Chương
II: Không gian và thời gian
Những
ý niệm của chúng ta hiện nay về chuyển động của vật
thể bắt nguồn từ Galileo và Newton. Trước họ, người ta
tin Aristotle, người đã nói rằng trạng thái tự nhiên của
một vật là đứng yên, và nó chỉ chuyển động dưới tác
dụng của một lực hoặc một xung lực. Từ đó suy ra rằng,
vật nặng sẽ rơi nhanh hơn vật nhẹ, bởi vì nó có một
lực kéo xuống đất lớn hơn.
Truyền
thống Aristotle cũng cho rằng người ta có thể rút ra tất
cả các định luật điều khiển vũ trụ chỉ bằng tư duy
thuần túy, nghĩa là không cần kiểm tra bằng quan sát. Như
vậy, cho tới tận Galileo không có ai băn khoăn thử quan sát
xem có thực là các vật có trọng lượng khác nhau sẽ rơi
với vận tốc khác nhau hay không. Người ta kể rằng Galieo
đã chứng minh niềm tin của Aristotle là sai bằng cách thả
những vật có trọng lượng khác nhau từ tháp nghiêng Pisa.
Câu chuyện này chắn hẳn là không có thật, nhưng Galileo đã
làm một việc tương đương: ông thả những viên bi có trọng
lượng khác nhau trên một mặt phẳng nghiêng nhẵn. Tình huống
ở đây cũng tương tự như tình huống của các vật rơi theo
phương thẳng đứng, nhưng có điều nó dễ quan sát hơn vì
vận tốc của các vật nhỏ hơn. Các phép đo của Galileo chỉ
ra rằng các vật tăng tốc với một nhịp độ như nhau bất
kể trọng lượng của nó bằng bao nhiêu. Ví dụ, nếu bạn
thả một viên bi trên một mặt phẳng nghiêng có độ nghiêng
sao cho cứ 10 m dọc theo mặt phẳng thì độ cao lại giảm
1m, thì viên bi sẽ lăn xuống với vận tốc 1m/s sau 1 giây,
2m/s sau 2 giây... bất kể viên bi nặng bao nhiêu. Tất nhiên,
viên bi bằng chì sẽ rơi nhanh hơn một chiếc lông chim, nhưng
chiếc lông chim bị làm chậm lại chỉ vì sức cản của không
khí mà thôi. Nếu thả hai vật không chịu nhiều sức cản
không khí, ví dụ như hai viên bi đều bằng chì, nhưng có
trọng lượng khác nhau, thì chúng sẽ rơi nhanh như nhau.
Những
phép đo của Galileo đã được Newton sử dụng làm cơ sở
cho những định luật về chuyển động của ông. Trong những
thực nghiệm của Galileo, khi một vật lăn trên mặt phẳng
nghiêng, nó luôn luôn chịu tác dụng của cùng một lực (là
trọng lực của nó) và kết quả là làm cho vận tốc của
nó tăng một cách đều đặn. Điều đó chứng tỏ rằng,
hậu quả thực sự của một lực là luôn luôn làm thay đổi
vận tốc của một vật, chứ không phải là làm cho nó chuyển
động như người ta nghĩ trước đó. Điều này cũng có nghĩa
là, bất cứ khi nào vật không chịu tác dụng của một lực,
thì nó vẫn tiếp tục chuyển động thẳng với cùng một
vận tốc. Ý tưởng này đã được phát biểu một cách tường
minh lần đầu tiên trong cuốn Principia Mathematica (Các nguyên
lý toán học), được công bố năm 1867, của Newton và sau này
được biết như định luật thứ nhất của Newton. Định
luật thứ hai của Newton cho biết điều gì sẽ xảy ra đối
với một vật khi có một lực tác dụng lên nó. Định luật
này phát biểu rằng vật sẽ có gia tốc, hay nói cách khác
là sẽ thay đổi vận tốc tỷ lệ với lực tác dụng lên
nó. (Ví dụ, gia tốc sẽ tăng gấp đôi, nếu lực tác dụng
tăng gấp đôi). Gia tốc cũng sẽ càng nhỏ nếu khối lượng
(lượng vật chất) của vật càng lớn.(Cùng một lực tác
dụng lên vật có khối lượng lớn gấp hai lần sẽ tạo
ra một gia tốc nhỏ hơn hai lần). Một ví dụ tương tự lấy
ngay từ chiếc ô tô: động cơ càng mạnh thì gia tốc càng
lớn, nhưng với cùng một động cơ, xe càng nặng thì gia tốc
càng nhỏ.
Ngoài
những định luật về chuyển động, Newton còn phát minh ra
định luật về lực hấp dẫn. Định luật này phát biểu
rằng mọi vật đều hút một vật khác với một lực tỉ
lệ với khối lượng của mỗi vật. Như vậy lực giữa hai
vật sẽ mạnh gấp đôi nếu một trong hai vật (ví dụ vật
A) có khối lượng tăng gấp hai. Đây là điều bạn cần phải
trông đợi bởi vì có thể xem vật mới A được làm từ
hai vật có khối lượng ban đầu, và mỗi vật đó sẽ hút
vật B với một lực ban đầu. Như vậy lực tổng hợp giữa
A và B sẽ hai lần lớn hơn lực ban đầu. Và nếu, ví dụ,
một trong hai vật có khối lượng hai lần lớn hơn và vật
kia có khối lượng ba lần lớn hơn thì lực tác dụng giữa
chúng sẽ sáu lần mạnh hơn. Bây giờ thì ta có thể hiểu
tại sao các vật lại rơi với một gia tốc như nhau: một
vật có trọng lượng lớn gấp hai lần sẽ chịu một lực
hấp dẫn kéo xuống mạnh gấp hai lần, nhưng nó lại có khối
lượng lớn gấp hai lần. Như vậy theo định luật 2 của
Newton, thì hai kết quả này bù trừ chính xác cho nhau, vì vậy
gia tốc của các vật là như nhau trong mọi trường hợp.
Định
luật hấp dẫn của Newton cũng cho chúng ta biết rằng các
vật càng ở xa nhau thì lực hấp dẫn càng nhỏ. Ví dụ, lực
hút hấp dẫn của một ngôi sao đúng bằng một phần tư lực
hút của một ngôi sao tương tự, nhưng ở khoảng cách giảm
đi một nửa. Định luật này tiên đoán quỹ đạo của trái
đất, mặt trăng và các hành tinh với độ chính xác rất
cao. Nếu định luật này khác đi, chẳng hạn, lực hút hấp
dẫn của một ngôi sao giảm theo khoảng cách nhanh hơn, thì
quỹ đạo của các hành tinh không còn là hình elip nữa, mà
chúng sẽ là những đường xoắn ốc về phía mặt trời.
Nếu lực đó lại giảm chậm hơn, thì lực hấp dẫn từ
các ngôi sao xa sẽ lấn át lực hấp dẫn từ mặt trời.
Sự
khác biệt to lớn giữa những tư tưởng của Aristotle và những
tư tưởng của Galileo và Newton là ở chỗ Aristotle tin rằng
trạng thái đứng yên là trạng thái được “ưa thích”
hơn của mọi vật - mọi vật sẽ lấy trạng thái đó, nếu
không có một lực hoặc xung lực nào tác dụng vào nó. Đặc
biệt, ông cho rằng trái đất là đứng yên. Nhưng từ những
định luật của Newton suy ra rằng không có một tiêu chuẩn
đơn nhất cho sự đứng yên. Người ta hoàn toàn có quyền
như nhau khi nói rằng, vật A là đứng yên và vật B chuyển
động với vận tốc không đổi đối với vật A hoặc vật
B là đứng yên và vật A chuyển động. Ví dụ, nếu tạm
gác ra một bên chuyển động quay của trái đất quanh trục
của nó và quỹ đạo của nó xung quanh mặt trời, người
ta có thể nói rằng trái đất là đứng yên và đoàn tàu
trên nó chuyển động về phía bắc với vận tốc 90 dặm
một giờ hoặc đoàn tàu là đứng yên còn trái đất chuyển
động về phía nam cũng với vận tốc đó. Nếu người ta
tiến hành những thí nghiệm của chúng ta với các vật chuyển
động trên con tàu đó thì tất cả các định luật của Newton
vẫn còn đúng. Ví dụ, khi đánh bóng bàn trên con tàu đó,
người ta sẽ thấy rằng quả bóng vẫn tuân theo các định
luật của Newton hệt như khi bàn bóng đặt cạnh đường ray.
Như vậy không có cách nào cho phép ta nói được là con tàu
hay trái đất đang chuyển động.
Việc
không có một tiêu chuẩn tuyệt đối cho sự đứng yên có
nghĩa là người ta không thể xác định được hai sự kiện
xảy ra ở hai thời điểm khác nhau có cùng ở một vị trí
trong không gian hay không. Ví dụ, giả sử quả bóng bàn trên
con tàu nảy lên và rơi xuống chạm bàn ở cùng một chỗ
sau khoảng thời gian 1 giây. Đối với người đứng cạnh
đường ray thì hai lần chạm bàn đó xảy ra ở hai vị trí
cách nhau 40 m vì con tàu chạy được quãng đường đó trong
khoảng thời gian giữa hai lần quả bóng chạm bàn. Sự không
tồn tại sự đứng yên tuyệt đối, vì vậy, có nghĩa là
người ta không thể gán cho một sự kiện một vị trí tuyệt
đối trong không gian, như Aristotle đã tâm niệm. Vị trí của
các sự kiện và khoảng cách giữa chúng là khác nhau đối
với người ở trên tàu và người đứng cạnh đường ray
và chẳng có lý do gì để thích vị trí của người này hơn
vị trí của người kia.
Newton
là người rất băn khoăn về sự không có vị trí tuyệt đối,
hay như người ta vẫn gọi là không có không gian tuyệt đối,
vì điều đó không phù hợp với ý niệm của ông về Thượng
đế tuyệt đối. Thực tế, Newton đã chối bỏ, không chấp
nhận sự không tồn tại của không gian tuyệt đối, mặc
dù thậm chí điều đó đã ngầm chứa trong những định luật
của ông. Ông đã bị nhiều người phê phán nghiêm khắc vì
niềm tin phi lý đó, mà chủ yếu nhất là bởi Giám mục Berkeley,
một nhà triết học tin rằng mọi đối tượng vật chất
và cả không gian lẫn thời gian chỉ là một ảo ảnh. Khi
người ta kể cho tiến sĩ Johnson nổi tiếng về quan điểm
của Berkeley, ông kêu lớn: “Tôi sẽ bác bỏ nó như thế
này này!” và ông đá ngón chân cái vào một hòn đá lớn.
Cả
Aristotle lẫn Newton đều tin vào thời gian tuyệt đối. Nghĩa
là, họ tin rằng người ta có thể đo một cách đàng hoàng
khoảng thời gian giữa hai sự kiện, rằng thời gian đó hoàn
toàn như nhau dù bất kỳ ai tiến hành đo nó, miễn là họ
dùng một chiếc đồng hồ tốt. Thời gian hoàn toàn tách rời
và độc lập với không gian. Đó là điều mà nhiều người
xem là chuyện thường tình. Tuy nhiên, đến lúc chúng ta phải
thay đổi những ý niệm của chúng ta về không gian và thời
gian. Mặc dù những quan niệm thông thường đó của chúng
ta vẫn có kết quả tốt khi đề cập tới các vật như quả
táo hoặc các hành tinh là những vật chuyển động tương
đối chậm, nhưng chúng sẽ hoàn toàn không dùng được nữa
đối với những vật chuyển động với vận tốc bằng hoặc
gần bằng vận tốc ánh sáng.
Năm
1676, nhà thiên văn học Đan Mạch Ole Christensen Roemer là người
đầu tiên phát hiện ra rằng ánh sáng truyền với vận tốc
hữu hạn, mặc dù rất lớn. Ông quan sát thấy rằng thời
gian để các mặt trăng của sao Mộc xuất hiện sau khi đi
qua phía sau của hành tinh đó không cách đều nhau như người
ta chờ đợi, nếu các mặt trăng đó chuyển động vòng quanh
sao Mộc với vận tốc không đổi. Khi trái đất và sao Mộc
quanh xung quanh mặt trời, khoảng cách giữa chúng thay đổi.
Roemer thấy rằng sự che khuất các mặt trăng của sao Mộc
xuất hiện càng muộn khi chúng ta càng ở xa hành tinh đó.
Ông lý luận rằng điều đó xảy ra là do ánh sáng từ các
mặt trăng đó đến chúng ta mất nhiều thời gian hơn khi chúng
ta ở xa chúng hơn. Tuy nhiên, do những phép đo của ông về
sự biến thiên khoảng cách giữa trái đất và sao Mộc không
được chính xác lắm, nên giá trị vận tốc ánh sáng mà
ông xác định được là 140.000 dặm/s, trong khi giá trị hiện
nay đo được của vận tốc này là 186.000 dặm/s (khoảng 300.000
km/s). Dù sao thành tựu của Roemer cũng rất đáng kể, không
chỉ trong việc chứng minh được rằng vận tốc của ánh
sáng là hữu hạn, mà cả trong việc đo được vận tốc đó,
đặc biệt nó lại được thực hiện 11 năm trước khi Newton
cho xuất bản cuốn Principia Mathematica.
Một
lý thuyết đích thực về sự truyền ánh sáng phải mãi tới
năm 1865 mới ra đời, khi nhà vật lý người Anh James Clerk
Maxwell đã thành công thống nhất hai lý thuyết riêng phần
cho tới thời gian đó vẫn được dùng để mô tả riêng biệt
các lực điện và từ. Các phương trình của Maxwell tiên đoán
rằng có thể có những nhiễu động giống như sóng trong một
trường điện từ kết hợp, rằng những nhiễu động đó
sẽ được truyền với một vận tốc cố định giống như
những gợn sóng trên hồ. Nếu bước sóng của những sóng
đó (khoảng cách của hai đỉnh sóng liên tiếp) là một mét
hoặc lớn hơn, thì chúng được gọi là sóng radio (hay sóng
vô tuyến). Những sóng có bước sóng ngắn hơn được gọi
là sóng cực ngắn (với bước sóng vài centimet) hoặc sóng
hồng ngoại (với bước sóng lớn hơn mười phần ngàn centimet).
Ánh sáng thấy được có bước sóng nằm giữa bốn mươi
phần triệu đến tám mươi phần triệu centimet. Những sóng
có bước sóng còn ngắn hơn nữa là tia tử ngoại, tia - X
và các tia gamma.
Lý
thuyết của Maxwell tiên đoán các sóng vô tuyến và sóng ánh
sáng truyền với một vận tốc cố định nào đó. Nhưng lý
thuyết của Newton đã gạt bỏ khái niệm đứng yên tuyệt
đối, vì vậy nếu ánh sáng được giả thiết là truyền
với một vận tốc cố định, thì cần phải nói vận tốc
cố định đó là đối với cái gì. Do đó người ta cho rằng
có một chất gọi là “ether” có mặt ở khắp mọi nơi,
thậm chí cả trong không gian “trống rỗng”. Các sóng ánh
sáng truyền qua ether như sóng âm truyền trong không khí, và
do vậy, vận tốc của chúng là đối với ether. Những người
quan sát khác nhau chuyển động đối với ether sẽ thấy ánh
sáng đi tới mình với những vận tốc khác nhau, nhưng vận
tốc của ánh sáng đối với ether luôn luôn có một giá trị
cố định. Đặc biệt, vì trái đất chuyển động qua ether
trên quỹ đạo quay quanh mặt trời, nên vận tốc của ánh
sáng được đo theo hướng chuyển động của trái đất qua
ether (khi chúng ta chuyển động tới gần nguồn sáng) sẽ phải
lớn hơn vận tốc của ánh sáng hướng vuông góc với phương
chuyển động (khi chúng ta không chuyển động hướng tới
nguồn sáng). Năm 1887, Albert Michelson (sau này trở thành người
Mỹ đầu tiên nhận được giải thưởng Nobel về vật lý)
và Edward Morley đã thực hiện một thực nghiệm rất tinh xảo
tại trường Khoa học ứng dụng Case ở Cleveland. Họ đã so
sánh vận tốc ánh sáng theo hướng chuyển động của trái
đất với vận tốc ánh sáng hướng vuông góc với chuyển
động của trái đất. Và họ đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy
rằng hai vận tốc đó hoàn toàn như nhau!
Giữa
năm 1887 và năm 1905 có một số ý định, mà chủ yếu là
của vật lý người Hà Lan Hendrik Lorentz, nhằm giải thích
kết quả của thí nghiệm Michelson - Morley bằng sự co lại
của các vật và sự chậm lại của đồng hồ khi chúng chuyển
động qua ether. Tuy nhiên, trong bài báo công bố vào năm 1905,
Albert Einstein, một nhân viên thuộc văn phòng cấp bằng sáng
chế phát minh ở Thụy Sĩ, người mà trước đó còn chưa
ai biết tới, đã chỉ ra rằng toàn bộ ý tưởng về ether
là không cần thiết nếu người ta sẵn lòng vứt bỏ ý tưởng
về thời gian tuyệt đối. Quan niệm tương tự cũng đã được
một nhà toán học hàng đầu của Pháp là Henri Poincaré đưa
ra chỉ ít tuần sau. Tuy nhiên, những lý lẽ của Einstein gần
với vật lý hơn Poincaré, người đã xem vấn đề này như
một vấn đề toán học. Công lao xây dựng nên lý thuyết
mới này thường được thừa nhận là của Einstein, nhưng
Poincaré vẫn thường được nhắc nhở tới và tên tuổi của
ông gắn liền với một phần quan trọng của lý thuyết đó.
Tiên
đề cơ bản của lý thuyết mới - mà người ta thường gọi
là thuyết tương đối - được phát biểu như sau: mọi định
luật của khoa học là như nhau đối với tất cả những người
quan sát chuyển động tự do bất kể vận tốc của họ là
bao nhiêu. Điều này đúng đối với các định luật của
Newton về chuyển động, nhưng bây giờ lý thuyết đó được
mở rộng ra bao hàm cả lý thuyết của Maxwell và vận tốc
ánh sáng: mọi người quan sát đều đo được vận tốc ánh
sáng có giá trị hoàn toàn như nhau bất kể họ chuyển động
nhanh, chậm như thế nào. Ý tưởng đơn giản đó có một
số hệ quả rất đáng chú ý. Có lẽ nổi tiếng nhất là
hệ quả về sự tương đương của khối lượng và năng lượng
được đúc kết trong phương trình nổi tiếng của Einstein:
E = mc2 và định luật nói rằng không có vật nào có thể
chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Vì có sự tương đương giữa
năng lượng và khối lượng nên năng lượng mà vật có thể
nhờ chuyển động sẽ làm tăng khối lượng của nó. Nói
một cách khác, nó sẽ làm cho việc tăng vận tốc của vật
trở nên khó khăn hơn.
Hiệu
ứng này chỉ trực sự quan trọng đối với các vật chuyển
động với vận tốc gần với vận tốc ánh sáng. Ví dụ,
vận tốc chỉ bằng 10 % vận tốc ánh sáng khối lượng của
vật chỉ tăng 0,5 % so với khối lượng bình thường, trong
khi vận tốc bằng 90 % vận tốc ánh sáng khối lượng của
nó còn tăng nhanh hơn, vì vậy sẽ càng mất nhiều năng lượng
hơn để tăng vận tốc của nó lên nữa. Thực tế không bao
giờ có thể đạt tới vận tốc của ánh sáng vì khi đó
khối lượng của vật sẽ trở thành vô hạn và do sự tương
đương giữa năng lượng và khối lượng, sẽ phải tốn một
lượng vô hạn năng lượng để đạt được điều đó. Vì
lý do đó, một vật bình thường vĩnh viễn bị tính tương
đối giới hạn chuyển động chỉ chuyển động với vận
tốc nhỏ hơn vận tốc ánh sáng. Chỉ có ánh sáng hoặc các
sóng khác không có khối lượng nội tại là có thể chuyển
động với vận tốc ánh sáng.
Một
hệ quả cũng đáng chú ý không kém của thuyết tương đối
là nó đã làm cách mạng những ý niệm của chúng ta về không
gian và thời gian. Trong lý thuyết của Newton, nếu một xung
ánh sáng được gửi từ nơi này đến nơi khác thì những
người quan sát khác nhau đều nhất trí với nhau về thời
gian truyền xung ánh sáng đó (vì thời gian là tuyệt đối).
Vì vận tốc ánh sáng chính bằng khoảng cách mà nó truyền
được chia cho thời gian đã tốn để đi hết quãng đường
đó, nên những người quan sát khác nhau sẽ đo được vận
tốc của ánh sáng có giá trị khác nhau. Trong thuyết tương
đối, trái lại, mọi người quan sát đều phải nhất trí
về giá trị vận tốc của ánh sáng. Tuy nhiên, họ vẫn còn
không nhất trí về khoảng cách mà ánh sáng đã truyền, vì
vậy họ cũng phải không nhất trí về thời gian mà ánh sáng
đã tốn (thời gian này bằng khoảng cách ánh sáng đã truyền
- điều mà các nhà quan sát không nhất trí - chia cho vận tốc
ánh sáng - điều mà các nhà quan sát đều nhất trí). Nói
một cách khác, lý thuyết tương đối đã cáo chung cho ý tưởng
về thời gian tuyệt đối! Hóa ra là mỗi người quan sát cần
phải có một bộ đo thời gian riêng của mình như được
ghi nhận bởi đồng hồ mà họ mang theo và các đồng hồ
giống hệt nhau được mang bởi những người quan sát khác
nhau không nhất thiết phải chỉ như nhau.
Mỗi
một người quan sát có thể dùng radar để biết một sự
kiện xảy ra ở đâu và khi nào bằng cách gửi một xung ánh
sáng hoặc sóng vô tuyến. Một phần của xung phản xạ từ
sự kiện trở về và người quan sát đo thời gian mà họ
nhận được tiếng dội. Thời gian xảy ra sự kiện khi đó
sẽ bằng một nửa thời gian tính từ khi xung được gửi
đi đến khi nhận được tiếng dội trở lại, còn khoảng
cách tới sự kiện bằng nửa số thời gian cho hai lượt đi-về
đó nhân với vận tốc ánh sáng. (Một sư kiện, theo ý nghĩa
này, là một điều gì đó xảy ra ở một điểm duy nhất
trong không gian và ở một điểm xác định trong thời gian).
Ý
tưởng này được minh họa trên hình 2.1, nó là một ví dụ
về giản đồ không-thời gian. Dùng thủ tục này, những người
quan sát chuyển động đối với nhau sẽ gán cho cùng một
sự kiện những thời gian và vị trí khác nhau. Không có những
phép đo của người quan sát đặc biệt nào là đúng hơn những
người khác, nhưng tất cả các phép đo đều quan hệ với
nhau. Bất kỳ một người quan sát nào cũng tính ra được
một cách chính xác thời gian và vị trí mà một người quan
sát khác gán cho một sự kiện, miễn là người đó biết
được vận tốc tương đối của người kia.
Ngày
hôm nay để đo khoảng cách một cách chính xác, chúng ta vẫn
còn dùng phương pháp nói trên, bởi vì chúng ta có thể đo
thời gian chính xác hơn đo chiều dài. Thực tế, mét được
định nghĩa là khoảng cách mà ánh sáng đi được trong khoảng
thời gian 0,000000003335640952 giây đo theo đồng hồ nguyên tử
xesi. (Nguyên nhân dẫn tới con số lạ lùng này là để nó
tương ứng với định nghĩa có tính chất lịch sử của mét:
là khoảng cách giữa hai vạch trên một cái thước đặc biệt
làm bằng bạch kim được giữ ở Paris). Như vậy chúng ta
có thể dùng một đơn vị mới thuận tiện hơn, được gọi
là giây-ánh-sáng. Nó đơn giản là khoảng cách mà ánh sáng
đi được trong một giây. Trong lý thuyết tương đối, bây
giờ ta định nghĩa khoảng cách thông qua thời gian và vận
tốc ánh sáng, như vậy phải tự động suy ra rằng mọi người
quan sát đo vận tốc của ánh sáng sẽ nhận được cùng một
giá trị (theo định nghĩa là 1 mét trong 0,000000003335640952 giây).
Khỏi cần phải đưa vào khái niệm ether, và lại sự có mặt
của nó không thể được ghi nhận bằng cách nào, như thí
nghiệm của Michelson - Morley đã chứng tỏ.
Tuy
nhiên, lý thuyết tương đối buộc chúng ta phải thay đổi
một cách căn bản những ý niệm của chúng ta về không gian
và thời gian. Chúng ta buộc phải chấp nhận rằng thời gian
không hoàn toàn tách rời và độc lập với không gian mà kết
hợp với nó thành một đối tượng gọi là không - thời
gian.
Theo
kinh nghiệm thông thường, người ta có thể mô tả vị trí
của một điểm trong không gian bằng ba con số, hay nói cách
khác là ba tọa độ. Ví dụ, người ta có thể nói: một điểm
ở trong phòng cách một bức tường 7 bộ, cách một bức tường
khác 3 bộ, và cao so với sàn 5 bộ. Hoặc người ta có thể
chỉ rõ một điểm ở kinh tuyến nào, vĩ tuyến bao nhiêu và
ở độ cao nào so với mực nước biển. Người ta có thể
thoải mái dùng ba tọa độ thích hợp nào mà mình muốn, mặc
dù chúng chỉ có phạm vi ứng dụng hạn chế. Chẳng hạn,
chúng ta sẽ không chỉ vị trí của mặt trăng bằng khoảng
cách theo phương bắc và phương tây so với rạp xiếc Piccadilly
và chiều cao của nó so với mực nước biển. Thay vì thế,
người ta cần phải mô tả nó qua khoảng cách từ mặt trời,
khoảng cách từ mặt phẳng quĩ đạo của các hành tinh và
góc giữa đường nối mặt trăng với mặt trời và đường
nối mặt trời tới một ngôi sao ở gần như sao Alpha của
chòm sao Nhân Mã. Nhưng thậm chí những tọa độ này cũng
không được dùng nhiều để mô tả vị trí của mặt trời
trong thiên hà của chúng ta hoặc của thiên hà chúng ta trong
quần thể thiên hà khu vực. Thực tế, người ta có thể mô
tả toàn bộ vũ trụ bằng một tập hợp các mảng gối lên
nhau. Trong mỗi một mảng, người ta có thể dùng một tập
hợp ba tọa độ khác nhau để chỉ vị trí của các điểm.
Một
sự kiện là một cái gì đó xảy ra ở một điểm đặc biệt
trong không gian và ở một thời điểm đặc biệt. Như vậy,
người ta có thể chỉ nó bằng 4 con số hay là 4 tọa độ.
Và lần này cũng thế, việc lựa chọn các tọa độ là tùy
ý, người ta có thể dùng ba tọa độ không gian đã biết
và một độ đo nào đó của thời gian. Trong thuyết tương
đối, không có sự phân biệt thực sự giữa các tọa độ
không gian và thời gian, cũng hệt như không có sự khác biệt
thực sự giữa hai tọa độ không gian. Người ta có thể chọn
một tập hợp tọa độ mới, trong đó, chẳng hạn, tọa độ
không gian thứ nhất là tổ hợp của tọa độ không gian cũ
thứ nhất và thứ hai. Ví dụ, thay vì đo vị trí của một
điểm trên mặt đất bằng khoảng cách theo phương bắc và
tây của nó đối với rạp xiếc Piccadilly người ta có thể
dùng khoảng cách theo hướng đông bắc và tây bắc đối với
Piccadilly. Cũng tương tự như vậy, trong thuyết tương đối,
người ta có thể dùng tọa độ thời gian mới là thời gian
cũ (tính bằng giây) cộng với khoảng cách (tính bằng giây
- ánh sáng) theo hướng bắc của Piccadilly.
Một
cách rất hữu ích để suy nghĩ về bốn tọa độ của một
sự kiện là chỉ vị trí của nó trong một không gian 4 chiều,
được gọi là không -thời gian. Chúng ta không thể tưởng
tượng nổi một không gian 4 chiều. Riêng bản thân tôi hình
dung một không gian 3 chiều cũng đã vất vả lắm rồi. Tuy
nhiên vẽ một sơ đồ về không gian 2 chiều thì lại khá
dễ dàng, chẳng hạn như vẽ bề mặt của trái đất (Bề
mặt của trái đất là hai chiều vì vị trí của một điểm
trên đó có thể được ghi bằng hai tọa độ, kinh độ và
vĩ độ). Tôi sẽ thường sử dụng những giản đồ trong
đó thời gian tăng theo phương thẳng đứng hướng lên trên,
còn một trong những chiều không gian được vẽ theo phương
nằm ngang. Hai chiều không gian còn lại sẽ bỏ qua, hoặc đôi
khi một trong hai chiều đó được vẽ theo phối cảnh. (Những
giản đồ này được gọi là giản đồ không-thời gian, giống
như hình 2.1). Ví dụ, trong hình 2.2 thời gian được đặt
hướng lên trên với đơn vị là năm, còn khoảng cách nằm
dọc theo đường thẳng nối mặt trời với sao Anpha của chòm
sao Nhân mã được đặt nằm ngang với đơn vị là dặm. Những
con đường của mặt trời và sao Alpha qua không - thời gian
là những con đường thẳng đứng ở bên trái và bên phải
của giản đồ. Tia sáng từ mặt trời đi theo đường chéo
và phải mất 4 năm mới tới được sao Alpha.
Như
chúng ta đã thấy, các phương trình Maxwell tiên đoán rằng
vận tốc của ánh sáng sẽ là như nhau bất kể vận tốc
của nguồn sáng bằng bao nhiêu, và điều này đã được khẳng
định bằng nhiều phép đo chính xác.
Điều
này suy ra từ sự kiện là nếu một xung ánh sáng được phát
ra ở một thời điểm đặc biệt, tại một điểm đặc biệt
trong không gian, thì sau đó với thời gian nó sẽ lan ra như
một mặt cầu ánh sáng với kích thước và vị trí không
phụ thuộc vào vận tốc của nguồn sáng. Sau một phần triệu
giây, ánh sáng sẽ lan truyền, tạo thành một mặt cầu có
bán kính 300 mét, sau hai phần triệu giây, bán kính là 600 mét,
và cứ như vậy mãi. Điều này cũng giống như những gợn
sóng truyền trên mặt nước khi có hòn đá ném xuống hồ.
Những
gợn sóng truyền như một vòng tròn cứ lớn dần mãi theo
thời gian. Nếu ta nghĩ về một mô hình ba chiều gồm bề
mặt hai chiều của hồ và một chiều thời gian thì vòng tròn
lớn dần của các gợn sóng sẽ tạo thành một nón có đỉnh
nằm đúng tại chỗ và tại thời điểm hòn đá chạm vào
mặt nước (hình 2.3). Tương tự, ánh sáng lan truyền từ một
sự kiện sẽ tạo nên một mặt nón ba chiều trong không-thời
gian 4 chiều. Mặt nón đó được gọi là mặt nón ánh sáng
tương lai của sự kiện đang xét. Cũng bằng cách như vậy
ta có thể dựng một mặt nón khác, gọi là mặt nón ánh sáng
quá khứ - đó là tập hợp các sự kiện mà từ chúng một
xung ánh sáng có thể tới được sự kiện đang xét ( hình
2.4).
Những
mặt nón ánh sáng quá khứ và tương lai của một sự kiện
P chia không gian thành ba miền (hình 2.5.). Tương lai tuyệt đối
của sự kiện là vùng nằm trong mặt nón ánh sáng tương lai
của P. Đây là tập hợp của tất cả các sự kiện có thể
chịu ảnh hưởng của những điều xảy ra ở P.
Những
tín hiệu từ P không thể tới được những sự kiện nằm
ngoài nón ánh sáng của P bởi vì không gì có thể chuyển
động nhanh hơn ánh sáng. Do vậy mà các sự kiện đó không
chịu ảnh hưởng những gì xảy ra ở P. Quá khứ tuyệt đối
của P là vùng nằm trong nón ánh sáng quá khứ. Đây là tập
hợp các sự kiện mà từ đó những tín hiệu truyền với
vận tốc bằng hoặc nhỏ hơn vận tốc của ánh sáng có thể
tới được P. Do đó, tập hợp những sự kiện này có thể
ảnh hưởng tới những gì xảy ra ở P. Nếu biết được
ở một thời điểm đặc biệt nào đó những gì xảy ra ở
mọi nơi trong vùng không gian nằm trong nón ánh sáng quá khứ
của P thì người ta có thể tiên đoán những gì sẽ xảy
ra ở P.
Phần
còn lại là vùng không - thời gian không nằm trong nón ánh
sáng tương lai hoặc quá khứ của P. Các sự kiện trong phần
còn lại này không thể ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng
bởi những sự kiện ở P. Ví dụ, nếu mặt trời ngừng chiếu
sáng ở chính thời điểm này, thì nó sẽ không ảnh hưởng
tới các sự kiện trên trái đất ở ngay thời điểm đó
bởi vì chúng nằm ngoài nón ánh sáng của ánh sáng khi mặt
trời tắt (hình 2.6). Chúng ta sẽ biết về sự kiện đó chỉ
sau 8 phút - là thời gian đủ để ánh sáng đi từ mặt trời
đến trái đất. Và chỉ khi này những sự kiện trên trái
đất mới nằm trong nón ánh sáng tương lai của sự kiện
ở đó mặt trời tắt. Tương tự như vậy, ở thời điểm
hiện nay chúng ta không thể biết những gì đang xảy ra ở
những nơi xa xôi trong vũ trụ, bởi vì ánh sáng mà chúng ta
thấy từ những thiên hà xa xôi đã rời chúng từ hàng triệu
năm trước. Như vậy, khi chúng ta quan sát vũ trụ thì thực
ra là chúng ta đang thấy nó trong qúa khứ.
Nếu
người ta bỏ qua những hiệu ứng hấp dẫn, như Einstein và
Poincaré đã làm năm 1905, thì ta có thuyết tương đối được
gọi là thuyết tương đối hẹp. Đối với mỗi sự kiện
trong không-thời gian ta đều có thể dựng một nón ánh sáng
(là tập hợp mọi con đường khả dĩ của ánh sáng trong không-thời
gian được phát ra ở sự kiện đó), và vì vận tốc ánh
sáng là như nhau ở mỗi sự kiện và theo mọi hướng, nên
tất cả các nón ánh sáng là như nhau và cùng hướng theo một
hướng. Lý thuyết này cũng nói với chúng ta rằng không gì
có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Điều đó có nghĩa
là đường đi của mọi vật qua không-thời gian cần phải
được biểu diễn bằng một đường nằm trong nón ánh sáng
ở mỗi một sự kiện trên nó (hình 2.7.).
Lý
thuyết tương đối hẹp rất thành công trong việc giải thích
sự như nhau của vận tốc ánh sáng đối với mọi người
quan sát (như thí nghiệm Michelson - Morley đã chứng tỏ) và
trong sự mô tả những điều xảy ra khi các vật chuyển động
với vận tốc gần với vận tốc ánh sáng. Tuy nhiên, lý thuyết
này lại không hòa hợp với thuyết hấp dẫn của Newton nói
rằng các vật hút nhau với một lực phụ thuộc vào khoảng
cách giữa chúng. Điều này có nghĩa là, nếu làm cho một
vật chuyển động thì lực tác dụng lên các vật khác sẽ
thay đổi ngay lập tức. Hay nói một cách khác, các tác dụng
hấp dẫn truyền với vận tốc vô hạn, thay vì nó bằng hoặc
nhỏ hơn vận tốc ánh sáng như thuyết tương đối hẹp đòi
hỏi.
Trong
khoảng thời gian từ năm 1908 đến năm 1914, Einstein đã nhiều
lần thử tìm một lý thuyết hấp dẫn hòa hợp được với
thuyết tương đối hẹp, nhưng đã không thành công. Cuối
cùng, vào năm 1915, ông đã đưa ra được một lý thuyết mà
ngày nay chúng ta gọi là thuyết tương đối rộng (hay thuyết
tương đối tổng quát). Ông đã đưa ra một giả thiết có
tính chất cách mạng cho rằng hấp dẫn không phải là một
lực giống như những lực khác mà nó là kết quả của sự
kiện là: không - thời gian không phải phẳng như trước kia
người ta vẫn tưởng, mà nó cong hay “vênh” đi do sự phân
bố của khối lượng và năng lượng trong nó. Các vật như
trái đất không phải được tạo ra để chuyển động trên
các quĩ đạo cong bởi lực hấp dẫn, mà thay vì thế, chúng
chuyển động theo đường rất gần với đường thẳng trong
không gian cong mà người ta gọi là đường trắc địa. Đường
trắc địa là đường ngắn nhất (hoặc dài nhất) giữa hai
điểm cạnh nhau. Ví dụ, bề mặt trái đất là một không
gian cong hai chiều.
Đường
trắc địa trên mặt trái đất chính là vòng tròn lớn và
nó là đường ngắn nhất giữa hai điểm trên mặt đất (H.2.8).
Vì đường trắc địa là đường ngắn nhất giữa hai sân
bay, nên nó là đường mà những người dẫn đường hàng
không hướng các phi công bay theo. Trong lý thuyết tương đối
rộng, các vật luôn luôn chuyển động theo các đường “thẳng”
trong không-thời gian 4 chiều, nhưng đối với chúng ta, chúng
có vẻ chuyển động theo những đường cong trong không gian
3 chiều. (Điều này rất giống với việc quan sát chiếc máy
bay trên một vùng đồi gò. Mặc dù nó bay theo đường thẳng
trong không gian 3 chiều, nhưng cái bóng của nó lại chuyển
động theo một đường cong trên mặt đất hai chiều).
Khối
lượng của mặt trời làm cong không-thời gian theo cách sao
cho mặc dù trái đất chuyển động theo đường thẳng trong
không-thời gian 4 chiều, nhưng nó lại thể hiện đối với
chúng ta là chuyển động theo quĩ đạo tròn trong không gian
ba chiều. Và thực tế, quĩ đạo của các hành tinh được
tiên đoán bởi lý thuyết tương đối rộng cũng chính xác
như được tiên đoán bởi lý thuyết hấp dẫn của Newton.
Tuy nhiên, trong trường hợp đối với sao Thủy, hành tinh gần
mặt trời nhất, do đó cảm thấy hiệu ứng hấp dẫn mạnh
nhất và có quĩ đạo thuôn dài hơn, thì thuyết tương đối
rộng tiên đoán rằng trục dài của elip quĩ đạo quay quanh
mặt trời với vận tốc 1 độ trong 10 ngàn năm. Mặc dù hiệu
ứng là rất nhỏ, nhưng nó đã được ghi nhận từ trước
năm 1915 và được dùng như một bằng chứng đầu tiên khẳng
định lý thuyết của Einstein. Trong những năm gần đây, những
độ lệch thậm chí còn nhỏ hơn nữa của quĩ đạo các hành
tinh khác so với những tiên đoán của lý thuyết Newton cũng
đã được đo bằng rada và cho thấy chúng phù hợp với những
tiên đoán của thuyết tương đối rộng.
Những
tia sáng cũng cần phải đi theo những đường trắc địa trong
không-thời gian. Cũng lại do không gian bị cong nên ánh sáng
không còn thể hiện là truyền theo đường thẳng trong không
gian nữa. Như vậy thuyết tương đối rộng tiên đoán rằng
anh sáng có thể bị bẻ cong bởi các trường hấp dẫn. Ví
dụ, lý thuyết này tiên đoán rằng nón ánh sáng của những
điểm ở gần mặt trời sẽ hơi bị uốn hướng vào phía
trong do tác dụng của khối lượng mặt trời. Điều này có
nghĩa là ánh sáng từ một ngôi sao xa khi đi qua gần mặt trời
có thể bị lệch đi một góc nhỏ, khiến cho đối với những
người quan sát trên mặt đất, ngôi sao đó dường như ở
một vị trí khác (H.2.9). Tất nhiên, nếu ánh sáng từ ngôi
sao đó luôn luôn đi qua gần mặt trời, thì chúng ta không
thể nói tia sáng có bị lệch hay không hoặc thay vì thế ngôi
sao có thực sự nằm ở đúng chỗ chúng ta nhìn thấy nó hay
không. Tuy nhiên, vì trái đất quay quanh mặt trời nên những
ngôi sao khác nhau có lúc dường như đi qua phía sau mặt trời
và ánh sáng của chúng bị lệch. Vì thế những ngôi sao này
thay đổi vị trí biểu kiến của chúng đối với các ngôi
sao khác.
Thường
thì rất khó quan sát hiệu ứng này, bởi vì ánh sáng của
mặt trời làm cho ta không thể quan sát được những ngôi
sao có vị trí biểu kiến ở gần mặt trời trên bầu trời.
Tuy nhiên, điều này có thể làm được trong thời gian có
nhật thực, khi mà ánh sáng mặt trời bị mặt trăng chắn
mất. Nhưng tiên đoán của Einstein không được kiểm chứng
ngay lập tức trong năm 1915 vì cuộc chiến tranh thế giới
lần thứ nhất lúc đó đang lan rộng, và phải tới tận năm
1919 một đoàn thám hiểm Anh khi quan sát nhật thực ở Tây
Phi đã chứng tỏ được rằng ánh sáng thực sự bị lệch
do mặt trời đúng như lý thuyết đã dự đoán. Sự chứng
minh lý thuyết của một người Đức bởi các nhà khoa học
Anh đã được nhiệt liệt hoan nghênh như một hành động
hòa giải vĩ đại giữa hai nước sau chiến tranh. Do đó, thật
là trớ trêu khi kiểm tra lại sau đó những bức ảnh mà đoàn
thám hiểm đã chụp, người ta phát hiện ra rằng sai số cũng
lớn cỡ hiệu ứng mà họ định đo. Phép đo của họ hoàn
toàn chỉ là may mắn hoặc một trường hợp đã biết trước
kết quả mà họ muốn nhận được - một điều cũng thường
xảy ra trong khoa học. Tuy nhiên, sự lệch của tia sáng đã
được khẳng định hoàn toàn chính xác bởi nhiều quan sát
sau này.
Một
tiên đoán khác của thuyết tương đối rộng là thời gian
dường như chạy chậm hơn khi ở gần những vật có khối
lượng lớn như trái đất. Đó là bởi vì một mối liên
hệ giữa năng lượng của ánh sáng và tần số của nó (tần
số là sóng ánh sáng trong một giây): năng lượng càng lớn
thì tần số càng cao. Khi ánh sáng truyền hướng lên trong
trường hấp dẫn của trái đất, nó sẽ mất năng lượng
và vì thế tần số của nó giảm. (Điều này có nghĩa là
khoảng thời gian giữa hai đỉnh sóng liên tiếp tăng lên).
Đối với người ở trên cao mọi chuyện ở phía dưới xảy
ra chậm chạp hơn. Điều tiên đoán này đã được kiểm chứng
vào năm 1962 bằng cách dùng hai đồng hồ rất chính xác: một
đặt ở đỉnh và một đặt ở chân một tháp nước. Đồng
hồ ở chân tháp, gần trái đất hơn, chạy chậm hơn - hoàn
toàn phù hợp với thuyết tương đối rộng. Sự khác biệt
của tốc độ đồng hồ ở những độ cao khác nhau trên mặt
đất có một tầm quan trọng đặc biệt trong thực tiễn hiện
nay khi người ta sử dụng những hệ thống đạo hàng chính
xác dựa trên những tín hiệu từ vệ tinh. Nếu khi này người
ta bỏ qua những tiên đoán của thuyết tương đối rộng,
thì vị trí tính toán được có thể sai khác tới vài ba dặm!
Những
định luật về chuyển động của Newton đã đặt dấu chấm
hết cho ý niệm về vị trí tuyệt đối trong không gian. Thuyết
tương đối đã vứt bỏ khái niệm thời gian tuyệt đối.
Ta hãy xét hai đứa trẻ sinh đôi. Giả sử rằng một đứa
được đưa lên sống trên đỉnh núi và một đứa sống ở
ngang mực nước biển. Đứa thứ nhất sẽ già nhanh hơn đứa
thứ hai. Như vậy, nếu gặp lại nhau một đứa sẽ già hơn
đứa kia. Trong trường hợp này sự khác nhau về tuổi tác
sẽ rất nhỏ, nhưng nó sẽ lớn hơn rất nhiều nếu một
đứa thực hiện chuyến du hành dài trong con tàu vũ trụ chuyển
động với vận tốc gần vận tốc ánh sáng. Khi trở về
nó sẽ trẻ hơn rất nhiều so với đứa ở lại trái đất.
Điều này được gọi là nghịch lý hai đứa trẻ sinh đôi,
nhưng nó là nghịch lý chỉ nếu ý niệm về thời gian tuyệt
đối vẫn còn lẩn quất trong đầu óc chúng ta. Trong lý thuyết
tương đối không có một thời gian tuyệt đối duy nhất,
mà thay vì thế mỗi cá nhân có một độ đo thời gian riêng
của mình và độ đo đó phụ thuộc vào nơi họ đang ở và
họ chuyển động như thế nào.
Trước
năm 1915, không gian và thời gian được xem là một sân khấu
cố định nơi diễn ra mọi sự kiện và không chịu ảnh hưởng
bởi những điều xảy ra trong nó. Điều này đúng thậm chí
cả với thuyết tương đối hẹp. Các vật chuyển động,
các lực hút và đẩy, nhưng không gian và thời gian vẫn liên
tục và không bị ảnh hưởng gì. Và ý nghĩ cho rằng không
gian và thời gian cứ tiếp tục như thế mãi mãi cũng là chuyện
tự nhiên.
Tuy
nhiên, tình hình hoàn toàn khác trong thuyết tương đối rộng.
Bây giờ không gian và thời gian là những đại lượng động
lực: khi một vật chuyển động, hoặc một lực tác dụng,
chúng đều ảnh hưởng tới độ cong của không gian và thời
gian và đáp lại, cấu trúc của không - thời gian sẽ ảnh
hưởng tới cách thức mà các vật chuyển động và các lực
tác dụng. Không gian và thời gian không chỉ có tác động
mà còn bị tác động bởi mọi điều xảy ra trong vũ trụ.
Chính vì người ta không thể nói về các sự kiện trong vũ
trụ mà không có khái niệm về không gian và thời gian, nên
trong thuyết tương đối rộng sẽ trở nên vô nghĩa nếu nói
về không gian và thời gian ở ngoài giới hạn của vũ trụ.
Trong những thập kỷ tiếp sau, sự nhận thức mới này về
không gian và thời gian đã làm cách mạng quan niệm của chúng
ta về vũ trụ. Ý tưởng xưa cũ cho rằng một vũ trụ căn
bản không thay đổi có thể đã tồn tại và có thể còn
tiếp tục tồn tại đã vĩnh viễn được thay thế bằng khái
niệm một vũ trụ động, đang giãn nở, một vũ trụ dường
như đã bắt đầu ở một thời điểm hữu hạn trong quá
khứ và có thể chấm dứt ở một thời điểm hữu hạn trong
tương lai. Cuộc cách mạng này là đề tài của chương tiếp
sau. Và những năm sau đó nó cũng đã là điểm xuất phát
cho hoạt động của tôi trong lĩnh vực vật lý lý thuyết.
Roger Penrose và tôi đã chứng tỏ được rằng chính thuyết
tương đối rộng đã ngụ ý vũ trụ cần phải có điểm
bắt đầu và có thể cả điểm kết thúc nữa.
Cùng
Tác Giả, Khác Dịch Giả:
Lược
Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Thích Viên Lý, USA