CHƯƠNG
10
KẾT
LUẬN
Chúng
ta thấy mình ở trong một thế giới đầy những thắc mắc.
Chúng ta muốn giải thích những gì chúng ta nhìn thấy chung
quanh chúng ta và đặt câu hỏi: Bản chất của vũ trụ là
gì? chỗ đứng của chúng ta trong đó là gì và nó và chúng
ta từ đâu mà tới? Tại sao nó lại như thế?
Để
cố trả lời những câu hỏi này chúng ta chấp nhận một
"hình ảnh thế giới" nào đó. Cũng như một cái tháp vô tận
gồm những con rùa chống đỡ trái đất dẹp là một hình
ảnh như vậy, lý thuyết về những sợi dây siêu đẳng cũng
thế. Cả hai đều là những thuyết về vũ trụ, mặc dù thuyết
sau có tính cách toán học và chính xác hơn nhiều so với thuyết
trước. Cả hai thuyết đều thiếu chứng cớ do quan sát: không
ai từng nhìn thấy một con rùa khổng lồ với trái đất nằm
trên lưng, nhưng rồi cũng không ai thấy một sợi dây siêu
đẳng. Tuy nhiên, thuyết con rùa không phải là một thuyết
khoa học tốt bởi vì nó tiên đoán rằng người ta phải có
thể rơi khỏi bờ của thế giới. Điều này đã không thấy
phù hợp với kinh nghiệm, ngoại trừ nó biến thành sự giải
thích về những người coi như đã biến mất trong Tam Giác
Bermuda!
Những
cố gắng về mặt lý thuyết ban đầu để mô tả và giải
thích vũ trụ liên quan đến ý tưởng rằng các biến cố
và hiện tượng thiên nhiên bị kiểm soát bởi những thần
linh có những cảm xúc của con người và hành động theo một
bản chất rất giống con người và không thể tiên đoán được.
Những thần linh này nằm ở những vật thiên nhiên, như sông
và núi, kể cả các vật thể vũ trụ, giống như mặt trời
và mặt trăng. Người ta phải làm hài lòng và tìm ân huệ
của những thần linh này để bảo đảm sự mầu mỡ của
đất đai và sự quay vòng của mùa. Tuy nhiên, dần dần, người
ta phải nhận thấy rằng có những sự đều đặn nào đó:
mặt trời luôn luôn mọc ở hướng đông và lạên ở hướng
tây, dù có dâng vật cúng tế nào cho thần mặt trời hay không.
Hơn nữa, mặt trời, mặt trăng, và các hành tinh đi theo những
con đường rõ rệt ngang bầu trời, có thể được tiên đoán
với sự chính xác đáng kể. Mặt trời và mặt trăng có thể
vẫn còn là thần linh, nhưng chúng là những thần linh chịu
tuân theo những định luật chặt chẽ, có vẻ như không có
ngoại lệ nào, nếu người ta bỏ qua những câu chuyện như
câu chuyện mặt trời ngừng lại vì Joshua.
Lúc
đầu, những sự đều đặn và định luật này chỉ hiển
nhiên trong thiên văn học và một vài tình huống khác. Tuy
nhiên, khi nền văn minh phát triển, và đặc biệt trong 300
năm vừa qua, càng ngày những sự đều đặn và các định
luật càng được khám phá thêm. Sự thành công của những
định luật này đã khiến Laplace vào đầu thế kỷ 19 đưa
ra thuyết định mệnh khoa học, nghĩa là, ông cho rằng sẽ
có một bộ các định luật quyết định sự tiến hóa của
vũ trụ một cách chính xác, xét về hình dạng của nó tại
một thời điểm.
Thuyết
định mệnh của Laplace không đầy đủ trên hai phương diện.
Nó đã không cho biết các định luật đã được lựa chọn
như thế nào và nó đã không định rõ hình dạng ban đầu
của vũ trụ. Những điều này đã được dành cho Thượng
Đế. Thượng Đế sẽ lựa chọn cách vũ trụ khởi đầu
và những định luật nào nó tuân theo, nhưng sẽ không can
thiệp vào vũ trụ một khi nó đã khởi đầu. Hậu quả là,
Thượng Đế đã bị giới hạn ở những lãnh vực mà khoa
học thời thế kỷ 19 đã không hiểu.
Hiện
giờ chúng ta biết rằng hy vọng của Laplace về thuyết định
mệnh không thể thành hình, ít ra theo các điều kiện mà ông
đã hình dung. Nguyên tắc bất định của cơ học lượng tử
ngụ ý rằng vài cặp số lượng, như vị trí và tốc độ
của một hạt, không thể tiên đoán cả hai với sự chính
xác hoàn toàn.
Cơ
học lượng tử đối phó với tình trạng này qua một lớp
các lý thuyết lượng tử trong đó các hạt không có những
vị trí và tốc độ được xác định rõ rệt mà được
biểu diễn bởi một sóng. Những lý thuyết lượng tử này
có tính cách định mệnh theo ý nghĩa rằng chúng đưa ra những
định luật cho sự tiến hóa của sóng theo thời gian. Như
vậy nếu người ta biết sóng tại một thời điểm, người
ta có thể tính toán nó ở bất cứ thời điểm nào khác.
Yếu tố tình cờ, không thể tiên đoán được chỉ du nhập
khi chúng ta cố giải thích sóng theo vị trí và tốc độ của
các hạt. Nhưng có lẽ đó là sự lầm lẫn của chúng ta:
có thểõ không có các vị trí và tốc độ của hạt, mà
chỉ có các sóng. Chỉ vì chúng ta cố đưa các sóng vào những
ý tưởng đã được ấp ủ từ trước về các vị trí và
tốc độ. Sự không ăn khớp do đó là nguyên nhân đưa đến
sự bất khả tiên toán thấy rõ.
Thật
vậy, chúng ta đã định nghĩa lại nhiệm vụ của khoa học
như là sự khám phá các định luật sẽ cho phép chúng ta tiên
đoán các biến cố tới các giới hạn được đặt ra bởi
nguyên tắc bất định. Tuy nhiên, câu hỏi vẫn còn đó: Như
thế nào hoặc tại sao các định luật và tình trạng sơ khởi
của vũ trụ đã được lựa chọn?
Trong
cuốn sách này tôi đã dành ưu thế đặc biệt cho các định
luật chi phối hấp lực, bởi vì chính hấp lực là cái hình
thành cơ cấu tầm mức lớn của vũ trụ, mặc dù nó là lực
yếu nhất trong số bốn loại lực. Các định luật về hấp
lực không phù hợp với quan điểm được duy trì mãi cho tới
gần đây rằng vũ trụ không thay đổi theo thời gian: sự
kiện rằng hấp lực luôn luôn thu hút ngụ ý rằng vũ trụ
phải hoặc đang bành trướng hoặc đang co rút. Theo thuyết
tương đối tổng quát, phải có một tình trạng mật độ
vô hạn trong quá khứ, vụ nổ lớn, là một sự khởi đầu
có hiệu quả về thời gian. Tương tự, nếu toàn thể vũ
trụ co sụp trở lại, phải có một tình trạng mật độ
vô hạn khác trong tương lai, vụ đổ vỡ lớn, sẽ là một
kết cuộc về thời gian. Cho dù toàn thể vũ trụ không co
sụp trở lại, sẽ có những điểm kỳ dị tại những vùng
nhỏ co sụp để hình thành các lỗ đen. Những điểm kỳ
dị này sẽ là một kết cuộc về thời gian đối với bất
cứ ai rơi vào lỗ đen. Tại vụ nổ lớn và những điểm
kỳ dị khác, mọi định luật sẽ sụp đổ, do có Thượng
Đế vẫn còn hoàn toàn tự do để lựa chọn những gì đã
xảy ra và vũ trụ đã bắt đầu như thế nào.
Khi
chúng ta kết hợp cơ học lượng tử với thuyết tương đối
tổng quát, hình như có một sự khả dĩ mới đã không xuất
hiện trước đây: rằng không gian và thời gian cùng nhau có
thể hình thành một không gian bốn chiều hữu hạn mà không
có các điểm kỳ dị hoặc biên giới, giống như bề mặt
của trái đất nhưng với nhiều chiều hơn. Hình như ý tưởng
này có thể giải thích nhiều trong số những đặc điểm
đã được quan sát của vũ trụ, như sự đồng đều của
nó trên tầm mức lớn và cả những thất thoát với tầm
mức nhỏ hơn từ sự đồng nhất, như các thiên hà, các ngôi
sao, và ngay cả nhân loại. Nó còn liên quan đến mũi tên thời
gian mà chúng ta quan sát. Nhưng nếu vũ trụ hoàn toàn tự chứa
đựng, mà không có các điểm kỳ dị hoặc biên giới, và
hoàn toàn được mô tả bởi một thuyết thống nhất, điều
đó có những hàm ý sâu xa về vai trò của Thượng Đế với
tính cách Đấng Sáng Tạo.
Einstein
có lần đã đặt câu hỏi: "Thượng Đế có bao nhiêu lựa
chọn trong việc xây dựng vũ trụ?" Nếu ý kiến không biên
giới là đúng, Thượng Đế không có tự do nào trong việc
lựa chọn những điều kiện sơ khởi. Dĩ nhiên Thượng Đế
vẫn có tự do để lựa chọn những định luật mà vũ trụ
tuân theo. Tuy nhiên, điều này có thể không thực sự là một
lựa chọn; rất có thể chỉ có một lựa chọn, hoặc một
số nhỏ, các lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, như lý thuyết
dây dị biệt, tự phù hợp và cho phép sự hiện hữu của
các cơ cấu phức tạp như con người, sinh vật có thể khảo
sát những định luật của vũ trụ và đặt câu hỏi về
bản chất của Thượng Đế.
Cho
dù chỉ có thể có một lý thuyết thống nhất, đó cũng chỉ
là một bộ các quy luật và các phương trình. Điều gì gây
ra những phương trình và tạo một vũ trụ để chúng mô tả?
Phương pháp thường lệ của khoa học trong việc xây dựng
một mô hình toán học không thể trả lời những câu hỏi
tại sao phải có một vũ trụ để mô hình mô tả. Tại sao
vũ trụ lại làm cho mọi người thắc mắc về sự hiện hữu?
Thuyết thống nhất có đủ sức thuyết phục để đem lại
sự tồn tại của chính nó hay không? Hay liệu có cần một
đấng sáng tạo hay không, và, nếu như vậy, đấng sáng tạo
có ảnh hưởng nào khác đối với vũ trụ hay không? Và ai
tạo ra đấng sáng tạo?
Cho
tới bây giờ, hầu hết các khoa học gia còn quá bận rộn
với sự phát triển các lý thuyết mới mô tả vũ trụ là
gì nên chưa đặt câu hỏi tại sao. Mặt khác, những người
làm công việc đặt ra câu hỏi tại sao, các triết gia, đã
không thể bắt kịp đà tiến bộ của những lý thuyết khoa
học. Trong thế kỷ 18, các triết gia đã coi toàn thể kiến
thức của nhân loại, kể cả khoa học, như lãnh vực của
họ và thảo luận những câu hỏi như: Vũ trụ đã có một
khởi đầu hay không? Tuy nhiên, trong các thế kỷ 19 và 20,
khoa học đã trở nên có tính cách quá kỹ thuật và toán
học đối với các triết gia, hoặc bất cứ ai khác trừ một
số các chuyên gia. Các triết gia đã giảm tầm mức những
câu hỏi của họ nhiều đến độ Wittgenstein, triết gia nổi
tiếng nhất của thế kỷ này, đã phải nói "Nhiệm vụ chính
yếu còn lại cho triết học là phân tích ngôn ngữ." Quả
là một tuột dốc từ truyền thống vĩ đại của triết học
từ Aristotle đến Kant!
Tuy
nhiên, nếu chúng ta khám phá được một lý thuyết hoàn chỉnh,
rồi ra nó phải có thể hiểu được trên nguyên tắc rộng
rãi bởi tất cả mọi người, không phải chỉ một vài khoa
học gia. Rồi tất cả chúng ta, những triết gia, khoa học
gia, và cả những người bình thường, sẽ có thể tham gia
vào cuộc thảo luận câu hỏi tại sao chúng ta và vũ trụ
lại hiện hữu như thế. Nếu chúng ta tìm được câu trả
lời cho điều đó, đây sẽ là một chiến thắng tối hậu
cho lý luận của con người -- bởi vì khi đó chúng ta sẽ
biết được ý nghĩ của Thượng Đế...
THUẬT
NGỮ DÙNG TRONG SÁCH
(Theo
thứ tự abc của từ ngữ Anh văn trong ngoặc)
Độ
không tuyệt đối (absolute zero): Ôn độ thấp nhất có thể
đạt đến, ở ôn độ này vật chất không chứa nhiệt năng.
Độ
gia tốc (acceleration): Tốc xuất mà tốc độ của một vật
thay đổi.
Nguyên
lý vị nhân chủng (anthropic principle): Chúng ta thấy vũ trụ
ở dạng này là vì nếu nó khác thì chúng ta đã không có
mặt ở đây để quan sát nó.
Phản
hạt (antiparticle): Mỗi loại hạt vật chất (matter particle)
đều có một phản hạt. Khi một hạt đụng chạm với phản
hạt của nó thì chúng hủy diệt lẫn nhau, chỉ lưu lại năng
lượng.
Nguyên
tử (atom): Đơn vị cơ bản của vật chất thông thường,
cấu tạo bởi một cái nhân thật nhỏ (trong nhân bao gồm
những proton vàtrung hòa tử), với các điện tử chuyển động
xung quanh nhân này.
Bùng
nổ lớn (big bang): Điểm kỳ dị vào lúc mở đầu vũ trụ.
Co
sụp lớn (big crunch): Điểm kỳ dị vào lúc kết thúc vũ trụ.
Hố
đen (black hole): Một khu vực trong không-thời gian mà từ đó
không vật gì, kể cả ánh sáng, có thể thoát ra, vì hấp
lực tại đây quá mạnh.
Giới
hạn Chandrasekhar (Chandrasekhar limit): Khối lượng tối đa khả
hữu của một tinh tú nguội lạnh (cold star) ổn định, nếu
vượt quá khối lượng này tinh tú phải co sụp thành một
hố đen.
Bảo
tồn năng lượng (conservation of energy): Định luật khoa học
nói rằng năng lượng (hoặc khối lượng tương đương của
nó) không thể được tạo ra hoặc hủy diệt.
Tọa
độ (coordinates): Những con số chỉ định vị trí của một
điểm trong không-thời gian.
Hằng
số vũ trụ (cosmologiacal constant): Một phương pháp toán học
mà Einstein đã dùng để khiến không-thời gian có khuynh hướng
bành trướng cố hữu.
Vũ
trụ luận (cosmology): Môn học nghiên cứu toàn thể vũ trụ.
Điện
tích (electric charge): Đặc tánh của một hạt khiến nó đẩy
xa (hoặc hấp dẫn) những hạt khác có điện tích giống như
nó (hoặc tương phản với nó).
Lực
điện từ (electromagnetic force): Lực phát ra giữa những hạt
có điện tích, lực này có sức mạnh thứ nhì trong bốn lực
cơ bản.
Điện
tử (electron): Một hạt có điện tích âm chạy quanh nhân của
một nguyên tử.
Năng
lượng thống nhất điện yếu (electroweak unification energy):
Năng lượng (khoảng 100 GeV) mà khi vượt trên giới hạn này
thì sự khác biệt giữa lực điện từ và lực yếu sẽ biến
mất.
Hạt
cơ bản (elementary particle): Một hạt không thể phân chia được
nữa.
Biến
cố (event): Một điểm trong không-thời gian được ấn định
bởi không gian và thời gian của nó.
Chân
trời biến cố (event horizon): Biên giới của một hố đen.
Nguyên
lý loại trừ (exclusion principle): Hai hạt có vòng quay ½ giống
hệt nhau không thể vừa có cùng vị trí vừa có cùng tốc
độ (trong giới hạn do nguyên lý bất định đặt ra).
Trường
(field): Cái gì đó hiện hữu trong khắp không-thời gian, trái
với một hạt chỉ hiện hữu tại một điểm ở thời gian
nào đó.
Tần
số (frequency): Tổng số chu kỳ của một làn sóng trong một
giây đồng hồ.
Tia
gamma (gamma ray): Những sóng điện từ có độ dài rất ngắn,
phát sinh từ sự suy biến phóng xạ hoặc bởi những đụng
chạm giữa các hạt cơ bản.
Tương
đối tổng quát (general relativity): Lý thuyết của Einstein đặt
căn bản trên điều tin tưởng rằng các định luật khoa học
đều giống nhau đối với mọi người quan sát, bất kể họ
chuyển động như thế nào. Thuyết này giải thích hấp lực
theo dạng cong của không-thời gian bốn chiều.
Trắc
địa tuyến (geodesic): Con đường ngắn nhất (hoặc dài nhất)
giữa hai điểm.
Năng
lượng đại thống nhất (grand unification energy): Người ta
tin rằng ở trên năng lượng này lực điện từ, lực yếu
và lực mạnh trở thành bất khả phân biệt.
Thuyết
đại thống nhất (GUT - grand unified theory): Lý thuyết thống
nhất lực điện từ, lực mạnh và lực yếu.
Thời
gian tưởng tượng (imaginary time): Thời gian đo bằng những
con số tưởng tượng.
Hình
nón ánh sáng (light cone): Một bề mặt trong không-thời gian
đánh dấu những chiều hướng mà các tia sáng có thể đi
qua một biến cố.
Giây
ánh sáng (hoặc năm ánh sáng): Khoảng cách mà ánh sáng di chuyển
trong một giây (hoặc một năm).
Từ
trường (magnetic field): Trường của từ lực, ngày nay đã
được hợp nhất với điện lực thành lực điện từ.
Khối
lượng (mass): Số lượng của vật chất trong một vật thể;
quán tính của vật thể, hoặc sự kháng cự của vật thể
đối với độ gia tốc.
Bức
xạ bối cảnh sóng ngắn (microwave background radiation): Bức
xạ từ sự rực sáng của vũ trụ nóng trong thời kỳ sơ
khai, ngày nay nó đã chuyển đỏ nhiều tới độ chúng ta không
nhận thấy nó là ánh sáng mà là những sóng ngắn (những
sóng vô tuyến có độ dài vài centimét).
Điểm
kỳ dị trần truồng (naked singularity): Một điểm kỳ dị
trong không-thời gian không có hố đen vây quanh.
Neutrino
(trung vi tử): Một hạt cơ bản cực nhẹ (có thể không có
khối lượng) chỉ chịu ảnh hưởng của lực yếu và hấp
lực.
Trung
hòa tử (neutron): Một hạt không có điện tích, rất giống
proton, bao gồm khoảng một nửa những hạt trong nhân của
đa số nguyên tử.
Trung
tử tinh (neutron star): Một tinh tú nguội lạnh được chống
đỡ bởi lực đẩy giữa các trung hòa tử theo nguyên lý loại
trừ.
Điều
kiện vô biên giới (no boundary condition): Ý kiến cho rằng vũ
trụ là hữu hạn nhưng không có biên giới (trong thời gian
tưởng tượng).
Tụ
biến hạt nhân (nuclear fusion): Tiến trình trong đó hai hạt
nhân đụng nhau và kết hợp thành một hạt nhân nặng hơn.
Hạt
nhân (nucleus): Phần trung tâm của một nguyên tử, chỉ gồm
có những protons và trung hòa tử, được giữ dính vào nhau
bởi lực mạnh.
Máy
gia tốc hạt (particle accelerator): Một loại máy sử dụng điện
từ có thể gia tăng tốc độ những hạt có điện tích đang
chuyển động, khiến chúng có thêm năng lượng.
Pha
(phase): Đối với một sóng, vị trí trong chu kỳ của nó ở
một thời gian đặc biệt: sự đo lường sóng để biết nó
ở đỉnh, ở đáy, hay ở điểm nào đó giữa đỉnh và đáy.
Quang
tử (photon): Một lượng tử của ánh sáng.
Nguyên
lý lượng tử của Planck (Planck's quantum principle): Ý kiến
cho rằng ánh sáng (hoặc bất cứ những sóng cổ điển nào)
chỉ có thể được phát ra hoặc thu hút trong những lượng
tử cố định, và năng lượng của chúng có tỷ lệ thuận
với tần số của chúng.
Phản
điện tử (positron, dương điện tử): Phản hạt (có điện
tích dương) của điện tử.
Hố
đen ban đầu, hay nguyên thuỷ (primordial black hole): Loại hố
đen được cấu tạo trong thời kỳ sơ khai của vũ trụ.
Tỷ
lệ thuận, tỷ lệ nghịch (proportional, inversely proportional):
"X có tỷ lệ thuận với Y" nghĩa là khi Y được nhân lên
bởi bất cứ con số nào thì X cũng tăng lên như vậy. "X có
tỷ lệ nghịch với Y" nghĩa là khi Y được nhân lên bởi
bất cứ con số nào thì Y được chia ra bởi con số đó.
Proton:
Hạt có điện tích dương bao gồm khoảng một nửa tổng số
hạt trong đa cố nguyên tử.
Lượng
tử (quantum): Đơn vị không thể phân chia trong đó sóng có
thể phát xạ hoặc hấp thụ.
Cơ
học lượng tử (quantum mechanics): Lý thuyết được khai triển
từ nguyên lý lượng tử của Max Planck và nguyên lý bất định
của Werner Heisenberg.
Quark:
Một hạt cơ bản cảm thụ lực mạnh. Mỗi proton và trung
hòa tử được cấu tạo bởi 3 quark.
Radar:
Hệ thống dùng sóng vô tuyến xung động để dò tìm vị trí
của những vật thể bằng cách đo lường thời gian mà một
xung cần đến để đạt tới vật thể và phản chiếu lại.
Tánh
phóng xạ (radioactivity): Sự tan vỡ tự động của một loại
hạt nhân nguyên tử để trở thành một loại hạt nhân nguyên
tử khác.
Chuyển
đỏ (red shift): Sự chuyển đổi sang màu đỏ của ánh sáng
từ một tinh tú đang di chuyển càng lúc càng xa trái đất
hơn.
Điểm
kỳ dị (singularity): Một điểm trong không-thời gian ở đó
dạng cong của không-thời gian trở thành vô hạn.
Định
đề điểm kỳ dị (singularity theorem): Định đề nói rằng
một điểm kỳ dị phải hiện hữu trong những tình huống
nào đó – đặc biệt là vũ trụ cần phải bắt đầu từ
một điểm kỳ dị.
Không-thời
gian (space-time): Không gian bốn chiều mà các điểm của nó
là những biến cố.
Chiều
không gian (spatial dimension): Bất cứ chiều nào giống như không
gian của ba chiều trong không-thời gian – nghĩa là bất cứ
chiều nào, ngoại trừ chiều thời gian.
Tương
đối đặc biệt (special relativity): Lý thuyết của Einstein
đặt căn bản trên điều tin tưởng rằng các định luật
khoa học đều giống nhau đối với mọi người quan sát, bất
kể tốc độ di chuyển của họ.
Phổ
(spectrum): Có nhiều loại phổ, thí dụ như sự phân chia của
một sóng điện từ thành những tần số của nó.
Quay
(spin): Một đặc tánh nội tại của những hạt cơ bản, liên
hệ tới (nhưng không giống hệt) quan niệm thông thường của
chúng ta về động tác quay.
Trạng
thái ổn cố (stationary state): Trạng thái không thay đổi với
thời gian: một khối hình cầu quay ở một vận tốc cố định
được coi là ổn cố vì trông nó giống nhau ở bất cứ thời
khắc nào, tuy rằng nó không bất động.
Lực
mạnh (strong force): Lực mạnh nhất trong bốn lực cơ bản,
với tầm xa ngắn nhất trong số bốn lực. Nó giữ cho các
quark dính vào nhau bên trong các proton và trung hòa tử, và giữ
cho các proton và trung hòa tử dính vào nhau để tạo thành
nguyên tử.
Nguyên
tắc bất định: Người ta không bao giờ có thể biết chính
xác cả vị trí lẫn vận tốc của một hạt cùng một lúc;
khi càng biết chính xác hơn về điều này thì càng biết ít
chính xác hơn về điều kia.
Hạt
ảo (virtual particle): Trong cơ học lượng tử, một hạt mà
người ta không bao giờ có thể dò tìm một cách trực tiếp,
nhưng sự hiện hữu của nó có những hiệu ứng có thể đo
lường được.
Độ
dài sóng (wavelength): Khoảng cách giữa hai đỉnh hoặc hai đáy
kế cận nhau của sóng.
Lưỡng
tính sóng/hạt (wave/particle duality): Khái niệm trong cơ học
lượng tử nói rằng không có sự khác biệt giữa các sóng
và các hạt; đôi khi các hạt có hành vi giống như sóng, và
đôi khi các sóng có hành vi giống như hạt.
Lực
yếu (weak force): Lực yếu thứ nhì trong số bốn lực cơ bản,
với tầm xa rất ngắn. Lực này ảnh hưởng tới tất cả
các hạt vật chất, nhưng không ảnh hưởng tới các hạt
mang kèm lực.
Trọng
lượng (weight): Lực tác động lên một vật thể bởi trường
hấp lực. Lực này có tỷ lệ thuận với khối lượng của
vật thể, nhưng không giống hệt khối lượng.
Bạch
tiểu tinh (white dwarf): Một tinh tú nguội lạnh được chống
đỡ bởi lực đẩy giữa các điện tử theo nguyên lý loại
trừ.