Chương
3: Vũ trụ giãn nở
Nếu
ta nhìn lên bầu trời vào những đêm quang đãng, không trăng,
những vật sáng nhất mà chúng ta nhìn thấy có lẽ là các
hành tinh: sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc và sao Thổ. Cũng có rất
nhiều các ngôi sao tương tự như mặt trời của chúng ta nhưng
ở rất xa. Một số những ngôi sao cố định đó, thực tế,
lại dường như thay đổi - dù là rất ít - vị trí tương
đối của chúng với nhau khi trái đất quay xung quanh mặt trời:
chúng hoàn toàn không phải là cố định! Sở dĩ có điều
này là do chúng tương đối ở gần chúng ta. Khi trái đất
quanh xung quanh mặt trời, từ những vị trí khác nhau chúng
ta thấy chúng trên nền của những ngôi sao ở xa hơn. Đó
là một điều may mắn, vì nó cho phép chúng ta đo được một
cách trực tiếp khoảng cách từ những ngôi sao đó đến chúng
ta: chúng càng ở gần thì càng có vẻ di chuyển nhiều hơn.
Ngôi
sao gần chúng ta nhất là sao Proxima của chòm sao Nhân Mã được
tìm thấy cách chúng ta khoảng 4 năm ánh sáng (nghĩa là ánh
sáng từ nó phải mất 4 năm mới tới được trái đất),
hay khoảng hai mươi ba triệu triệu dặm. Đa số các ngôi sao
khác thấy được bằng mắt thường nằm cách chúng ta trong
khoảng vài trăm năm ánh sáng. Để so sánh, bạn cần biết
rằng mặt trời chỉ cách chúng ta có 8 phút ánh sáng! Những
ngôi sao thấy được dường như nằm rải rắc trên toàn bộ
bầu trời đêm, nhưng chúng đặc biệt tập trung trong một
dải mà người ta gọi là dải Ngân hà (Milky Way). Rất lâu
về trước, vào khoảng năm 1750, đa số các nhà thiên văn
cho rằng sự xuất hiện của dải Ngân hà có thể giải thích
được nếu phần lớn các sao nhìn thấy nằm trong một cấu
hình đĩa duy nhất - một ví dụ về cái mà hiện nay chúng
ta gọi là thiên hà xoắn ốc. Phải mấy chục năm sau, nhà
thiên văn William Herschel mới khẳng định được ý tưởng
đó của mình bằng cách cần mẫn lập một bộ sưu tập về
vị trí và khoảng cách của một số rất lớn các ngôi sao.
Thậm chí như thế, những ý tưởng này chỉ được chấp
nhận hoàn toàn vào đầu thế kỷ này.
Bức
tranh hiện đại về vũ trụ khởi đầu chỉ mới vào năm
1924, khi nhà thiên văn người Mỹ Edwin Hubble chứng tỏ được
rằng thiên hà của chúng ta không phải là thiên hà duy nhất.
Thực tế còn có nhiều thiên hà khác và giữa chúng là những
khoảng không gian trống rỗng rộng lớn. Để chứng minh điều
này, ông đã phải xác định khoảng cách đến các thiên hà
khác đó. Những thiên hà này ở quá xa chúng ta, nên không
giống những ngôi sao gần, chúng dường như thực sự cố
định. Do đó Hubble buộc phải sử dụng các phương pháp gián
tiếp để đo khoảng cách. Người ta biết rằng độ chói
biểu kiến của các ngôi sao phụ thuộc vào hai yếu tố: ánh
sáng nó phát ra bao nhiêu (tức độ trưng của nó) và nó ở
xa chúng ta tới mức nào. Đối với những ngôi sao ở gần,
chúng ta có thể đo được cả độ chói biểu kiến lẫn khoảng
cách của chúng và như vậy chúng ta có thể tính được cả
độ trưng của chúng. Ngược lại nếu chúng ta biết được
độ trưng của các ngôi sao ở các thiên hà khác chúng ta có
thể tính được khoảng cách bằng cách đo độ chói biển
kiến của chúng. Hubble thấy rằng có một số loại sao luôn
luôn có cùng độ trưng khi chúng ở đủ gần để ta có thể
đo được, do đó ông rút ra kết luận rằng nếu ta tìm thấy
những ngôi sao loại đó ở các thiên hà khác thì chúng ta
có thể xem rằng chúng cũng có cùng độ trưng - và như vậy
có thể tính được khoảng cách đến thiên hà đó. Nếu chúng
ta có thể làm điều đó cho nhiều ngôi sao trong cùng một
thiên hà mà kết quả tính toán đều cho một khoảng cách
như nhau thì hoàn toàn có thể tin được vào đánh giá của
chúng ta.
Theo
cách đó Edwin Hubble đã xác định được khoảng cách đến
9 thiên hà khác nhau. Bây giờ thì chúng ta biết rằng thiên
hà của chúng ta chỉ là một trong số vài trăm ngàn triệu
thiên hà có thể nhìn thấy được bằng các kính thiên văn
hiện đại, mỗi một thiên hà lại gồm khoảng vài trăm ngàn
triệu ngôi sao. Hình 3.1. là ảnh của một thiên hà xoắn ốc
mà chúng ta nghĩ rằng thiên hà của chúng ta sẽ được nhìn
giống như thế dưới con mắt của người sống ở một thiên
hà khác. Chúng ta sống trong một thiên hà có bề ngang rộng
chừng một trăm ngàn năm ánh sáng và quay chậm; các ngôi sao
nằm trong các nhánh xoắn của thiên hà quay xung quanh tâm của
nó với vận tốc góc một vòng trong hai trăm triệu năm. Mặt
trời của chúng ta cũng chỉ là một ngôi sao bình thường
màu vàng, có kích thước trung bình và nằm ở mép trong của
một nhánh xoắn ốc. Kể từ thời Aristotle và Ptolemy, thời
mà chúng ta nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ,
cho tới ngày nay, - quả thật chúng ta đã đi được một chặng
đường rất dài.
Những
ngôi sao ở xa chúng ta đến nỗi, đối với chúng ta, chúng
chỉ là những chấm sáng nhợt nhạt. Chúng ta không thể thấy
được kích thước cũng như hình dạng của chúng. Vậy thì
bằng cách nào ta có thể nói về các loại sao riêng biệt
khác nhau? Đối với đại đa số các ngôi sao, chỉ có một
nét đặc trưng mà chúng ta quan sát được - đó là mầu ánh
sáng của chúng. Newton đã phát hiện ra rằng nếu ánh sáng
mặt trời đi qua một lăng kính nó sẽ tách thành các màu
thành phần (còn gọi là quang phổ của nó) như màu của cầu
vồng. Bằng cách hướng kính thiên văn vào một ngôi sao riêng
lẻ hay một thiên hà người ta có thể quan sát một cách tương
tự quang phổ của ánh sáng từ ngôi sao hay thiên hà đó. Những
ngôi sao khác nhau có quang phổ khác nhau, nhưng độ chói tương
đối của các màu khác nhau luôn luôn chính xác hệt như người
ta mong đợi tìm thấy trong ánh sáng của những vật phát sáng
nóng đỏ. (Thực tế, ánh sáng được phát ra bởi một vật
không trong suốt nóng đỏ có phổ đặc trưng chỉ phụ thuộc
vào nhiệt độ của nó - quang phổ nhiệt. Điều này có nghĩa
là chúng ta có thể biết nhiệt độ của ngôi sao từ quang
phổ ánh sáng của nó). Hơn nữa, chúng ta còn tìm thấy rằng
một số màu rất xác định không có mặt trong quang phổ của
ngôi sao, và những màu vắng mặt đó khác nhau đối với những
ngôi sao khác nhau. Vì chúng ta biết rằng mỗi nguyên tố hóa
học hấp thụ một tập hợp đặc trưng những màu rất xác
định, nên bằng cách đối chiếu những màu này với những
màu vắng mặt trong quang phổ của một ngôi sao, chúng ta có
thể xác định được chính xác những nguyên tố nào có mặt
trong khí quyển của ngôi sao đó.
Trong
những năm 1920, khi các nhà thiên văn bắt đầu quan sát quang
phổ của các ngôi sao thuộc những thiên hà khác, họ đã
tìm thấy một điều rất đặc biệt: có những tập hợp
đặc trưng các màu vắng mặt giống hệt như đối với những
ngôi sao trong thiên hà chúng ta, nhưng chúng bị dịch đi cùng
một lượng tương đối về phía đỏ của quang phổ. Để
hiểu được ý nghĩa của điều này, chúng ta trước hết
cần phải tìm hiểu về hiệu ứng Doppler. Như chúng ta đã
thấy, ánh sáng thấy được gồm những thăng giáng, hay những
sóng, trong trường điện từ. Tần số (hay số sóng trong một
giây) của ánh sáng là rất cao, trài dài từ bốn đến bảy
trăm triệu triệu sóng trong một giây. Các tần số khác nhau
của ánh sáng được mắt người nhìn thấy như những màu
khác nhau. Những ánh sáng có tần số thấp nhất nằm ở phía
đỏ của quang phổ và những ánh sáng có tần số cao nhất
nằm ở phía tím của nó. Bây giờ chúng ta hãy hình dung một
nguồn sáng ở cách chúng ta một khoảng không đổi, tỷ như
một ngôi sao, và phát sóng ánh sáng có tần số không đổi.
Rõ ràng là tần số của các sóng mà chúng ta nhận được
cũng chính là tần số mà chúng đã được nguồn phát ra.
(Trường hấp dẫn của thiên hà chưa đủ mạnh để gây ra
hiệu ứng đáng kể). Bây giờ giả thử rằng nguồn sóng
bắt đầu chuyển động hướng về phía chúng ta. Khi nguồn
phát một đỉnh sóng tiếp theo thì nó ở gần chúng ta hơn,
vì vậy thời gian để đỉnh sóng đó tới được chúng ta
sẽ ít hơn so với khi nguồn sóng đứng yên. Điều này có
nghĩa là thời gian giữa hai đỉnh sóng tới chúng ta là nhỏ
hơn và do đó số sóng mà chúng ta nhận được trong một giây
(tức là tần số) sẽ lớn hơn so với khi nguồn sóng đứng
im. Tương ứng, nếu nguồn sóng đi ra xa chúng ta thì tần số
mà chúng ta nhận được sẽ thấp hơn. Do đó, trong trường
hợp ánh sáng điều này có nghĩa là những ngôi sao chuyển
động ra xa chúng ta sẽ có quang phổ dịch về phía đỏ của
quang phổ (hiện tượng dịch về phía đỏ) và những ngôi
sao chuyển động về phía chúng ta sẽ có quang phổ dịch về
phía tím. Mối quan hệ này giữa tần số và vận tốc - được
gọi là hiệu ứng Doppler - là một kinh nghiệm hàng ngày. Hãy
lắng nghe một chiếc xe ô tô chạy trên đường: khi chiếc
xe tiến lại gần, tiếng động cơ của nó nghe bổng hơn (tức
là tần số sóng âm cao hơn), còn khi nó đi ra xa âm của nó
nghe trầm hơn. Đối với các sóng vô tuyến cũng tương tự
như vậy. Thực tế cảnh sát đã dùng hiệu ứng Doppler để
xác định vận tốc của các xe ô tô bằng cách đo tần số
của các xung sóng vô tuyến phản xạ từ các xe đó.
Sau
khi chứng minh được sự tồn tại của các thiên hà khác,
trong những năm tiếp sau, Hubble đã dành nhiều thời gian để
lập một kho dữ liệu về khoảng cách giữa các thiên hà
và quan sát quang phổ của các thiên hà đó. Vào thời gian
ấy, nhiều người nhĩ rằng các thiên hà chuyển động hoàn
toàn ngẫu nhiên, cho nên họ chờ đợi tìm thấy những quang
phổ dịch về phía tím cũng nhiều như những quang phổ dịch
về phía đỏ. Do đó, người ta hết sức ngạc nhiên khi phát
hiện ra rằng đa số các thiên hà đều có quang phổ dịch
về phía đỏ: nghĩa là gần như tất cả chúng đang chuyển
động ra xa chúng ta! Điều còn ngạc nhiên hơn nữa là phát
hiện mà Hubble công bố năm 1929: thậm chí độ dịch về phía
đỏ của thiên hà cũng không phải là ngẫu nhiên, mà nó tỷ
lệ thuận với khoảng cách giữa thiên hà đó và chúng ta.
Hoặc nói một cách khác, thiên hà càng ở xa thì nó chuyển
động ra xa càng nhanh! Có nghĩa là vũ trụ không phải là tĩnh
như trước kia người ta vẫn tưởng, mà nó thực tế đang
giãn nở, khoảng cách giữa các thiên hà ngày càng tăng lên
theo thời gian.
Phát
minh vũ trụ đang giãn nở là một trong những cuộc cách mạng
trí tuệ vĩ đại của thế kỷ 20. Với nhận thức muộn màng,
thì việc chỉ ngạc nhiên mà tự hỏi tại sao trước kia không
ai nghĩ tới điều đó là chuyện quá dễ dàng. Newton và những
người khác lẽ ra phải thấy rằng vũ trụ tĩnh sớm hay muộn
rồi cũng sẽ co lại dưới ảnh hưởng của hấp dẫn. Nhưng
bây giờ, ta hãy cứ giả thử rằng vũ trụ đang giãn nở.
Nếu nó giãn nở đủ chậm, thì lực hấp dẫn sẽ làm cho
nó cuối cùng sẽ ngừng giãn nở và sau đó sẽ bắt đầu
co lại. Tuy nhiên, nếu vũ trụ giãn nở với vận tốc nhanh
hơn một vận tốc giới hạn nào đó, thì lực hấp dẫn sẽ
không bao giờ đủ mạnh để làm dừng nó lại và vũ trụ
sẽ tiếp tục giãn nở mãi mãi. Điều này cũng hơi giống
như khi người ta phóng một tên lửa lên không trung từ mặt
đất. Nếu nó có vận tốc nhỏ thì lực hấp dẫn cuối cùng
sẽ làm nó dừng lại và bắt đầu rơi xuống. Ngược lại,
nếu tên lửa có vận tốc lớn hơn một vận tốc tới hạn
nào đó (khoảng bảy dặm trong một giây), thì lực hấp dẫn
sẽ không còn đủ mạnh để kéo nó lại nữa, và nó sẽ
tiếp tục rời xa trái đất mãi mãi.
Tính
chất đó của vũ trụ lẽ ra có thể hoàn toàn được tiên
đoán từ lý thuyết hấp dẫn của Newton ở bất kỳ thời
điểm nào của thế kỷ 19, 18, thậm chí ở cuối thế kỷ
16. Nhưng vì niềm tin vào vũ trụ tĩnh quá mạnh tới mức
nó vẫn còn dai dẳng cho tới đầu thế kỷ 20. Thậm chí ngay
cả Einstein, khi xây dựng thuyết tương đối rộng vào năm
1915, cũng đinh ninh rằng vũ trụ cần phải là tĩnh. Vì thế
ông đã phải sửa đổi lý thuyết của mình để điều đó
có thể xảy ra, bằng cách đưa vào những phương trình của
mình cái được gọi là "hằng số vũ trụ". Einstein đã đưa
vào một lực “phản hấp dẫn” mới, mà không giống như
những lực khác, nó không có xuất xứ từ một nguồn đặc
biệt nào, mà được tạo dựng ngay trong cấu trúc của không-thời
gian. Ông đặt ra yêu cầu là không-thời gian có xu hướng
nội tại là nở ra, và điều đó là để cân bằng chính
xác với lực hút của toàn bộ vật chất trong vũ trụ, sao
cho kết quả thu được là một vũ trụ tĩnh. Dường như chỉ
có một người muốn chấp nhận thuyết tương đối rộng
ở dạng ban đầu của nó, đó là nhà vật lý và toán học
người Nga Alexander Friedmann. Và trong khi Einstein và các nhà
vật lý khác tìm mọi cách để lảng tránh sự tiên đoán
về một vũ trụ không tĩnh, thì Friedmann đã chấp nhận và
bắt tay vào giải thích nó.
Friedmann
đã đưa ra hai giả thiết rất đơn giản về vũ trụ: đó
là vũ trụ đồng nhất theo mọi hướng mà chúng ta quan sát,
và điều này cũng đúng với bất kỳ vị trí quan sát nào.
Chỉ từ hai ý tưởng đó, Friedmann đã chứng tỏ được rằng
chúng ta không thể chờ đợi vũ trụ chỉ là tĩnh. Thực tế,
vào năm 1922, ít năm trước phát minh của Hubble, Friedmann đã
tiên đoán chính xác điều mà Hubble tìm ra!
Giả
thiết cho rằng vũ trụ nhìn y hệt nhau theo mọi hướng rõ
ràng là không đúng với thực tế. Ví dụ, như chúng ta đã
thấy, những ngôi sao khác trong thiên hà chúng ta tạo nên một
dải sáng nổi bật trên nền trời đêm, tức là dải Ngân
hà. Nhưng nếu chúng ta quan sát những thiên hà ở xa thì số
lượng của chúng tương đối giống nhau. Như vậy, về đại
thể thì vũ trụ có thể xem là như nhau theo mọi hướng, với
điều kiện là ta phải nhìn nó ở qui mô lớn so với kích
thước giữa các thiên hà, và bỏ qua những sai khác ở qui
mô nhỏ. Trong một thời gian dài, điều này đã đủ biện
minh cho giả thiết của Friedmann như một phép gần đúng thô
đối với vũ trụ thực. Nhưng gần đây hơn, một sự tình
cờ may mắn đã chỉ ra rằng giả thiết của Friedmann thực
tế là sự mô tả khá chính xác vũ trụ của chúng ta.
Năm
1965, hai nhà vật lý Mỹ làm việc ở phòng thí nghiệm của
hãng Bell Telephone ở New Jersey là Arno Penzias và Robert Wilson
đang tiến hành trắc nghiệm một máy dò sóng cực ngắn rất
nhạy. (Sóng cực ngắn cũng giống như ánh sáng nhưng với
tần số chỉ cỡ 10 ngàn triệu sóng trong 1 giây). Penzias và
Wilson rất băn khoăn khi họ phát hiện ra rằng máy dò của
họ đã ghi được quá nhiều tiếng ồn hơn mức cần thiết.
Tiếng ồn này dường như không đến theo một phương đặc
biệt nào. Đầu tiên họ phát hiện có phân chim trong máy,
sau đó họ đã kiểm tra mọi khả năng có thể hỏng hóc,
nhưng tất cả đều bị loại trừ. Họ cũng biết rằng mọi
loại tiếng ồn bên trong bầu khí quyển sẽ mạnh hơn khi
máy dò không hướng theo phương thẳng đứng, bởi vì các
tia sáng truyền trong khí quyển sẽ thu được ở gần đường
chân trời nhiều hơn là trên đỉnh đầu. Nhưng tiếng ồn
thái quá ở đây lại như nhau theo mọi phương mà họ hướng
đầu dò tới và như vậy nó phải tới từ bên ngoài khí
quyển. Tiếng ồn này cũng như nhau cả ngày lẫn đêm trong
suốt cả năm bất kể trái đất vẫn quay quanh trục của
nó và quay quanh mặt trời. Điều này chứng tỏ bức xạ phải
tới từ bên ngoài hệ mặt trời, thậm chí từ ngoài cả
thiên hà chúng ta, vì nếu không nó sẽ thay đổi khi chuyển
động của trái đất làm cho máy dò hướng theo những hướng
khác nhau. Thực tế, chúng ta biết rằng bức xạ đó tới
được chúng ta đã phải đi qua phần lớn vùng vũ trụ quan
sát được và vì nó như nhau theo các phương khác nhau nên
vũ trụ cũng cần phải như nhau theo mọi phương, nếu chỉ
xét trên qui mô lớn. Bây giờ thì chúng ta đã biết rằng
bất kể nhìn theo phương nào, thì tiếng ồn đó cũng chỉ
biến thiên không bao giờ vượt quá một phần vạn. Như vậy,
Penzias và Wilson hoàn toàn tình cờ đã phát hiện được một
bằng chứng khá chính xác khẳng định giả thiết thứ nhất
của Friedmann.
Gần
khoảng thời gian đó, hai nhà vật lý Mỹ ở gần Đại học
Princeton là Bod Dicke và Jim Peebles cũng đang quan tâm tới các
sóng cực ngắn. Họ đang làm việc theo một đề xuất của
George Gamow (người đã một thời là sinh viên của Alexander
Friedmann) cho rằng vũ trụ ở thời kỳ đầu phải rất nóng
và đặc, đồng thời phát sáng nóng, trắng. Dicke và Peebles
lý luận rằng chúng ta hiện nay vẫn còn có thể thấy được
ánh sáng chói lọi đó của vũ trụ ở thời kỳ đầu, bởi
vì ánh sáng từ những phần rất xa của vũ trụ chỉ bây
giờ mới đến được chỗ chúng ta. Tuy nhiên, sự giãn nở
của vũ trụ có nghĩa là ánh sáng đỏ phải dịch rất mạnh
về phía đỏ khiến cho bây giờ chúng ta thấy nó dưới dạng
bức xạ viba (sóng cực ngắn). Dicke và Peebles đang chuẩn bị
tìm kiếm bức xạ đó thì Penzias và Wilson nghe nói về công
trình của họ và hai ông hiểu ngay rằng mình đã phát hiện
được chính bức xạ đó. Vì thế mà Penzias và Wilson đã
được trao giải thưởng Nobel về vật lý năm 1978 (một điều
hơi chua chát đối với Dicke và Peebles, ấy là chưa nói tới
Gamow!).
Giờ
đây thoạt nhìn thì toàn bộ bằng chứng đó - bằng chứng
xác nhận rằng vũ trụ nhìn như nhau theo bất kỳ hướng nào
mà chúng ta quan sát - có thể dẫn đến ý nghĩ cho rằng có
một cái gì đó đặc biệt về vị trí của chúng ta trong
vũ trụ. Đặc biệt, có thể nghĩ rằng nếu chúng ta quan sát
thấy tất cả các thiên hà khác đang chuyển động ra xa chúng
ta, thì chúng ta cần phải ở trung tâm của vũ trụ. Tuy nhiên,
cũng có một cách giải thích khác: vũ trụ cũng phải như
nhau theo mọi hướng khi nó được quan sát từ bất kỳ một
thiên hà nào khác. Nhưng, như chúng ta đã thấy, đó chính
là giả thiết thứ hai của Friedmann. Hiện chúng ta chưa có
bằng chứng khoa học để khẳng định hay bác bỏ giả thiết
đó. Chúng ta tin nó chỉ trên cơ sở của sự khiêm tốn: sẽ
là quá nổi bật nếu vũ trụ là như nhau theo mọi phương
xung quanh chúng ta, nhưng lại không như thế xung quanh các điểm
khác trong vũ trụ. Trong mô hình của Friedmann tất cả các
thiên hà đều chuyển động ra xa nhau. Tình huống này khá
giống một quả bóng bay, trên mặt có vẽ nhiều chấm màu,
đang được thổi căng lên từ từ. Khi quả bóng căng lên,
khoảng cách giữa các chấm màu tăng lên, nhưng không thể
nói chấm màu nào là trung tâm của sự giãn nở đó. Hơn nữa
các chấm càng xa nhau thì chúng chuyển động ra xa nhau càng
nhanh. Tương tự như vậy, trong mô hình của Friedmann vận tốc
mà hai thiên hà chuyển động ra xa nhau tỷ lệ với những
khoảng cách giữa chúng. Như vậy, mô hình này tiên đoán rằng
mọi sự dịch về phía đỏ của một thiên hà tỷ lệ thuận
với khoảng cách từ nó đến chúng ta, đúng như Hubble đã
phát hiện. Mặc dù thành công của mô hình và tiên đoán của
nó về những quan sát của Hubble, nhưng công trình của Friedmann
ít được biết tới, cho tới khi những mô hình tương tự
được phát minh bởi nhà vật lý Mỹ Howard Robertson và nhà
toán học Anh Arthur Walker, để giải thích phát hiện của Hubble
về sự giãn nở đều của vũ trụ.
Cùng
Tác Giả, Khác Dịch Giả:
Lược
Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Thích Viên Lý, USA