Chương
7: Lỗ đen không quá đen
Trước
năm 1970, nghiên cứu của tôi về thuyết tương đối rộng
chủ yếu tập trung vào vấn đề có tồn tại hay không kỳ
dị vụ nổ lớn. Tuy nhiên, vào một buổi tối tháng 11 năm
đó, ngay sau khi con gái tôi, cháu Lucy, ra đời, tôi bắt đầu
suy nghĩ về những lỗ đen khi tôi trên đường về phòng ngủ.
Vì sự tàn tật của mình, tôi di chuyển rất chậm, nên có
đủ thời gian để suy nghĩ. Vào thời đó còn chưa có một
định nghĩa chính xác cho biết những điểm nào của không-thời
gian là nằm trong, và những điểm nào là nằm ngoài lỗ đen.
Tôi đã thảo luận với Roger Penrose ý tưởng định nghĩa
lỗ đen như một tập hợp mà các sự cố không thể thoát
ra khỏi nó để đến những khoảng cách lớn, và bây giờ
nó đã trở thành một định nghĩa được mọi người chấp
nhận. Điều này có nghĩa là biên giới của lỗ đen, cũng
gọi là chân trời sự cố, được tạo bởi đường đi trong
không-thời gian của các tia sáng vừa chớm không thoát ra được
khỏi lỗ đen, và vĩnh viễn chơi vơi ở mép của nó (hình
7.1). Nó cũng gần giống như trò chơi chạy trốn cảnh sát,
chỉ hơi vượt trước được một bước nhưng còn chưa thể
bứt ra được.
Bất
chợt tôi nhận ra rằng đường đi của các tia sáng ấy không
bao giờ có thể tiến tới gần nhau. Vì nếu không thế, cuối
cùng chúng cũng sẽ phải chập vào nhau. Điều này cũng giống
như đón gặp một người bạn đang phải chạy trốn cảnh
sát ở phía ngược lại - rốt cuộc cả hai sẽ đều bị
bắt! (Hay trong trường hợp của chúng ta cả hai tia sáng sẽ
đều bị rơi vào lỗ đen). Nhưng nếu cả hai tia sáng đó
đều bị nuốt bởi lỗ đen, thì chúng không thể ở biên
giới của lỗ đen được. Như vậy đường đi của các tia
sáng trong chân trời sự cố phải luôn luôn song song hoặc
đi ra xa nhau. Một cách khác để thấy điều này là chân trời
sự cố - biên giới của lỗ đen - giống như mép của một
cái bóng - bóng của số phận treo lơ lửng. Nếu bạn nhìn
cái bóng tạo bởi một nguồn sáng ở rất xa, chẳng hạn
như mặt trời, bạn sẽ thấy rằng các tia sáng ở mép của
nó không hề tiến tới gần nhau.
Nếu
các tia sáng tạo nên chân trời sự cố - biên giới của lỗ
đen - không bao giờ có thể tiến tới gần nhau, thì diện
tích của chân trời sự cố có thể giữ nguyên không đổi
hoặc tăng theo thời gian chứ không bao giờ giảm, vì nếu
không, ít nhất sẽ có một số tia sáng trên biên phải tiến
gần tới nhau. Thực tế thì diện tích sẽ tăng bất cứ khi
nào có vật chất hoặc bức xạ rơi vào lỗ đen (hình7.2).
Hoặc nếu có hai lỗ đen va chạm rồi xâm nhập vào nhau tạo
thành một lỗ đen duy nhất, thì diện tích chân trời sự
cố của lỗ đen tạo thành sẽ lớn hơn hoặc bằng tổng
diện tích chân rời sự cố của hai lỗ đen riêng lẻ ban
đầu (hình 7.3). Tính không giảm đó của diện tích chân trời
sự cố đã đặt một hạn chế quan trọng đối với hành
vi khả dĩ của các lỗ đen. Tôi đã xúc động về phát minh
của mình tới mức đêm đó tôi không sao chợp mắt được.
Ngay hôm sau tôi gọi điện cho Roger Penrose. Ông đã đồng ý
với tôi. Thực tế, tôi nghĩ rằng chính ông cũng đã ý thức
được tính chất đó của diện tích chân trời sự cố. Tuy
nhiên, ông đã dùng một định nghĩa hơi khác của lỗ đen.
Ông không thấy được rằng biên giới của các lỗ đen theo
hai định nghĩa đó thực chất là như nhau, và do đó, diện
tích của chúng cũng như nhau với điều kiện lỗ đen đã
an bài ở trạng thái không thay đổi theo thời gian.
Tính
chất không giảm của diện tích lỗ đen rất giống với tính
chất của một đại lượng vật lý có tên là entropy - đại
lượng là thước đo mức độ mất trật tự của một hệ
thống. Kinh nghiệm hàng ngày cũng cho chúng ta biết rằng nếu
để các vật tự do thì mức độ mất trật tự sẽ có xu
hướng tăng. (Chỉ cần ngừng sửa chữa xung quanh là bạn
sẽ thấy điều đó ngay!). Người ta có thể tạo ra trật
tự từ sự mất trật tự (ví dụ như bạn có thể quét sơn
lại nhà), nhưng điều đó yêu cầu phải tốn sức lực hoặc
năng lượng, và như vậy có nghĩa là sẽ làm giảm lượng
năng lượng của trật tự sẵn có.
Phát
biểu chính xác ý tưởng này chính là Định luật II của
nhiệt động học. Định luật đó phát biểu rằng: entropy
của một hệ cô lập luôn luôn tăng, và rằng khi hai hệ hợp
lại với nhau làm một thì entropy của hệ hợp thành sẽ lớn
hơn tổng entropy của hai hệ riêng rẽ. Ví dụ, xét một hệ
phân tử khí đựng trong một cái hộp. Có thể xem những phân
tử như những quả cầu billard nhỏ, liên tục va chạm với
nhau và với thành hộp. Nhiệt độ của khí càng cao thì các
phân tử chuyển động càng nhanh, và chúng va chạm càng thường
xuyên và càng mạnh với thành hộp, và áp suất chúng đè
lên thành hộp càng lớn. Giả sử rằng ban đầu tất cả
các phân tử bị giam ở nửa trái của hộp bằng một vách
ngăn. Nếu bỏ vách ngăn đi, các phân tử sẽ có xu hướng
tràn ra chiếm cả hai nửa của hộp. Ở một thời điểm nào
đó sau đấy, do may rủi, có thể tất cả các phân tử sẽ
dồn cả sang nửa phải hoặc trở lại nửa trái của hộp,
nhưng khả năng chắc chắn hơn rất nhiều là chúng có số
lượng gần bằng nhau ở cả hai nửa hộp. Một trạng thái
kém trật tự hơn, hay nói cách khác là mất trật tự hơn,
trạng thái ban đầu mà trong đó mọi phân tử chỉ ở trong
một nửa hộp. Do đó, người ta nói rằng entropy của khí
đã tăng lên. Tương tự, giả sử rằng ta bắt đầu với
hai hộp, một hộp chứa các phân tử ôxy và một hộp chứa
các phân tử nitơ. Nếu người ta ghép hai hộp với nhau và
bỏ vách ngăn đi thì các phân tử ôxy và nitơ sẽ bắt đầu
trộn lẫn vào nhau. Ở một thời điểm nào đó sau đấy,
trạng thái có xác suất lớn nhất sẽ là sự trộn khá đều
các phân tử ôxy và nitơ trong cả hai hộp. Trạng thái đó
là kém trật tự hơn trạng thái ban đầu của hai hộp riêng
rẽ.
Định
luật thứ hai của nhiệt dộng học có vị trí hơi khác so
với các định luật khoa học khác, chẳng hạn như định
luật hấp dẫn của Newton, bởi vì nó không phải luôn luôn
đúng, mà chỉ đúng trong đại đa số các trường hợp mà
thôi. Xác suất để tất cả các phân tử trong hộp đầu
tiên của chúng ta dồn cả về một nửa của hộp ở thời
điểm sau khi bỏ vách ngăn chỉ bằng một phần nhiều triệu
triệu, nhưng nó vẫn có thể xảy ra. Tuy nhiên, nếu có một
lỗ đen ở cạnh thì định luật đó dường như sẽ bị vi
phạm khá dễ dàng: chỉ cần ném một số vật chất có lượng
entropy lớn, như một hộp khí chẳng hạn, vào lỗ đen. Khi
đó tổng số entropy của vật chất ở ngoài lỗ đen sẽ giảm.
Tất nhiên, người ta vẫn còn có thể viện lý rằng entropy
tổng cộng, kể cả entropy trong lỗ đen sẽ không giảm, nhưng
vì không có cách gì để nhìn vào lỗ đen, nên chúng ta không
thể thấy được vật chất trong đó chứa bao nhiêu entropy.
Khi này sẽ thật là tuyệt vời nếu có một đặc tính nào
đó của lỗ đen, mà qua nó, người quan sát ở bên ngoài có
thể biết về entropy của lỗ đen, và đặc tính này lại
tăng bất cứ khi nào có một lượng vật chất mang entropy
rơi vào lỗ đen. Sự phát hiện vừa mô tả ở trên cho thấy
rằng diện tích của chân trời sự cố sẽ tăng bất cứ
khi nào có một lượng vật chất rơi vào lỗ đen. Một nghiên
cứu sinh ở Princeton tên là Jacod Bekenstein đã đưa ra giả
thuyết rằng diện tích của chân trời sự cố chính là thước
đo entropy của lỗ đen. Khi vật chất mang entropy rơi vào lỗ
đen, diện tích của chân trời sự cố tăng, nên tổng entropy
của vật chất ngoài lỗ đen và diện tích chân trời sự
cố sẽ không khi nào giảm.
Giả
thuyết này dường như đã tránh cho định luật thứ hai nhiệt
động học không bị vi phạm trong hầu hết mọi tình huống.
Tuy nhiên, vẫn còn một khe hở tai hại. Nếu lỗ đen có entropy
thì nó cũng sẽ phải có nhiệt độ. Nhưng một vật có nhiệt
độ thì sẽ phải phát xạ với tốc độ nào đó. Kinh nghiệm
hàng ngày cũng cho thấy rằng nếu người ta nung nóng một
que cời trong lửa thì nó sẽ nóng đỏ và bức xạ, nhưng
những vật ở nhiệt độ thấp cũng bức xạ, chỉ có điều
lượng bức xạ khá nhỏ nên người ta thường không nhìn
thấy mà thôi. Bức xạ này đòi hỏi phải có để tránh cho
định luật thứ hai khỏi bị vi phạm. Như vậy, các lỗ đen
cũng cần phải bức xạ. Nhưng theo chính định nghĩa của
nó thì lỗ đen là vật được xem là không phát ra gì hết.
Và do đó, dường như diện tích của chân trời sự cố không
thể xem như entropy của lỗ đen. Năm 1972 cùng với Bradon Carte
và một đồng nghiệp Mỹ Jim Bardeen, tôi đã viết một bài
báo trong đó chỉ ra rằng mặc dù có nhiều điểm tương tự
giữa diện tích của chân trời sự cố và entropy nhưng vẫn
còn khó khăn đầy tai hại đó. Tôi cũng phải thú nhận rằng
khi viết bài báo đó tôi đã bị thúc đẩy một phần bởi
sự bực tức đối với Bekenstein, người mà tôi cảm thấy
đã lạm dụng phát hiện của tôi về diện tích của chân
trời sự cố. Tuy nhiên, cuối cùng hóa ra anh ta về căn bản
lại là đúng, mặc dù ở một mức độ mà chính anh ta cũng
không ngờ.
Tháng
9 năm 1973, trong thời gian đến thăm Matxcơva, tôi đã thảo
luận về các lỗ đen với hai chuyên gia hàng đầu của Liên
Xô là Yakov Zedovich và Alexander Starobinsky. Họ khẳng định
với tôi rằng theo nguyên lý bất động của cơ học lượng
tử thì các lỗ đen quay cần phải sinh và phát ra các hạt.
Tôi tin cơ sở vật lý trong lý lẽ của họ, nhưng tôi không
thích phương pháp toán học mà họ sử dụng để tính toán
sự phát xạ hạt. Do đó, tôi đã bắt tay vào tìm tòi một
cách xử lý toán học tốt hơn mà tôi đã trình bày tại seminar
thông báo ở Oxford vào cuối tháng 11 năm 1973. Vào thời gian
đó, tôi còn chưa tiến hành tính toán để tìm ra sự phát
xạ là bao nhiêu. Tôi chờ đợi người ta sẽ phát hiện được
chính bức xạ từ các lỗ đen quay mà Zedovich và Starobinsky
đã tiên đoán. Tuy nhiên, khi tính song tôi vô cùng ngạc nhiên
và băn khoăn thấy rằng thậm chí cả các lỗ đen không quay
dường như cũng sinh và phát ra các hạt với tốc độ đều.
Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng đó là dấu hiệu cho biết một
trong những phép gần đúng mà tôi sử dụng là không thỏa
đáng. Tôi ngại rằng nếu Bekenstein phát hiện ra điều đó,
anh ta sẽ dùng nó như một lý lẽ nữa để củng cố ý tưởng
của anh ta về entropy của các lỗ đen, điều mà tôi vẫn
còn không thích. Tuy nhiên, càng suy nghĩ tôi càng thấy những
phép gần đúng đó thực sự là đúng đắn. Nhưng điều đã
thuyết phục hẳn được tôi rằng sự phát xạ là có thực
là: phổ của các hạt bức xạ giống hệt như phổ phát xạ
của vật nóng, và các lỗ đen phát ra các hạt với tốc độ
chính xác để không vi phạm định luật thứ hai. Sau đó,
những tính toán đã được lặp đi lặp lại dưới nhiều
dạng khác nhau và bởi những người khác. Tất cả họ đều
khẳng định rằng lỗ đen cần phải phát ra các hạt và bức
xạ hệt như nó là một vật nóng với nhiệt độ chỉ phụ
thuộc vào khối lượng của nó: khối lượng càng lớn thì
nhiệt độ càng thấp.
Nhưng
làm sao các lỗ đen lại có thể phát ra các hạt trong khi chúng
ta biết được rằng không có vật gì từ phía trong có thể
thoát ra khỏi chân trời sự cố? Câu trả lời mà cơ học
lượng tử nói với chúng ta là: các hạt không phát ra từ
bên trong lỗ đen mà là từ không gian “trống rỗng” ở
ngay bên ngoài chân trời sự cố của lỗ đen! Chúng ta có
thể hiểu điều này như sau: cái mà chúng ta quen nghĩ là không
gian “trống rỗng” lại không thể hoàn toàn là trống rỗng,
bởi vì điều đó có nghĩa là tất cả các trường như trường
hấp dẫn và trường điện từ sẽ cần phải chính xác bằng
0. Tuy nhiên, giá trị của trường và tốc độ thay đổi của
nó theo thời gian cũng giống như vị trí và vận tốc của
hạt: nguyên lý bất định buộc rằng nếu người ta biết
một trong hai đại lượng đó càng chính xác thì có thể biết
về đại lượng kia càng kém chính xác! Vì vậy trong không
gian trống rỗng, trường không cố định ở giá trị chính
xác bằng 0, bởi vì nếu trái lại thì trường sẽ có cả
giá trị chính xác (bằng 0) và tốc độ thay đổi cũng trị
chính xác (bằng 0). Cần phải có một lượng bất định tối
thiểu nào đó, hay người ta nói rằng, có những thăng giáng
lượng tử trong giá trị của trường. Người ta có thể xem
những thăng giáng đó như một cặp hạt ánh sáng hoặc hấp
dẫn cùng xuất hiện ở một thời điểm nào đó, đi ra xa
nhau rồi lại gặp lại và hủy nhau. Những hạt này là những
hạt ảo giống như các hạt mang lực hấp dẫn của mặt trời:
không giống các hạt thực, chúng không thể quan sát được
một cách trực tiếp bằng máy dò hạt. Tuy nhiên, những hiệu
ứng gián tiếp của chúng, chẳng hạn những thay đổi nhỏ
về năng lượng của các quỹ đạo electron trong nguyên tử,
đều có thể đo được và phù hợp với những tính toán
lý thuyết với một mức độ chính xác rất cao. Nguyên lý
bất định cũng tiên đoán rằng, có cả những cặp hạt vật
chất như electron hoặc quark là ảo. Tuy nhiên, trong trường
hợp này một thành viên của cặp là hạt, còn thành viên
kia là phản hạt (các phản hạt của ánh sáng và hấp dẫn
giống hệt như hạt).
Vì
năng lượng không thể sinh ra từ hư vô, nên một trong các
thành viên của cặp hạt/phản hạt sẽ có năng lượng dương
và thành viên kia sẽ có năng lượng âm. Thành viên có năng
lượng âm buộc phải là hạt ảo có thời gian sống ngắn,
vì các hạt thực luôn luôn có năng lượng dương trong các
tình huống thông thường. Do đó hạt ảo này phải đi tìm
thành viên cùng cặp để hủy cùng với nó. Tuy nhiên, một
hạt thực ở gần một vật nặng sẽ có năng lượng nhỏ
hơn so với khi nó ở xa, bởi vì khi đưa nó ra xa cần phải
tốn năng lượng để chống lại lực hút hấp dẫn của vật
đó. Thường thường, năng lượng của hạt vẫn còn là dương,
nhưng trường hợp hấp dẫn trong lỗ đen mạnh tới mức thậm
chí một hạt thực ở đó cũng có năng lượng âm. Do đó,
khi có mặt lỗ đen, hạt ảo với năng lượng âm khi rơi vào
lỗ đen cũng có thể trở thành hạt thực hoặc phản hạt
thực. Trong trường hợp đó, nó không còn cần phải hủy
với bạn cùng cặp của nó nữa. Người bạn bị bỏ rơi
này cũng có thể rơi vào lỗ đen, hoặc khi có năng lượng
dương, nó cũng có thể thoát ra ngoài vùng lân cận của lỗ
đen như một hạt thực hoặc phản hạt thực (hình 7.4). Đối
với người quan sát ở xa thì dường như nó được phát ra
từ lỗ đen. Lỗ đen càng nhỏ thì khoảng cách mà hạt có
năng lượng âm cần phải đi trước khi trở thành hạt thực
sẽ càng ngắn và vì vậy tốc độ phát xạ và nhiệt độ
biểu kiến của lỗ đen càng lớn.
Năng
lượng dương của bức xạ đi ra sẽ được cân bằng bởi
dòng hạt năng lượng âm đi vào lỗ đen. Theo phương trình
Einstein E = mc2 (ở đây E là năng lượng, m là khối lượng
và c là vận tốc độ sáng), năng lượng tỷ lệ với khối
lượng. Do đó, dòng năng lượng âm đi vào lỗ đen sẽ giảm
giảm khối lượng của nó. Vì lỗ đen mất khối lượng nên
diện tích chân trời sự cố sẽ nhỏ đi, nhưng sự giảm
đó của entropy được bù lại còn nhiều hơn bởi entropy của
bức xạ phát ra, vì vậy định luật thứ hai sẽ không khi
nào bị vi phạm.
Hơn
nữa, khối lượng của lỗ đen càng nhỏ thì nhiệt độ của
nó càng cao. Như vậy, vì lỗ đen mất khối lượng nên nhiệt
độ và tốc độ bức xạ của nó tăng, dẫn tới nó mất
khối lượng còn nhanh hơn nữa. Điều gì sẽ xảy ra khi khối
lượng của lỗ đen cuối cùng cũng trở nên cực kỳ nhỏ
hiện vẫn còn chưa rõ, nhưng sẽ rất có lý khi chúng ta phỏng
đoán rằng nó sẽ hoàn toàn biến mất trong sự bùng nổ bức
xạ khổng lồ cuối cùng, tương đương với sự bùng nổ
của hàng triệu quả bom H.
Lỗ
đen có khối lượng lớn hơn khối lượng của mặt trời
một ít lần sẽ có nhiệt độ chỉ khoảng một phần mười
triệu độ trên không độ tuyệt đối. Nó nhỏ hơn nhiều
so với nhiệt độ của các bức xạ sóng cực ngắn choán
đầy vũ trụ (khoảng 2,7 K), vì thế những lỗ đen này phát
xạ thậm chí còn ít hơn hấp thụ. Nếu vũ trụ được an
bài là sẽ giãn nở mãi mãi, thì nhiệt độ của các bức
xạ sóng cực ngắn cuối cùng sẽ giảm tới mức nhỏ hơn
nhiệt độ của lỗ đen và lỗ đen khi đó sẽ bắt đầu
mất khối lượng. Nhưng ngay cả khi đó thì nhiệt độ của
nó vẫn thấp đến mức cần khoảng 1 triệu triệu triệu
triệu triệu triệu triệu triệu triệu triệu triệu (1 với
sáu mươi sáu số không đứng sau) năm để lỗ đen bay hơi
hoàn toàn. Con số đó lớn hơn nhiều tuổi của vũ trụ bằng
1 hoặc 2 và 10 con số không đứng sau (tức khoảng 10 hoặc
20 ngàn triệu năm).
Mặt
khác như đã nói ở Chương 6 có thể những lỗ đen nguyên
thủy được tạo thành bởi sự co lại của những bất thường
trong giai đoạn rất sớm của vũ trụ. Những lỗ đen nguyên
thủy với khối lượng ban đầu cỡ ngàn triệu tấn sẽ có
thời gian sống xấp xỉ tuổi của vũ trụ. Những lỗ đen
nguyên thủy với khối lượng nhỏ hơn con số đó chắc là
đã bốc hơi hoàn toàn, nhưng những lỗ đen với khối lượng
hơi lớn hơn sẽ vẫn còn đang tiếp tục phát xạ dưới dạng
tia X hoặc tia gamma. Các tia X và tia gamma này giống như ánh
sáng chỉ có điều bước sóng của chúng ngắn hơn nhiều.
Những lỗ như thế khó mà gán cho cái nhãn là đen: chúng thực
sự nóng trắng và phát năng lượng với tốc độ khoảng
mười ngàn mega oat.
Một
lỗ đen như vậy có thể cung cấp đủ năng lượng cho mười
nhà máy điện lớn, nếu chúng ta biết cách khai thác nó. Tuy
nhiên việc này chẳng phải dễ dàng gì: lỗ đen đó có khối
lượng bằng cả một quả núi bị nén lại tới kích thước
nhỏ hơn một phần triệu triệu của inch, nghĩa là cỡ kích
thước của hạt nhân nguyên tử! Nếu bạn có một lỗ đen
như thế trên mặt đất, bạn sẽ không có cách nào giữ cho
nó khỏi rơi xuyên qua sàn nhà xuống tới tâm trái đất. Nó
sẽ dao động xuyên qua trái đất cho tới khi cuối cùng đậu
lại ở tâm. Như vậy chỗ duy nhất đặt được một lỗ
đen như vậy để có thể khai thác năng lượng do nó bức
xạ ra là ở trên một quỹ đạo quay xung quanh trái đất và
cách duy nhất có thể đưa nó lên quỹ đạo ấy là hút nó
tới đó bằng cách kéo một khối lượng lớn phía trước
nó hệt như dùng củ cà rốt nhử con lừa. Điều này xem ra
không phải là một đề nghị thực tế lắm, ít nhất cũng
là trong tương lai gần.
Nhưng
thậm chí nếu chúng ta không thể khai thác được sự phát
xạ từ các lỗ đen nguyên thủy thì liệu chúng ta có cơ may
quan sát được chúng không? Chúng ta có thể tìm kiếm các
tia gamma mà các lỗ đen nguyên thủy phát ra trong hầu hết
thời gian sống của chúng. Mặc dù phát xạ từ phần lớn
các lỗ đen đều mờ nhạt vì chúng ở quá xa, nhưng tổng
số của chúng thì có thể phát hiện được. Chúng ta hãy
quan sát kỹ một nền tia gamma như vậy:
Hình
7.5 cho thấy cường độ quan sát được khác nhau ở những
tần số khác nhau. Tuy nhiên, nền tia gamma này có thể và chắc
là được sinh ra bởi những quá trình khác hơn là bởi các
lỗ đen nguyên thủy. Đường chấm chấm trên Hình 7.5 cho thấy
cường độ phải biến thiên thế nào theo tần số đối với
các tia gamma do lỗ đen nguyên thủy gây ra nếu trung bình có
300 lỗ đen như thế trong một năm - ánh sáng khối. Do đó
người ta có thể nói rằng những quan sát nền tia gamma không
cho một bằng chứng khẳng định nào về các lỗ đen nguyên
thủy, nhưng chúng cho chúng ta biết trong vũ trụ về trung bình
không thể có hơn 300 lỗ đen như thế trong một năm - ánh
sáng khối. Giới hạn đó có nghĩa là các lỗ đen nguyên thủy
có thể tạo nên nhiều nhất là một phần triệu số vật
chất của vũ trụ.
Với
các lỗ đen nguyên thủy phân bố thưa thớt như vậy khó mà
có khả năng một lỗ đen như thế ở đủ gần chúng ta để
có thể quan sát nó như một nguồn tia gamma riêng rẽ. Nhưng
vì lực hấp dẫn sẽ kéo lỗ đen nguyên thủy tới gần vật
chất nên chúng sẽ thường gặp nhiều hơn ở trong hay gần
các thiên hà. Như vậy, mặc dù nền tia gamma cho chúng ta biết
rằng trung bình không thể có hơn 300 lỗ đen như thế trong
một năm - ánh sáng khối nhưng nó lại chẳng cho chúng ta biết
gì về tần suất gặp chúng trong thiên hà của chúng ta. Chẳng
hạn nếu như chúng một triệu lần thường gặp hơn con số
trung bình thì lỗ đen gần chúng ta nhất chắc cũng phải cách
chúng ta chừng một ngàn triệu km, tức là xa như sao Diêm vương,
hành tinh xa nhất mà chúng ta biết. Ở khoảng cách đó vẫn
còn rất khó phát hiện bức xạ đều của một lỗ đen ngay
cả khi nó là mười ngàn mega oát. Để quan sát được một
lỗ đen nguyên thủy người ta phải phát hiện được một
vài lượng tử gamma tới từ chính hướng đó trong một khoảng
thời gian hợp lý, chẳng hạn như một tuần lễ. Nếu không,
chúng chỉ là một phần của phông. Nhưng nguyên lý lượng
tử của Planck cho chúng ta biết rằng mỗi một lượng tử
gamma có năng lượng rất cao, vì tia gamma có tần số rất
cao, nếu thậm chí nó có phát xạ với công suất 10 ngàn mega
oát thì cũng không phải có nhiều lượng tử. Và để quan
sát được một số lượng tử, lại tới từ khoảng cách
rất xa như sao Diêm vương, đòi hỏi phải có một máy dò
lớn hơn bất cứ máy dò nào đã được chế tạo cho tới
nay. Hơn nữa máy dò này lại phải đặt trong không gian vũ
trụ vì các tia gamma không thể thâm nhập qua bầu khí quyển.
Tất
nhiên nếu một lỗ đen ở cách xa như sao Diêm vương đã đến
ngày tận số và bùng nổ thì sẽ dễ dàng phát hiện được
sự bùng nổ bức xạ của nó. Nhưng nếu lỗ đen đó liên
tục bức xạ trong khoảng 10 hoặc 20 ngàn triệu năm trở lại
đây thì xác suất để nó tận số trong vòng ít năm tới
thực sự là rất nhỏ! Vì vậy, để có một cơ may hợp lý
nhìn thấy vụ nổ của lỗ đen trước khi tiền trợ cấp
nghiên cứu của bạn tiêu hết thì bạn phải tìm cách phát
hiện những vụ nổ ở trong khoảng cách một năm ánh sáng.
Bạn vẫn phải giải quyết vấn đề có một máy dò tia gamma
lớn có thể phát hiện được một vài lượng tử gamma tới
từ vụ nổ đó. Tuy nhiên, trong trường hợp này sẽ không
cần phải xác định rằng tất cả các lượng tử tới cùng
một hướng: chỉ cần quan sát thấy tất cả chúng đều tới
trong một khoảng thời gian ngắn là có thể tin được rằng
chúng tới từ cùng một vụ bùng nổ.
Một
máy dò tia gamma có khả năng phát hiện ra các lỗ đen nguyên
thủy chính là toàn bộ bầu khí quyển của trái đất. (Trong
mọi trường hợp chúng ta không thể chế tạo được một
máy dò lớn hơn). Khi một lượng tử gamma năng lượng cao
đập vào các nguyên tử trong khí quyển, nó sẽ tạo ra cặp
electron và positron (tức là phản - electron). Khi các hạt này
đập vào các nguyên tử khác, đến lượt mình, chúng sẽ
tạo ra các cặp electron và positron nữa, và như vậy người
ta sẽ thu được cái gọi là mưa electron. Kết quả là một
dạng ánh sáng có tên là bức xạ Cherenkov. Do đó, người
ta có thể phát hiện ra sự bùng nổ tia gamma bằng cách tìm
các chớp sáng trong bầu trời đêm. Tất nhiên có nhiều hiện
tương khác như chớp hoặc sự phản xạ ánh sáng từ các
vệ tinh rơi xuống hoặc các mảnh vỡ trên quỹ đạo cũng
có thể tạo ra các chớp sáng trên bầu trời. Người ta có
thể phân biệt sự bùng nổ tia gamma với các hiện tượng
đó bằng cách quan sát các chớp sáng đồng thời ở hai hoặc
nhiều vị trí ở cách rất xa nhau. Một thí nghiệm như thế
đã được hai nhà khoa học ở Dublin là Neil Porter và Trevor
Wecks thực hiện khi dùng các kính thiên văn ở Arizona. Họ
đã tìm thấy nhiều chớp sáng nhưng không có cái nào có thể
gán một cách chắc chắn cho sự bùng nổ tia gamma từ các
lỗ đen nguyên thủy.
Ngay
cả khi nếu việc tìm kiếm các lỗ đen nguyên thủy không
có kết quả, vì điều này vẫn có thể xảy ra, thì nó vẫn
cho chúng ta những thông tin quan trọng về những giai đoạn
rất sớm của vũ trụ. Nếu vũ trụ ở giai đoạn rất sớm
là hỗn loạn và bất thường hoặc nếu áp suất vật chất
là thấp thì người ta có thể nghĩ rằng nó đã tạo ra nhiều
lỗ đen nguyên thủy hơn là giới hạn đã được xác lập
dựa trên những quan sát về phông tia gamma. Chỉ nếu ở giai
đoạn rất sớm, vũ trụ là rất trơn tru và đều đặn với
áp suất cao thì người ta mới có thể giải thích được
tại sao lại không có nhiều lỗ đen nguyên thủy.
Ý
tưởng về bức xạ phát từ các lỗ đen là một ví dụ đầu
tiên về sự tiên đoán phụ thuộc một cách căn bản vào
cả hai lý thuyết lớn của thế kỷ chúng ta: thuyết tương
đối rộng và cơ học lượng tử. Nó đã gặp nhiều ý kiến
phản đối lúc đầu vì nó đảo lộn quan điểm hiện thời
“làm sao lỗ đen lại phát ra cái gì đó?”. Khi lần đầu
tiên tôi công bố các kết quả tính toán của tôi tại một
hội nghị ở Phòng thì nghiệm Rurtherford - Appleton gần Oxford,
tôi đã được chào đón bằng sự hoài nghi của hầu hết
mọi người. Vào lúc kết thúc bản báo cáo của tôi, vị
chủ tọa phiên họp, ông John Taylor của trường Kings College,
London đã đứng dậy tuyên bố rằng tất cả những thứ đó
là vô nghĩa. Thậm chí ông còn viết một bài báo về vấn
đề này. Tuy nhiên, rồi cuối cùng, hầu hết mọi người,
kể cả ông John Taylo cũng đã đi đến kết luận rằng các
lỗ đen cần phải phát bức xạ như các vật nóng, nếu những
quan niệm khác của chúng ta về thuyết tương đối rộng và
cơ học lượng tử là đúng đắn. Như vậy, mặc dù ngay cả
khi chúng ta còn chưa tìm thấy một lỗ đen nguyên thủy nào
vẫn có một sự khá nhất trí cho rằng nếu chúng ta phát
hiện ra lỗ đen đó thì nó sẽ phải phát ra một lượng lớn
tia X và tia gamma.
Sự
tồn tại của bức xạ phát ra từ lỗ đen cũng còn ngụ ý
rằng sự co lại do hấp dẫn không phải là chấm hết và
không thể đảo ngược được như một thời chúng ta đã
nghĩ. Nếu một nhà du hành rơi vào một lỗ đen thì khối
lượng của nó sẽ tăng, nhưng cuối cùng năng lượng tương
đương với khối lượng gia tăng đó sẽ được trả lại
cho vũ trụ dưới dạng bức xạ. Như vậy theo một ý nghĩa
nào đó nhà du hành vũ trụ của chúng ta đã được luân hồi.
Tuy nhiên, đó là một số phận bất tử đáng thương, và
quan niệm cá nhân về thời gian của nhà du hành chắc cũng
sẽ chấm hết khi anh ta bị xé ra từng mảnh trong lỗ đen!
Ngay cả các loại hạt cuối cùng được phát ra từ lỗ đen
nói chung cũng sẽ khác với những hạt đã tạo nên nhà du
hành: đặc điểm duy nhất còn lại của anh ta chỉ là khối
lượng và năng lượng.
Những
phép gần đúng mà tôi sử dụng để tính ra sự phát xạ
từ lỗ đen vẫn còn hiệu lực tốt khi lỗ đen có khối lượng
chỉ lớn hơn một phần của gam. Tuy nhiên chúng sẽ không
còn dùng được nữa ở điểm cuối đời của lỗ đen, khi
mà khối lượng của nó trở nên cực nhỏ. Kết cục có nhiều
khả năng nhất là lỗ đen sẽ biến mất, ít nhất là khỏi
vùng vũ trụ của chúng ta mang theo cả nhà du hành và kỳ dị
có thể có ở bên trong nó. Đây là chỉ dẫn đầu tiên cho
thấy cơ học lượng tử có thể khử các kỳ dị đã được
tiên đoán bởi thuyết tương đối rộng. Tuy nhiên các phương
pháp mà tôi và những người khác sử dụng vào năm 1974 chưa
thể trả lời được cho những câu hỏi, ví dụ như liệu
những kỳ dị đó có xuất hiện trong lý thuyết lượng tử
hấp dẫn hay không? Do đó từ năm 1975 trở đi tôi đã bắt
đầu phát triển một cách tiếp cận mạnh hơn đối với
hấp dẫn lượng tử dựa trên ý tưởng của Richard Feynman
về phép lấy tổng theo những lịch sử. Câu trả lời mà
cách tiếp cận này đưa ra cho nguồn gốc và số phận của
vũ trụ và những thứ chứa bên trong nó, chẳng hạn như nhà
du hành, sẽ được mô tả ở hai chương sau. Chúng ta sẽ thấy
rằng mặc dù nguyên lý bất định đặt những hạn chế về
độ chính xác cho tất cả các tiên đoán của chúng ta, nhưng
đồng thời nó lại loại bỏ được tính không thể tiên
đoán - một tính chất rất cơ bản xảy ra ở điểm kỳ dị
của không - thời gian.
Cùng
Tác Giả, Khác Dịch Giả:
Lược
Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Thích Viên Lý, USA