ĐẤU
TRANH SINH TỒN
Charles
Darwin
Và
tác phẩm nguồn gốc các chủng loại
Một
sự trùng phùng kỳ lạ xảy ra trong năm 1809 là năm đã chứng
kiến nhiều vĩ nhân chào đời hơn mọi năm khác. Trong mỗi
địa hạt riêng, các vĩ nhân đó, vị nào cũng xây dựng được
sự nghiệp siêu việt. Trong số có Charles Darwin, một “Newton
của khoa sinh vật học” và Abraham Lincoln, vị Tổng thống
“giải phóng nô lệ ở Hoa Kỳ”. Hai vĩ nhân đó sinh cùng
ngày và gần như cùng giờ. Ngoài hai vị đó, người ta còn
phải nhắc đến những tên tuổi như: Gladstone. Tennyson, Edgar
Allan Poe, Oliver Wendell Holmes, Elizabeth Barret Browning và Felix Mendelsohn,
cũng chào đời trong năm 1809.
Có
lẽ ngoại trừ Karl Marx, trong số những nhân vật nổi danh
đó và nói rộng ra trong số hàng triệu người sinh trong thế
kỷ 19, không ai được như Darwin, vì Darwin đã mở ra những
trào lưu tư tưởng, những quan niệm mới về sức sống của
con người. Ngày nay người ta nói đến học thuyết Darwin như
nói đến học thuyết Karl Marx, học thuyết Malthus và học
thuyết Machiavelli.
Trong
suốt gần một thế kỷ, các nhà bác học đã tranh luận sôi
nổi về những nguyên tắc nền tảng của học thuyết Darwin,
và ngày nay những nguyên tắc đó đã được giới khoa học
thừa nhận. Cuộc tranh chấp giữa hai phái Tân và Cựu khởi
đầu năm 1859, kéo dai dẳng sang cả thế kỷ 20, và ác liệt
nhất là khi xảy ra “vụ án con khỉ” lịch sử ở bang Tennessee.
Chỉ mới đây, cuộc cãi cọ giữa hai phái mới có dấu hiệu
dịu xuống.
Khi
Darwin còn ở tuổi thiếu niên, không ai có thể ngờ sau này
ông sẽ trở nên nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới.
Darwin sinh trưởng trong một gia đình gồm những người làm
nghề tự do và những học giả. Thân sinh của Darwin cũng nghĩ
rằng Darwin sẽ khó có thể làm nên công chuyện gì đáng kể.
Ở trường trung học, cậu học sinh Darwin rất chán môn cổ
ngữ Hy Lạp, và chán luôn cả chương trình cổ điển cứng
nhắc. Cậu thường bị giáo sư mắng về tội phí phạm thì
giờ vào những thí nghiệm hóa học, phí phạm thì giờ sưu
tầm sâu bọ cùng các mẫu đá. Năm 16 tuổi, cũng như ông
thân khi xưa, Darwin được gia đình cho theo học ngành y khoa
tại trường đại học Edinburgh. Hai năm sau, Darwin nói rằng
nghề chữa bệnh không phải là nghề của mình, nên liền
đó Darwin được gửi tới trường đại học Cambridge, học
làm mục sư của giáo hội Anh quốc.
Darwin
ở Cambridge 3 năm, và theo ông, đó là ba năm không có ích lợi
gì cho sự học hỏi. Tuy nhiên trong thời gian này Darwin có
cái may mắn được giao thiệp thân tình với hai giáo sư có
hai thế lực, là Henslow, giáo sư môn thực vật học và Sedgwick,
giáo sư môn địa chất học. Darwin dành rất nhiều thì giờ
theo hai giáo sư đi du ngoạn các miền quê để sưu tầm côn
trùng và quan sát vạn vật.
Chính
giáo sư Sedgwick đã vận động cho “nhà vạn vật học”
Darwin được đáp tàu Beagle đi nghiên cứu rộng rãi ở miền
nam bán cầu. Sau này Darwin nói rằng chuyến đi đó là “biến
cố quan trọng nhất trong đời”. Chuyến đi này đã quyết
định toàn bộ sự nghiệp của đời ông; và cũng ở trên
tàu Beagle, ý định trở nên một giáo sư “chết hẳn” trong
lòng ông.
Trong
5 năm liền, từ năm 1831 đến năm 1836, tàu Beagle đi vòng quanh
thế giới, cập bến khắp năm châu, và hầu khắp những hải
đảo lớn. Tới đâu, nhà địa chất học, nhà thực vật
học, nhà động vật học Darwin cũng sưu tầm đủ loại cây
cối, đủ loại động vật, còn sống hay đã hóa thạch, trên
cạn hay dưới nước, công cuộc sưu tầm đó rất có ích
cho sự tìm kiếm và viết lách của ông sau này. Với con mắt
của nhà vạn vật học, ông nghiên cứu thôi thì đủ loại
thảo mộc hay động vật, cả trên những đồng cỏ hoang ở
Apganixtang, trên những sườn núi Andes trơ trụi, trong những
hồ nước mặn, và sa mạc ở Chilê và Australia, những rừng
rậm ở Brazin, Sierra del Fuego và Tahiti, những quần đảo Cape
Verde trụi hết cây. Darwin còn nghiên cứu cả địa chất miền
rừng núi và bờ biển Nam Mỹ, những đảo san hô, những di
tích động vật ở Patagonia, những giống người đã tuyệt
chủng ở Peru, những thổ dân ở Sirra Del Fuego và Patagonia.
Trong
tất cả những nơi Darwin đặt chân tới, có quần đảo Galapagos
cách bờ biển phía tây Nam Mỹ chừng 500 dặm là khiến ông
chú ý hơn cả. Trên những hòn đảo không người và trơ trụi
này, Darwin thấy có một giống rùa khổng lồ mà ông đã gặp
dưới hình thức hóa thạch ở nơi khác, thấy những con thằn
lằn đã tuyệt chủng từ lâu ở những miền khác trên thế
giới, những con cua khổng lồ, những con sư tử biển. Điều
khiến Darwin ngạc nhiên hơn hết là chim muông ở đây tuy cùng
chủng loại nhưng vẫn khác các chim muông ở lục địa châu
Mỹ. Hơn nữa, ông còn nhận xét thấy có nhiều giống chim
tuy cùng một chủng loại, nhưng ở mỗi đảo thuộc quần
đảo Galapagos lại có những điểm dị biệt khác nhau.
Hiện
tượng kỳ lạ ở quần đảo Galapagos, cộng thêm những sự
kiện Darwin nhận xét thấy trước đây ở Nam Mỹ, tăng thêm
quan niệm bắt đầu thành hình về quy luật tiến hóa của
vạn vật trong trí ông. Chính Darwin kể lại rằng:
“Tôi
ngạc nhiên vô cùng khi tìm thấy di cốt giống súc vật to
lớn có vỏ cứng ở những cánh đồng hoang vu bên Nam Mỹ,
giống như giống cừu trư (armadillos) hiện nay. Thứ đến là
hình thể những động vật thuộc cùng chủng loại thay thế
nhau qua sự quan sát sâu về phía nam trên đại lục châu Mỹ.
Sau hết, là vì đặc tính Nam Mỹ của hầu hết những động
vật trong quần đảo Galapagos và đặc biệt là hình thức
những chủng vật này hơi khác nhau trên mỗi đảo thuộc quần
đảo Galapagos, không phải vì những đảo này có vẻ rất
già cỗi theo quan niệm địa chất học”.
Từ
đây về sau Darwin không còn tin vào những lời giảng dạy
trong kinh thánh nói rằng: thượng đế tạo ra các chủng loại
động vật nguyên vẹn và đời đời không hề thay đổi.
Ngay
sau khi về Anh, Darwin phát triển lý thuyết của ông về luật
tiến hóa của vạn vật, thu thập các biến thái của các
chủng loại để viết tập Nguồn gốc các chủng loại. Bản
thảo đầu tiên của tập sách này, được viết vào năm 1842
và chỉ gồm ba mươi lăm trang, nhưng đến năm 1844, tập sách
đã lên tới 230 trang. Khởi đầu Darwin đặt vấn đề tại
sao các chủng loại đã phát sinh rồi với thời gian lại biến
thái và phân chia ra làm nhiều giống khác nhau, và cuối cùng
một số lại có thể bị tuyệt chủng?
Darwin
đã tìm được giải đáp cho những câu hỏi đó, sau khi bất
ngờ ông đọc tập Luận về dân số của Malthus. Chính Malthus
đã nêu ra ý kiến này: mức độ gia tăng dân số trên thế
giới bị trì hoãn bởi những “sức cản rõ ràng” như bệnh
tật, tai nạn, chiến tranh và đói kém, Darwin liền nghĩ rằng:
có thể những trở ngại đó cũng làm chậm lại quá trình
sinh sôi nảy nở các chủng loại động vật thực vật. Ông
viết:
“Sau
nhiều năm quan sát kỹ lưỡng sự sống các động vật, thực
vật tôi đã thấu hiểu thế nào là quy luật đấu tranh sinh
tồn ngự trị ở khắp mọi nơi. Do đó tôi nhận định rằng,
các chủng loại sẽ tồn tại nếu gặp điều kiện thuận
lợi, và nếu gặp nghịch cảnh sẽ có thể bị tuyệt chủng,
và chính yếu tố hoàn cảnh đã khiến phát sinh ra những chủng
loại mới. Đó là khởi điểm lý thuyết của tôi, và cứ
theo chiều hướng đó tôi tiếp tục việc nghiên cứu”.
Chính
nhận định đó đã đưa Darwin khám phá ra quy luật “đào
thải tự nhiên”, quy luật “đấu tranh sinh tồn”, “khôn
sống mống chết”, nền tảng lý thuyết của cuốn Nguồn
gốc các chủng loại
Trong
hai mươi năm liền, Darwin sưu tầm gom góp các sự kiện, viết
thành sách để chứng minh lý thuyết của ông. Ông đọc rất
rộng, đủ loại sách báo, các sách du ký, sách về thể thao,
sách dạy làm vườn, chăn nuôi, các sách vạn vật học. Darwin
kể lại rằng: “Khi tôi nhớ lại các sách báo tôi đã đọc
và trích yếu, chính tôi cũng phải ngạc nhiên tại sao tôi
lại đọc nhiều như thế”. Không những đọc mà thôi, Darwin
còn tiếp xúc với những chủ trại chuyên về chăn nuôi, trồng
trọt, và giải đáp những bảng câu hỏi cho tất cả những
ai có thể cung cấp những điều xét ra có thể có ích cho
công cuộc sưu tầm nghiên cứu của ông. Darwin nghiên cứu
những bộ xương chim nuôi ở nhà rồi đem tuổi và trọng
lượng của xương ấy so sánh với chim rừng thuộc cùng chủng
loại. Ông nuôi rất nhiều chim bồ câu để nghiên cứu kết
quả sự ghép giống. Ông thí nghiệm những loại hoa quả và
giống thảo mộc trên mặt nước và dưới biển sâu, tìm
tòi các vấn đề truyền giống. Tất cả kho tàng hiểu biết
của ông về thực vật học, địa chất học, động vật
học và cổ sinh vật học thu thập được bốn năm đi theo
tàu Beagle được đem ra sàng lọc và sử dụng để chứng
minh cho lý thuyết tiến hoá của sinh vật.
Darwin
đã ủng hộ mạnh mẽ nguyên lý đào thải tự nhiên qua những
cuộc nghiên cứu về sự đào thải nhân tạo. Trong trường
hợp nuôi trồng gia súc và cây cỏ: ngựa, chó, mèo hay lúa
mì, lúa mạch, hoa cỏ v.v... người ta lựa chọn và nuôi những
giống nào có ích nhất cho nhu cầu của mình. Kết quả là
gia súc, ngũ cốc và hoa cỏ đã biến dạng đến nỗi rất
khó phân biệt được tính chất tương tự của chúng với
những sinh vật thuộc cùng chủng loại hiện đang sinh sôi
nảy nở trong thiên nhiên. Chính sự đào thải nhân tạo này
đã tạo ra những nhánh chủng loại mới. Người chăn nuôi
lựa chọn những con vật và giống cây có những đặc tính
họ cần. Họ chỉ nuôi, chỉ trồng những giống ấy đời
này qua đời khác và cuối cùng đã tạo ra những chủng loại
mới như là con cháu của chủng loại đã có trước đây.
Thí dụ như nhiều giống chó ngày nay tuy rất khác nhau nhưng
đều có chung một gốc tổ, đó là giống chó sói.
Darwin
lý luận: nếu sự tiến hoá của các chủng loại do sự đào
thải nhân tạo, vậy sự đào thải tự nhiên có thể là yếu
tố quyết định sự tiến hoá các chủng loại được không?
Trong thiên nhiên, vai trò của người trồng trọt, chăn nuôi
được thay thế bởi quy luật đấu tranh sinh tồn (strugle for
existence). Darwin nhận thấy rằng: trong các sinh vật, một số
“cá thể sinh vật” rất lớn phải bị tiêu diệt, chỉ
một số nào sống sót. Nhiều loại sinh vật phải chết để
nuôi sống loại sinh vật khác. Cuộc chiến đấu tiếp diễn
không bao giờ ngừng, và loại ra khỏi cuộc đấu tranh để
tồn tại tất cả những con vật, cây cối nào không đủ
điều kiện tồn tại. Vì lẽ đó mới có sự thay đổi hình
dạng của các sinh vật để thích nghi với những điều kiện
mới, để tồn tại.
Chủ
tâm của Darwin là xây dựng lý thuyết về sự tiến hoá của
sinh vật thật vững chãi với đầy đủ bằng chứng, vì vậy
mãi đến năm 1850 ông vẫn chưa nghĩ đến việc công bố kết
quả công trình của ông. Nhưng sau đó, vì sự thúc giục của
bạn bè ông mới bắt tay vào viết một bộ sách vĩ đại
để cho xuất bản thành nhiều tập. Sách viết được một
nửa thì một tiếng sét nổ: Darwin nhận được một bức
thư của nhà vạn vật học Alferd Russel Wallace hiện đang nghiên
cứu về vạn vật học ở quần đảo Mã Lai. Trong thư, Wallace
tiết lộ rằng ông cũng đang nghiên cứu về nguồn gốc các
chủng loại, và cũng như Darwin, chính tập Luận về dân số
của Malthus đã gợi cảm hứng cho ông. Cùng với bức thư,
Darwin còn nhận được một tập Luận về sự biến dạng
của các chủng loại lời lẽ đúng như lời của Darwin khi
ông trình bày lý thuyết của ông. Darwin kể lại rằng: “Dù
Wallace có đọc bản thảo tôi viết vào năm 1842, ông cũng
không thể tóm lược lý thuyết của tôi một cách thông minh
hơn thế này được. Có rất nhiều câu ông viết hiện tôi
dùng để đề tên những chương trong sách của tôi”.
Darwin
lâm vào cái thế khó xử vì rõ ràng ông và Wallace, cả hai
đều cùng đi tới một kết luận như nhau, tuy cả hai không
có liên hệ gì với nhau. Có điều khác là Darwin đã dày công
suy tư nghiên cứu, còn Wallace đã phát minh ra lý thuyết tiến
hoá của sinh vật, trong một phút xuất thần. Về sau Darwin
và Wallace đều đồng ý đệ trình những tài liệu về lý
thuyết của mình trước phiên họp tới của hội Linnaean.
Thế là lý thuyết “Tiến hoá của vạn vật do sự đào thải
tự nhiên” được công bố vào buổi họp chiều ngày 1 tháng
7 năm 1858, và ngay sau đó tài liệu này được cho đăng trong
tập san của hội.
Bị
kích thích vì vụ Wallace và để tranh thủ thời gian, Darwin
bỏ công trình vĩ đại đang viết dở, quyết định viết
một tập gọn hơn mà ông gọi là “Tóm lược”. Đến cuối
năm 1859, tập sách trụ cột của khoa vạn vật học ngày nay
được nhà John Murray ở Luân Đôn xuất bản. Lần xuất bản
đầu tiên, sách in có 1.200 bản, và bán hết ngay trong ngày
phát hành. Nhiều lần xuất bản khác kế tiếp, và đến năm
1882 là năm Darwin tạ thế, riêng ở nước Anh sách bán được
24.000 cuốn. Ngoài ra sách còn được dịch ra hầu khắp các
tiếng của các nước phát triển về khoa học. Khởi đầu
sách nhan đề là: Luận về nguồn gốc các chủng loại qua
con đường đào thải trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Về sau,
tên sách được rút ngắn, và ngày nay được đề lại: Nguồn
gốc các chủng loại.
Trong
bốn chương đầu, Darwin trình bày cơ sở lý thuyết của ông
về sinh vật học, bốn chương sau ông đề cập đến những
lập luận người ta có thể viện ra để đánh đổ lý thuyết
của ông. Sau đó ông dành nhiều chương để nói về môn địa
chất học, về địa lý học các loài động vật và thực
vật, và về những sự kiện thích đáng liên quan đến việc
phân loại trong vạn vật học cũng như khoa sinh vật hình thái
học và phôi sinh học. Chương cuối cùng tóm lược toàn bộ
nội dung bộ sách.
Bắt
đầu Darwin trình bày những biến đổi tính chất của các
giống vật nuôi, giống cây trồng, nghĩa là những biến đổi
do con người tạo ra. Những biến đổi do tác động của sự
“đào thải nhân tạo” được đem ra so sánh với những
biến đổi trong thiên nhiên, nói cách khác, do tác động của
sự “đào thải tự nhiên”. Rồi Darwin kết luận: sức sống
là luôn biến đổi và không thể có hai vật hoàn toàn giống
nhau.
Theo
Darwin, ngoài những biến đổi nhân tạo và biến đổi tự
nhiên, còn phải kể đến tác động của cuộc đấu tranh
sinh tồn. Ở đây Darwin nêu ra rất nhiều sự kiện để chứng
minh rằng: không phải một con vật hay một cái cây nào ra
chào đời cũng có đủ khả năng bảo tồn cuộc sống trên
thế gian. Thí dụ loài chậm lớn hơn cả là loài voi, nếu
con voi nào có sinh cũng có sống và sinh sản được bình thường
thì “sau một thời gian từ 740 đến 750 năm một cặp voi
có thể sinh ra bao gồm cả cháu chắt chút chít” chừng mười
chín triệu con. Và thế giới sẽ tràn ngập toàn là voi. Dựa
vào những thí dụ tương tự, Darwin suy diễn ra rằng: nhiều
sinh vật có sinh nhưng không có sống, đó là kết quả sự
đấu tranh sinh tồn diễn ra giữa sinh vật khác chủng loại,
hoặc do kết quả sự đấu tranh với điều kiện sinh hoạt
vật lý. Nói chung, tất cả mọi sinh vật từ cây cối, loài
cá loài chim đến các loài có vú, kể cả người, đều có
thể sản xuất ra rất nhiều “mầm giống” nhưng chỉ có
một thiểu số được ra chào đời, hoặc có thể sống tiếp
được trong thế giới.
Ngoài
ra, Darwin còn chứng minh một cách rõ ràng mối liên hệ giữa
các chủng loại. Ông thấy loài ong đất có công dụng truyền
giống cho một vài thứ cây, như cây hoa Păng-xê hoặc vài
loại cỏ. Ông viết:
“Số
ong đã nhiều hay ít ở một miền nào đó, phần lớn tuỳ
thuộc ở số chuột đồng thường hay phá phách bánh mật
và tổ ong... Số chuột, ai cũng biết, tuỳ thuộc phần lớn
ở số mèo... Do đó người ta có thể tin được rằng, ở
một miền nào đó, số mèo quyết định sự hiện diện của
một số chủng loại hoa, qua sự trung gian của loài chuột
và loài ong”.
Kế
tiếp, sách Nguồn sống các chủng loại đề cập đến nguyên
lý “đào thải tự nhiên” cản trở sự sinh sôi nảy nở
các chủng loại như thế nào? Trong bất kỳ chủng loại nào
cũng có những con mạnh hơn, chạy nhanh hơn, thông minh hơn,
ít nhiễm bệnh hơn, và chịu được những thay đổi gắt
gao của thời tiết tốt hơn các con khác cùng chủng loại.
Những con “khoẻ” đó sẽ được sống và sinh sản, còn
những con khác yếu hơn sẽ phải chết. Giống thỏ trắng
sống được ở miền Bắc cực nhờ có bộ lông lẫn vào
màu tuyết, còn loài thỏ lông màu dễ nhận hơn, dễ bị cáo
và chó sói phát hiện, bắt ăn thịt cho nên đã tuyệt chủng.
Loài hươu cao cổ sở dĩ còn tồn tại đến ngày nay vì trong
những năm hạn hán, nhờ cái cổ dài ngoằng ngoẵng hươu
có thể ăn hoa lá ở trên ngọn cây, trong khi hươu ngắn cổ
phải chịu chết đói. Chính những đặc điểm về sinh lý
và hình thể thuận lợi đó đã bảo đảm cho loài nào có
cơ năng thích hợp hơn hết với cuộc sống, và rồi sau quãng
thời gian dài hàng ngàn năm đã tạo ra những chủng loại
mới.
Darwin
đã viết một cách bi thảm về định luật “nanh và vuốt”
ngự trị ở khắp mọi nơi.
“Chúng
ta chiêm ngưỡng bề ngoài của tạo vật chan hoà ánh sáng
vui tươi. Chúng ta thấy có thừa thãi thức ăn cho muôn loài.
Nhưng chúng ta không biết hay quên rằng, chim chóc sở dĩ sống
được và ríu rít ca quanh ta, phần lớn vì chúng ăn các loài
sâu bọ hay các hạt giống, và như vậy có nghĩa chúng thường
xuyên tiêu diệt sự sống. Và chúng ta quên rằng chính những
chim chóc đó, trứng và tổ của chúng cũng thường bị các
loài chim và loài thú khác ăn thịt, phá huỷ. Chúng ta quên
rằng thức ăn tuy thừa thãi cho muôn loài, nhưng không phải
mùa nào cũng thừa thãi”.
Darwin
còn nhận xét rằng chính hoạt động sinh sản đóng vai trò
quan trọng trong sự đào thải tự nhiên “những con đực
cường tráng, những con vật sống thích hợp hơn hết với
ngoại cảnh, thường hay có sừng. Những con gà không có cựa
sẽ ít có hy vọng nhiều con”. Về loài chim “cuộc tranh
đấu thường mang tính ôn hoà hơn”, và chim đực chinh phục
chim mái không phải bằng sừng, bằng cựa mà bằng tiếng
hót hay, bộ lông rực rỡ, bằng những vũ điệu tân kỳ.
Trong
sự đào thải tự nhiên, khí hậu cũng là một yếu tố quan
trọng vì “những mùa quá lạnh hay là quá hạn hán thường
cản trở rất nhiều sức sinh sản của sinh vật... nhìn qua
ai cũng tưởng rằng khí hậu không có ảnh hưởng gì đến
cuộc đấu tranh để sinh tồn. Nhưng xét kỹ, người ta thấy
rằng khí hậu trước nhất làm suy giảm sự sản xuất thực
phẩm, do đó khí hậu có thể khiến cho cuộc đấu tranh để
sinh tồn trở nên muôn phần ác liệt giữa các vật cùng chủng
loại hay khác chủng loại nhưng cùng ăn một thứ thực phẩm.
Trong tình trạng đó, chỉ những con nào đủ sức chịu đựng
nóng, lạnh, đủ sức đoạt thức ăn mới có thể bảo tồn
sự sống. Darwin viết rằng:
“Hàng
ngày hàng giờ, định luật đào thải tự nhiên chế ngự
muôn loài trên mặt đất. Những con yếu hèn bị tiêu diệt
để nhường sự sống cho những con cường tráng. Định luật
đào thải tự nhiên diễn biến một cách âm thầm và khốc
liệt. Định luật đó đã biến đổi những sinh vật còn
bảo tồn được sự sống, để những sinh vật này có thể
thích nghi hơn nữa với các điều kiện sinh hoạt. Những biến
đổi đó diễn tiến rất chậm chạp nên chúng ta khó nhận
thấy. Phải nghiên cứu những thời kỳ địa chất học dài
đằng đẵng, chúng ta mới thấy rằng sinh vật sống chung
quanh ta ngày nay đã khác xưa nhiều lắm”.
Trong
chương kết luận sách Nguồn gốc các chủng loại, Darwin cho
rằng: quy luật đào thải tự nhiên có sức mạnh vô biên,
khiến người ta có thể suy diễn ra rằng: “có thể tất
cả các sinh vật hiện sống trên mặt đất này đều gốc
ở một vật thể nào đó đã tiếp nhận được sự sống
đầu tiên”. Darwin tin rằng: chính thiên nhiên với những
định luật khắt khe đã sáng tạo ra những sinh vật có cơ
cấu rất phức tạp, và ông thấy kết quả của định luật
đào thải tự nhiên đã gợi hứng cho công việc của ông
rất nhiều. Darwin viết:
“Như
vậy, chính vì phải chiến đấu để tồn tại, chính vì kẻ
yếu hèn phải đói, phải chết, nên các sinh vật còn lại
mỗi thế hệ một thêm tốt đẹp; đó là điều phấn khởi
hơn hết mà chúng ta có thể quan niệm được. Quan niệm như
vậy, chúng ta thấy cuộc sống quả là hùng vĩ, cuộc sống
khởi thuỷ được Thượng đế ban phát cho một hay nhiều
vật, nhưng chứa đựng không biết bao nhiêu là khả năng phát
triển. Trong khi quả đất vẫn quay bất di bất dịch theo định
luật về trọng lực thì một sinh vật khởi thuỷ hết sức
đơn giản lại có thể đã và đang phát sinh ra vô vàn chủng
loại sinh vật tuyệt vời.”
Đó
là lý thuyết “tiến hoá không ngừng” được trình bày
trong sách Nguồn gốc các chủng loại. Tuy nhiên, trái với
sự tin tưởng của nhiều người, Darwin không phải là người
sáng lập ra thuyết tiến hoá, vì thuyết đó đã có từ trước
Aristotle và Lucretius. Sau này, các nhà khoa học nổi tiếng như
Buffon, Goethe, Erasmus Darwin (ông nội Charles Darwin), Lamarck và
Herbert Spencer cũng đề cao thuyết tiến hoá. Tuy nhiên, sự
đóng góp của Darwin vô cùng quan trọng. Trước hết, ông đã
sưu tầm được rất nhiều bằng chứng hiển nhiên để chứng
minh rằng có sự kiện tiến hoá thật trong các sinh vật. Sau
nữa, Darwin đã nêu ra quy luật đào thải tự nhiên rất nổi
tiếng và lấy quy luật này để giải thích hợp lý cách thức
tiến hoá của các sinh vật.
Sách
Nguồn gốc các chủng loại của Darwin ra đời, dư luận đương
thời gọi đây là một đại họa, như tiếng “sét nổ ngang
tai”, vì nếu thuyết của Darwin đúng thì chuyện Sáng thế
kỷ trong Kinh thánh của Cơ đốc giáo là không thể chấp nhận
được nữa. Giáo hội liền phát động phong trào chống đối
mạnh mẽ và lên án thuyết của Darwin là nguy hiểm cho tôn
giáo. Tuy Darwin đã hết sức dè dặt, tránh không đả động
đến trường hợp tiến hoá của loài người, ấy vậy mà
ông vẫn bị gán cho tiếng xấu là chủ trương gốc tổ của
loài người là giống khỉ.
Để
làm giảm giá trị của Darwin người ta tìm cách chế giễu
ông. Một bài báo đăng trong tạp chí Quarterly Review gọi ông
là “con người dại dột” đã cả gan viết sách “để
bênh vực những lời phỏng đoán và những suy luận hoàn toàn
thối nát”, con người dại dột đã “nghiên cứu tạo vật”
theo một cách hoàn toàn “nhục nhã cho khoa học”. Tạp chí
Spectator đả kích thuyết của Darwin “vì thuyết đó phủ
nhận đạo đức và chứng tỏ tác giả có một cách hiểu
làm bại hoại luân lý”. Darwin còn bị kết tội là đã thu
thập những sự kiện để biện giải cho một nguyên tắc
sai lầm. Báo Spectator viết : “Người ta không thể lấy bọt
không khí mà kết thành sợi dây thừng vững chắc được”.
Một nhà báo mỉa mai: “Liệu người ta có thể tin được
rằng tất cả mọi giống củ cải tốt có triển vọng tiến
hoá thành người không?”. Bằng giọng văn gay gắt, báo Athenaeum
viết: Vì ở nước Anh không có toà án tôn giáo, cho nên ta
đành trao Darwin cho “các thần linh, cho các trường học và
viện bảo tàng trừng phạt”.
Trước
những lời đả kích đó, Darwin nói: “Họ sẽ không thiêu
tôi đâu, nhưng họ đã chuẩn bị củi gỗ và bày cách cho
những thú dữ bắt tôi”.
Ở
ngay tổ quốc của Darwin và tại trường đại học Cambridge,
Whewell cấm tàng trữ sách Nguồn gốc các chủng loại ở tủ
sách của bộ môn.
Trong
giới khoa học, Darwin được sự ủng hộ nồng nhiệt, nhưng
sự chống đối không phải ít. Đại diện cho phái bảo thủ
cực đoan nào đó có Owen ở Anh và Agassiz ở Hoa Kỳ. Cả hai
ông này lớn tiếng cho rằng thuyết của Darwin là ngụy khoa
học và một ngày kia sẽ bị chìm trong quên lãng. Nhà thiên
văn học John Herschel gọi thuyết Darwin là “định luật loạn
xạ” (higgledy - piggdedy). Giáo sự cũ của Darwin về địa
chất học ở Cambridge, Sedgwick coi thuyết của Darwin “hoàn
toàn sai lầm và rất có hại” và viết trong thư gửi cho
Darwin rằng sách của Darwin làm cho ông “cười đến vỡ bụng”.
Sedgwick
cho “thuyết của Darwin cũng có tính điên khùng như cái đầu
xe lửa của Giám mục Wilkin sẽ đưa chúng ta lên cung trăng”.
Tuy
nhiên Darwin không thiếu người ủng hộ nồng nhiệt. Đứng
đầu phải kể đến những người như nhà địa chất học
Charles Lyell, nhà sinh vật học Thomas Huxley, nhà thảo mộc học
Joseph Hooker, và Asa Gray, nhà thảo mộc học nổi tiếng của
Hoa Kỳ. Trong số các nhà khoa học này, Darwin trông đợi nhiều
hơn cả ở Huxley mà ông gọi là “cộng tác viên” của ông
và Huxley cũng tự nhận là “vệ sĩ của Darwin”. Vốn không
phải là người quen tranh luận, bút chiến, Darwin không hề
công khai bênh vực lý thuyết của ông, việc này hoàn toàn
do Huxley, một người có tài lại vừa hăng hái đảm nhiệm.
Trong
cuộc xung đột nảy lửa diễn ra vào năm 1860 xung quanh học
thuyết Darwin, chính Huxley đã đóng một vai trò quan trọng.
Sân khấu là phiên họp của học viện Anh quốc ở Oxford để
thảo luận về học thuyết Darwin. Cỗ trọng pháo của đối
phương là Giám mục Wiberforce ở Oxford. Trong đoạn kết bản
tham luận mà ông tin rằng đã đập tan được lý thuyết Darwin,
Giám mục Wiberforce quay về phía Huxley đang ngồi trên diễn
đàn, nói giọng cách châm biếm: “Tôi muốn hỏi giáo sư
Huxley, giòng tổ nội hay tổ ngoại của giáo sư thuộc loại
khỉ?”. Nghe vậy Huxley nói riêng với bạn: “Thượng đế
đã trao số mệnh ông ta vào tay tôi rồi”. Nói rồi, theo
lời người kể lại, Huxley đứng dậy trả lời giám mục
như sau:
“Chúng
ta không có lý do gì để xấu hổ vì nguồn gốc loài người
là loài khỉ. Nếu tôi có vị tổ tiên nào mà mỗi khi nhớ
lại tôi phải lấy làm xấu hổ, thì vị tổ tiên ấy phải
là hạng trí thức làm việc không nghỉ ngơi và có quá nhiều
tài năng khác nhau cho nên ông tham vọng quá cao. Hạng người
này thấy rằng thành công trong địa hạt hoạt động của
mình chưa đủ lại còn muốn bén mảng đến địa hạt khoa
học mà họ không hiểu gì cả, và họ chỉ làm cho vấn đề
khoa học trở thành tối tăm thêm với những lời văn vẻ
vô nghĩa. Họ còn khéo léo cầu viện tới những tín điều
tôn giáo và những lời xách mé đao to búa lớn để đánh
lạc hướng thính giả”.
Đây
là trận xung đột đầu tiên, và còn nhiều trận nảy lửa
sau này nữa, giữa giáo hội và giới khoa học xung quanh học
thuyết tiến hóa của Darwin.
Đối
với vấn đề tôn giáo, quan điểm của Darwin có chiều thay
đổi khi về già. Hồi thiếu thời, ông nhìn nhận là tạo
vật được sinh ra một cách hoàn toàn theo quy luật. Trong cuốn
Cuộc đời và thư từ, Darwin tỏ ý tin tưởng rằng “trong
một tương lai xa xôi con người sẽ hoàn hảo hơn bây giờ
rất nhiều”. Về già Darwin lại viết:
“Có
một lý lẽ rất mạnh nữa khiến tôi tin ở Thượng đế,
đó là lý lẽ lý trí chứ không phải lý lẽ cảm tính. Người
ta rất khó, thậm chí hầu như không thể, quan niệm được
rằng: cả cái vũ trụ mênh mông và kỳ diệu này, trong đó
con người với khả năng nhìn lùi lại quá khứ và hướng
về tương lai, lại có thể là kết quả của một sự ngẫu
nhiên mù quáng hay một tất yếu. Sau khi suy nghĩ miên man như
vậy, tôi tự cảm thấy phải tin rằng có một cội nguồn
khởi thủy có trí thông minh tương tự như người, nghĩa là
tôi tin có thượng đế. Trong thời gian viết bộ Nguồn gốc
các chủng loại, tôi nhớ là tâm trạng của tôi là như vậy.
Tuy nhiên qua nhiều diễn biến thăng trầm về sau, niềm tin
của tôi không còn được như trước. Đến đây lại nảy
sinh một mối hoài nghi: Tôi tự hỏi làm sao có thể tin được
rằng linh hồn con người, thoạt đầu không khác gì linh hồn
các loài vật hạ đẳng nhất, lại có thể suy luận tới
những kết luận bao la như vậy?”
Darwin
không trả lời câu hỏi và kết luận như sau:
“Tôi
không có tham vọng rọi sáng những vấn đề trừu tượng
đó. Chúng ta không thể biết nổi nguồn gốc của vạn vật
và tôi đành cam nhân mình là người theo chủ trương lý trí
hữu hạn”.
Sau
khi sách Nguồn gốc các chủng loại xuất bản, Darwin viết
tiếp rất nhiều sách khác đề cập đến từng vấn đề
riêng biệt, nhưng tựu trung ông vẫn triển khai lý tuyết tiến
hóa của sinh vật bằng quy luật đào thải tự nhiên đã được
trình bày minh bạch trong Nguồn gốc các chủng loại. Trước
hết ông viết hai tập đề là: Côn trùng biến thành chất
bón cho giống lan, và Nghiên cứu về sự sống của các giống
cây leo. Sau đó Darwin viết hai tác phẩm quan trọng hơn nhan
đề: Những biến thể động vật và thực vật nuôi trong
nhà, và Sự sinh sản của loài người và vấn đề tình dục
đào thải. Darwin còn viết rất nhiều sách đề cập đến
các vấn đề như so sánh sự thể hiện cảm xúc giữa loài
người và loài vật, những sách nói về giống cây ăn sâu
bọ, về tác dụng của việc lai giống, khả năng di động
của thực vật, hiện tượng cây biến thành đất.
Trong
sách Nguồn gốc các chủng loại, Darwin cố tránh bàn luận
về nguồn gốc loài người, vì ông sợ dư luận có thể bác
bỏ toàn bộ lý thuyết của ông. Đến cuốn Dòng dõi loài
người, Darwin đưa ra nhiều sự kiện để chứng tỏ rằng
loài người cũng tiến hóa từ những sinh vật thô sơ mà ra.
Nhìn
bao quát lại, chúng ta thấy rằng, trên mọi địa hạt học
thuật, ảnh hưởng của Darwin rất sâu đậm. Và ngày nay các
nhà sinh vật học, địa chất học, hóa học, vật lý học,
các nhà nhân chủng học, tâm lý học, các nhà giáo dục học,
triết học, xã hội học và ngay cả các nhà sử học, chính
trị học và ngôn ngữ học đều chấp nhận lý thuyết tiến
hóa của ông. Charles Ellwood đánh giá như sau:
“Khi
nghĩ đến ảnh hưởng lớn lao của Darwin trong mọi lĩnh vực
tư tưởng, nhất là các khoa sinh vật học, tâm lý học và
xã hội học, người ta bắt buộc phải kết luận rằng: Darwin
là nhà tư tưởng phong phú nhất thế kỷ 18, không những của
nước Anh mà của cả thế giới. Do đó, ông xứng đáng có
vị trí vinh quang cao nhất trong giới khoa học. Và ngày nay
người ta mới bắt đầu nhận ra được ý nghĩa xã hội của
học thuyết Darwin”.
Bình
luận về sách Nguồn gốc các chủng loại West cũng đồng
ý rằng: “ảnh hưởng của Darwin thật bao la. Nêu lên một
nguyên tắc mới mẻ đồng thời vẫn tiếp tục nghiên cứu
học hỏi, Darwin đã đảo lộn tất cả các ngành khoa học,
từ thiên văn học đến sử học, từ cổ sinh vật đến tâm
lý học, từ phôi học đến giáo dục học”.
Mặt
khác người ta còn đem áp dụng học thuyết của Darwin trong
những lĩnh vực mà nếu còn sống chắc chắn ông sẽ phản
đối kịch liệt. Thí dụ như chủ nghĩa phát xít đã viện
ra quy luật đào thải tự nhiên, hay là luật “khôn sống
mống chết” để biện giải những hành động sát nhân nhằm
tiêu diệt một số chủng tộc của họ. Hoặc như bọn hiếu
chiến đã biện giải chiến tranh là một phương tiện để
đào thải kẻ yếu và bảo tồn kẻ khỏe. Thí dụ như những
cơ sở làm ăn, cũng dựa vào những định luật đào thải
tự nhiên, “khôn sống mống chết”, để tìm cách tiêu diệt
những công ty nhỏ bé hơn.
Ngày
nay kiến thức khoa học được phổ biến rộng rãi, công trình
của Darwin càng thêm có giá trị vì bao gồm những quan sát
vô cùng tinh tế. Cho dù những khám phá mới lạ của khoa học
hiện đại có biến đổi phần nào lý thuyết của Darwin,
nhưng tựu trung lý thuyết tiến hóa vẫn đứng vững trong
di truyền học, cổ sinh vật học và trong rất nhiều bộ môn
khoa học khác.
Về
địa vị của Darwin trong lịch sử khoa học, không ai có thể
viết đúng hơn Julian Huxley, nhà sinh vật học nổi tiếng,
cháu nội của Thomas Huxley, người cộng tác, người biện
hộ và là bạn của Darwin. Julian Huxley viết:
“Sự
nghiệp của Darwin... đã đưa thế giới sinh vật vào trong
phạm vi chi phối của định luật thiên nhiên. Sau Darwin, người
ta không còn nghĩ rằng mọi sinh vật và động vật được
sáng tạo nguyên vẹn từ lúc khởi thủy, không còn nghĩ rằng
có một trí thông minh huyền bí đã trang bị cho các sinh vật
những khí giới kỳ diệu để kiếm ăn hay đương đầu với
kẻ thù, không còn nghĩ rằng loài có một sức mạnh huyền
bí dẫn dắt sự tiến hóa của muôn loài. Nếu thuyết đào
thải tự nhiên là đúng thì chúng ta có thể tin rằng tất
cả các động vật, thực vật, kể cả người, sở dĩ như
chúng ta thấy ngày nay, cũng vì đã trải qua quá trình tiến
hóa theo những định luật tự nhiên mù quáng, không khác gì
những định luật khiến có núi mọc, khiến quả đất và
các hành tinh khác chạy thành đường bầu dục chung quanh mặt
trời. Định luật mù quáng phải chiến đấu để sinh tồn,
định luật di truyền mù quáng tất nhiên đưa tới kết quả
là đào thải kẻ yếu và bảo tồn sự sống của kẻ mạnh,
và do đó thúc đẩy đà tiến hóa của các sinh vật...”
Julian
Huxley viết tiếp:
“Sự
nghiệp của Darwin đã khiến chúng ta có thể xác định được
vị trí của con người và nền văn minh hiện đại một cách
chính xác hơn. Con người không phải một sinh vật đã hoàn
tất, không có thể tiến hóa thêm được nữa. Nhìn lại lịch
sử dài dằng dặc, con người thấy rằng đó là một lịch
sử không phải đi xuống mà là đi lên, và con người còn
có khả năng biến hóa nữa trong tương lai. Hơn nữa, với
sự hiểu biết về sự tiến hóa của các sinh vật, chúng
ta biết kiên nhẫn hơn. Mấy ngàn năm lịch sử thật không
có nghĩa lý gì so sánh với gần triệu năm con người đã
có mặt trên trái đất, và con số này không có nghĩa lý gì
khi so sánh với hàng ngàn triệu năm tiến hóa của sinh vật
trên mặt đất. Hiểu như vậy, chúng ta có quyền kiên nhẫn
sau khi các nhà thiên văn học cho biết rằng ít ra chúng ta
cũng còn có một ngàn triệu năm nữa để vượt lên tới
những đỉnh cao mới của sự sống”.
Cùng
Tác Giả, Khác Dịch Giả:
Lược
Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Thích Viên Lý, USA