Chương
10 - Lý thuyết thống nhất của vật lý học
Chúng
ta đều biết xây dựng một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh
của vạn vật trong vũ trụ là một việc vô cùng khó khăn.
Song thay vì, chúng ta đã đạt nhiều tiến bộ trong việc xây
dựng nhiều lý thuyết riêng phần có khả năng mô tả một
tập hợp giới hạn nhiều hiện tượng bằng cách bỏ qua
các hiệu ứng khác hoặc xấp xỉ chúng bằng một số đại
lượng. (Ví dụ, hóa học cho phép chúng ta tính tương tác
của các nguyên tử mà không cần biết cấu trúc nội tại
của hạt nhân nguyên tử). Nhưng cuối cùng mà nói, người
ta luôn hy vọng tìm ra một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh
đúng đắn bao trùm lên tất cả các lý thuyết riêng phần
như những phép gần đúng và không cần điều chỉnh cho phù
hợp với thực nghiệm bằng cách chọn lựa giá trị của
một số đại lượng tùy tiện trong lý thuyết. Sự tìm kiếm
một lý thuyết như thế được gọi là sự tìm kiếm “lý
thuyết thống nhất của vật lý”.
Einstein
đã để phần lớn những năm cuối đời để tìm một lý
thuyết thống nhất, nhưng vô vọng vì thời điểm chưa chín
mùi: lúc bấy giờ người ta đã có lý thuyết riêng phần
của hấp dẫn, của điện từ nhưng người ta đã biết rất
ít về lực hạt nhân. Hơn nữa Einstein lại phủ nhận thực
tại của cơ học lượng tử, mặc dầu ông đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của cơ học lượng tử. Mà nguyên
lý bất định chắc chắn lại là một đặc thù cơ bản của
vũ trụ ta đang sống. Vì vậy một lý thuyết thống nhất
thành công phải chứa đựng nguyên lý này.
Như
tôi sẽ trình bày, hiện nay triển vọng để tìm ra một lý
thuyết như thế rất sáng sủa bởi vì chúng ta đã biết về
vũ trụ khá nhiều. Song cũng phải cảnh giác về một niềm
quá tự tin - chúng ta trước đây cũng từng có nhiều lần
bất chợt những tia sáng giả tạo như vậy. Ví dụ vào đầu
thế kỷ này, chúng ta đã nghĩ rằng mọi việc có thể giải
thích nhờ các tính chất của môi trường liên tục như tính
đàn hồi, tính dẫn nhiệt. Sự phát hiện cấu trúc nguyên
tử và nguyên lý bất định đã kết liễu dòng tư tưởng
này.
Sau
đó lại một lần nữa, năm 1928 nhà vật lý đoạt giải Nobel
Max Born đã phát biểu với một nhóm đến tham quan trường
đại học Gottingen: “Vật lý, như chúng ta đã quan niệm,
sẽ kết thúc trong vòng 6 tháng”. Niềm tin của Max Born dựa
trên cơ sở sự phát hiện bởi Dirac phương trình mô tả chuyển
động của electron. Người ta nghĩ rằng một phương trình
tương tự cũng sẽ mô tả chuyển động của proton, vốn là
một hạt khác duy nhất được biết vào lúc bấy giờ, và
điều đó có nghĩa là vật lý lý thuyết cáo chung. Nhưng sự
phát hiện neutron và lực hạt nhân đã làm thay đổi tất
cả. Dẫu nói lên điều này, tôi vẫn tin rằng đã có nhiều
cơ sở cho một niềm lạc quan thận trọng rằng chúng ta hiện
nay đang ở gần giai đoạn cuối trên quá trình tìm ra những
định luật cơ bản của thiên nhiên.
Trước
đây tôi đã mô tả lý thuyết tương đối rộng vốn là thuyết
riêng phần về hấp dẫn và những lý thuyết riêng phần khác
về các tương tác yếu, mạnh và điện từ. Ba tương tác
sau có thể tổng hợp lại thành lý thuyết thống nhất lớn
(GUT), lý thuyết này không hoàn chỉnh vì nó không bao hàm hấp
dẫn và vì nó chứa một số đại lượng, như khối lượng
tương đối của nhiều hạt khác nhau, mà chúng ta không tiên
đoán được từ lý thuyết mà phải chọn để có được
kết quả phù hợp với thực nghiệm. Khó khăn chủ yếu trong
quá trình tìm kiếm một lý thuyết có khả năng thống nhất
hấp dẫn với các tương tác khác là lý thuyết tương đối
rộng - một lý thuyết “cổ điển”, có nghĩa là lý thuyết
này không chứa đựng nguyên lý bất định của cơ học lương
tử. Mặt khác, các lý thuyết riêng phần khác lại phụ thuộc
thiết yếu vào cơ học lượng tử.
Vì
vậy bước đầu tiên cần thiết là kết hợp lý thuyết tương
đối rộng với nguyên lý bất định. Nguyên lý bất định
đưa đến kết quả là “chân không” cũng chứa đầy các
cặp ảo hạt và phản hạt. Những cặp này có một năng lượng
vô cùng lớn và vì vậy chúng có một khối lượng lớn vô
cùng theo phương trình nổi tiếng của Einstein E = mc2. Lực
hút hấp dẫn của chúng sẽ uốn cong vũ trụ vào một kích
thước vô cùng bé.
Tương
tự như thế, những đại lượng vô cùng lớn vô nghĩa cũng
xuất hiện trong các lý thuyết riêng phần khác, song trong tất
cả các trường hợp, những đại lượng này đều có thể
loại bỏ nhờ quá trình tái chuẩn hóa. Quá trình này loại
bỏ những đại lượng vô cùng lớn bằng cách đưa vào những
đại lượng khác cũng lớn vô cùng. Mặc dầu kỹ thuật đáng
ngờ về mặt toán học nhưng tỏ ra hữu hiệu về mặt thực
hành và được sử dụng trong các lý thuyết đó để đưa
ra các tiên đoán lý thuyết phù hợp với thực nghiệm với
một độ chính xác kỳ diệu. Song phép tái chuẩn hóa chứa
một khiếm khuyết nghiêm trọng xét từ quan điểm đi tìm
một lý thuyết hoàn chỉnh, bởi vì rằng theo phép này thì
giá trị của các khối lượng và cường độ các tương tác
không thể tiên đoán từ lý thuyết mà phải được chọn
sao cho phù hợp với thực nghiệm.
Để
đưa nguyên lý bất định vào lý thuyết tương đối rộng,
chúng ta chỉ có hai đại lượng cần hiệu chỉnh: hằng số
hấp dẫn và hằng số vũ trụ. Song điều chỉnh chúng cũng
chưa đủ để loại trừ tất cả các đại lượng vô cùng
lớn. Như vậy người ta đi đến một lý thuyết trong đó
một số đại lượng, như độ cong của không - thời gian,
quả là lớn vô cùng, song chúng ta phải quan sát và đo được
chúng như những đại lượng hữu hạn hoàn toàn!
Vấn
đề kết hợp lý thuyết tương đối rộng với nguyên lý
bất định đã bị nghi ngờ trong một thời gian nhưng cuối
cùng được xác nhận nhờ những tính toán chi tiết vào năm
1972. Bốn năm sau, một lời giải, gọi là “siêu hấp dẫn”
được đưa ra. Ý tưởng của siêu hấp dẫn là kết hợp
hạt spin 2 gọi là graviton, lượng tử truyền lực hấp dẫn,
với những hạt mới khác có spin 3/2, 1, 1/2 và 0. Trong một
ý nghĩa nhất định tất cả những hạt này có thể được
xem là những trạng thái khác nhau của cùng một “siêu hạt”,
như thế ta thống nhất được những hạt vật chất có spin
1/2 và 3/2 với những hạt truyền tương tác có spin 0, 1 và
2. Cặp ảo hạt/phản hạt có spin 1/2 và 3/2 sẽ có năng lượng
âm, và như thế sẽ triệt tiêu năng lượng của các cặp
ảo hạt có spin 2, 1 và 0. Điều này loại được nhiều đại
lượng lớn vô cùng, song một số đại lượng như thế có
thể còn sót lại. Nhưng những phép tính cần thiết để chứng
minh rằng có còn sót lại một số đại lượng như thế hay
không là quá khó và quá dài đến nỗi không ai sẵn sàng thực
hiện chúng. Ngay cả với máy tính, người ta ước lượng
cũng phải cần ít nhất 4 năm, và xác suất phạm một phép
tính sai hoặc có thể nhiều hơn, là rất lớn. Vì vậy người
ta dám tin rằng mình đã tính đúng chỉ khi nào có một người
nào khác lặp lại những phép tính đó và cũng thu được
một kết quả tương tự, và điều này xem chừng khó xảy
ra.
Dẫu
có những khả năng đó và thực tế các hạt trong các lý
thuyết siêu hấp dẫn xem chừng không tương thích với các
hạt quan sát được, đa số các nhà vật lý tin tưởng rằng
siêu hấp dẫn có nhiều xác suất là câu trả lời đúng đắn
cho bài toán lý thuyết thống nhất của vật lý. Hình như
đây là con đường tốt nhất để thống nhất hấp dẫn với
các tương tác khác. Song đến năm 1984 thì ý kiến thay đổi
nghiêng về cái gọi là
Hình
10.1
những
lý thuyết dây. Trong lý thuyết dây, những đối tượng cơ
bản không phải là các hạt, vốn chỉ chiếm một điểm không
gian, mà là một thực thể có độ dài và không có chiều
nào khác, giống như một sợi dây vô cùng mảnh. Những sợi
dây này có thể có mút (gọi là dây hở) hoặc chúng có các
mút trùng nhau để tạo thành một vòng (gọi là dây kín) (xem
các Hình 10.1 và 10.2).
Hình
10.2
Mỗi
hạt chiếm một điểm không gian tại mỗi điểm thời gian.
Như thế lịch sử của nó có thể biểu diễn được bởi
một đường trong không - thời gian (đó là “đường vũ trụ”).
Còn một dây thì chiếm một đường trong không gian tại mỗi
thời điểm. Vì vậy lịch sử của nó là một mặt hai chiều
gọi là mặt vũ trụ (mỗi điểm trên mặt vũ trụ như thế
được mô tả bởi hai số: một số xác định thời gian còn
số kia xác định vị trí của điểm trên dây). Mặt vũ trụ
của một dây hở là một giải; hai đường biên là một quỹ
đạo các mút trong không - thời gian (H. 10.1). Mặt vũ trụ
của một dây kín là một ống hình trụ (H.10.2) với mặt
cắt là một đường cong kín mô tả vị trí của dây tại
một thời điểm.
Hình
10.3
Hai
dây có thể nối với nhau thành một dây; trong trường hợp
dây hở chúng nối nhau tại điểm mút (H.10.3), trong trường
hợp dây kín thì chúng nối nhau như hai ống may lại với nhau
trong một cái quần (H.10.4).
Tương
tự như vậy, một dây có thể phân thành hai dây. Trong lý
thuyết dây, thực tế trước đây được xem như là hạt thì
giờ đây được biểu diễn như những sóng chạy dọc theo
dây, giống như những sóng trên một dây
Hình
10.4
đàn
rung. Quá trình bức xạ hoặc hấp thụ một hạt bởi một
hạt khác ứng với quá trình phân rã hoặc tổng hợp của
các dây. Ví dụ, lực hấp dẫn của mặt trời lên trái đất
được biểu diễn trong lý thuyết hạt như phát sinh trong quá
trình bức xạ graviton bởi một hạt của mặt trời và hấp
thụ bởi một hạt của trái đất (H.10.5). Còn trong lý thuyết
dây, quá trình này ứng với một ống có dạng hình chữ H
(H.10.6). Hai ống đứng của chữ H ứng với các hạt của
mặt trời và của trái đất, còn ống ngang ứng với hạt
graviton chuyển động giữa các hạt trên.
Hình
10.5
Lý
thuyết dây có một lược sử lý thú. Đầu tiên cuối những
năm 60, lý thuyết dây được xây dựng để mô tả tương
tác mạnh. Tư tưởng xuất phát là các hạt như proton và neutron
có thể xem như sóng của một dây. Lực tương tác giữa các
hạt sẽ được mô tả bởi những đoạn nối giữa các dây
như trong một mạng nhện. Để lý thuyết này cho những trị
số quan sát được của tương tác mạnh giữa các hạt, các
dây này phải giống như những dây cao su với lực kéo khoảng
mười tấn.
Hình
10.6
Năm
1974, Joel Scherk ở Paris và John Schwarz ở Viện công nghệ California
công bố một bài báo chỉ rằng lý thuyết dây có thể mô
tả lực hấp dẫn nếu lực căng của dây lớn hơn nhiều,
khoảng nghìn triệu triệu triệu triệu triệu triệu triệu
(1 với 39 số không) tấn. Những tiên đoán của lý thuyết
dây trùng với những tiên đoán của thuyết tương đối rộng
ở các độ dài bình thường, song khác nhau ở các khoảng
cách cực bé, nhỏ hơn một phần nghìn triệu triệu triệu
triệu triệu centimet (1centimet chia cho 1 với 33 số không). Song
công trình của hai tác giả trên không nhận được sự chú
ý đặc biệt, bởi vì vào đúng khoảng thời gian đó đa số
từ bỏ lý thuyết dây của tương tác mạnh để theo đuổi
lý thuyết quark và gluon vì lý thuyết sau có vẻ phù hợp với
quan sát thực nghiệm. Scherk chết trong hoàn cảnh bi thảm (ông
bị bệnh đái đường rơi vào trạng thái hôn mê khi không
có một ai bên cạnh để chích cho ông một mũi insulin). Như
thế chỉ còn lại Schwarz là người duy nhất bênh vực cho
lý thuyết dây, nhưng bây giờ với một trị số giả định
cao hơn nhiều của lực căng.
Năm
1984 sự quan tâm đến lý thuyết dây đột ngột được tái
sinh, vì hai lý do. Lý do thứ nhất là thực tế người ta không
thu được tiến bộ gì nhiều trong việc chứng minh rằng siêu
hấp dẫn là hữu hạn hoặc siêu hấp dẫn có khả năng giải
thích các loại hạt mà chúng ta quan sát được. Lý do thứ
hai là sự ra đời bài báo của John Schwarz và Mike Green ở
Đại học Nữ hoàng Mary, London chứng minh rằng lý thuyết
dây có thể giải thích sự tồn tại các hạt xoắn trái nội
tại đã được quan sát. Dẫu lý do thế nào đi nữa, một
số đông đã đổ vào lý thuyết dây, và một phương án mới
được phát triển, cái gọi là dây hỗn hợp (heterotic), phương
án này dường như giải thích được các loại hạt quan sát.
Lý
thuyết dây cũng dẫn đến những vô hạn, song người ta nghĩ
rằng chúng sẽ bị loại trừ trong những phương án như dây
hỗn hợp (mặc dầu hiện nay điều đó chưa chắc chắn).
Lý thuyết dây cũng có vấn đề: các lý thuyết này chỉ đúng
nếu không - thời gian có hoặc mười hoặc hai mươi sáu chiều,
chứ không phải là bốn. Các chiều không gian phụ sẽ là
cơ sở cho khoa học viễn tưởng: Thực vậy, các chiều đó
có khi là cần thiết, nếu không có chúng thì chắc chắn phải
có một thời gian rất lớn để đi đến được các sao và
thiên hà vì thuyết tương đối buộc rằng chúng ta không thể
chuyển động nhanh hơn ánh sáng.
Hình
10.7
Ý
tưởng khoa học viễn tưởng là hy vọng chúng ta có thể tìm
được một quỹ đạo tắt theo một chiều phụ. Ta có thể
hình dung được điều này như sau. Hãy tưởng tượng rằng
không - thời gian chúng ta sống chỉ có hai chiều và cong như
một mặt hình xuyến (H.10.7). Nếu bạn ở điểm A và muốn
đi đến điểm B thì bạn phải đi theo đường AMB (đường
đậm nét) trên mặt xuyến. Song nếu có chiều thứ ba thì
bạn có thể du hành theo chiều đó dọc đường AEB (đường
gạch) nhiều lần ngắn hơn AMB.
Tại
sao chúng ta không cảm nhận được các chiều phụ đó, nếu
quả thật chúng tồn tại? Tại sao chúng ta chỉ thấy được
ba chiều không gian và một chiều thời gian? Một gợi ý giải
thích điều đó là các chiều phụ bị uốn cong thành một
không gian có kích thước rất nhỏ, cỡ một phần triệu triệu
triệu triệu triệu inch. Không gian này quá nhỏ nên chúng ta
không thấy được: chúng ta chỉ thấy thời gian một chiều
và không gian ba chiều, trong đó không - thời gian gần như
phẳng. Điều này giống như mặt một quả cam: nếu như bạn
nhìn gần sát bạn sẽ thấy những chỗ cong và nhăn nheo, song
nếu bạn nhìn từ khoảng cách xa, bạn sẽ không thấy những
chỗ lồi lõm và mặt quả cam gần như trơn tru.
Đối
với không thời gian cũng vậy: ở một kích thước rất bé
ta có một không gian mười chiều, có độ cong lớn, song ở
những kích thước lớn hơn bạn sẽ thấy độ cong hoặc các
chiều phụ. Nếu bức tranh đó là đúng thì có khó khăn cho
những người muốn du hành vào vũ trụ: các chiều phụ quá
bé để con tàu vũ trụ có thể lọt qua. Tại sao chỉ có một
số chiều, chứ không phải tất cả, bị uốn cong trong một
quả cầu nhỏ? Có thể đoán chừng rằng trong những giai đoạn
sớm của vũ trụ, tất cả các chiều đều bị uốn cong rất
nhiều. Tại sao chỉ một chiều thời gian và ba chiều không
gian mở phẳng ra, còn các chiều khác thì vẫn ở trong trạng
thái bị uốn cong?
Hình
10.8.
Một
câu trả lời là nguyên lý vị nhân. Một không gian hai chiều
không đủ để cho phép hình thành những sinh vật phức tạp
như con người. Ví dụ, những sinh vật hai chiều sống trên
một không gian một chiều phải trèo qua nhau để vượt nhau.
Nếu một sinh vật hai chiều ăn một vật gì thì vật đó
không thể tiêu hóa hoàn toàn được, sinh vật đó phải đưa
phần không tiêu hóa được ra đằng mồm bởi vì nếu có
một đường tiêu hóa xuyên qua cơ thể thì đường này sẽ
phân cơ thể sinh vật thành hai nửa riêng biệt: và sinh vật
hai chiều sẽ phải rã thành hai mảnh (H.10.8). Tương tự như
vậy thật khó mà hình dung được bất kỳ một hệ tuần
hoàn máu nào trong cơ thể sinh vật hai chiều.
Nhiều
vấn đề sẽ nảy sinh với một không gian có nhiều chiều
hơn ba chiều. Lực hấp dẫn giữa hai vật sẽ giảm nhanh với
khoảng cách hơn là trong không gian ba chiều. (Trong không gian
ba chiều lực hấp dẫn giảm 1/4 lần nếu khoảng cách tăng
lên gấp đôi. Trong không gian bốn chiều, nó giảm 1/8 lần,
trong không gian năm chiều, 1/16 lần và cứ như vậy). Sự giảm
nhanh đó dẫn đến quỹ đạo của các hành tinh, như quả
đất, xung quanh mặt trời sẽ không ổn định: một nhiễu
loạn nhỏ khỏi quỹ đạo tròn (nhiễu loạn gây ra bởi lực
hút hấp dẫn của các hành tinh khác) sẽ làm cho quả đất
chuyển động xoắn và rơi vào hoặc xa dần mặt trời. Chúng
ta sẽ bị thiêu cháy hoặc chết cóng.
Trong
một không gian có số chiều lớn hơn ba, dáng điệu của hấp
dẫn theo khoảng cách không cho phép mặt trời tồn tại trong
một trạng thái ổn định với áp suất cân bằng hấp dẫn.
Mặt trời hoặc sẽ rã ra hoặc co lại thành một lỗ đen.
Trong tất cả các trường hợp trên, mặt trời sẽ không còn
là nguồn nhiệt và ánh sáng vốn cần thiết cho sự sống
trên trái đất. Ở một kích thước nhỏ hơn, các lực điện
buộc rằng các electron phải quay quanh hạt nhân nguyên tử
theo cách quả đất quay quanh mặt trời. Như vậy hoặc các
electron cũng thoát khỏi nguyên tử hoặc rơi xoắn vào hạt
nhân. Do đó chúng ta không thể có các nguyên tử mà chúng
ta đã quan sát được.
Vậy
rõ ràng cuộc sống, như chúng ta nhận thức, chỉ có thể
tồn tại trong những vùng của không - thời gian ở đó một
chiều thời gian và ba chiều không gian không bị uốn cong nhỏ
lại. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải cầu cứu đến
nguyên lý vị nhân yếu, miễn là chúng ta chứng minh được
rằng lý thuyết dây ít nhất cho phép sự tồn tại của những
vùng như thế trong vũ trụ - và hình như lý thuyết dây cho
phép. Có thể tồn tại những vùng khác của vũ trụ, hoặc
những vũ trụ khác (theo bất cứ ý nghĩa nào), trong đó tất
cả các chiều đều bị uốn cong nhỏ lại hoặc trong đó
có nhiều hơn bốn chiều gần như phẳng, song tiếc thay ở
đây không thể tồn tại một sinh vật có trí tụê nào để
quan sát những điều có thật đó.
Ngoài
vấn đề số chiều của không gian, lý thuyết dây còn đặt
ra nhiều vấn đề khác cần giải quyết trước khi lý thuyết
này được công nhận là lý thuyết tối hậu của vật lý
học. Chúng ta còn chưa biết rằng có phải mọi đại lượng
vô hạn sẽ triệt tiêu nhau và cũng chưa biết làm thế nào
để nối liền một cách chính xác các sóng trên dây với
các hạt quan sát được. Tuy nhiên, có lẽ những câu trả
lời cho các câu hỏi đó sẽ được tìm ra trong vài năm tới
và đến cuối thế kỷ này chúng ta sẽ rõ liệu lý thuyết
dây có quả thực là lý thuyết thống nhất của vật lý từ
lâu mong đợi chăng.
Mặt
khác, có thực tồn tại một lý thuyết như thế hay không?
Hay là chúng ta chỉ đang săn đuổi một ảo ảnh? Có thể
có ba khả năng:
1.
Quả thực tồn tại một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh,
mà chúng ta một ngày nào đó sẽ phát minh ra nếu chúng ta
có đủ tài năng.
2.
Không tồn tại một lý thuyết tối hậu của vũ trụ, chỉ
tồn tại một chuỗi vô cùng các lý thuyết mô tả vũ trụ
ngày càng chính xác.
3.
Không tồn tại một lý thuyết nào về vũ trụ; các sự cố
không thể tiên đoán vượt quá một giới hạn nào đó, chúng
xảy ra một cách ngẫu nhiên và tùy tiện.
Với
sự ra đời của cơ học lượng tử, chúng ta phải thừa nhận
rằng các sự cố không thể được tiên đoán với độ chính
xác hoàn toàn mà luôn tồn tại một độ bất định. Nếu
muốn, người ta có thể gán sự ngẫu nhiên đó cho sự can
thiệp của Chúa, song đấy quả là một loại can thiệp kỳ
lạ: không có một chứng cứ gì cho thấy can thiệp đó được
định hướng đến bất kỳ một mục đích nào. Thực vậy,
nếu có một mục đích, thì không còn là ngẫu nhiên nữa.
Trong thời đại hiện nay, chúng ta đã loại bỏ hữu hiệu
khả năng thứ ba bằng cách định nghĩa lại mục đích của
khoa học: mục tiêu của khoa học là xây dựng một bộ định
luật có khả năng cho phép chúng ta tiên đoán các sự cố
chỉ trong giới hạn xác định bởi nguyên lý bất định.
Khả
năng thứ hai, khả năng tồn tại một chuỗi vô cùng những
lý thuyết ngày càng tinh tế, rất phù hợp với kinh nghiệm
của chúng ta. Nhiều lần chúng ta đã tăng độ nhạy các phép
đo và thực hiện nhiều loại thí nghiệm mới chỉ với mục
đích phát hiện những hiện tượng mới không tiên đoán được
bởi lý thuyết hiện có và để mô tả những hiện tương
đó chúng ta phải phát triển một lý thuyết tiên tiến hơn.
Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiêu nếu thế hệ hiện tại
các lý thuyết thống nhất phạm sai lầm khi khẳng định rằng
không có điều gì căn bản mới xảy ra giữa năng lượng
cỡ 100 GeV của lý thuyết thống nhất yếu điện từ và năng
lượng cỡ ngàn triệu triệu GeV của lý thuyết thống nhất
lớn. Đáng lý chúng ta phải hy vọng tìm ra nhiều tầng cấu
trúc mới cơ bản hơn quark và electron hiện nay được xem như
là những hạt “cơ bản”.
Song
dường như hấp dẫn có thể cung cấp một giới hạn cho chuỗi
các “hộp trong hộp” đó. Nếu ta có một hạt với năng
lượng lớn hơn cái gọi là năng lượng Planck, mười triệu
triệu triệu GeV (1 theo sau là 19 số không), thì khối lượng
của nó có mật độ tập trung đến mức mà nó tự cô lập
tách khỏi phần vũ trụ còn lại và biến thành một lỗ đen
nhỏ. Như vậy dường như chuỗi các lý thuyết ngày càng tinh
tế đó phải có một giới hạn khi chúng ta tiếp cận với
những năng lượng ngày càng cao, và ắt phải có một lý thuyết
tối hậu về vũ trụ. Lẽ dĩ nhiên, năng lượng Planck là
một quãng đường dài kể từ những năng lượng cỡ nghìn
GeV mà hiện nay là năng lượng lớn nhất chúng ta có khả
năng tạo ra trong phòng thí nghiệm. Chúng ta chưa vượt qua
được hố ngăn cách đó trong một tương lai gần nhờ những
máy gia tốc! Nhưng những giai đoạn sơ sinh của vũ trụ đã
từng chứng kiến những năng lượng như vậy. Tôi nghĩ rằng
có nhiều xác suất may mắn là sự nghiên cứu những giai đoạn
sớm của vũ trụ kết hợp với những đòi hỏi chặt chẽ
của toán học sẽ dẫn chúng ta đến một lý thuyết thống
nhất hoàn chỉnh trong giới hạn cuộc đời của nhiều người
chúng ta.
Nếu
chúng ta thực sự tìm ra được một lý thuyết tối hậu về
vũ trụ, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta không
bao giờ có thể chắc chắn hoàn toàn rằng quả chúng ta đã
tìm ra được một lý thuyết hoàn chỉnh. Song nếu lý thuyết
chặt chẽ về mặt toán học và luôn đưa ra được những
tiên đoán phù hợp với quan sát, thì chúng ta có thể tin một
cách hợp lý rằng đó là một lý thuyết đúng đắn. Nó sẽ
kết thúc một chương dài và vinh quang trong lịch sử đấu
tranh trí tuệ của con người để tìm hiểu vũ trụ. Đồng
thời nó cũng cách mạng hóa sự hiểu biết các định luật
vũ trụ của con người bình thường.
Thời
Newton một người có giáo dục rất có thể nắm được toàn
bộ kiến thức của nhân loại, ít nhất là trong những nét
cơ bản. Song sau đó nhịp độ phát triển của khoa học làm
cho khả năng trên không còn nữa. Vì rằng các lý thuyết luôn
thay đổi để phù hợp với những quan sát mới, chúng không
thể đơn giản hóa được để một người bình thường có
thể hiểu thấu. Bạn phải là một chuyên gia, và dẫu là
một chuyên gia bạn cũng chỉ hy vọng nắm bắt được một
phần các lý thuyết khoa học. Ngoài ra, khoa học tiến nhanh
tới mức mà những kiến thức thu nhận được ở học đường
cũng luôn luôn bất cập với thời đại. Chỉ một số ít
người theo kịp được ranh giới tiền tiêu của kiến thức
và số người đó cũng phải dùng toàn bộ số thời gian để
làm việc và chuyên sâu vào một lĩnh vực nhỏ. Số đông
còn lại ít có khái niệm về những thành tựu tiên tiến
của khoa học và những vấn đề lý thú nảy sinh từ đó.
Bảy
mươi năm về trước, nếu tin lời Eddington, thì chỉ có hai
người hiểu được lý tuyết tương đối rộng. Ngày nay hàng
vạn sinh viên đại học hiểu được lý thuyết đó và hàng
triệu người ít nhất đã làm quen với lý thuyết tương đối
rộng. Nếu một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh được
phát minh, thì chỉ còn là vấn đề thời gian để cho lý thuyết
đó được thấu triệt rồi đơn giản hóa và giảng dạy
trong nhà trường ít nhất là những nét cơ bản. Và mọi người
chúng ta sẽ đủ khả năng có được một kiến thức nhất
định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành
cuộc sống của chúng ta.
Ngay
nếu chúng ta tìm được ra một lý thuyết thống nhất hoàn
chỉnh, điều đó cũng không có nghĩa rằng chúng ta có khả
năng tiên đoán mọi sự cố nói chung, vì hai lẽ. Thứ nhất
do giới hạn mà nguyên lý bất định của cơ học lượng
tử áp đặt lên mọi quyền lực tiên đoán của chúng ta.
Chúng ta không thể làm gì được để vượt giới hạn đó.
Song trong thực tiễn giới hạn thứ nhất đó còn ít ràng
buộc hơn giới hạn sau đây. Vấn đề là ở chỗ chúng ta
không thể giải được các phương trình của lý thuyết một
cách tuyệt đối chính xác, trừ vài trường hợp rất đơn
giản. (Chúng ta không thể giải chính xác ngay cả chuyển động
ba vật trong lý thuyết hấp dẫn của Newton, và khó khăn sẽ
tăng lên với số vật tham gia chuyển động và mức độ phức
tạp của lý thuyết).
Chúng
ta đã biết nhiều định luật điều hành vật chất dưới
mọi điều kiện cực đoan nhất. Nói riêng, chúng ta đã biết
những định luật cơ bản điều khiển mọi đối tượng
của hóa học và sinh học. Nhưng chắc chắn ta không quy các
đối tượng đó về thực trạng của những bài toán giải
được; đến nay chúng ta đã đạt được quá ít tiến bộ
trong việc tiên đoán cách xử sự của con người từ những
phương trình toán học! Vì vậy ngay lúc chúng ta tìm ra được
một bộ hoàn chỉnh các định luật cơ bản, cũng cần nhiều
năm trong tương lai để thách đố trí tuệ con người tìm
ra những phương pháp xấp xỉ hữu hiệu hơn để có thể
đưa ra những tiên đoán có ích về những hệ quả khả dĩ
trong những tình huống thực tiễn và phức tạp. Một lý thuyết
thống nhất chặt chẽ và hoàn chỉnh, chỉ mới là bước
đầu: mục tiêu của chúng ta là một sự hiểu biết hoàn
chỉnh về mọi sự cố chung quanh và về bản thân sự tồn
tại của chúng ta.
Cùng
Tác Giả, Khác Dịch Giả:
Lược
Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Thích Viên Lý, USA