cũng có thể gây phiền hà,
tùy cách ta hành xử.
Nhưng
thiên nhiên, thế giới “khách quan” này từ đâu mà tới,
ai sinh ra nó, hẳn nó phải “có sẵn”? thật ra, không mấy
người đặt câu hỏi đó vì lẽ quá hiển nhiên, nó có từ
lúc ta chưa sinh, từ lúc toàn bộ loài người chưa hiện diện
và xem ra nó vẫn còn nếu ta không hề biết đến nó, nếu
một ngày kia loài người biến mất trên hành tinh này. Đó
là lý do tại sao không mấy người đặt câu hỏi tưởng chừng
như ngớ ngẩn kia.
Thế
nhưng xưa nay vẫn có người tự hỏi, thiên nhiên do đâu mà
có; và cụ thể hơn, những gì ta thấy, ta nghe, phải chăng
thiên nhiên tự nó như thế thật?
Hãy
ra vườn và ngắm có cây. Hoa lá rực những màu sắc thật
đậm đà, tươi đẹp. Những bông hoa màu đỏ sáng kia, ai
cho ngươi màu sắc huy hoàng như thế, mặt trời nóng bỏng
hay mảnh đất màu mỡ?
Ta
vui thích với những màu sắc rực rỡ của hoa và có lẽ ai
cũng nghĩ, những màu sắc đó là tính chất riêng tư của
hoa. Mỗi người chúng ta chắc đều nghĩ, có hay không có ta
là kẻ quan sát, có ai nhìn ngắm nó hay không để ý đến
nó, hoa vẫn mang màu sắc vàng đỏ đó. Ta nghĩ, màu vàng có
thực, màu đỏ có thực. Không, những màu sắc đó không có
thực. Ta nhầm, phần lớn chúng ta đều nhầm.
Phần
lớn chúng ta nghĩ, cặp mắt mình là như những cửa sổ trong
suốt, hình ảnh bên ngoài cứ thế mà truyền lên não. Thị
giác chỉ là một bộ phận vô tri, phản ánh trung thực những
gì có thật ở bên ngoài. Thậm chí có người, khi nghe cấu
trúc con mắt như một thấu kính làm đảo ngược hình ảnh
lên võng mạc, đã lập tức tự hỏi ai đã “quay ngược”
lại hình cho đúng chiều để não bộ nhận thức cho “đúng”.
Không phải thế, con mắt chúng ta – hay nói đúng hơn, thị
giác – không hết thụ động như một cửa sổ, ngược lại
nó chủ động cảm thọ, tưởng tượng, nhận thức, thẩm
định… để cho ta một hình ảnh nhất định.
Có
người sẽ sớm phản đối điều vừa nói bằng cách cho rằng,
tất cả mọi người đều thấy bông hoa màu vàng, màu đỏ.
Thế thì, màu vàng đỏ phải là một cái gì khách quan, độc
lập với con người. Ta có thể hỏi, làm sao anh biết màu
vàng của tôi giống màu vàng của anh cảm nhận. Đồng ý
chúng ta đều thấy rằng hoàng hôn là đẹp, nhưng ai dám bảo
đảm cái thấy, cái nhận thức đó giống nhau? Phải chăng
mọi sinh vật, thí dụ bướm đang bay dập dìu bên hoa, cũng
thấy màu vàng đó như con người đã thấy?
Thật
ra màu sắc chỉ là một sự trình hiện. Khoa học đã chứng
minh là màu sắc mà ta cảm nhận vốn là những sóng đện
từ với những tần số nhất định mà mắt người cảm nhận
chúng như màu sắc. Thế nên màu sắc vàng đỏ không nằm
nơi hoa mà nắm nơi người. Màu sắc không thực có. Sắc màu
chỉ là sự cảm nhận của con người.
Những
suy nghĩ này dễ làm ta phân vân và khó chịu. Như thế thì
phải chăng thiên nhiên chỉ một màu xám xịt ảm đạm, phải
chăng thế giới chẳng có màu sắc nào cả, chỉ có một loạt
những sóng điện từ đang rung động loạn xạ trong không
gian? Thiên nhiên sẽ không còn đáng yêu nữa? Con người “tạo
ra” màu sắc, phải chăng cáiđáng yêu chính là con người?
Vậy thì nếu không có màu sắc thì cái gì là cái khách quan
thực có trong thiên nhiên? Phải chăng là sóng điện từ, chúng
có những tần số nhất định, chúng phải tồn tại độc
lập với con người. Ít nhất cũng phải có những gì khách
quan, độc lập với con người, đó phải là thứ sóng điện
tử xa lạ nọ.
Cái
gì là cái khách quan thực có, đây là vấn đề quan trọng
nhất của loài người, của tư tưởng, của triết học. Ta
chưa đi vội vào vấn đề này. Trong giai đoạn này của cuốn
sách, ta hãy tạm cho sóng điện từ là thực có.
Hãy
lấy một thí dụ trong một lĩnh vực khác, âm nhạc chẳng
hạn. Đối với một số người lớn tuổi, âm nhạc của
thời đại ngày nay không phải là nhạc. Đó chỉ là một
mớ âm thanh hỗn độn, người nghe chỉ thêm căng thẳng mệt
mỏi. Nhưng đối với giới trẻ, nó làm vui thích, hưng phấn,
nó là nguồn giải trí cần thiết. Còn thứ âm nhạc của
một thời xa xưa, đối với họ, là hết sức chậm chạp
trì trệ, nó chỉ gây thêm chán chường. Thế nên, ai cũng
biết, âm nhạc là sự cảm nhận chủ quan. Thế thì, cái gì
có thực sau bức màn cảm nhận đó, phải chăng là một mớ
âm thanh mà ngày nay ta biết rằng chúng thực chất chỉ lànhững
sóng không khí lan tỏa trong không gian. Hay dở, hưng phấn hay
chán chường không hề nằm trong các sóng đó, chúng nằm trong
con người. Nhưng có người vẫn nửa tin nửa ngờ, họ cho
rằng phải có một thứ nghệ thuật khách quan, nếu không
thì làm sao ai cũng thừa nhận là nhạc Mozart là thiên phú,
giọng ca Elvis Presley là tuyệt vời. Đó là cái chung trong sự
cảm nhận của chúng ta, của một loài sinh vật mà ta gọi
là loài người. Nhưng ta cũng chưa vội vào đề tài này.
Thế
nên màu sắc không nằm nơi hoa, tiếng du dương không nằm
trong đàn. Cũng thế, vị ngọt của xoài không nằm trong trái,
cái nóng lạnh không nằm trong vật thể. Ta sẽ hỏi, thế
thì cái gì là cái có thực, cái gì là cái nằm ngoài, độc
lập với con người. dù ta cho rằng tất cả đều chỉ là
sự cảm nhận, thì cũng phải có một cái có thực. Nếu không
thì mùa đông, tại sao ai cũng mặc áo ấm?
Hãy
lấy một ẩn dụ cổ điển: Ban đêm có kẻ đi đường, thấy
sợi dây nhưng tưởng lầm là con rắn và ù té chạy.
Cái gì là cái thực có? Ta sẽ trả lời cái thực có hiển
nhiên là sợi dây, con rắn chỉ là ảo tưởng, không có thực.
Thế nhưng nếu con rắn không có thực thì tại sao người
kia lại sợ? Con rắn cũng chỉ là sự cảm nhận – ít nhất
là trong một phút ngắn ngủi - vì sự cảm nhận đó cũng
tương tự như có người nghe thứ âm nhạc nọ ta là một
mớ âm thanh hỗn độn.
Hơn
thế nữa, mà đây là điều quan trọng hơn: “sợi dây”
chẳng qua cũng chỉ là một sự cảm nhận, thực ra nó do một
số phần lớn phân tử vật chất hợp thành. Trong giai đoạn
này của cuốn sách, cứ cho các nguyên tử là có thực. Thế
thì sợi dây mà ta cho là có thực đó lại không hề có thực,
nó chỉ do nhiều phân tử hợp thành và ta thấy nó là sợi
dây. Thế nên sợi dây khác gì con rắn, tất cả đều là
sự cảm nhận cả? Hay một sự cảm nhận này “có giá trị”
hơn sự cảm nhận khác?
Có
thể có độc giả đã bắt đầu mất kiên nhẫn. Không lẽ
ta đánh đồng ảo giác với hiện thực, phải chăng người
điên cũng như người tỉnh? Phải chăng các thứ nguyên tử,
phân tử, sóng điện từ, sóng âm thanh…., những thứ mắt
người không nhìn thấy, chỉ chúng mới thực có, còn tất
cả là ảo giác. Những gì mà tất cả mọi người đều thừa
nhận là có thực, cùng thấy cùng nghe, đã bị “hạ giá”
thành cảm nhận chủ quan, còn những điều hết sức xa lạ
không ai nghe thấy nay được tôn thờ như là thực tại. Có
thể chấp nhận được không, những điều “điên rồ”
như thế?
Câu
chuyện còn rất dài. Thế nhưng điều cần khẳng định là,
những gì ta nghe thấy đều là sự cảm nhận của con người.
Hiện tượng xuất hiện quanh ta là cảm nhận của ta. Sau bức
màn hiện tượng đó là những gì, thực tại độc lập nào
nằm nơi đó, nó hoạt động theo quy luật nào, ta cò thể
nhận thức được nó hay không? Đó là những câu hỏi sâu
xa nhất, thú vị nhất mà hôm nay chúng ta không phải là người
đầu tiên nêu tên. Dựa trên sử sách còn truyền lại, chúng
ta biết những người đầu tiên trong nền văn minh của loài
người đã đặt vấn đề này một cách hệ thống cách đây
khoảng hơn hai ngàn năm trăm năm, tại phương Đông cũng như
phương Tây. Đến nay, chưa có câu trả lời nào thuyết phục
được tất cả mọi người.
ĐẦU
NGUỒN TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
Phần
lớn chúng ta vẫn còn lưu luyến với thế giới của mình.
Ta sẽ tự nhủ, nếu những gì mình nghe thấy chỉ là những
gì do mình cảm nhận chứ chưa chắc chúng thật như thế thì
thật là đáng tiếc. Bầu trời xanh và đám mây hồng, cây
cối và chim chóc, màu sắc và âm nhạc, liệu tất cả đều
do mình “tưởng tượng” ra ư?
Nếu
cho rằng, không, tất cả những gì ta nghe, ta thấy, chúng thực
có trong thế gian đúng y như mình cảm nhận thì thực ra ta
không phải là người duy nhất nghĩ như thế. Thực tế là
hầu như tất cả mọi người đều nghĩ như vậy cả. Tất
cả mọi người đều tin nơi một thực tại bên ngoài, hình
dáng của nó chính là những gì mình nghe thấy, nó in vào tâm
trí mình đúng như nó là. Quan niệm về một thực tại bên
ngoài đồng nhất với những gì ta cảm nhận, được triết
học xem như thuộc về chủ nghĩa duy thực. Vì sẽ còn nhiều
thứ duy thực khác tinh tế hơn nên quan niệm duy thực nói
trên có thể được gọi là chủ nghĩa duy thực giản đơn.
Xưa
nay, tuyệt đại đa số con người trên thế gian này đều
tin có một thế giới có thật ở “bên ngoài”. Thế nhưng,
điều đáng lưu ý là các đầu óc tầm cỡ trong lịch sử
tư tưởng sớm biết rằng, những gì mình nghe thấy không
phải là thực tại, chúng chỉ là hình ảnh, là ấn tượng
của thực tại. Vậy thực tại là gì? Đây là câu hỏi trung
tâm của mọi nền triết học.
Bên
bờ đông của Địa Trung Hải cách đây gần 2500 năm có một
nhà hiền triết Hy Lạp tên gọi Socrates. Ông là con trai của
một nghệ sĩ tạc tượng, bản thân ông cũng làm nghề tạc
tượng và sống một cuộc đời hết sức đạm bạc, hầu
như khổ hạnh. Về sau Socrates sớm xao lãng nghề nghiệp lẫn
gia đình chỉ vì cái tính ham nói chuyện triết học với những
người cùng thời. Cuối cùng, ông không để lại một tác
phẩm nào cả, người ta chỉ lưu truyền những gì ông nói.
Thế nhưng tư tưỡng của Socrates để lại cho muôn đời sau
sâu đậm đến nỗi Karl Jaspers phải nói,”điều kiện bắt
buộc khi triết lý là không được quên Socrates”.
Socrates
là người như thế nào mà nhiều trường phái triết học
của hậu thế đều trích dẫn lời ông, ai cũng thấy nơi
ông là nền tảng triết lý của mình? Còn ông, thì ông lại
nói: “Tôi biết mình không biết gì cả”. Ông “không biết”,
nhưng điều chắc chắn là Socrates tin nơi một thực tại bên
ngoài có thực và ông phân biệt rõ hiện tượng và tự tính
của mọisự thông qua các hiện tượng đơn lẻ. Hiện tượng
là cái có sinh thành hoại diệt, còn tự tính là cái thường
hằng mà ông tin nó đứng ngay sau mọi hiện tượng. Socrates
cho rằng sự hiểu biết về hiện tượng chưa phải là tri
kiến đích thực mà tự tính thì khó nắm bắt nên mới nói
mình ”Không biết gì cả”.
Trong
những ngày xa xưa đó, Socrates đã tìm cách thông qua các hiện
tượng cảm quan để quả quyết có một cái đích thực, độc
lập với sự vật sinh diệt. Ngắm một bông hoa hồng tươi
đẹp, liên hệ với mọi thứ tươi đẹp khác trong thế gian,
ông cho rằng có cái thiện mỹ hiện hữu tự nó. Sở dĩ một
bông hoa đẹp vì nó có phần trong cái thiện mỹ đó. Cảm
quan con người không thể nhận biết được tự tính thiện
mỹ đó – hay nói chung, không thể nhận biết mọi thứ cốt
lõi – mà chỉ có tư duy con người mới tiếp cận được
chúng. Về sau trước khi bị từ hình, ông cho rằng cả tư
duy con người cũng không thể biết đến, chỉ có Thượng
đế mới biết đến thực tại thuần túy đó. Socrates là
người đầu tiên nêu rõ mối quan hệ then chốt nhất của
mọi ngành triết học, cả phương Tây lẫn phương Đông.
Socrates
có nhiều học trò, trong đó có một người tên gọi là Plato.
Plato thuộc dòng dõi qúi tộc của thành Athens tại Hy Lạp,
lẽ ra ông phải trở thành một nhà chính trị. Thế nhưng,
trong tuổi thiếu niên ông đã gặp Socrates và mối liên hệ
với thấy được giữ mãi cho đến ngày cuối cùng của Socrates.
Vị thầy này đã để lại ảnh hưởng lớn lao trong sự nghiệp
của nhà quí tộc trẻ tuổi. Sau cái chết của Socrates, Plato
thấy rõ tính chất thối nát của nhà cầm quyền, ông từ
bỏ con đường chính trị và thực hiện nhiều chuyến du khảo
khắp các nước vùng Địa Trung Hải.
Plato
nối tiếp sự nghiệp của Socrates và đưa quan niệm của thầy
mình về mối liên hệ giữa hiện tượng và tự tính lên
một bước phát triển mới mẻ và tinh tế. Plato cho rằng,
sở dĩ con người quan sát và nhận thức được sự vật là
vì thế gian đã có sẵn “ý niệm” về sự vật đó. Ý
niệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiện tượng. Hiện tượng
bắt nguồn từ ý niệm nhưng không phải là ý niệm. Hiện
tượng thì bất toàn, có sinh có diệt nhưng ý niệm là cái
toàn hảo. Hiện tượng thì nằm trong thời gian và không gian
nhưng ý niệm thì phi thời gian, phi không gian, bất hoại. Thí
dụ, vòng tròn là một tập hợp của những điểm có cùng
khoảng cách từ một tâm điểm. Khái niệm đó về vòng tròn
bắt nguồn từ một “vòng tròn đích thực và nhất quán”.
Có vô số vòng tròn (hiện tượng) nhưng chỉ có một vòng
tròn đích thực (ý niệm).
Quan
điểm triết học của Plato là tin rằng con người phải vượt
qua cảm quan thông thường để tiến tới một thế giới của
ý niệm nhằm nắm bắt thực tại. Thế giới hiện tượng
là bức màn che đậy thiên nhiên và chỉ ý niệm mới tiếp
cận với thực tại đích thực được. Plato còn đột phá
một bước mới, ông cho rằng thiên nhiên có thể được mô
tả bằng toán học và toán học chính là dạng hình nội tại
của thiên nhiên. Theo Plato, ý niệm là toàn hảo, là gốc gác
của hiện tượng; và ý niệm lại được mô tả bằng toán
học nên hiện tượng cũng có thể mô tả bằng toán học.
Vì lẽ đó, thiên thể trong bầu trời phải vận động trong
những quỹ đạo hình tròn mà tâm điểm là trái đất. Đó
là suy tư đầu tiên của thời cổ đại về thiên văn.
Những
điều nghe qua ngây thơ này thật ra là những thành tựu vĩ
đại của con người thời đó. Từ một sinh vật bé nhỏ,
con người dám vươn lên suy tư về sự vật và vũ trụ, thử
vén mở bức màn của hiện tượng để tìm hiểu sau đó có
những gì và trừu tượng hóa có thể nắm bắt được thực
tại. Đó là những bước đi dài ngàn năm một thuở, mà Hy
Lạp là xứ có hân hạnh đã sản sinh những thiên tài kỳ
lạ nhất cho loài người. Và thực vậy, Plato đã đặt nền
móng về triết học của ngành khoa học tự nhiên suốt cả
ngàn năm sau đó. Ngày nay toàn bộ khoa học tự nhiên đều
được phát biểu bằng ngôn ngữ chính xác của toán học,
bằng một phương tiện ưu việt mà người tiên phong phải
là Plato.
Lý
thuyết “ý niệm” của Plato đã mở đường cho phép sử
dụng mô hình chính xác của toán học để mô tả thế giới
hiện tượng. Đó là nguyên tắc cơ bản cuả ngành vật lý.
Thế nhưng, ta cần thấy một điều. Tư tưởng của Plato dựa
trên nhiều điều tiên quyết về mặt bản thể học mà hai
ngàn năm sau người ta mới bắt đầu thấy chúng chỉ là những
giả định. Plato cho rằng, một là, có một thực tại tồn
tại “bên ngoài”, độc lập với đầu óc con người; hai
là, ý thức con người có thể tiếp cận với thực tại đó;
và ba là, thực tại đó có thể được biểu diễn bằng toán
học.
Thực
tế là ba quan niệm nói trên quá tự nhiên đến nỗi tư tưởng
con người xưa nay đều xuất phát từ nó, cho chúng ta là điều
hiển nhiên. Một thực tại độc lập với con người hẳn
phải là điều tiên quyết. Thực tại đó phải có sẵn trước
khi con người sinh ra trên địa cầu. Thiên nhiên là chiếc
nôi sinh ra con người, thế giới hiện tượng hiện diện hoàn
toàn độc lập với con người. Con người có biết đến,
có ngắm nhìn thiên nhiên hay không thì cũng không tác động
gì lên thiên nhiên cả. Đó là quan niệm thứ nhất.
Sau
đó hiển nhiên là đầu óc con người phải tiếp cận được
với thực tại, nếu không thì tất cả mọi tư duy đều vô
bổ, nếu không thì không có vấn đề nào được đặt ra.
Không những thế, thực tại phải rất gần gũi với đầu
óc con người vì nó được biểu diễn bằng toán học, một
sản phẩm của tư duy thuần túy.
Ba
điều nói trên thật ra chỉ là ba giả định, nếu nói một
cách đúng nghĩa là ba giả định siêu hình. Thế nhưng vì
chúng xem ra quá hiển nhiên nên phần lớn các nhà tư tưởng
và khoa học tự nhiên quên rằng chúng chỉ là giả định.
Thậm chí các nhà khoa học cổ đại xem toán học là tính
chất nội tại của thiên nhiên, thiên nhiên được xây dựng
bằng những quy luật của toán học. Plato từng nói “Thượng
đế là một nhà hình học”.
Với
sự phát triển của tư tưởng và khoa học, các giả định
này ngày càng tinh tế hơn và tính chất đa nguyên của tư
duy bắt đầu lộ rõ. Plato có một học trò xuất sắc nhưng
“phóng khoáng và ham vui”, đó là Aristotle.
Nếu
Plato chỉ tìm hiểu đường đi của các thiên thể thì Aristotle
tự hỏi tại sao các thiên thể lại vận động. Ông đi xa
hơn Plato ở hchỗ nêu câu hỏi nguyên ủy của sự vận động.
Ông đến với kết luận là, mọi thiên thể vận động hay
nói chung mọi hiện tượng sinh diệt là do một nguyên nhân
bất động tác động lên. Đó là Thượng đế. Aristotle không
chấp nhận quan điểm của Plato, xem “ý niệm” như là tự
tính của hiện tượng. Aristotle cho rằng tự tính của sự
vật nằm ngay bên trong sự vật. Đối với Aristotle, tự tính
cần dạng hình, sắc thể để xuất hiện, ngược lại mỗi
sắc thể phải mang trong mình một tự tính nhất định, cũng
như không thể có hình dạng mà không có chất liệu. Mọi
hiện tượng đều là dạng xuất hiện của một cái tự tính
bất di bất dịch và cái đó chính là Thượng đế. Hơn thế
nữa, tâm thức của Thượng đế cũng chính là nguồn gốc
của tư duy con người và tư duy con người cũng chịu sinh diệt
như mọi hiện tượng khác.
Với
Aristotle, thực tại vốn độc lập với con người nay đã
có một nguyên ủy sâu xa, đó là Thượng đế. Ta dễ tò mò
tự hỏi, Thượng đế là ai, ai sinh ra Thượng đế. Câu hỏi
đó không ai trả lời được. Thượng đế vốn cũng là một
giả định siêu hình. Thế nhưng cách đặt vấn đề của
Aristotle được thần học và cả khoa học phương Tây chấp
nhận cả hai ngàn năm qua, đến nay vẫn còn được nhiều
người thừa nhận.
Điều
thú vị là quan điểm xem mọi hiện tượng là sự xuất hiện
của một cái duy nhất là cách nhìn quán xuyến nhất của
triết học cả phương Đông lẫn phương Tây. Về sau này ta
sẽ thấy, vấn đề sẽ rút lại trong một luận đề thuộc
bản thể luận và câu hỏi còn lại duy nhất là Thượng đế
là gì hay là ai.
Với
tính cách là triết gia của nhận thức luận, Aristotle còn
đi vào lịch sử tư duy của loài người như một nhà vật
lý tiên phong. Ông đã đi xây dựng một nền vật lý khá hoàn
chỉnh trong thời đại bấy giờ; đưa ra phạm trù tự tính
– sắc thể của triết học vào nền vật lý sơ khai của
nhân loại để xây dựng khái niệm chất liệu – hình dạng
và bắt đầu nêu lên những nguyên lý của một thực tại
vật lý. Với Aristotle, nền vật lý đã đến với những định
nghĩa hoàn chỉnh về cấu tạo vật chất, về không gian thời
gian, về khái niệm của chân không, về các nguyên nhân và
nguyên nhân cuối cùng của sự vận động. Aristotle nói về
sự chuyển hóa của các dạng vật chất, trong đó luận đề
nổi tiếng của ông là “từ sự trống rỗng không thể sinh
ra vật gì, một vật không thể biến thành cái trống rỗng”.
Luận đề này là tiền thân của nguyên lý bảo toàn năng
lượng mà ta biết đến ngày nay.
Nền
vật lý của Aristotle trường tồn hơn mười lăm thế kỷ,
lâu hơn hẳn mọi nền vật lý mà hiện tại chúng ta biết
đến.
CÁI
ĐẦY ĐẶC VÀ CÁI TRỐNG RỖNG
Aristotle
đặt nền tảng cho nền vật lý đầu tiên của con người.
Thế nhưng ông coi thường lĩnh vực “thế gian”, muốn hướng
tư duy của mình về Thượng đế, về nguyên ủy của mọi
vận động. Đối với Aristotle, vật chất được hình thành
bởi bốn yếu tố đất, nước, lửa, gió. Ông dừng lại
tại đó và không muốn tìm hiểu thêm nguồn gốc của vật
chất. Song song với trường phái của Socrates, Plato, Aristotle,
tại miền Hy Lạp khả kính của ngày xưa, trước công nguyên
đã có nhiều hiền nhân bắt đầu dò tìm nguồn gốc của
vật chất.
Có
một vị hiền triết tên là Parmenides. Vị này sống tại miền
nam nước Ý, thời đó thuộc Hy Lạp, vào khoảng thời đức
Phật Thích Ca của Ấn Độ. Parmenides ưa thích làm thơ, đọc
kệ và giảng giải quan điểm về thết giới trong những bài
thơ kệ đó. Ông là một trong những triết gia đầu tiên của
phương Tây phân biệt giữa cảm quan và lý tính, cho rằng
cảm quan không thể nắm bắt được thực tại mà chỉ một
quá trình tư duy biện chứng mới tiếp cận được với sự
thực. Và thực tại của Parmenides là một cái “toàn thể,
không thành, không hoại, bất động, toàn hảo”. Thực tại
cả Parmenides dường như là một khối tròn vĩ đại, không
có giới hạn của thời gian lẫn không gian. Đó là một thực
tại không có chỗ cho chân không vì nếu đã là chân không
thì không phải là thực tại. Theo Parmenides, thực tại là
phi vật chất, nó chính là đối tượng của tư duy.
Thế
nhưng tại sao lại có vũ trụ, có thể giới hiện tượng
với muôn hình muôn vẻ? Theo Parmenides, tính đa nguyên của
vũ trụ xuất hiện bởi có hai cực “sáng, tối”, do một
nữ thần vận hành và điều chỉnh. Trên cơ sở của sự
tương tác giữa hai cực này mà vũ trụ xuất hiện. Thế nhưng,
thế giới hiện tượng mang đầy những cặp mâu thuẫn nhị
nguyên đó lại cũng chính là thực tại. Thế giới hiện tượng
cùng là thực tại bởi nó do con người xuất phát từ thực
tại mà cảm nhận ra như thế. Thế nên không phải có hai
thế giới – thực tại và thế giới hiện tượng – mà
có hai cách cảm nhận thế giới. Con người là kẻ “tạo
tác” thế giới giả tạo của mình. Đây là tiền thân của
quan niệm thế giới là một sự trình hiện.
Parmenides
là người đầu tiên đặt nền móng của bản thể học. Tư
tưởng của ông dẫn xuất ra hai huớng lớn, một là lý luận
logic của biện chứng học và bản thể học, hai là khoa học
về tự nhiên. Song song, ý nệm về một cái “không thành
không hoại” tồn tại lâu dài với thời gian trong ngành vật
lý. Có lẽ Parmenides không hề ngờ quan niệm này đã đóng
một vai trò trung tâm trong khái niệm về vật chất của khoa
học tự nhiên suốt mấy ngàn năm sau và ngày nay nó vẫn tiếp
tục nằm trong một vật thể tí hon mà người ta gọi là hạt
cơ bản.
Cái
“bất hoại” trong tư tưởng của Parmenides xem ra có một
sức thu hút mãnh liệt khi con người muốn biết thế giới
vật chất do những gì cấu tạo nên. Sau Parmenides khoảng 20
năm có một triết gia Hy Lạp tên gọi là Empedokdes ra đời.
Ông cũng là một nhà hoạt động chính trị và bị chính quyền
thời đó lưu đày, phải sống lưu vong. Ông thừa nhận quan
điểm bất hoại của Parmenides và cho rằng thế giới vật
chất được tạo thành bởi bốn nguyên tố cơ bản: đất,
nước, gió, lửa. Tính chất của bốn nguyên tố đó là bất
thành, bất hoại, không biến dịch, đồng thể. Thế nhưng,
khác với Parmenides, với Empedokdes các nguyên tố đó lại vận
động và chúng có thể được chia nhỏ ra để phối hợp,
trộn lẫn với nhau. Mọi vật trên đời đều do sự phối
hợp của bốn nguyên tố đó mà thành – trong một tỉ lệ
toán học nhất định. Nhưng cái gì là động cơ làm chúng
vận động? Empedokdes cho rằng có hai thể “yêu, ghét” làm
các nguyên tố vận hành. Cái “yêu” có lực hút lớn, làm
chúng tụ hội, cái “ghét” có lực đẩy, làm chúng tách
lìa. Hai thể yêu ghét đó hiển nhiên có tính chất siêu hình
học,
chúng là động cơ hình thành và hoại diệt của mọi vật,
của mọi cơ cấu vi mô và vĩ mô.
Từ
“yêu ghét” hẳn làm ta thấy kỳ lạ và tự hỏi tại sao
người xưa phải đưa yếu tố tâm lý này vào trong khoa
học tự nhiên. Ta sẽ thấy, hình dung về vật chầt đang vận
động thì dễ nhưng tìm hiểu động lực nào làm chúng vận
động là một câu hỏi rất khó, nó luôn luôn dẫn đến các
tư tưởng thuộc về thần học. Gần hai ngàn năm sau chỉ
có một thiên tài như Newton mới tạm thời đưa ra được
những giả định đầu tiên để mô tả sự vận động đó
và nguyên nhân của nó, nhưng đối với cả Newton thì nguyên
nhân cuối cùng vẫn có tính chất thiêng liêng, vẫ nằm trong
lĩnh vực của thần học.
Sau
Empedokdes khoảng mười lăm năm, xuất hiện một triết gia
Hy Lạp khác, cũng lấy thực tại “bất hoại” của Parmenides
làm nền tảng cho triết học của mình. Đó là Leucippus mà
ngày nay người ta cho rằng là người phát minh ra khái niệm
“nguyên tử”. Ông cho rằng thế giới được tạo nên bằng
vô số nguyên tử tí hon, chúng đặc cứng và không thể phân
chia. Đặc tính của chúng là liên tục vận động, qua đó
chúng va chạm và liên kết với nhau. Khi chúng liên kết lại
thì sự vật thành hình và cho cảm quan cho người những cảm
giác khác nhau. Sự vật không hề cứng chắc như ta lầm tưởng
mà do vô số nguyên tử kết thành và mọi sự vật sở dĩ
khác nhau là do các nguyên tử khác nhau về dạng hình và cấu
trúc xếp đặt của chúng. Cùng với quan điểm này, Leucippus
nêu lên một khái niệm vô cùng quan trọng, đó là không gian
trống rỗng. Không gian trống rỗng là cái tách rời các nguyên
tử với nhau, là chỗ để nguyên tử vận hành. Với quan điểm
của mình, Leucippus còn nêu lên một triết lý sâu sắc nữa,
đó là thế giới hiện tượng không hề chỉ là bóng dáng
vô nghĩa của một thực tại sâu kín mà nó vận hành từ
một nguyên nhân hẳn hoi và có thể lý giải được. Leucippus
đã “giải cứu hiện tượng”, cho nó một ý nghĩa đích
thực và điều này có ảnh hưởng rất lớn về sau.
Leucippus
có một vị học trò vui tính, đó là Democritus. Ông được
mệnh danh là “triết gia hay cười” – để phân biệt với
Heraclitus, “triết gia hay khóc” – người hay cười đùa
về sự khờ dại của người đời. Ông học rộng biết nhiều;
đời ông là cuộc đời du khảo. Ông từng nói, “thà tìm
được một nguyên lý còn hơn làm vua xứ Ba Tư”. Và nguyên
lý của ông quả nhiên làm nền tảng cho ngàn năm về sau.
Vừa
tiếp thu, vừa điều chỉnh thuyết nguyên tử của thầy Leucippus,
Democritus cho rằng thực tại chỉ gồm có cái dầy đặc và
cái trống rỗng. Cái dầy đặc do vô số nguyên tử bất hoại
cấu tạo nên, chúng chỉ khác nhau về hình dạng, kích thước,
trọng lượng. Toàn bộ sự vật trong thế giới – kể cả
linh hồn con người – chỉ là các hạt nguyên tử đang vận
hành trong không gian trống rỗng. vì thế nhiều người xem
Democritus phải là nhà duy vật đầu tiên của lịch sử tư
tưởng. Tất cả đều là hệ quả của sự vận hành nguyên
tử, ngoài ra không có gì khác. Những hiện tượng như xanh
hay đỏ, ngọt hay chua, lạnh hay nóng đều chỉ là cảm quan,
là “ý kiến” của con người khi bị nguyên tử tác động
lên; trong thực tại các cảm quan đó không hề hiện hữu.
Hình dung của Democritus về thực tại là cơ sở của chủ
nghĩa duy vật cơ giới, được Galileo tiếp thu và là nền
tảng của toàn bộ nền vật lý cổ điển đến đầu thế
kỷ thứ hai mươi.
KHÔNG
GIAN BA CHIỀU VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THIÊN THỂ
Quan
điểm về cái đầy đặc và cái trống rỗng đã đạt thành
công vang dội ngay trong đầu công nguyên. “Cái đầy đặc”
của vật chất sớm được mô hình hóa vằng một điểm vật
chất, nó di động trong không gian ba chiều theo những quĩ đạo
có thể tính trước bằng toán học. Và những bài toán đầu
tiên của loài người không hề là những điều giản đơn
trong đời sống hàng ngày mà là vận động của thiên thể
trong bầu trời. Trong số những nhà thiên văn học đầu tiên
của loài người, ngày nay người ta vẫn còn nhắc đến Ptolemy
mà công trình của ông vẫn còn giá trị cho đến ngày nay,
mặc dù hồi đó người ta luôn tưởng trái đất là trung
tâm của vũ trụ, mọi thiên thể quay xung quanh nó.
Thời
đại của Ptolemy đã đấu dấu hai thành tựu lớn của nền
thiên văn học Hy Lạp: một là người ta đã có một mô hình
về sự vận động của mặt trời và mặt trăng, hai là nhà
toán học đã biết đến phép tính lượng giác. Thế nhưng,
đến thời Ptolemy, với thiên tài toán học cùng với sự quan
sát chi li sắc sảo, ông đã xây dựng một mô hình về vũ
trụ hoàn chỉnh. Mô hình đó có giá trị 14 thế kỷ, mãi
cho dến lúc Copernicus điều chỉnh lại trong thế kỷ thứ
16. Ptolemy để lại một tác phẩm lớn có đề tựa Almages
với 13 tập. Ông đã tính toán chính xác thời điểm của
các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực; đã tính toán và
lý giải độ lệch của mặt trăng trong quá trình vận động.
ông đã tổng kết lại hệt thống các định tinh mà 88 bộ
sao do ông phát hiện ngày nay vẫn còn đóng một vai trò trong
thiên văn học. Đặc biệt, Ptolemy có một khuynh hướng lớn
trong quan điểm của mình, đó là ông đưa ra nhiều mô hình,
nhìều giả thiết khác nhau để giải thích một hiện tượng
và cho rằng các mô hình đó là sản phẩm của đầu óc nghĩ
ra, không nhất thiết thực tại phải vận hành đúng như thế.
Quan
điểm này là đầu nguồn của chủ nghĩa công cụ, xem lý
thuyết và mô hình chỉ là “công cụ” để khảo cứu thực
tại chứ không nhất thiết đúng thực như thế. Như ta sẽ
thấy, chủ nghĩa công cụ trong khoa học đóng một vai trò
quan trọng trong triết học về thiên nhiên mà về sau sẽ được
nhắc đến.
Thế
nên, từ đầu công nguyên, một nền khoa học về tự nhiên
với một thế giới quan hoàn chỉnh ra đời. Dĩ nhiên, nó
còn rất thô sơ mà nhiệm vụ chính của nó chỉ là mô tả
và tình toán sự vận động của vật chất, trong đó người
ta chưa biết đến về lực. Người ta chỉ tiên đoán chúng
sẽ đi đến đâu, trong không gian và thời gian. Vì những lẽ
đó, không gian va thời gian là hai yếu tố chính của vũ trụ
quan này, và đó là hai yếu tố chủ yếu nhất của hoa học
tự nhiên đồng thời cũng là hai khái niệm khó hiểu nhất.
Thế
nhưng, trước khi nói đến “không gian”, một vấn đề triết
học sẽ làm ta nhức đầu, đã nhắc đến một người mà
ta thường nghe tên, một nhà toán học thời cổ đại mà công
trình của ông đã tồn tại đến ngày hôm nay. Đó là Euclid,
người mà khi ta nói đến không gian và toán học, ta không
thể quên.
Không
ai rõ đời sống riêng tư của nhà toán học Hy Lạp này, người
ta chỉ biết tác phẩm Các yếu tố của ông có ảnh hưởng
lớn nhất của suy tư tâm linh phương Tây, là tác phẩm không
những chỉ đặt nền tảng cho hình học và toán học mà nó
còn nêu lên phép lý luận thuộc về phạm trù lý tính.
Trong
lịch sử khoa học, không mấy ai viết được những tác phẩm
sắc sảo và nhất quán được như Euclid. Trong Các yếu tố
của ông có ảnh hưởng lớn nhất của suy tư tâm linh phương
Tây, là tác phẩm không những chỉ đặt nền tảng cho hình
học và toán học mà nó còn nêu lên phép lý luận thuộc về
phạm trù lý tính.
Trong
lịch sử khoa học, không mấy ai viết được những tác phẩm
sắc sảo và nhất quán được như Euclid. Trong Các yếu tố
với 13 tập, ông luôn luôn bắt đầu với những định nghĩa,
sau đó là những giả định hay tiền đề. Trên cơ sở đó
ông xây dựng một tòa lâu đài của lý luận logic, chặt chẽ
và nhất quán với nhau. Bởi thế, Euclid nêu lên cả một mẫu
hình của lý luận, không chỉ được hạn chế trong hình học
hay toán học. Lịch sử khoa học cho ta thấy, mọi lâu đài
lý luận đều xây dựng trên những định đề không chứng
minh được, những định đề mà Wallace gọi là những “giả
định siêu hình”. Trong toán học thì với năm định đề,
Euclid xây dựng nên một nền hình học phẳng mà ngày nay chúng
ta còn học.
Với
không gian ba chiều của Euclid, về sau Newton xây dựng nên một
khái niệm về không gian tuyệt đối, độc lập, đồng thể.
Đó là một sân khấu vĩ đại mà trong đó vật chất tha hồ
vận động. vật chất vận động trong không gian cũng như
diễn viên trên sàn diễn, không có diễn viên thì sàn diễn
cũng vẫn tồn tại. Cũng như thế, không gian là cái bất di
bất dịch, vật chất không hề ảnh hưởng gì lên không gian
cả.
Không
gian là “vật” nằm ngoài con người, là khách quan, là có
sẵn. Ngay cả Ptolemy – người đã từng nghĩ các mô hình
của mình về thiên thể là do đầu óc con người giả định
chứ chưa chắc thực tại đúng như thế - cũng xem không gian
tồn tại khách quan, độc lập, là sân khấu để các thiên
thể vận hành, là cái làm vật chất rạch ròi riêng lẻ bằng
cách tách rời chúng ra khỏi nhau. Ptolemy không phải là người
duy nhất nhận thức như vậy và quả thật, không gian Euclid
là nền tảng của thế giới quan cơ học có giá trị mãi
đến đầu thế kỷ hai mươi. Thật ra thì một không gian như
thế cũng chỉ là một giả định siêu hình, dù xem ra nó rất
thật đối với chúng ta.
Thế
nhưng, nếu suy nghĩ kỹ, ta sẽ thấy khái niệm về không gian
không hề đơn giản, ngay cả trong thời đại của vật lý
cổ điển. Thời đó người ta cho rằng không gian chứa đựng
vật thể, không gian là một đối tượng độc lập. Thế
nhưng vật thể có thể bị đấy qua một bên nhưng không ai
nghĩ có thể đẩy không gian qua một bên. Vật thể có thể
tồn tại “đâu đó” trong không gian nhưng không thể nói
không gian tồn tại “đâu đó”. Thật ra nhờ có không
gian mới có “đâu đó”. Người ta chấp nhận không gian
là một đối tượng độc lập nhưng nó không thể được
so sánh với vật thể, đó là tính phi đối xứng giữa không
gian và vật thể. Đó là, ta không thể tưởng tượng một
vật nằm “ngoài” không gian nhưng lại chấp nhận một không
gian không có vật thể, lúc đó ta sẽ nói không gian “trống
rỗng”.
Câu
hỏi quan trọng ở đây là liệu vật thể và không gian là
hai đối tượng độc lập hay không gian chỉ là tính chất
của vật thể. Newton cho rằng không gian tồn tại độc lập,
còn Leibniz cảm thấy không gian chỉ là thuộc tính của vật
thể. Nhà vật lý Mach tiếp nhận và bênh vực ý kiến của
Leibniz; nhưng về sau cả hai đều bị lý luận của Newton đánh
quị vì Newton cho rằng phải có một không gian độc lập,
nếu không thì làm sao giải thích được tính chất tuyệt
đối của gia tốc. Nhưng, thú vị thy, trong khoa học không
dễ sớm quyết định được kẻ thắng, người bại. Quan
niệm của Leibniz và Mach về sau đã mở đường cho nền vật
lý tương đối, trong đó không gian lại trở thành thuộc tính
của vật chất. Dù sao đi nữa, môn hình học – môn khoa học
về không gian – không đơn thuần là một ngành khoa học như
các ngành khác mà nó còn là cơ sở, là nền tảng của ngành
vật lý và nhận thức luận.
Đến
đây, hẳn ta bắt đầu rối trí vì các vấn đề triết học.
Nhưng quả thật, khoa học không thể tách rời khỏi triết
học, hai lĩnh vực này luôn luôn bổ túc cho nhau. Cái khó của
chúng ta thường không phải là tính chất triết học của
vấn đề được đặt ra, mà cái khó nằm ở chỗ ta phải
quay lại với những khái niệm quá quen thuộuc như không gian
thời gian, với những điều tưởng chừng như “có sẵn”.
Thế giới quanh ta, không gian, thời gian, sự biến dịch vận
động, tất cả những điều đó không sớm thì muộn sẽ
bị khoa học và triết học thẩm vấn, thực chất chúng là
chì, chúng nằm ngoài ta một cách độc lập hay chỉ là sự
tương tác với giác quan của ta, vai trò của chúng đối với
ý thức của ta như thế nào.
BÓNG
TỐI VÀ ÁNH SÁNG TRONG THỜI TRUNG CỔ
Người
Hy Lạp là một dân tộc kỳ lạ. Họ đã sản sinh cho loài
người suốt một ngàn năm vô số nhân tài về khoa học và
triết học. Trong thể kỷ thứ năm có một triết gia tên là
Proclus. Ông là người triển khai thêm toán học của Euclid,
mang lại cho nền toán học và hình học một vai trò trung tâm
trong triết học về tự nhiên. Thế nhưng ông đồng thời
cũng đưa ra nghi vấn, rằng các mô hình toán học về sư vận
hành của các thiên thể chỉ là sự tiấp cận gần đúng,
rằng có thể có nhiều giả thiết khác nhau nhưng lại lý
giải ổn thỏa cho một hiện tượng duy nhất. Suy tư của
ông cả ngàn năm sau mới được chứng nghiệm.
Một
thí dụ cụ thể là ngành thiên văn. Thiên văn học của Ptolemy
đặt giả định mọi thiên thể đều quay quanh trái đất.
Giả định đó hoàn toàn sau, thế nhưng những tiên đoán về
các hiện tượng nhật thực nguyệt thực vẫn xẩy ra chính
xác. Mãi đến khi Copernicus vào khoảng đầu thế kỷ thứ
16 khẳng định “trái đất không phải là trung tâm của thế
giới” trong tác phẩm Derevolutionibus, người ta mới hay các
giả định cũ đều sai lầm từ cơ bản.
Suy
nghĩ của Proclus mở đầu cho một quan niệm mới, đó là các
mô hình không tương thích lẫn nhau vẫn có thể cho một lời
giải giống nhau về mặt thực nghiệm. Điều này sẽ để
lại ảnh hưởng rất lớn trong ngành vật lý và làm cho các
lý thuyết gia cần cẩn trọng hơn về các mô hình của mình.
Thực vậy, các cuộc cách mạng về vật lý đều bắt đầu
bằng những mô hình mới về thực tại. Dần dần người
ta biết rõ, một mô hình cho những tiên đoán chính xác không
nhất thiết phải đúng với thực tại, chúng chỉ có khả
năng “giải cứu hiện tuợng” chứ chưa chắc nói lên đúng
bản thân thực tại.
Kể
từ khoảng thế kỷ thứ năm công nguyên, dường như Hy Lạp
đã cạn kiệt nhân tài. Gia tài khoa học và triết học Hy
Lạp được trao lại cho một thời kỳ mà ta gọi là thời
“Trung cổ” đây là cách gọi của phương Tây, thời kỳ
được xem là kéo dài từ thế kỷ thứ 5 đến cuối thế
kỷ thứ 14. Thời kỳ Trung cổ được hậu thế tại phương
Tây xem là “bóng tối” vì quả thật đây là một khoảng
thời gian dài gần một ngàn năm mà vắng bóng những phát
hiện khoa học và triết học quan trọng. Một lẽ khác mà
phương Tây ưa xem nhẹ thời kỳ này là vì khoảng từ thế
kỷ thứ 9 đến 13, nền văn minh và học thuật của người
hồi giáo Ả Rập vượt trội hơn châu Âu trên tất cả mọi
phương diện như triết học, khoa học, toán học, thiên văn
cùng như y khoa. Nhân vật Ả Rập đáng kể nhất trong thời
đại này phải là Averroes.
Averroes
là một bác sĩ và là nhà tư tưởng được xem là xuất sắc
của thế kỷ thứ 12. Ông sớm đến với các tác phẩm của
Aristotle, vốn đã được dịch ra tiếng Ả Rập khoảng năm
950. Thời đại của Averroes là giai đoạn mà tư tưởng Hồi
giáo bắt đầu xơ cứng, chỉ biết tin vào giáo điều, xa
lánh khoa học, nghi ngờ triết gia. Không sợ bơi ngược dòng,
Averroes theo những nguyên lý của Aristotle, theo đó thế giới
là trường tồn, trí năng là thể tâm linh bất tử, con người
có thể lý giải thế giới thông qua những định luật vật
lý. Quan điểm triết học này về thiên nhiên chỉ làm các
nhà chức sắc trong giáo hội Hồi giáo và cả thiên chúa giáo
khó chịu. Averroes soi rọi và làm tinh tế thêm mối liên hệ
giữa niềm tin và lý tính, giữa cái tin và cái biết, một
trong những vấn đề trọng đại nhất của triết học phương
Tây. Ông là một nhà bác học xuất chúng trong nhiều lĩnh
vực và để lại gần 80 tác phẩm với khoảng 20.000 trang
khảo cứu mọi vấn đề về triết học, lý luận học, y
học, khoa học tự nhiên. Cuối đời, Averroes bị chủ nghĩa
giáo điều của Hồi giáo lên án, bị lưu đày đi Marrakesh
ở Bắc Phi và mất tại đó.
Trong
lịch sử khoa học, Averroes là một trong những người đầu
tiên bị chủ trương giáo điều của tôn giáo bức hại. Ông
không hề là nạn nhân suy nhất vì cũng ngay trong thế kỷ
thứ 12, Giáo hội Thiên chúa giáo cũng đã bắt đầu thi hành
một thứ “Tòa án dị giáo” để lên án và uy hiếp một
cách hết sức hà khắc những ai có ý kiến khác với họ.
Nhiều nạn nhân cũa thứ toà án này là những nhân vật hết
sức xuất chúng của khoa học mà về sau ta sẽ biết rõ. Và
chế độ tòa án này kéo dài gần sáu trăm năm, đến thế
ký 18 mới chấm dứt. “Bóng tối của thời Trung cổ”, như
cách nói của phương Tây, không phải chỉ là thời đại ưu
việt của Hồi giáo so với Thiên chúa giáo mà cách dùng chữ
ám chỉ sự xuất hiện của tư tưởng áp đặt kẻ khác theo
ý kiến của mình, dựa trên thần quyền hay sự độc tôn
tư tưởng.
Sống
đồng thời với Averroes có một người Đức tên là
Albertus Magnus. Ông được mệnh danh là “Doctor universalis”vì
có một kiến thức và tầm nhìn hết sức uyên bác. Albertus
Magnus là người đầu tiên nhấn mạnh vai trò thực nghiệm
của khoa học tự nhiên. Đối với ông, lý thuyết không quan
trọng mà “kinh nghiệm từ những quan sát cõ thể lặp lại
là thầy dạy trong khoa học tự nhiên”. Ông trình bày quan
điểm này qua những tác phẩm có qui mô từ thiên văn học
cho đến khoa học về sinh vật, đất đá và cỏ cây, tất
cả đều xất phát từ sự quan sát của chính mình. Albertus
Magnus phải là người tiên phong cho một khuynh hướng quan trọng
của ngành vật lý tương lai, khuynh hướng thực nhgiệm chuyên
về quan sát và đo lường, khác với những đầu óc chuyên
về lý thuyết và thiết lập mô hình.
Albertus
Magnus có một học trò hết sức xuất sắc, người tiếp nối
và hoàn thiện công trình của ông về sự thống nhất giữa
triết học Aristotle và thần học Thiên chúa giáo. Đó là Thomas
Aquinas, một tài năng vĩ đại.
Thomas
Aquinas lớn lên giữa thế kỷ thứ 13 tại Ý. Đó là một
thời kỳ bắt đều biến động tại Tây âu về mặt triết
học, thần học và xã hội. Lúc mới lên năm, Thomas Aquinas
đã được tưa vào tu viện để thụ huấn về thần học.
Hồi đó Giáo hội Thiên chúa giáo phải đối phó với
những vấn đề hết sức nan giải và có khả năng bị xã
hội cô lấp nếu không biết trả lời thích đáng những vấn
đề của thời đại.
Vấn
đề số một được đặt ra là mối liên hệ giữa niềm
tin và khoa học; và khoa học ở đây là hệ thống đồ sộ
của Aristotle. Điều oái oăm là tư tưởng của Aristotle vốn
đã bị quên lãng vài trăm năm trước nay bỗng nhiên được
sự chú ý của giới trí thức trong thế kỷ thứ 13, thông
qua các triết gia Ả Rập, trong đó có Averroes. Trong thời đại
này thì tư tưởng của Aristotle xuất hiện như một hệ thống
có thể lý giải thực tại vắng lý tính. Trước khi tư tưởng
Aristotle du nhập thì Giáo hội còn dựa vào chủ nghĩa “tân
Plato” để nhìn thế giới như hình ảnh và dấu ấn của
Thượng đế. Nay với quan điểm của Aristotle về thực tại,
cho rằng khoa học được lý tính khai sinh, chủ trương này
đối chọi trực tiếp với niềm tin của Giáo hội.
Đó
cũng là thời kỳ mà các trường đại học tại châu Âu ra
đời và mâu thuẫn giữa lý tính và niềm tin bỗng trở nên
nan giải. Giáo hội không làm gì khác hơn là chống trả mãnh
liệt. Vì thế, tư tưởng của Aristotle bị Giáo hội tẩy
chay, đại học Paris bị cấm giảng dạy triết học về khoa
tự nhiên của Aristotle từ năm 1215.
Song
song với vấn đề trên, xã hội Tây âu bắt đầu hình thành
một lớp thị dân có thế lực kinh tế và quyền hành chính
trị. Các nhà nước Tây âu ra đời, nhiều nhà vua tìm cách
xa lánh giáo hoàng Roma. Đồng thời trong Giáo hội cũng có
nhiều khuynh hướng nảy sinh chống lại tính chất “nhập
thể” quá mức của Thiên chúa giáo.
Trong
bối cảnh rối ren đó, tuy bị cấm đoán, tư tưởng Aristotle
vẫn thổi một luống không khí mới, cho con người tự tin
về khả năng nắm bắt thực tại của chính mình, đẩy niềm
tin vào một vị trí không cần thiết. Đúng lúc đó thì Thomas
Aquinas ra đời.
Theo
chính lời của Albertus Magnus thầy của Thomas Aquinas thì người
học trò xuất sắc này không những thống nhất lý tính và
niềm tin vào một mối, mà thống nhất cả hai nền triết
học của Plato và Aristotle với nhau. Đối với Thomas Aquinas
thì vũ trụ, con người, lý tính là niềm tin đều bắt nguồn
từ Thượng đế cả, con người nhận thức được thực tại
bằng ánh sáng của Thượng đế. Thượng đế tạo ra vũ trụ,
cũng như con người tạo ra dụng cụ rồi sử dụng chúng,
như nghệ nhân tạo nên tác phẩm nghệ thuật bằng ý chí
của mình. Thượng đế là “phi cá thể, toàn trí, toàn năng,
toàn hảo, bất động, không thể nghĩ bàn và là nguyên ủy
của tất cả mọi sự xảy ra”. Thượng đế tạo dựng vũ
trụ và các “đơn vị” – thí dụ một con người, đóa
hoa hồng hay con lừa – sống trong vũ trụ đó với tính cá
thể nhưng mang hình ảnh và tính chất như chính mình.
Thượng
đế được Thomas Aquinas xem là nguyên nhân “uyên nguyên”
của thực tại, còn sự vật bị biếtn dịch trong thực tại
là do nguyên nhân “thứ cấp” của bản thân thực tại.
Có khi Thượng đế trực tiếp can thiệp vào thực tại; và
đó là lý do để “phép lạ” có thể xảy ra.
Hệ
thống tư tưởng của Thomas Aquinas hết sức quy mô và phong
phú. Ông đã cung cấp một nền triết học bao quát làm nền
tảng cho Giáo hộ suốt vài trăm năm. Năm 1332, Thomas Aquinas
được phong thánh, nắm 1567 được xem là “giáo thụ”, là
tư tưởng gia Giáo hội Thiên chúa giáo, của cả một nền
thần học phương Tây.
Thomas
Aquinas mất năm 1274, trước vị thầy Albertus Magnus của mình.
Ông nói riêng với người em gái: “Tất cả những gì tôi
viết ra chỉ như một cọng rơm so với những gì tôi mặc
khải”. Không ai biết ông đã được mặc khải nhũng gì.
KHOA
HỌC TỰ NHIÊN TRONG THỜI TRUNG CỔ
Hãy
tìm hiểu, người ta nghĩ gì về thế giới tự nhiên trong
thời kỳ Trung cổ của châu Âu, tức là thời đại cách đây
khoảng sáu trăm năm. Thoạt nhìn, ta sẽ thấy, tư duy thời
đó có nhiều điều thật kỳ lạ, thậm chí ngây ngô, nhưng
sau này ta sẽ biết, chúng là những hệ tư tưởng hẳn hoi
và có giá trị đến ngày hôm nay.
Từ
xưa đến nay, tư duy của con người vẫn xoay quanh câu hỏi
then chốt nhất: thực tại trước mắt này là gì, do đâu
mà có, tính chất của nó như thế nào. Điều chắc chắn
là thế giới hiện tượng thay đổi không ngừng. Thế thì
sự vận động trong thiên nhiên, thực chất của chúng là
gì, do những nguyên nhân nào gây nên.
Khoảng
thế kỷ thứ 13, với hệ tư tưởng bao trùm của Thomas Aquinas,
quan niệm sau đây của Aristotle về “vận động” được
thừa nhận và trở thành nòng cốt của khoa học tự nhiên
trong thời Trung cổ.
Đối
với Aristotle, sự vận động không chỉ bao hàm sự biến dịch
của vật thể trong không gian – như sự vận hành của các
thiên thể - mà gồm tổng cộng bốn lĩnh vực: sự biến dịch
của vật thể trong không gian; sự biến hoại của thể chất,
thí dụ mộ khối gỗ biến thành tro và khói; sự biến hoại
của tính chất, thí dụ cây lá đổi màu; và cuối cùng là
sự thay đổi, tăng hay giảm về chất lượng của vật thể.
Như thế, với định nghĩa này, sự vận động theo Aristotle
chính là sự thay đổi của toàn bộ thế giới hiện tượng.
Aristotle
cho rằng, thiên nhiên đang trải rộng trước mắt ta do bốn
yếu tố đất, nước, gió, lửa tạo nên. Đất thuộc yếu
tố nặng, chìm xuống dưới và trở thành trung tâm của vũ
trụ. Lửa có khuynh hướng vươn lên, hướng ra ngoài. Còn
gió và nước là hai yếu tố nằm giữa đất và lửa, chúng
tùy vật thể bao quanh chúng nặng hay nhẹ hơn mà vận hành
lên hay xuống. Aristotle phân biệt hai loại vận động, vận
động tự nhiên với động lực nằm trong lòng vật thể,
ví dụmột cái cấy đang phát triển. Loại vận động thứ
hai là vận động bắt buộc mà động lực nằm ngoài vật
thể, thí dụ một hòn đá bị ném đi.
Nếu
so sánh tính chất khoa học tự nhiên của Aristotle với phương
pháp tư duy hiện đại, ta thấy có nhiều điều khác biệt
rất cơ bản. Aristotle chỉ quan tâm đến loại vận động
tự nhiên và tìm hiểu tính chất cũng như nguyên nhân tại
sao sự vật vận động. Theo ông thì sự vật vận động vì
nhắm một mục đích tự thân, cái nặng thì “hướng đến”chỗ
thấp, trong trường hợp thực vật thì cái cây “hướng đến”
dạng hình trưởng thành của nó. Sự vận động là tính chất
nội tại chung của mọi vật và Aristotle chỉ chú ý tính chất
then chốt chung nhất đó, ông xét thiên nhiên dưới khía cạnh
tính khẳng định của sự vật. Ngược lại, tư duy khoa học
ngày nay xét thiên nhiên qua khía cạnh tính liên hệ của sự
vật, trong đó người ta chú ý đến mối liên hệ trong không
gian và thời gian của một sự vật này đến sự vật khác.
Khoa
học tự nhiên của Aristotle còn một tính chất đặc biệt
nữa. Đó là nó xuất phát từ những định đề và trên cơ
sở đó mà ông xây dựng một tòa lâu đài của suy luận.
Tính chất đó tương tự như hình học của Euclid, trong đó
một số giả định được xem là hiển nhiên và làm nền
tảng cho cả một hệ thống lý luận. Vì lẽ đó, khoa học
tự nhiên của Aristotle mang tính chất của phép suy diễn tuyệt
đối. Đó là phép lý luận “từ trên đi xuống”.
Ngược
lại, nền khoa học tự nhiên ngày nay được bắt đầu từ
thế kỷ thứ 16 thì lại khác. Nó xuất phát từ những mô
hình lý thuyết đó được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Trong quá trình đó, mô hình nào lý giải và tiên đoán được
kết quả thực nghiệm thì được xem là đúng đắn. Vì lẽ
đó, nền khoa học tự nhiên ngày nay mang tính chất của phép
suy diễn giả thiết. Đó là phép lý luận “từ dưới đi
lên”.
Với
Thomas Aquinas, tư tưởng của Aristotle được hoàn thiện về
mặt thần học. Aristotle xem mọi sự vật đều là sự vận
động, hơn thế nữa, ông cho rằng nguyên ủy của mọi vận
động đó phải là một thực thể bất động, nó chính là
cái duy nhất làm mọi sự vận hành. Cái duy nhất đó được
Thomas Aquinas trả lời rành mạch, đó chính là Thượng đế.
Thượng đế với sức sáng tạo vô biên đã tạo dựng mọi
đơn vị theo cách của mình và để chúng vận động theo qui
luật do mình đặt ra.
Thomas
Aquinas còn nêu lên một khái niệm vô cùng hệ trọng nữa
trong ngành vật lý, đó là “lực”, là sức mạnh của Thượng
đế tác dụng lên vật thể mà không cần sự xúc chạm, một
thứ “lực từ xa”. Thứ lực này về sau được Newton lý
giải cho tính chất lực trọng trường của mình, nó được
thừa nhận suốt bảy trăm năm. Khái niệm về lực tác dụng
mà không cần sự xúc chạm này thật ra rất kỳ quặc nhưng
nghịch lý thay, lại rất hiển nhiên đối với chúng ta. Thứ
lực trọng trường “từ xa và tức thời” này phải đợi
đến Einstein của thế kỷ thứ 20 mới bị phá bỏ.
Nền
khoa chọ tự nhiên của thời Trung cổ còn sinh ra một khái
niệm hết sức quan trọng nữa, thời đó người ta gọi là
“khả năng”. Khả năng là nguồn gốc của lực và Thượng
đế là kẻ biến khả năng thành hiện thực. Về sau từ “khả
năng” trở thành một khái niệm quan trọng trong nền vật
lý của thời Phục hưng, là khái niệm trung tâm của thuyết
bảo toàn năng lượng. Đến thế kỷ 20, “khả năng” được
gọi là trường, và khái niệm trường sẽ còn đóng một
vai trò tuyệt đối quan trọng trong nền vật lý hiện đại.
Với
quan niệm về vận động, về các yếu tố cấu tạo thành
vật chất, với những khái niệm mới về lực và khả
năng, nền khoa học tự nhiên của Aristotle trong thời Trung
cổ là rất nhất quán và thành công trong thời kỳ đó.
Gần
ba trăm năm sau khi người Ý Thomas Aquinas mất, một người
Ý khác ra đời, đó là Galileo. Ông là người đầu tiên từ
vbỏ khoa học tự nhiên của Aristotle và Thomas Aquinas, từ bỏ
phép lý luận “từ trên đi xuống”. Galileo đã dưa quan đểm
thực nghiệm vào khoa học, dùng thực nghiệm để chứng minh
cho mô hình lý thuyết. Ông cũng chính là người khai sinh nền
vật lý của thời đại mới đồng thới là người đưa đường
dẫn lối cho khoa học và kỹ thuật phát triển một cách vũ
bão trong hơn ba thế kỷ qua.
WP:
Hoàng Ngọc Anh