Chương
9: Mũi tên của thời gian
Nhận
thức của chúng ta về bản chất của thời gian thay đổi
theo năm tháng. Mãi đến đầu thế kỳ này người ta vẫn
tin vào một thời gian tuyệt đối. Điều đó có nghĩa là
mỗi sự cố có thể đánh dấu đơn trị bằng một con số
gọi là thời gian và tất cả các đồng hồ chính xác phải
cho cùng một quãng thời gian giữa hai sự cố. Song vì sự
phát hiện tốc độ ánh sáng là như nhau đối với mọi quan
sát viên, không phụ thuộc vào chuyển động của họ, đã
dẫn đến lý thuyết tương đối buộc người ta phải hủy
bỏ ý tưởng về một thời gian tuyệt đối duy nhất. Thay
vì, mỗi quan sát viên có số đo thời gian riêng theo đồng
hồ họ mang theo: những đồng hồ của các quan sát viên khác
nhau không nhất thiết phù hợp nhau. Như thế thời gian đã
trở thành một nhận thức cá nhân gắn liền với quan sát
viên thực hiện phép đo.
Khi
người ta tìm cách thống nhất hấp dẫn với cơ học lượng
tử, người ta đã phải đưa vào khái niệm thời gian “ảo”.
Thời gian ảo như nhau đối với mọi hướng không gian. Nếu
ta có thể đi về hướng Bắc thì ta cũng có thể quay người
và đi về phía Nam; tương tự nếu ta có thể đi trong thời
gian ảo thì ta cũng có khả năng quay người và đi lui. Điều
đó có nghĩa là không có sự khác biệt quan trọng nào giữa
hướng trước và hướng sau của thời gian “ảo”, mặt
khác khi ta xét thời gian “thực” thì có một sự khác biệt
rất lớn giữa các hướng trước và sau, như chúng ta đều
biết. Từ đâu ra sự khác biệt đó giữa quá khứ và tương
lai? Tại sao chúng ta chỉ nhớ quá khứ mà không nhớ tương
lai?
Các
định luật khoa học không phân biệt quá khứ với tương
lai. Nói chính xác hơn, các định luật khoa học không thay
đổi dưới tổ hợp các toán tự (hay là các phép đối xứng)
được biết dưới các ký hiệu C, P và T (C biến đổi hạt
thành phản hạt, P là phép đối xứng qua gương, do đó trái
và phải thay chỗ nhau, còn T là phép đảo hướng chuyển động
của hạt: kết quả là hạt chuyển động lùi). Các định
luật khoa học điều khiển tiến trình của vật chất trong
mọi tình huống bình thường là không thay đổi dưới tác
động của tổ hợp hai toán tử C và P. Nói cách khác, sự
sống vẫn sẽ là như thế đối với người ở hành tinh khác
nếu họ là phản chiếu gương của chúng ta và được cấu
tạo bằng phản vật chất chứ không phải bằng vật chất.
Nếu
các định luật khoa học không thay đổi dưới tổ hợp các
toán tử C và P và cả dưới tổ hợp C, P và T thì chúng ta
cũng phải không thay đổi dưới tác động của một mình
toán tử T. Song có một sự khác biệt lớn giữa hướng trước
và hướng sau của thời gian trong đời sống thường ngày.
Hãy tưởng tượng một cốc thủy tinh rơi từ bàn và vỡ
tan dưới sàn. Nếu ta nhìn phim ghi lại hiện tượng đó, ta
có thể dễ dàng nói rằng phim đang bị quay tới hay quay lui.
Nếu phim bị quay lui thì ta sẽ thấy các mảnh vỡ bỗng nhiên
tập kết lại với nhau, rời khỏi sàn và rồi nhảy lên bàn
thành cái cốc nguyên vẹn. Sở dĩ ta nói được là phim đang
quay lui là vì trong một tiến trình như vậy không bao giờ
có thể quan sát được trong cuộc sống thường ngày. Vì ngược
lại các nhà máy thủy tinh đã bị phá sản.
Người
ta thường giải thích hiện tượng vì sao cốc vỡ dưới sàn
không thể trở thành cốc lành trên bàn bằng định luật
thứ hai của nhiệt động học. Định luật đó nói rằng
trong một hệ thống kín thì vô trật tự hay entropi, luôn tăng
với thời gian. Nói cách khác, đấy là một dạng của định
luật Murphy: mọi vật luôn tiến triển theo chiều xấu đi!
Một cốc lành ở trên bàn là một trạng thái với trật tự
cao còn một cốc vỡ dưới sàn nhà là một trạng thái vô
trật tự. Người ta có thể đi dễ dàng từ cái cốc trên
bàn đến cái cốc vỡ dưới sàn trong tương lai. Song không
thể đi ngược lại.
Sự
tăng vô trật tự hay entropi với thời gian là một thí dụ
về cái gọi là mũi tên của thời gian, một khái niệm phân
biệt quá khứ với hiện tại, một khái niệm xác định hướng
của thời gian. Ít nhất có tới ba mũi tên khác nhau của thời
gian. Thứ nhất là mũi tên nhiệt động học của thời gian,
chỉ hướng của thời gian theo đó vô trật tự hay entropi
tăng lên. Tiếp đến là mũi tên tâm lý học của thời gian.
Đó là hướng theo đó chúng ta cảm nhận được thời gian
đang chảy, theo đó chúng ta chỉ nhớ quá khứ mà không có
thể có bất cứ một lưu niệm nào của tương lai. Cuối cùng
là mũi tên vũ trụ học của thời gian. Đó là hướng của
thời gian, theo đó vũ trụ nở ra chứ không co lại.
Trong
chương này tôi sẽ chứng minh rằng điều kiện không có biên
của vũ trụ kết hợp với nguyên lý vị nhân yếu có thể
giải thích được vì sao phải tồn tại một mũi tên thời
gian có hướng xác định. Tôi sẽ chứng minh rằng mũi tên
tâm lý học được xác định bởi mũi tên nhiệt động học
và hai mũi tên đó nhất thiết phải luôn luôn chỉ cùng hướng.
Nếu ta giả định điều kiện không có biên cho vũ trụ, ta
sẽ thấy tồn tại các mũi tên nhiệt động học và vũ trụ
học của thời gian, song chúng không chỉ về cùng một hướng
trong suốt lịch sử của vũ trụ. Nhưng tôi sẽ chứng minh
rằng chỉ trong trường hợp khi chúng chỉ về cùng một hướng
thì mới có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
những sinh vật trí tuệ có khả năng đặt ra câu hỏi: vì
sao vô trật tự tăng theo hướng thời gian, theo đó vũ trụ
nở ra?
Tôi
sẽ bàn trước tiên đến mũi tên nhiệt động học của thời
gian. Định luật thứ hai của nhiệt động học được suy
ra từ dữ kiện: luôn luôn có nhiều trạng thái vô trật tự
hơn trạng thái có trật tự. Ví dụ, hãy xét những miếng
lắp hình trong một trò chơi. Có một và chỉ có một cách
xếp những miếng lắp hình này thành một hình cho trước.
Mặt khác có vô số cách xếp trong đó có những miếng lắp
hình vô trật tự và không tạo thành một hình nào cả.
Giả
sử một hệ xuất phát từ một trong số ít ỏi các trạng
thái trật tự. Cùng với thời gian, hệ sẽ tiến triển theo
các định luật khoa học và trạng thái của hệ thay đổi.
Ở một thời điểm sau, có nhiều xác suất để hệ rơi vào
một trạng thái vô trật tự hơn là một trạng thái trật
tự bởi vì có nhiều trạng thái vô trật tự hơn. Như thế
vô trật tự sẽ có chiều hướng tăng lên với thời gian
nếu hệ lúc ban đầu có một trật tự cao.
Giả
sử các miếng lắp hình lúc ban đầu nằm trong hộp trò chơi
theo một cách xếp trật tự và tạo thành một hình. Nếu
ta lắc hộp, các miếng lắp hình sẽ được xếp lại theo
cách khác. Đó sẽ là một cách xếp vô trật tự, trong đó
các mảnh không tạo thành một hình nào, vì một lý do đơn
giản là có nhiều cách xếp vô trật tự hơn. Một số nhóm
các mảnh có thể vẫn còn tạo thành một số bộ phận của
hình ban đầu, song càng lắc hộp thì càng có nhiều xác suất
là các nhóm đó cũng tan vỡ và các mảnh sẽ rơi vào trạng
thái hoàn toàn vô trật tự, trong đó các mảnh không còn tạo
nên một hình dạng nào cả. Như thế vô trật tự của các
mảnh sẽ có nhiều xác suất tăng lên với thời gian nếu
ban đầu chúng ở trạng thái có trật tự cao.
Song
bây giờ giả sử rằng Chúa đã quyết định là vũ trụ phải
kết thúc bằng một trạng thái có trật tự cao bất kể trạng
thái ban đầu là như thế nào. Như vậy ở những giai đoạn
sớm vũ trụ có nhiều xác suất ở vào trạng thái vô trật
tự. Điều đó có nghĩa là vô trật tự sẽ giảm theo thời
gian và ta sẽ thấy cốc vỡ tập kết lại thành cốc lành
và nhảy lên bàn. Những con người quan sát được cái cốc
đó sẽ phải sống trong một vũ trụ ở đấy vô trật tự
giảm với thời gian. Tôi sẽ chứng minh rằng những con người
như thế sẽ có mũi tên tâm lý học của thời gian hướng
về phía sau. Nghĩa là họ sẽ nhớ các sự kiện trong tương
lai mà không nhớ các sự kiện trong quá khứ. Khi cốc vỡ,
họ sẽ nhớ nó lúc ở trên bàn, họ sẽ không nhớ lúc nó
ở dưới sàn.
Rất
khó nói về trí nhớ của con người bởi vì chúng ta không
biết bộ não hoạt động chi tiết như thế nào. Song có lẽ
chúng ta biết rõ cách hoạt động của bộ nhớ các máy tính
điện tử. Vì vậy tôi sẽ bàn về mũi tên tâm lý học của
thời gian đó với máy tính điện tử. Tôi cho rằng ta có
lý khi giả định rằng mũi tên đối với máy tính điện
tử trùng với mũi tên đối với con người. Nếu không chúng
ta có thể trúng to tại thị trường chứng khoán bằng cách
sử dụng một máy tính điện tử có khả năng nhớ giá cả
của ngày mai.
Bộ
nhớ của máy tính điện tử cơ bản là một thiết bị chứa
những yếu tố có thể nằm ở một trong hai trạng thái. Một
ví dụ đơn giản là cái bàn tính. Trong dạng đơn giản nhất,
bàn tính gồm một số dây kim loại, trên mỗi dây sâu một
hạt, hạt có thể ở một trong hai vị trí. Trước khi một
thông tin được ghi vào bộ nhớ của máy tính, bộ nhớ ở
trong một trạng thái vô trật tự, với xác suất bằng nhau
cho các cặp trạng thái khả dĩ (các hạt của bàn tính phân
bố ngẫu nhiên trên các dây). Sau khi bộ nhớ tương tác với
hệ cần nhớ, bộ nhớ sẽ ở vào một trạng thái nhất định
ứng với trạng thái của hệ. (Mỗi hạt trên bàn tính sẽ
ở hoặc bên trái hoặc bên phải của dây). Như thế bộ nhớ
chuyển từ một trạng thái vô trật tự sang một trạng thái
trật tự.
Song,
để thực hiện sử chuyển trạng thái đó, cần phải tiêu
tốn một năng lượng (để chuyển động các hạt của bàn
tính hoặc cung cấp điện năng cho máy tính điện tử). Năng
lượng này sẽ khuếch tán thành nhiệt năng và làm tăng vô
trật tự của vũ trụ. Người ta có thể chứng minh rằng
độ gia tăng vô trật tự này luôn luôn lớn hơn độ gia tăng
trật tự của bản thân bộ nhớ. Như thế lượng nhiệt xua
đi bởi cái quạt làm mát máy tính là bằng chứng nói rằng
khi máy tính ghi một thông tin vào bộ nhớ thì tổng vô trật
tự trong vũ trụ tăng lên. Hướng đi của thời gian theo đó
một máy tính ghi lại quá khứ trong bộ nhớ là cùng hướng
với sự gia tăng vô trật tự.
Như
thế sự cảm nhận chủ quan của chúng ta về hướng đi của
thời gian, tức mũi tên tâm lý học của thời gian, được
xác định trong bộ não bởi mũi tên nhiệt động học của
thời gian. Tương tự như máy tính điện tử, chúng ta phải
nhớ sự việc theo thứ tự mà entropi tăng. Điều này làm
cho định luật thứ hai của nhiệt động học trở thành hầu
như hiển nhiên. Vô trật tự tăng với thời gian vì chúng
ta đo thời gian theo hướng tăng của vô trật tự. Bạn không
thể có một cách đánh cuộc nào khác chắc ăn hơn!.
Nhưng
vì sao nói chung lại tồn tại một mũi tên nhiệt động học
của thời gian? Hay nói cách khác, vì sao vũ trụ phải ở trong
một trạng thái trật tự cao ở đầu kia của thời gian, đầu
mà người ta gọi là quá khứ? Tại sao vũ trụ không nằm
trong một trạng thái vô trật tự ở mọi thời gian? Nói cho
cùng, điều này có vẻ như nhiều xác suất hơn. Và tại sao
hướng đi của thời gian theo đó vô trật tự tăng lại trùng
khớp với hướng theo đó vũ trụ nở ra?
Trong
lý thuyết tương đối rộng cổ điển người ta không thể
tiên đoán được vũ trụ đã bắt đầu như thế nào bởi
vì mọi định luật khoa học đã biết đều không đúng tại
điểm kỳ dị của vụ nổ lớn. Vũ trụ có thể bắt đầu
từ một trạng thái rất đồng nhất và trật tự, điều
này sẽ dẫn đến mũi tên nhiệt động học và vũ trụ học
xác định của thời gian như chúng ta quan sát. Song vũ trụ
có thể hoàn toàn bắt đầu tự một trạng thái rất không
đồng nhất và vô trật tự. Trong trường hợp này vì vũ
trụ đã ở trong trạng thái rất vô trật tự rồi, cho nên
vô trật tự không thể tăng theo thời gian nữa. Vô trật tự
hoặc không thay đổi, lúc này không tồn tại mũi tên nhiệt
động học xác định của thời gian, hoặc giảm đi, lúc này
mũi tên nhiệt động học của thời gian chỉ hướng ngược
lại của mũi tên vũ trụ học. Các khả năng này không phù
hợp với điều ta quan sát được. Song ở đây lý thuyết
tương đối rộng cổ điển tự tiên đoán sự sụp đổ của
mình. Khi độ cong của không - thời gian trở nên lớn, các
hiệu ứng hấp dẫn lượng tử trở nên quan trọng và lý
thuyết cổ điển không còn mô tả tốt vũ trụ được nữa.
Để hiểu được vũ trụ đã bắt đầu như thế nào, ta phải
sử dụng một lý thuyết hấp dẫn lượng tử.
Trong
một lý thuyết hấp dẫn lượng tử muốn xác định trạng
thái của vũ trụ chúng ta cần phải biết cách diễn biến
của mọi lịch sử khả dĩ của vũ trụ ở biên không - thời
gian trong quá khứ. Ta có thể tránh việc mô tả những gì
mà ta không biết và không thể biết được nếu cho rằng
các lịch sử thỏa mãn điều kiện không có biên: chúng hữu
hạn song không có biên, không có kỳ dị. Trong trường hợp
đó, khởi điểm thời gian là một điểm không kỳ dị của
không - thời gian và vũ trụ bắt đầu quá trình giãn nở
từ một trạng thái đồng nhất và trật tự. Song vũ trụ
không thể tuyệt đối đồng nhất vì như thế nó sẽ vi phạm
nguyên lý bất định của lý thuyết lượng tử. Phải tồn
tại những thăng giáng nhỏ và mật độ và vận tốc các
hạt. Mặt khác điều kiện không có biên buộc rằng các thăng
giáng đó phải đủ nhỏ, nhưng trong mức độ cho phép của
nguyên lý bất định.
Vũ
trụ có thể bắt đầu bằng một giai đoạn giãn nở hàm
mũ hay giãn nở “lạm phát”, trong giai đoạn này vũ trụ
đã gia tăng kích thước nhiều lần. Trong quá trình giãn nở
này, các thăng giáng mật độ lúc đầu có thể nhỏ, song
sau đó thì bắt đầu lớn lên. Những vùng với mật độ
lớn hơn trung bình một tý giãn nở chậm hơn vì lực hút
hấp dẫn của khối lượng thừa. Những vùng như thế có
thể ngừng giãn nở và co lại để hình thành những thiên
hà, các sao và cả những sinh vật như chúng ta. Vũ trụ có
thể bắt đầu từ một trạng thái đồng nhất và trật tự,
và dần dần trở thành không đồng nhất và vô trật tự.
Điều này có thể giải thích mũi tên nhiệt động học của
thời gian.
Song
điều gì sẽ xảy ra nếu vũ trụ ngừng giãn nở và bắt
đầu co lại? Mũi tên nhiệt động học có đổi hướng không
và vô trật tự có giảm đi với thời gian không? Sự đảo
ngược này sẽ dẫn đến những tình huống khoa học viễn
tưởng cho những người sống sót sau thời điểm chuyển pha
từ quá trình co lại sang quá trình co lại của vũ trụ. Những
người này sẽ thấy những mảnh vỡ tập kết lại từ dưới
sàn thành cốc lành và nhảy lên bàn chăng? Họ sẽ nhớ được
giá cả của ngày mai và trúng to trên thị trường chứng khoán
chăng?
Nỗi
lo lắng điều gì sẽ xảy ra khi vũ trụ co trở lại ít nhiều
mang tính chất kinh viện vì lẽ rằng vũ trụ có co lại cũng
ít nhất cũng vài chục tỷ năm nữa. Song có một cách nhanh
chóng hơn để biết điều gì sẽ xảy ra lúc đó là nhảy
vào một lỗ đen. Quá trình co lại của một sao để hình
thành một lỗ đen rất giống những giai đoạn cuối của
quá trình co lại của toàn bộ vũ trụ. Như thế nếu vô trật
tự giảm trong pha co lại của vũ trụ thì vô trật tự cũng
phải giảm trong lòng một lỗ đen. Như thế có thể người
du hành vũ trụ khi rơi vào một lỗ đen sẽ trúng to trên bàn
bi quay bằng cách nhớ lại bi đã rơi vào đâu trước khi anh
ta đặt cược (song tiếc thay anh ta không đủ thời gian chơi
lâu trước khi biến thành sợi mỳ ống. Anh ta cũng không thể
thông báo cho chúng ta biết về sự đảo hướng của mũi tên
nhiệt động học, thậm chí cũng không đưa kịp tiền thắng
cược của mình vào ngân hàng vì anh ta bị cuốn mất sau chân
trời sự cố của lỗ đen). Lúc đầu tôi những tưởng rằng
vô trật tự sẽ giảm khi vũ trụ co lại. Tôi tưởng thế
vì tôi cho là vũ trụ sẽ quay về trạng thái đồng nhất
và trật tự khi nó trở thành nhỏ. Điều này có nghĩa là
pha co lại là nghịch đảo theo thời gian của pha giãn nở.
Mọi người sống trong pha co lại sẽ sống cuộc đời chảy
lùi: họ sẽ chết trước lúc sinh ra và càng ngày càng trẻ
ra lúc vũ trụ co nhỏ lại.
Ý
tưởng trên rất hấp dẫn vì thiết lập được một đối
xứng đẹp giữa hai pha giãn nở và co lại. Song chúng ta không
thể chấp nhận ý tưởng này một cách tự thân, độc lập
với những ý tưởng khác về vũ trụ. Câu hỏi nảy sinh là:
ý tưởng này tương thích hay mẫu thuẫn với điều kiện
không có biên? Như đã nói ở trên tôi đã nghĩ lúc đầu
rằng điều kiện không có biên ắt đòi hỏi rằng vô trật
tự sẽ giảm đi trong pha co lại. Ở đây tôi nhầm một phần
vì liên tưởng đến mặt quả đất. Nếu ta lấy cực Bắc
làm điểm bắt đầu tương ứng của vũ trụ, thì điểm kết
thúc của vũ trụ sẽ tương tự như điểm ban đầu, hoàn
toàn giống như cực Nam tương tự với cực Bắc. Song cực
Bắc và cực Nam chỉ tương ứng với điểm bắt đầu và
kết thúc của vũ trụ trong thời gian ảo mà thôi. Điểm bắt
đầu và điểm kết thúc của vũ trụ có thể rất khác nhau
trong thời gian thực.
Tôi
nhầm phần khác vì một công trình tôi làm trước dựa trên
một mô hình đơn giản của vũ trụ trong đó pha co lại là
nghịch đảo theo thời gian của pha giãn nở. Nhưng một bạn
đồng nghiệp của tôi, Don Page ở đại học quốc gia Pennsylvania
đã chỉ ra rằng điều kiện không có biên không đòi hỏi
pha co lại nhất thiết phải là nghịch đạo theo thời gian
của pha giãn nở. Sau đó một sinh viên của tôi, Raymond Laflamme
đã phát hiện rằng trong một mô hình phức tạp hơn một
chút thì sự co lại của vũ trụ khác xa sự giãn nở. Tôi
hiểu rằng tôi đã nhầm: điều kiện không có biên ngụ ý
rằng vô trật tự thực tế vẫn tiếp tục tăng trong quá
trình co lại. Các mũi tên nhiệt động học và tâm lý học
của thời gian sẽ không đảo hướng cả trong lỗ đen, lẫn
khi vũ trụ bắt đầu co lại.
Bạn
phải làm gì khi nhận ra mình đã nhầm như thế? Một số
người chẳng bao giờ chấp nhận mình sai và tiếp tục tìm
ra những lý lẽ mới, thường mâu thuẫn với nhau để bảo
vệ quan điểm của mình như trường hợp Eddington đã làm
để chống lại thuyết các lỗ đen. Một số người khác
phủ nhận rằng đã thực tế bảo vệ quan điểm sai lầm,
hoặc nếu có bảo vệ thì cũng chỉ vì muốn vạch ra sai lầm
của quan điểm đó. Theo ý tôi tốt hơn cả là công bố trên
báo quan điểm sai lầm của mình. Một ví dụ đẹp là trường
hợp Einstein khi cho rằng hằng số vũ trụ mà ông đưa vào
lý thuyết để thiết lập mô hình tĩnh của vũ trụ là sai
lầm lớn nhất của đời mình.
Quay
trở lại mũi tên của thời gian, còn lại câu hỏi: vì sao
ta quan sát thấy các mũi tên của nhiệt động học và vũ
trụ học là đồng hướng? Hay nói cách khác, vì sao vô trật
tự tăng lên theo hướng của thời gian theo đó vũ trụ giãn
nở? Nếu ta tin tưởng rằng vũ trụ giãn nở rồi sau đó
sẽ co lại, điều này dường như đã tiềm ẩn trong điều
kiện không có biên, thì câu hỏi trên trở thành câu hỏi
vì sao chúng ta phải ở vào pha giãn nở chứ không phải pha
co lại?
Chúng
ta có thể trả lời câu hỏi này trên cơ sở của nguyên lý
vị nhân yếu. Các điều kiện trong pha co lại không cho phép
sự tồn tại các sinh vật có trí tuệ để mà có khả năng
đặt ra câu hỏi: Vì sao vô trật tự tăng theo hướng của
thời gian theo đó vũ trụ giãn nở? Sự giãn nở lạm phát
trong những giai đoạn sớm của vũ trụ, tiên đoán bởi giả
thiết không có biên, có nghĩa là vũ trụ phải giãn nở gần
tốc độ tới hạn, với tốc độ vũ trụ vừa vặn tránh
được quá trình co lại, và như thế sẽ không co lại trong
một thời gian rất dài. Đến lúc đó các sao sẽ cháy và
các proton và neutron trong các sao sẽ phân rã thành bức xạ
và các hạt nhẹ. Vũ trụ sẽ ở vào trạng thái gần như
vô trật tự hoàn toàn. Mũi tên nhiệt động học của thời
gian sẽ không xác định. Vô trật tự không thể tăng hơn
vì vũ trụ đã rơi vào trạng thái gần vô trật tự hoàn
toàn.
Song,
một mũi tên nhiệt động học xác định là cần thiết cho
sự sống có trí tuệ. Để sống, con người cần thức ăn
vốn ở dạng trật tự của năng lượng, biến đổi thức
ăn thành nhiệt năng là dạng vô trật tự của năng lượng.
Như vậy sức sống có trí tuệ không thể tồn tại trong pha
co lại của vũ trụ điều này giải thích vì sao ta quan sát
thấy các mũi tên nhiệt động học và vũ trụ học của thời
gian đều chỉ về một hướng. Không phải sự giãn nở của
vũ trụ làm cho vô trật tự tăng lên. Đúng hơn là điều
kiện không có biên làm cho vô trật tự tăng lên và các điều
kiện trở nên thích hợp cho sự sống trí tuệ chỉ trong pha
giãn nở của vũ trụ.
Tóm
lại, các định luật khoa học không phân biệt hướng tới
và hướng lui của thời gian. Song ít nhất có ba mũi tên thời
gian làm phân biệt quá khứ với tương lai. Đó là mũi tên
nhiệt động học chỉ hướng theo thời gian theo đó vô trật
tự tăng lên; mũi tên tâm lý học chỉ hướng theo thời gian
theo đó chúng ta chỉ nhớ quá khứ mà không nhớ tương lai
và mũi tên vũ trụ học chỉ hướng theo thời gian theo đó
vũ trụ giãn nở chứ không co lại. Tôi đã chứng minh rằng
mũi tên tâm lý học và mũi tên nhiệt động học thực chất
là một, vì chúng chỉ cùng hướng. Giả thiết không có biên
cho vũ trụ dẫn đến sự tồn tại của một mũi tên nhiệt
động học xác định của thời gian vì vũ trụ phải xuất
phát từ một trạng thái thống nhất và trật tự. Và lý
do làm sao ta quan sát mũi tên nhiệt động học cùng hướng
với mũi tên vũ trụ học là các sinh vật có trí tuệ chỉ
có thể tồn tại trong pha giãn nở. Pha co lại của vũ trụ
không thích hợp cho sự sống có trí tuệ vì trong pha này không
tồn tại mũi tên nhiệt động học định hướng rõ ràng.
Tiến
bộ của loài người trong quá trình nhận thức đã thiết
lập nên một góc nhỏ trật tự trong cái vô trật tự ngày
càng tăng của vũ trụ. Nếu bạn nhớ mỗi chữ trong quyển
sách này, trí nhớ của bạn đã ghi nhận khoảng hai triệu
đơn vị thông tin: trật tự trong bộ não của bạn đã tăng
lên chừng hai triệu đơn vị. Song khi bạn đóng quyển sách
này bạn đã biến ít nhất hai ngàn calo năng lượng trật
tự ở dạng thức ăn thành năng lượng vô trật tự ở dạng
nhiệt mà bạn mất đi vào môi trường xung quanh do đối lưu
và bay hơi mồ hôi. Điều này sẽ làm tăng vô trật tự của
vũ trụ khoảng 20 triệu triệu triệu triệu đơn vị hay khoảng
mười triệu triệu triệu lần số gia tăng trật tự trong
bộ não của bạn, nếu bạn nhớ mọi thứ trong quyển sách
này.
Cùng
Tác Giả, Khác Dịch Giả:
Lược
Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Thích Viên Lý, USA