CHA
ĐỠ ĐẦU CỦA KỶ NGUYÊN NGUYÊN TỬ
Albert
Einstein và thuyết tương đối
Albert
Einstein là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử,
mà ngay khi còn sống đã trở thành một nhân vật huyền thoại.
Tư tưởng của ông càng bí hiểm, người đời càng muốn
hiểu, và tư tưởng chừng như tiếng nói của ông từ đỉnh
núi Olympia vọng xuống trần gian. Bertrand Russel đã nhận xét
rất đúng: “Ai cũng biết Einstein đã làm được những chuyện
kỳ lạ, nhưng rất ít người hiểu đó là chuyện gì”. Cứ
tạm cho rằng, mặc dầu không đúng hẳn, thế giới này chỉ
có chừng một tá người hiểu trọn vẹn lý thuyết của Einstein
về vũ trụ, thì sự kiện này đã thách thức hàng ngàn nếu
không nói là hàng triệu người quyết tâm cố tìm hiểu xem
nhà toán học phù thủy đó đã nói những gì.
Einstein
khó hiểu vì phạm vi tư tưởng của ông vô cùng rộng lớn
và phức tạp. T.E. Bridges đã nhắc đến một nhà khoa học
Anh, từng viết rằng:
“Học
thuyết của Einstein kết hợp sự kiện vật lý với sự kiện
toán học và chỉ có thể giải thích bằng toán học. Muốn
hiểu học thuyết của Einstein không thể không có một trình
độ toán học rất cao”.
George
W. Gray cũng nói tương tự:
“Einstein
trình bày thuyết Tương đối bằng ngôn ngữ toán học, vì
vậy rất khó trình bày thuyết này bằng thứ ngôn ngữ nào
khác. Nếu trình bày thuyết Tương đối bằng ngôn ngữ thông
thường thì chẳng khác gì dùng một cây kèn saxophone để
dạo khúc hòa tấu số 5 của Beethoven”.
Tuy
nhiên có lẽ có một vài nét trong vũ trụ quan của Einstein
có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường mà chỉ cần
đến ngôn ngữ số hệ của toán học. Đây thật là một
thứ thế giới kỳ ảo, làm đảo lộn những tư tưởng bắt
rễ từ bao thế kỷ nay, “một món hổ lốn lạ lùng rất
khó tiêu hóa đối với nhiều người”. Einstein bắt chúng
ta tin những điều khó tin thí dụ như: không gian hình cong,
đường ngắn nhất nối liền hai điểm không phải là đường
thẳng, vũ trụ có hạn nhưng không có biên giới, hai đường
song song cuối cùng sẽ gặp nhau, tia sáng đi theo đường vòng
cung, thời gian có tính chất tương đối và mỗi nơi phải
do một cách, phải đo chiều dài tùy theo tốc độ, vũ trụ
không phải hình cầu mà là hình trụ, một vật thể chuyển
động thì kích thước co lại, nhưng khối lượng lại tăng
lên, thời gian là chiều thứ tư thêm vào ba chiều cao, dài
và rộng...
Những
đóng góp của Einstein cho khoa học nhiều không kể xiết, nhưng
trước hết phải kể đến thuyết tương đối mà theo lời
Banesh Hoffman “có một tính chất vĩ đại để đặt Einstein
ngang hàng với những nhà khoa học lớn nhất của mọi thời
đại như Isaac Newton và Archimède. Những nghịch lý mê hoặc
và những thành công rực rỡ đã kích động mãnh liệt trí
tưởng tượng của mọi người”.
Cuộc
cách mạng của Einstein bắt đầu vào năm 1905, tức là năm
tờ Chuyên san vật lý học ở Đức Annalen der Physik đăng một
bài báo dài chừng 30 trang với cái nhan đề tầm thường là
Động điện của những vật thể chuyển động. Năm đó Einstein
mới 26 tuổi và là một viên chức bình thường trong cơ quan
cấp bằng sáng chế ở Thụy Sĩ. Einstein sinh trong một gia
đình Do thái trung lưu ở Ulm, Bavaria năm 1879. Khi còn nhỏ không
có biểu hiện nào chứng tỏ ông là “thần đồng”, ngoại
trừ năng khiếu toán học. Vì hoàn cảnh gia đình, nên năm
15 tuổi, Einstein phải tự lập. Sau này di cư sang Thụy Sĩ,
Einstein theo học khoa học tại trường đại học bách khoa
Zurich, thành hôn với một bạn sinh viên và trở thành công
dân Thụy Sĩ. Không thực hiện được giấc mộng làm giáo
sư đại học để kiếm sống, Einstein đành chấp nhận làm
công chức, có nhiệm vụ thảo báo cáo và viết lại đơn
từ của các nhà sáng chế gửi cho cơ quan cấp bằng sáng
chế. Thời giờ rảnh, Einstein nghiên cứu rộng rãi tác phẩm
của các nhà triết học, khoa học và toán học. Chẳng bao
lâu sau ông đã chuẩn bị đầy đủ để tung ra một loạt
những đóng góp mới cho khoa học, những đóng góp sẽ có
tiếng vang rộng lớn sau này.
Trong
tác phẩm năm 1905, Einstein tung ra “Thuyết Tương đối đặc
biệt” làm rung chuyển quan niệm chung về không gian, thời
gian, vật chất và năng lượng. Toàn bộ thuyết tương đối
này dựa vào hai giả thuyết cốt yếu. Giả thuyết thứ nhất
là: mọi sự chuyển động đều có tính chất tương đối.
Để có một ý niệm cụ thể về nguyên tắc này, người
ta thường hay lấy ví dụ người ngồi trong toa xe hỏa đang
chạy. Nếu tất cả các cửa đều đóng kín, tối như bưng
thì mọi người ngồi trên xe không có ý thức gì về tốc
độ và phương hướng, thậm chí có lẽ không biết cả xe
đang chạy nữa. Một người đi tàu thủy, nếu các cửa đóng
kín, cũng ở trong tình trạng tương tự. Chúng ta nhận thức
được sự chuyển động là qua sự tương đối với các vật
khác. Ngay cả trái đất quay chúng ta cũng không nhận thấy,
nếu không có những tinh cầu khác để so sánh.
Giả
thuyết trụ cột thứ hai của Einstein là: Tốc độ của ánh
sáng không bị lệ thuộc vào sự chuyển động của nguồn
sáng. Tốc độ của tia sáng bao giờ cũng là 186.000 dặm một
giây đồng hồ (xấp xỉ 300.000km/giây), bất kỳ ở nơi nào.
Tia sáng xuyên qua trong toa xe hỏa đang chạy cũng có tốc độ
ngang với tốc độ tia sáng chạy ở ngoài toa xe. Không có
mãnh lực nào vượt được tốc độ của ánh sáng, chỉ tốc
độ hạt điện tử mới suýt soát được với tốc độ của
ánh sáng. Như vậy ánh sáng là thực thể độc nhất trong
vũ trụ không bao giờ biến đổi.
Cuộc
thí nghiệm nổi tiếng do hai nhà khoa học Mỹ Michelson và Morley
thực hiện vào năm 1887 đã tạo cơ sở cho thuyết của Einstein
về ánh sáng. Để đo tốc độ của ánh sáng cho đúng một
cách tuyệt đối, hai nhà khoa học kia đã chế ra một hệ
thống máy móc như sau: Hai đường ống, mỗi đường ống
dài chừng một dặm được đặt thẳng góc với nhau. Đường
ống thứ nhất đặt theo cùng chiều với chiều trái đất
quanh chung quanh mặt trời, đường ống thứ hai hướng ngược
lại với chiều quay của trái đất. Ở đầu mỗi một đường
ống đặt một tấm gương cùng một lúc chiếu vào cả hai
đường ống một chùm ánh sáng. Thời đó người ta tin rằng
chỗ nào trống không, là có khí éther, và nếu thuyết này
đúng thì một tia sáng sẽ chạy theo đường ống như người
ta bơi ngược chiều, và một tia sáng khác sẽ chạy theo đường
ống như người ta bơi xuôi chiều. Nhưng sau cuộc thí nghiệm,
mọi người đều ngạc nhiên thấy rằng cả hai chùm tia sáng
cùng dội ngược lại vào đúng một lúc như nhau. Thí nghiệm
đó bị coi là một thất bại.
Thuyết
của Einstein tung ra năm 1905 để trả lời những thắc mắc
của Michelson, Morley và các nhà vật lý học khác. Trong các
khoảng trống không có khí éther và cuộc thí nghiệm với
hai đường ống đã đo rất đúng tốc độ của ánh sáng.
Căn cứ vào thí nghiệm này, Einstein suy ra điều vô cùng quan
trọng là tốc độ của ánh sáng không bao giờ thay đổi bất
kể đo dưới điều kiện nào, và sự chuyển động của trái
đất quay chung quanh mặt trời cũng không ảnh hưởng gì đến
tốc độ của ánh sáng.
Trái
với Newton, Einstein khẳng định rằng không làm gì có sự
chuyển động tuyệt đối. Quan niệm có vật thể chuyển động
một cách tuyệt đối trong không gian là điều vô lý. Sự
chuyển động của vật thể chỉ là tương đối với sự
chuyển dộng của vật thể khác.
Trạng
thái của mọi vật thể là chuyển động ở trên mặt đất
và khắp mọi nơi trong vũ trụ, không có vật thể nào là
tuyệt đối đứng yên. Trong vũ trụ động, từ vật thể
nhỏ như nguyên tử đến những dải thiên hà bao la, sự chuyển
động là trạng thái vĩnh hằng. Trái đất quay chung quanh mặt
trời với tốc độ 20 dặm/giây đồng hồ. Trong vũ trụ tất
cả đều chuyển động, và không có thứ gì đứng im một
chỗ, thì làm gì có tiêu chuẩn để đo tốc độ, chiều dài,
kích thước, khối lượng và thời gian, ngoại trừ đo với
sự chuyển động tương đối. Chỉ có ánh sáng là tuyệt
đối, vì tốc độ của ánh sáng lúc nào cũng là 186.000dặm/giây
đồng hồ, bất kể nguồn sáng, bất kể vị trí quan sát,
đúng như cuộc thí nghiệm Michelson - Morley đã chứng tỏ.
Trong
số những quan niệm của Einstein về vũ trụ, quan niệm về
sự tương đối của thời gian đi ngược với quan niệm xưa
nay, và khó hiểu hơn cả. Einstein chủ trương rằng: những
biến cố xảy ra ở nhiều nơi khác nhau có thể xảy ra cùng
một lúc đối với kẻ này, nhưng xảy ra khác lúc đối với
kẻ khác ở một vị trí chuyển động tương đối với người
trước. Thí dụ hai biến cố xảy ra cùng một lúc đối với
người quan sát đứng trên mặt đất, có thể xảy ra khác
lúc đối với người ngồi trên xe hỏa hay máy bay. Thời gian
không tuyệt đối, mà là tương đối với vị trí và tốc
độ của người quan sát. Áp dụng thuyết này để nhận định
vũ trụ, người ta thấy rằng một biến cố, thí dụ một
vụ nổ xảy ra không một lúc đối với người quan sát ở
ngay trên tinh cầu đó và người quan sát ở trên trái đất.
Một biến cố diễn ra trên một tinh cầu xa lắc có thể hàng
năm mới chuyển hình ảnh tới mặt đất, mặc dầu ánh sáng
chạy với tốc độ 186.000 dặm/giây đồng hồ. Vì tinh tú
ta quan sát thấy hôm nay chỉ là vì tinh tú của bao nhiêu năm
về trước, và có thể lúc này vì tinh tú ấy đã không còn.
Theo
thuyết tương đối của Einstein thì người ta có thể đuổi
kịp quá khứ và sinh ra ở tương lai nếu người ta có tốc
độ vượt tốc độ ánh sáng. Mỗi tinh cầu chuyển động
có một hệ thống thời gian riêng, khác hẳn hệ thống thời
gian ở mọi tinh cầu khác. Một ngày trên trái đất chỉ là
thời gian đủ để trái đất quay một vòng trên trục của
nó. Sao Mộc mất nhiều thời giờ hơn trái đất để quay
chung quanh mặt trời, vì vậy một năm trên sao Mộc dài hơn
một năm trên trái đất. Tốc độ càng nhanh, thời gian càng
chậm. Chúng ta đều quen chỉ nghĩ rằng mọi vật thể đều
có ba chiều, nhưng Einstein chủ trương thời gian cũng là một
chiều của không gian. Thời gian và không gian không thể tách
rời nhau. Mọi vật luôn luôn chuyển động, cho nên theo quan
niệm của Einstein, chúng ta sống trong một vũ trụ bốn chiều
mà thời gian là chiều thứ tư.
Nói
tóm lại, tiền đề cơ bản của thuyết Einstein trình bày
lần đầu tiên nửa thế kỷ trước đây là tính tương đối
của mọi chuyển động, và tính tuyệt đối độc nhất của
ánh sáng.
Triển
khai nguyên lý tương đối của mọi sự chuyển động, Einstein
còn làm sụp đổ một quan niệm khác vốn vững chắc từ
xa xưa. Từ trước người ta vẫn tin rằng chiều dài và khối
lượng trong mọi trường hợp có thể quan niệm được vẫn
là tuyệt đối và không thể thay đổi. Bây giờ Einstein khẳng
định khối lượng hay trọng lượng cùng chiều dài của một
vật thể thay đổi tùy theo tốc độ của vật thể đó. Einstein
đưa ra thí dụ: một đoàn xe lửa dài một ngàn bộ (Bộ:
0,304 mét) chạy với tốc độ bốn phần năm tốc độ của
ánh sáng. Đối với người đứng yên một chỗ thì đoàn
tàu chạy chỉ còn dài 600 bộ, những đối với người ngồi
trên thì đoàn tàu vẫn dài đủ 1000 bộ.
Tương
tự như đoàn tàu, mọi vật thể chuyển động trong không
gian cũng đều co ngắn lại tùy theo tốc độ. Một chiếc
gậy dài 100 mã (mã (inch) = 0,025 mét), nếu phóng lên không
gian với tốc độ 161.000 dặm/giây đồng hồ, sẽ co ngắn
lại chỉ còn dài nửa mã. Trái đất thì quay trục nên chu
vi cũng co rút lại chừng sáu phân mét.
Khối
lượng cũng có thể thay đổi. Tốc độ càng nhanh thì khối
lượng của vật thể càng tăng. Nhiều cuộc thí nghiệm đã
chứng tỏ rằng vật thể bắn lên không gian với tốc độ
lên tới 86% tốc độ ánh sáng, sẽ cân nặng gấp đôi so
với khi còn nằm yên dưới đất. Sự kiện này có hậu quả
quan trọng trong công cuộc phát triển nguyên tử sau này.
Thuyết
tương đối của Einstein trình bày năm 1905 được coi là “Lý
thuyết hạn chế về tính tương đối” vì chỉ áp dụng
riêng đối với sự chuyển động. Tuy nhiên, trong vũ trụ
chúng ta, hành tinh và các thiên thể rất ít khi chuyển động
đều theo đường thẳng. Một lý thuyết phải bao gồm được
mọi thứ chuyển động, mới đủ để mô tả vũ trụ. Vì
lẽ đó, Einstein đã phải dành mười năm để xây dựng “Lý
thuyết Tổng quát về tính tương đối”, trong đó ông nghiên
cứu sức mạnh huyền bí đã hướng dẫn sự chuyển động
của các hành tinh, định tinh, sao chổi, thiên thạch, thiên
hà và những vật thể khác quay cuồng trong khoảng không của
vũ trụ bao la.
Trong
“lý thuyết tổng quát về tính tương đối” công bố năm
1915, Einstein đề ra một quan niệm mới về sức hút, đảo
lộn hẳn những quan điểm về trọng lực và ánh sáng đã
được người ta chấp nhận từ thời Isaac Newton. Newton cho
trọng lực là một lực, nhưng khác với Newton, Einstein chứng
minh rằng khoảng không gian chung quanh một hành tinh hay một
thiên thể, là một trường hấp dẫn tương tự như từ trường
chung quanh đá nam châm. Những vật thể lớn như mặt trời,
các vì tinh tú đều tỏa ra chung quanh một trường hấp dẫn
rất rộng. Trái đất và mặt trăng hút nhau là vì vậy.
Thuyết
trường hấp dẫn còn giải thích những chuyển động không
bình thường của sao Kim, một hành tinh gần mặt trời nhất,
những chuyển động là nát óc những nhà thiên văn học tờ
bao thế kỷ nay và là một trường hợp ngoại lệ, không tuân
theo định luật về sức hút của Newton. Trường hấp dẫn
các tinh tú có sức cực mạnh có thể bẻ cong tia sáng. Vào
năm 1919, tức là mấy năm sau khi thuyết tổng quát về tính
tương đối được tung ra, những bức ảnh chụp được trong
một vụ nhật thực đã xác nhận thuyết của Einstein là đúng:
các tia sáng đi theo đường cong chứ không phải đường thẳng,
do bị tác động trường hấp dẫn của mặt trời.
Từ
tiền đề đó, Einstein suy ra rằng: không gian hình cong. Chịu
ảnh hưởng của mặt trời, các hành tinh quay theo những đường
nào ngắn nhất, tương tự như con sông khi chảy ra biển, tùy
theo địa hình mà chảy theo những đường tự nhiên nhất,
dễ chảy nhất. Trong phạm vi trái đất, một con tàu hay một
chuyến phi cơ vượt biển, đi theo không phải đường thẳng
mà là đường cong nghĩa là cung của một vòng tròn. Hiển
nhiên là đường gần nhất giữa hai điểm không phải đường
thẳng mà là đường cong. Định luật này còn đúng cả với
sự chuyển động của hành tinh hay tia sáng.
Nếu
chấp nhận thuyết không gian có hình cong, phải đương nhiên
chấp nhận thuyết không gian hữu hạn. Ví dụ, một tia sáng
xuất phát ở một vì sao, sau hàng triệu năm ra đi, vẫn sẽ
trở về nguồn sáng cũ, chẳng khác gì nhà du lịch đi một
chuyến vòng quanh thế giới. Vũ trụ không phải là diễn ra
bất tận trong không gian, mà có những giới hạn tuy không
thể xác định được những giới hạn này.
Trong
số những khám phá vĩ đại của Einstein về khoa học, đóng
góp của ông cho công cuộc nghiên cứu về nguyên tử là có
tác dụng trực tiếp và sâu rộng nhất đối với thế giới
ngày nay. Ít lâu sau khi tờ chuyên san vật lý học tung ra thuyết
tương đối vào năm 1905, Einstein còn cho đăng ở báo này một
bài báo ngắn có tầm vang dội rất lớn, nhan đề là “Quán
tính của một vật thể có tùy thuộc vào năng lượng của
vật thể đó không?”. Einstein xác định rằng: ít ra là trên
lý thuyết năng lượng nguyên tử có thể sử dụng được.
Sức mạnh khủng khiếp của nguyên tử có thể được giải
tỏa theo một phương trình do Einstein đề ra: E = mc2, nghĩa
là: năng lượng bằng khối lượng nhân với tốc độ của
ánh sáng, rồi lại nhân với tốc độ của ánh sáng lần
nữa. Nói một cách cụ thể, Einstein cho rằng: trong nửa cân
Anh (cân Anh = 453,592 gam) của bất kỳ chất gì đều chứa
một năng lượng tương đương với sức mạnh của bảy triệu
tấn thuốc nổ TNT. Một nhà bình luận đã nhận xét: nếu
không có phương trình của Einstein “các nhà khoa học vẫn
có thể mò mẫm tách được nguyên tử uranium, nhưng không
chắc các nhà khoa học đó đã hiểu đây là một nguồn năng
lượng khủng khiếp, vật liệu của những trái bom khủng
khiếp”.
Trong
phương trình nổi tiếng E = mc2, Einstein đã chứng minh năng
lượng và khối lượng chỉ là một, ở hai trạng thái khác
nhau và khối lượng chính là năng lượng đặc lại. Barnett
đã nhận định rất đúng là phương trình E = mc2 “đã giải
thích được rất nhiều điểm về vật lý học, từ bao lâu
nay vẫn còn là những điểm bí mật. Phương trình đã giải
thích tại sao chất quang tuyến phản xạ như radium và uranium
lại có thể liên tiếp trong hàng triệu năm bắn ra những
tia li ti chạy với tốc độ khủng khiếp. Phương trình còn
giải thích tại sao mặt trời và các vì tinh tú lại có thể
tuôn ánh sáng và sức nóng trong hàng tỷ tỷ năm, vì nếu
mặt trời chỉ có lửa theo lối thông thường thì trái đất
của chúng ta đã phải chết trong tối tăm u lạnh từ hàng
triệu năm rồi. Phương trình còn cho chúng ta thấy năng lượng
ghê gớm chứa chất trong nhân nguyên tử và tiên đoán chỉ
cần một lượng rất nhỏ chất uranium cũng đủ tạo ra một
trái bom có sức công phá cả một thành phố”.
Cho
mãi đến năm 1939 phương trình của Einstein vẫn còn là lý
thuyết. Vào năm đó, sau khi bị Đức quốc xã trục xuất
khỏi châu Âu, Einstein sang Mỹ rồi ít lâu sau ông nhập quốc
tịch Mỹ. Einstein được tin Đức quốc xã đang lùng để
nhập cảng uranium và đang nghiên cứu về bom nguyên tử, ông
liền viết cho Tổng thống Roosevelt một bức thư tối mật:
“Những
công cuộc nghiên cứu mới đây của E. Fermi và Lzilard mà bản
thảo đã được gửi tới tôi, khiến tôi nghĩ rằng trong
tương lai rất gần, chất uranium có thể biến thành một nguồn
năng lượng mới mẻ và quan trọng... Hiện tượng mới này
có thể dẫn tới việc chế tạo bom, và có thể tin rằng...
chỉ một trái bom loại đó, mang dưới tàu và cho nổ ở hải
cảng có thể tàn phá toàn thể hải cảng và các vùng phụ
cận”.
Kết
quả tức khắc của bức thư Einstein gửi cho Roosevelt là việc
khởi công xây dựng đề án bom nguyên tử Manhattan. Năm năm
sau, trai bom nguyên tử đầu tiên được đưa ra thử ở Almagordo
Reservation thuộc bang New Mexico, và ít lâu sau Mỹ thả bom nguyên
tử tàn phá Hiroshima, để sớm kết liễu chiến tranh với
Nhật Bản.
Bom
nguyên tử là một trong những kết quả thực tế vang dội
nhất của lý thuyết Einstein. Tuy nhiên người ta vẫn còn phải
kể đến thực tế khác nữa. Năm 1905, năm thuyết tương đối
ra đời, các nhà khoa học triển khai định luật về điện
ảnh học (Photoelectric Law) của Einstein, để giải thích những
tác động điện ảnh huyền bí và do đó mở đường cho vô
tuyến truyền hình, phim có tiếng nói, “con mắt thần” cùng
những áp dụng khác. Chính vì phát minh này mà Einstein được
tặng giải Nobel về vật lý năm 1922.
Trong
những năm cuối đời, Einstein vẫn không ngừng nỗ lực xây
dựng lý thuyết về Trường thống nhất (Unfided Field Theory)
nhằm chứng minh tính chất hòa hợp và đồng nhất của tạo
vật. Theo Einstein, các định luật vật lý học chi phối nguyên
tử nhỏ bé cũng có thể áp dụng đối với những vật thể
lớn lao trong không gian. Do đó lý thuyết về Trường thống
nhất của Einstein giải thích được mọi hiện tượng vật
lý theo một khuôn mẫu cố định. Lực hút, điện lực, từ
lực và nguyên tử lực tất cả đều là những lực có thể
giải thích được bằng một lý thuyết duy nhất. Năm 1950,
sau gần nửa đời nghiên cứu, Einstein lần đầu tiên trình
bày lý thuyết Trường thống nhất của ông trước thế giới.
Ông ngỏ ý tin rằng thuyết này nắm giữ được chìa khóa
của vũ trụ, thống nhất trong một quan niệm, từ thế giới
cực nhỏ và quay cuồng của nguyên tử đến không gian mênh
mông của các thiên thể. Vì những khó khăn về toán học
nên thuyết của Einstein vẫn chưa được những sự kiện vật
lý học kiểm chứng toàn bộ. Tuy vậy Einstein vẫn vững tin
rằng lý thuyết về Trường thống nhất của ông giải thích
được “tính chất nguyên tử của năng lượng” và chứng
minh được sự hiện hữu của một vũ trụ có sắp đặt
rất trật tự.
Tư
tưởng triết lý đã gây cảm hứng và hướng dẫn Einstein
qua bao nhiêu năm nỗ lực, và những phần thưởng cho những
nỗ lực đó, đã được Einstein trình bày trong bài giảng
về nguồn gốc Lý thuyết tổng quát về tương đối tại
trường đại học Glasgow năm 1933.
“Kết
quả cuối cùng rất giản dị, bất kỳ một sinh viên thông
minh nào cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng. Nhưng
chỉ có thể hiểu được sau khi trải qua những năm âm thầm
tìm kiếm một sự thật mà người ta chỉ cảm thấy chứ
không thể nói lên được. Người ta chỉ có thể hiểu được
điều đó khi lòng ham muốn lên đến mức cuồng nhiệt, và
khi đã trải qua những giai đoạn tin tưởng rồi nghi ngờ,
nghi ngờ rồi tin tưởng cho tới một lúc nào đó, bừng hiểu
rõ được sự thật sáng sủa”.
Trong
một dịp khác, Einstein đã bộc lộ cá tính tinh thần của
ông:
“Cảm
xúc đẹp nhất và sâu xa của con người là cảm xúc trước
sự huyền bí. Chính cảm xúc này đã khiến cho khoa học chân
chính nảy nở. Những ai không còn có những cảm xúc đó,
không còn biết ngạc nhiên và chỉ biết đứng ngẩn người
ra vì sợ hãi thì sống cũng như chết. Cảm thấy điều huyền
bí mà con người không sao giải thích nổi, là vì nó chỉ
biểu lộ ra khi mà khả năng ít ỏi đáng buồn của chúng
ta chỉ hiểu được những hình thức thấp kém của cái quy
luật cao siêu dưới vẻ đẹp rạng rỡ hơn hết. Chính sự
biết đó và cảm xúc đó đã là nền tảng đích thực của
tôn giáo”.
Con
số nhà khoa học tán dương Einstein không kể xiết. Chúng ta
hãy đọc hai tác phẩm đã viết về Einstein, để hiểu địa
vị độc nhất của ông trong giới khoa học. Paul Oehser viết:
“Đối
với Albert Einstein, người ta không thể không nói đến ảnh
hưởng. Phải gọi những lý thuyết của ông là cách mạng
vì đã mở ra kỷ nguyên nguyên tử. Kỷ nguyên này đưa nhân
loại đi đến đâu chúng ta chưa thể biết. Hiện nay chúng
ta chỉ biết rằng Einstein là nhà khoa học, nhà triết học
vĩ đại nhất của thế kỷ. Trước mắt chúng ta, Einstein
có dáng dấp một vị thánh và những công trình của ông đã
khiến chúng ta thêm tin tưởng vào khả năng trí tuệ của
con người. Ông còn là hình ảnh bất diệt của con người
luôn luôn tìm hiểu”.
Nhà
khoa học Banesh Hoffman đã kết luận như sau:
“Einstein
vĩ đại không hẳn chỉ vì những tư tưởng khoa học mà còn
vì tác dụng tâm lý. Trong một giai đoạn nghiêm trọng của
lịch sử khoa học, Einstein đã chứng minh rằng, những tư
tưởng xưa không hẳn đã là thiêng liêng bất di bất dịch.
Chính sự chứng minh đó đã mở đường cho trí tưởng tưởng
của những người như Bohr và Broglie khiến họ có thể thành
công trong địa hạt lượng tử. Toàn thể khoa vật lý học
của thế kỷ 20 đều mang dấu ấn không thể xóa nhoà của
thiên tài Einstein”.
(Hết)
Cùng
Tác Giả, Khác Dịch Giả:
Lược
Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Thích Viên Lý, USA