CHƯƠNG
8
NGUỒN
GỐC VÀ VẬN MỆNH CỦA VŨ TRỤ
Thuyết
tương đối tổng quát của Einstein, riêng nó, tiên đoán rằng
không-thời gian đã khởi đầu ở điểm kỳ dị nổ lớn
(big bang singularity) và sẽ đi tới một chung cuộc hoặc ở
điểm kỳ dị sụp đổ lớn (nếu toàn thể vũ trụ lại
sụp đổ), hoặc ở một điểm kỳ dị bên trong một hố
đen (nếu riêng một khu vực nào đó, như một ngôi sao, sụp
đổ). Bất cứ vật chất nào rơi vào hố cũng sẽ bị hủy
diệt ở điểm kỳ dị, và chỉ còn hiệu ứng hấp lực của
khối lượng của nó là tiếp tục được cảm nhận từ bên
ngoài. Mặt khác, khi xét tới cả các hiệu ứng lượng tử,
có vẻ như khối lượng hoặc năng lượng của vật chất
cuối cùng sẽ được trả lại cho phần còn lại của vũ
trụ, và rằng cái hố đen, cùng với bất cứ điểm kỳ dị
nào bên trong nó, sẽ bốc hơi và cuối cùng biến mất. Có
thể cơ học lượng tử có một hậu quả giống nhau về những
điểm kỳ dị nổ lớn và điểm kỳ dị sụp đổ lớn hay
không? Điều gì thực sự xảy ra ngay ở những giai đoạn
đầu hoặc cuối của vũ trụ, khi các trường hấp lực mạnh
đến độ các hậu quả lượng tử không thể bị bỏ qua?
Vũ trụ quả thực có một khởi thủy hoặc một chung cuộc
hay không? Và nếu có, chúng giống như cái gì?
Trong
suốt thập niên 1970, tôi chủ yếu nghiên cứu các hố đen,
nhưng vào năm 1981 sự lưu tâm của tôi vào những vấn đề
nguồn gốc và số phận của vũ trụ lại thức dậy khi tôi
tham dự một hội nghị về vũ trụ học được tổ chức
bởi các tu sĩ Dòng Jesuit ở Vatican. Giáo Hội Thiên Chúa đã
phạm một sai lầm lớn đối với Galileo khi họ cố áp đặt
luật lệ lên một vấn đề khoa học, khi tuyên bố rằng mặt
trời xoay quanh trái đất. Ngày nay, hàng thế kỷ sau, họ đã
quyết định mời một số các chuyên viên tới để cố vấn
về vũ trụ học. Vào cuối cuộc hội nghị, những người
tham dự đã được diện kiến với giáo hoàng. Ngài nói với
chúng tôi rằng không có gì trở ngại khi nghiên cứu sự tiến
hóa của vũ trụ sau vụ nổ lớn, nhưng chúng tôi không nên
tìm hiểu chính vụ nổ lớn bởi vì đó là lúc Sáng Thế
và vì vậy đó là công việc của Thượng Đế. Tới lúc đó
tôi lấy làm mừng vì ngài đã không biết cái đề tài nói
chuyện mà tôi mới đưa ra tại cuộc hội nghị -- có thể
rằng không-thời gian hữu hạn nhưng không có biên giới, có
nghĩa rằng nó không có khởi đầu, không có lúc Sáng Thế.
Tôi không muốn cùng chung số phận với Galileo, người mà
tôi cảm thấy rất gần gũi, một phần vì sự trùng hợp
là tôi đã sinh ra đúng 300 năm sau cái chết của ông.
Để
giải thích những ý tưởng mà tôi và những người khác đã
nghĩ về chuyện cơ học lượng tử có thể ảnh hưởng tới
nguồn gốc và vận mệnh của vũ trụ như thế nào, trước
hết cần phải hiểu lịch sử của vũ trụ theo như nhiều
người đã chấp nhận, theo những gì được biết như là
"mô hình nổ lớn nóng." Mô hình này cho rằng vũ trụ được
mô tả bởi một mô hình Friedmann, ngược trở lại vụ nổ
lớn. Trong những mô hình như vậy, người ta thấy rằng khi
vũ trụ bành trướng, bất cứ vật chất hay sự bức xạ
nào trong đó sẽ nguội đi. (Khi vũ trụ lớn gấp đôi, nhiệt
độ của nó giảm đi một nửa.) Bởi vì nhiệt độ chỉ
là một số đo của năng lượng trung bình -- hay tốc độ
-- của các hạt, sự kiện vũ trụ nguội đi này sẽ có một
ảnh hưởng lớn lao đối với vật chất trong đó. Ở các
nhiệt độ thật cao, các hạt sẽ quay tròn nhanh đến độ
chúng có thể thoát được bất cứ sự thu hút nào về phía
nhau bởi các lực hạt nhân hoặc điện từ, nhưng khi chúng
nguội lại người ta sẽ nghĩ rằng những hạt thu hút lẫn
nhau bắt đầu tụ lại với nhau. Hơn nữa, ngay cả những
loại hạt hiện hữu trong vũ trụ cũng phụ thuộc vào nhiệt
độ. Ở những nhiệt độ đủ cao, những hạt mang nhiều
năng lượng đến độ mỗi khi chúng va chạm, nhiều cặp hạt/phản
hạt khác nhau sẽ được tạo ra -- và mặc dù một vài trong
số những hạt này sẽ biến đi khi đụng vào các phản hạt,
chúng sẽ được tạo ra nhanh hơn là chúng có thể biến mất.
Tuy nhiên, ở những nhiệt độ thấp hơn, khi các hạt va chạm
có ít năng lượng hơn, những cặp hạt/phản hạt sẽ được
tạo ra chậm hơn -- và sự biến đi sẽ trở thành nhanh hơn
sự sản xuất.
Tại
chính vụ nổ lớn, người ta nghĩ vũ trụ phải có cỡ số
không, và do đó phải nóng vô hạn. Nhưng khi vũ trụ bành
trướng, nhiệt độ của sự phát xạ giảm đi. Một giây
sau vụ nổ lớn, nó sẽ giảm còn khoảng mười ngàn triệu
độ. Nhiệt độ này vào khoảng một ngàn lần nhiệt độ
tại trung tâm của mặt trời, nhưng các nhiệt độ cao như
vậy đạt được trong những vụ nổ bom khinh khí. Vào lúc
này vũ trụ sẽ phải chứa phần lớn là các quang tử, điện
tử, và neutrino (những hạt cực kỳ nhẹ chỉ chịu ảnh hưởng
bởi lực yếu và hấp lực) và các phản hạt của chúng,
cùng với một số proton (chất tử) và trung hòa tử. Khi vũ
trụ tiếp tục bành trướng và nhiệt độ tiếp tục hạ,
nhịp độ mà các cặp điện tử/phản điện tử được tạo
ra trong những vụ va chạm sẽ hạ xuống dưới nhịp độ
mà chúng bị hủy diệt do triệt tiêu lẫn nhau. Do đó hầu
hết các điện tử và phản điện tử sẽ tiêu diệt lẫn
nhau để sản xuất ra các quang tử, chỉ để lại một ít
điện tử. Tuy nhiên các neutrino (trung vi tử) và phản neutrino
sẽ không triệt tiêu nhau, bởi vì những hạt này chỉ tương
tác với nhau và với những hạt khác một cách rất yếu.
Do đó chúng vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Nếu chúng
ta có thể quan sát chúng, đây sẽ là một kiểm nghiệm tốt
cho hình ảnh của vũ trụ ở giai đoạn đầu nóng đỏ này.
Đáng tiếc là năng lượng của chúng ngày nay quá yếu để
chúng ta có thể quan sát chúng một cách trực tiếp. Tuy nhiên,
nếu các neutrino không phải là không có khối lượng, mà có
một khối lượng nhỏ, như được đề xướng bởi một thí
nghiệm không được xác nhận của người Nga thực hiện vào
năm 1981, chúng ta có thể phát hiện chúng một cách gián tiếp:
chúng có thể là một hình thức "chất tối," như đã được
đề cập trước đây, với hấp lực đủ để làm ngưng sự
bành trướng của vũ trụ và khiến vũ trụ lại sụp đổ.
Khoảng
một trăm giây sau vụ nổ lớn, nhiệt độ sẽ hạ còn một
ngàn triệu độ, bằng nhiệt độ bên trong những ngôi sao
nóng nhất. Ở nhiệt độ này các quang tử và trung hòa tử
sẽ không còn đủ năng lượng để thoát sự hấp dẫn của
những lực hạt nhân mạnh, và sẽ bắt đầu kết hợp với
nhau để sinh ra các nhân của các nguyên tử deuterium (khinh
khí nặng), chứa một proton và một trung hòa tử. Nhân deuterium
sau đó sẽ kết hợp thêm các proton và trung hòa tử để làm
thành nhân helium, chứa hai proton và hai trung hòa tử, và còn
thêm một lượng nhỏ các cặp nguyên tố nặng hơn, là lithium
và berryllium. Người ta có thể tính toán rằng trong mô hình
nổ lớn nóng, khoảng một phần tư các proton và trung hòa
tử sẽ phải chuyển thành các nhân helium, cùng với một lượng
nhỏ khinh khí nặng và các nguyên tố khác. Các trung hòa tử
còn lại sẽ phân rã thành các proton, là nhân của các nguyên
tử khinh khí bình thường.
Hình
ảnh một giai đoạn đầu nóng của vũ trụ được đề xướng
lần đầu bởi khoa học gia George Gamow trong một tài liệu
nổi tiếng được viết năm 1948 với một học trò của ông,
Ralph Alpher. Gamow quả đã có óc khôi hài -- ông đã thuyết
phục khoa học gia hạt nhân Hans Bethe để thêm tên ông ta vào
tài liệu để tên các tác giả trở thành "Alpher, Bethe, Gamow,"
giống như ba mẫu tự đầu tiên của bảng mẫu tự Hy Lạp,
alpha, beta, gamma: đặc biệt thích hợp cho một tài liệu nói
về sự khởi đầu của vũ trụ! Trong tài liệu này họ đã
đưa ra sự tiên đoán quan trọng là sự bức xạ (dưới hình
thức các quang tử) ngay từ những giai đoạn rất nóng lúc
đầu của vũ trụ phải vẫn còn phải tồn tại đâu đây
ngày nay, nhưng với nhiệt độ của nó giảm chỉ còn vài
độ trên không độ tuyệt đối (-273? C). Đây chính là sự
bức xạ mà Penzias và Wilson đã tìm ra năm 1965. Vào lúc mà
Alpher, Bethe và Gamow viết tài liệu của họ, người ta không
biết nhiều về những phản ứng hạt nhân của các proton
và trung hòa tử. Những tiên đoán về tỉ lệ các nguyên tố
khác nhau trong vũ trụ sơ khai do đó không chính xác mấy, nhưng
những tính toán này đã được lập lại theo sự hiểu biết
tốt hơn và hiện giờ rất phù hợp với những gì mà chúng
ta quan sát. Hơn nữa, rất khó giải thích bằng bất cứ đường
lối nào khác tại sao phải có nhiều helium như vậy trong vũ
trụ. Do đó chúng ta khá tự tin rằng chúng ta đang có hình
ảnh đúng, ít nhất ngược lại khoảng 1 giây đồng hồ sau
vụ nổ lớn.
Chỉ
trong vòng vài giờ sau vụ nổ lớn, việc sản xuất ra helium
và những nguyên tố khác sẽ ngưng lại. Và sau đó, trong khoảng
một triệu năm kế tiếp, vũ trụ vẫn tiếp tục bành trướng,
không có gì nhiều xảy ra. Cuối cùng, một khi nhiệt độ
đã giảm còn vài ngàn độ, và các điện tử và nhân không
còn đủ năng lượng để thắng thế sự thu hút điện từ
giữa chúng với nhau, chúng khởi sự kết hợp lại để làm
thành các nguyên tử. Tổng thể vũ trụ tiếp tục bành trướng
và nguội lại, nhưng ở những khu vực hơi đậm đặc hơn
mức trung bình, sự bành trướng sẽ phải chậm lại bởi
sự hấp dẫn của trọng lực mạnh hơn nơi khác. Điều này
cuối cùng sẽ làm ngưng sự bành trướng tại vài khu vực
và khiến chúng khởi sự suy sụp trở lại. Khi chúng suy sụp,
sức kéo trọng lực của vật chất bên ngoài những khu vực
này có thể khiến chúng khởi sự quay nhẹ. Khi khu vực sụp
đổ trở thành nhỏ hơn, nó sẽ quay nhanh hơn -- giống như
những người trượt băng quay tròn trên băng nhanh hơn khi họ
thu hai cánh tay lại. Cuối cùng, khi khu vực trở thành đủ
nhỏ, nó sẽ quay đủ nhanh để cân bằng sức thu hút của
trọng lực, và bằng cách này những thiên hà quay hình đĩa
đã được sinh ra. Những khu vực khác, không khởi sự quay,
sẽ trở thành những vật thể hình bầu dục gọi là những
thiên hà hình e-líp. Trong những thiên hà này, khu vực sẽ
ngưng suy sụp bởi vì những phần riêng rẽ của thiên hà
sẽ quay tròn một cách ổn định chung quanh trung tâm của nó,
nhưng thiên hà sẽ không quay toàn thể.
Khi
thời gian trôi qua, khinh khí và khí helium trong thiên hà tách
ra thành những đám mây nhỏ hơn và co sụp dưới trọng lực
của chúng. Khi những đám mây này co rút lại, và những nguyên
tử bên trong chúng va chạm với nhau, nhiệt độ của chất
khí sẽ tăng lên, cho tới khi cuối cùng nó trở thành đủ
nóng để khởi sự các phản ứng tổng hợp hạt nhân. Những
phản ứng này sẽ biến đổi khinh khí thành nhiều helium hơn,
và sức nóng phát ra sẽ làm tăng áp suất, và do đó làm các
đám mây ngưng co rút thêm nữa. Chúng vẫn ổn định trong
trạng thái này trong một thời gian dài như những ngôi sao
giống mặt trời của chúng ta, khi đốt khinh khí thành helium
và phát ra năng lượng dưới hình thức nhiệt và ánh sáng.
Những ngôi sao khối lượng lớn hơn sẽ cần phải nóng nhiều
hơn để cân bằng hấp lực mạnh hơn của chúng, khiến các
phản ứng tổng hợp hạt nhân diễn ra nhanh hơn đến độ
chúng sẽ sử dụng hết số khinh khí của chúng chỉ trong
vòng một trăm triệu năm. Khi đó chúng co rút lại một chút,
và khi chúng nóng thêm, sẽ khởi sự chuyển đổi helium thành
những nguyên tố nặng hơn như carbon và dưỡng khí (oxygen).
Tuy nhiên, việc này sẽ không thải ra nhiều năng lượng, do
đó một cuộc khủng hoảng sẽ xảy ra, như đã được mô
tả trong chương nói về các hố đen. Những gì xảy ra tiếp
theo thì không hoàn toàn minh bạch, nhưng có thể là những
khu vực trung tâm của ngôi sao sẽ sụp đổ tới một trạng
thái thật đậm đặc, như một ngôi sao trung hòa tử hoặc
hố đen. Những khu vực bên ngoài của ngôi sao đôi khi có
thể bị nổ tung trong một vụ nổ mạnh gọi là một vụ
nổ siêu tân tinh (supernova), sẽ sáng hơn mọi ngôi sao khác
trong thiên hà của nó. Một vài trong số những nguyên tố
nặng hơn được sinh ra vào lúc gần cuối cuộc đời của
một ngôi sao sẽ bị biến trở lại thành khí trong thiên hà,
và sẽ cung cấp một vài trong số nguyên liệu để làm thành
thế hệ các ngôi sao mới. Mặt trời của chúng ta chứa vào
khoảng 2 phần trăm những nguyên tố nặng hơn này bởi vì
nó là một ngôi sao ở thế hệ thứ hai hoặc thứ ba, được
hình thành khoảng năm ngàn triệu năm về trước từ một
đám mây gồm chất khí quay tròn chứa vật chất vương vãi
của những vụ nổ siêu tân tinh trước đó. Hầu hết chất
khí trong đám tinh vân đó đã làm thành mặt trời hoăïc bị
thổi bay đi, nhưng một lượng nhỏ các nguyên tố nặng hơn
đã tập hợp lại với nhau để làm thành các vật thể hiện
giờ quay chung quanh mặt trời với tính cách các hành tinh như
trái đất.
Trái
đất lúc đầu rất nóng và không có bầu khí quyển. Theo
thời gian nó nguội đi và có một bầu khí quyển phát sinh
từ sự thoát các chất hơi từ đá. Bầu khí quyển ban đầu
này không phải là bầu khí quyển mà chúng ta có thể sống
trong đó. Nó không chứa dưỡng khí, mà chứa nhiều các chất
khí khác độc hại đối với chúng ta, như chất hydrogen sulfide
(chất khí phát ra mùi trứng thối). Tuy nhiên, có những hình
thức sơ khai khác của đời sống có thể phát triển dưới
những điều kiện này. Người ta cho rằng chúng đã phát triển
ở các đại dương, có thể như là kết quả của những sự
phối hợp tình cờ các nguyên tử thành những cơ cấu lớn
hơn, gọi là các đại phân tử (macromolecule), có khả năng
kết hợp các nguyên tử khác trong đại dương thành những
cơ cấu tương tự. Chúng tự sinh sôi nảy nở. Trong vài trường
hợp sẽ có những lầm lẫn trong sự sinh sản. Hầu hết những
lầm lẫn này trầm trọng đến nỗi phân tử mới không thể
tự sinh sản và cuối cùng bị hủy diệt. Tuy nhiên, một ít
những lầm lẫn này đã sinh ra những đại phân tử mới tốt
hơn trong việc tự sinh sản. Do đó chúng đãõ có một lợi
thế và đãõ có khuynh hướng thay thế các đại phân tử
nguyên thủy. Theo đường lối này một tiến trình tiến hóa
đã khởi sự, đưa tới sự phát triển các sinh vật tự sinh
sản ngày càng phức tạp hơn. Những hình thức sơ khai của
đời sống đã tiêu thụ những vật liệu khác nhau, kể cả
chất hydrogen sulfide, và thải ra dưỡng khí. Điều này dần
dần đã thay đổi bầu khí quyển thành một tổng hợp mà
nó có ngày nay và cho phép phát triển những hình thức đời
sống cao hơn như cá, loài bò sát, loài có vú, và cuối cùng
là loài người.
Hình
ảnh này của một vũ trụ khởi đầu thật nóng và nguội
dần khi bành trướng phù hợp với mọi bằng chứng quan sát
mà chúng ta có ngày nay. Tuy nhiên, còn một số câu hỏi quan
trọng chưa được giải đáp:
(1)
Tại sao vũ trụ ban đầu lại nóng như thế?
(2)
Tại sao vũ trụ lại đồng nhất như vậy, khi xét trên đại
quy mô? Tại sao nó trông như nhau tại mọi điểm của không
gian và theo mọi hướng? Đặc biệt, tại sao nhiệt độ của
bối cảnh bức xạ vi ba lại gần giống nhau như vậy khi chúng
ta nhìn về những hướng khác nhau? Đyếu này hơi giống như
hỏi một số các học sinh một câu hỏi khảo thí. Nếu tất
cả họ đều cho một câu trả lời đúng như nhau, bạn có
thể khá chắc chắn họ thông tin cho nhau. Tuy nhiên, trong mô
hình được mô tả ở trên, đã không có thời gian kể từ
vụ nổ lớn để ánh sáng từ một khu vực xa tới một khu
vực khác, mặc dù các khu vực nằm gần nhau ở vũ trụ sơ
khai. Theo thuyết tương đối, nếu ánh sáng không thể đi từ
một khu vực này tới một khu vực khác, các thông tin khác
cũng không thể truyền đi được. Do đó không có cách nào
để các khu vực khác nhau ở vũ trụ sơ khai có thể đạt
tới cùng nhiệt độ như nhau, trừ phi vì một lý do nào đó
không được giải thích chúng tình cờ khởi đầu với cùng
nhiệt độ.
(3)
Tại sao vũ trụ khởi đầu với nhịp độ bành trướng gần
mức tới hạn như thế, khiến có những mô hình sẽ suy sụp
và có những mô hình tiếp tục bành trướng mãi mãi, để
ngay cả bây giờ, mười ngàn triệu năm sau, nó vẫn đang bành
trướng với mức độ gần như tới hạn? Nếu nhịp độ
bành trướng một giây sau vụ nổ lớn nhỏ hơn dù một phần
của một trăm ngàn triệu triệu, vũ trụ đãõ sụp đổ trở
lại trước khi nó đạt tới cỡ hiện nay.
(4)
Mặc dù vũ trụ đồng nhất và giống nhau như vậy trên một
tầm mức quy mô, nó chứa những bất thường có tính cách
khu vực, như các ngôi sao và các thiên hà. Người ta cho rằng
những vật thể này đã phát triển từ những khác biệt nhỏ
về mật độ của vũ trụ sơ khai ở khu vực này so với khu
vực kia. Nguồn gốc của những biến động về mật độ
này là gì?
Thuyết
tương đối tổng quát, một mình nóù, không thể giải thích
những đặc điểm này hoặc trả lời những câu hỏi này
bởi vì nó tiên đoán rằng vũ trụ đã khởi đầu với mật
độ vô hạn ở điểm kỳ dị nổ lớn. Ở tình trạng điểm
kỳ dị, thuyết tương đối tổng quát và mọi định luật
vật lý khác sẽ sụp đổ: người ta không thể tiên đoán
điều gì sẽ phát sinh từ điểm kỳ dị. Như đã được
giải thích trước đây, điều này có nghĩa là người ta cũng
có thể loại bỏ vụ nổ lớn, và bất cứ biến cố nào
trước nó, ra khỏi lý thuyết, bởi vì chúng có thể không
có hậu quả nào đối với những gì mà chúng ta quan sát.
Không-thời gian có một biên giới -- một sự khởi đầu vào
lúc xẩy ra vụ nổ lớn.
Khoa
học có vẻ đã khám phá một bộ các định luật mà, trong
những giới hạn được ấn định bởi nguyên tắc bất định,
cho chúng ta biết vũ trụ sẽ phát triển như thế nào theo
thời gian, nếu chúng ta biết tình trạng của nó ở bất cứ
thời điểm nào. Những định luật này có thể lúc đầu
đã được đặt ra bởi Thượng Đế, nhưng hình như từ đó
ngài đã để mặc cho vũ trụ tiến hóa theo các định luật
và hiện giờ không can thiệp vào. Nhưng ngài đã lựa chọn
tình trạng hay hình dạng sơ khai của vũ trụ như thế nào?
Những "điều kiện biên giới" vào lúc khởi đầu thời gian
là gì?
Có
thể trả lời rằng Thượng Đế đã chọn hình dung sơ khởi
của vũ trụ vì những lý do mà chúng ta không thể hy vọng
hiểu được. Điều này chắc chắn đã nằm trong khả năng
của một đấng toàn năng, nhưng nếu ngài đã khởi đầu
nó theo một cách không thể hiểu nổi như vậy, tại sao còn
để nó tiến hóa theo các định luật mà chúng ta hiểu được?
Toàn thể lịch sử của khoa học đã là sự nhận thức dần
dần rằng các biến cố không xảy ra một cách tùy tiện,
nhưng rằng chúng phản ảnh một số trật tự rõ rệt nào
đó, có thể hay không thể gây ra bởi thần thánh. Sẽ chỉ
là một điều tự nhiên khi giả định rằng trật tự này
phải áp dụng không những cho các định luật, mà còn cho
những điều kiện tại biên giới của không-thời gian mà
tình trạng sơ khai của vũ trụ được ấn định. Có thể
có một số lớn các mô hình vũ trụ với những điều kiện
sơ khai khác nhau mà tất cả đều tuân theo các định luật.
Phải có nguyên tắc nào đó đã lựa chọn một tình trạng
sơ khai, và từ đó một mô hình, để mô tả vũ trụ của
chúng ta.
Một
sự khả dĩ như vậy là những gì được gọi là các điều
kiện biên giới hỗn loạn. Những điều kiện này giản dị
cho rằng hoặc vũ trụ vô tận về không gian hoặc có vô số
vũ trụ trụ tới mức vô tận.Theo các điều kiện biên giới
hỗn loạn, xác suất tìm được bất cứ khu vực không gian
đặc biệt nào trong bất cứ hình thể nào ngay sau vụ nổ
lớn cũng giống như, theo một nghĩa nào đó, xác suất tìm
ra nó trong bất cứ hình thể nào khác: tình trạng sơ khai
của vũ trụ được lựa chọn thuần túy một cách tình cờ.
Điều này sẽ có nghĩa rằng vũ trụ ban đầu có thể đã
rất hỗn loạn và bất thường bởi vì có nhiều hình dạng
của vũ trụ hỗn loạn hơn và mất trật tự hơn so với những
hình dạng trơn tru và trật tự. (Nếu mỗi hình dạng đều
có xác suất bằng nhau, có lẽ vũ trụ đã khởi đầu ở
một tình trạng hỗn loạn và mất trật tự, giản dị bởi
vì có quá nhiều hình dạng như vậy.) Thật khó chấp nhận
làm thế nào những điều kiện sơ khởi hỗn loạn như vậy
có thể đưa tới một vũ trụ trơn tru và bình thường trên
một tầm cỡ quy mô như vũ trụ của chúng ta ngày nay. Người
ta cũng sẽ trông đợi những biến động về mật độ trong
một mô hình như vậy phải đưa tới việc hình thành những
hố đen nguyên thủy nhiều hơn nhiều so với mức tối đa
đã được đặt ra bởi những quan sát bối cảnh tia gamma.
Nếu
vũ trụ quả thật vô hạn về không gian, hoặc nếu vũ trụ
nhiều vô số, có thể sẽ có vài khu vực rộng lớn ở đâu
đó đã khởi đầu trong một trạng thái trơn tru và đồng
nhất. Nó cũng hơi giống như bầy khỉ gõ hoài trên các máy
đánh chữ -- hầu hết những gì chúng viết ra sẽ đều là
rác rưởi, nhưng hi hữu thuần túy do tình cờ chúng đánh
ra một trong những bài thơ ngắn của Shakespeare. Tương tự
như vậy, trong trường hợp vũ trụ, liệu có thể rằng chúng
ta đang sống trong một khu vực chỉ vì tình cờ mà trơn tru
và đồng nhất hay không? Mới nhìn qua điều này có vẻ rất
khó xảy ra, bởi vì những khu vực trơn tru như vậy sẽ bị
tràn ngập bởi những khu vực hỗn loạn và không đều. Tuy
nhiên, giả sử rằng chỉ ở những khu vực trơn tru các thiên
hà và các ngôi sao mới được hình thành và các điều kiện
trở nên thích hợp cho sự phát triển các sinh vật phức tạp
tự sinh sản như chúng ta, những sinh vật có khả năng đặt
ra câu hỏi: Tại sao vũ trụ lại trơn tru như vậy? Đây là
một thí dụ của sự áp dụng điều được gọi là nguyên
tắc vị nhân chủng, có thể được diễn tả bằng câu "Chúng
ta thấy vũ trụ như ngày nay bởi vì chúng ta hiện hữu."
Có
hai phiên bản của nguyên tắc vị nhân chủng, nguyên tắc
yếu và nguyên tắc mạnh. Nguyên tắc vị nhân chủng yếu
nói rằng trong một vũ trụ lớn hoặc vô hạn về không gian
và thời gian, các điều kiện cần thiết cho sự phát triển
đời sống thông minh sẽ chỉ đạt được trong một số khu
vực giới hạn về không gian và thời gian. Các sinh vật thông
minh trong những khu vực này do đó sẽ không bị ngạc nhiên
nếu họ quan sát thấy rằng nơi chốn của họ trong vũ trụ
thỏa mãn những điều kiện cần thiết cho sự hiện hữu
của họ. Nó hơi giống như một người giầu sinh sống trong
một khu nhà giầu không nhìn thấy sự nghèo khó nào cả.
Một
thí dụ của việc sử dụng nguyên tắc vị nhân chủng yếu
là để "giải thích" tại sao vụ nổ lớn đã xảy ra mười
ngàn triệu năm về trước -- nó cần thời gian dài như thế
để các sinh vật thông minh tiến hóa. Như đã được giải
thích ở trên, một thế hệ ban đầu các ngôi sao trước hết
phải hình thành. Những ngôi sao này đã biến đổi một số
khinh khí và helium nguyên thủy thành các nguyên tố như carbon
và dưỡng khí, từ đó chúng ta được cấu tạo. Các ngôi
sao sau đó nổ như những vụ nổ siêu tân tinh, và những mảnh
vụn của chúng làm thành những ngôi sao khác và các hành tinh,
trong số đó có các ngôi sao và hành tinh của Thái Dương Hệ
chúng ta, khoảng năm ngàn triệu năm tuổi. Một hoặc hai ngàn
triệu năm đầu của sự hiện hữu của trái đất đã quá
nóng cho sự phát triển bất cứ cái gì phức tạp. Khoảng
ba ngàn triệu năm còn lại đã âm ỉ tiến trình tiến hóa
sinh học, đã từ những sinh vật đơn giản nhất đưa tới
những sinh vật có khả năng đo lường thời gian ngược trở
lại vụ nổ lớn.
Ít
ai tranh cãi về sự hợp lý hoặc ích lợi của nguyên tắc
vị nhân chủng yếu. Tuy nhiên, vài người còn đi xa hơn nhiều
và đề xuất một loại nguyên tắc vị nhân chủng mạnh.
Theo thuyết này, hoặc có nhiều vũ trụ khác nhau hoặc nhiều
khu vực khác nhau trong một vũ trụ duy nhất, mỗi khu vực
có hình dạng sơ khởi riêng và, có thể, có những bộ định
luật khoa học riêng. Trong hầu hết các vũ trụ này những
điều kiện sẽ không thích hợp cho sự phát triển các sinh
vật phức tạp; chỉ trong một số ít các vũ trụ giống như
vũ trụ của chúng ta các sinh vật thông minh mới phát triển
và đặt ra câu hỏi: "Tại sao vũ trụ lại như chúng ta nhìn
thấy?" Câu trả lời khi đó sẽ đơn giản: Nếu nó khác,
chúng ta sẽ không ở đây!
Các
định luật khoa học, như chúng ta biết hiện nay, chứa nhiều
con số căn bản, như cỡ các điện tích của điện tử và
tỉ số các khối lượng của proton và điện tử. Chúng ta
không thể, ít ra là vào lúc này, từ lý thuyết tiên đoán
được các trị số của những con số này -- chúng ta phải
tìm ra chúng bằng sự quan sát. Có thể rằng một ngày nào
đó chúng ta sẽ khám phá ra một lý thuyết thống nhất hoàn
chỉnh tiên đoán được tất cả những trị số đó, nhưng
cũng có thể rằng một vài hoặc tất cả những trị số
đó thay đổi từ vũ trụ này với vũ trụ khác hoặc bên
trong một vũ trụ duy nhất. Sự kiện đáng chú ý là các trị
số của những con số này có vẻ đã được điều chỉnh
rất tỉ mỉ để làm cho sự phát triển đời sống có thể
xảy ra. Chẳng hạn nếu điện tích của điện tử chỉ khác
đi chút ít, các ngôi sao hoặc đã không thể đốt khinh khí
và helium, hoặc nếu không chúng đã không nổ. Dĩ nhiên, có
thể có những hình thức đời sống thông minh khác, ngay cả
các nhà văn viết truyện khoa học giả tưởng cũng không tưởng
tượng nổi, không đòi hỏi ánh sáng của một ngôi sao như
mặt trời hoặc những nguyên tố hóa học nặng hơn được
cấu tạo ở các ngôi sao và bị bắn trở lại vào không gian
khi các ngôi sao nổ. Tuy nhiên, có vẻ rõ ràng là có một số
tương đối ít các trị số cho các con số cho phép sự phát
triển của bất cứ hình thức đời sống thông minh nào. Hầu
hết các bộ trị số sẽ đưa tới những vũ trụ mà trong
đó, mặc dù chúng có thể rất đẹp, sẽ không chứa sinh
vật để chiêm ngưỡng cái đẹp đó. Người ta có thể coi
đây như là bằng chứng của một mục tiêu thần thánh trong
sự Sáng Thế và sự lựa chọn những định luật khoa học
hoặc như sự hỗ trợ cho nguyên tắc vị nhân chủng mạnh.
Có
một số những phản đối mà người ta có thể nêu lên đối
với nguyên tắc vị nhân chủng mạnh như một sự giải thích
trạng thái của vũ trụ đã được quan sát. Trước hết,
theo ý nghĩa nào mà tất cả những vũ trụ khác nhau này có
thể được nói là hiện hữu? Nếu chúng thực sự tách biệt
với nhau, những gì xảy ra trong một vũ trụ khác có thể
không có những hậu quả khả dĩ quan sát được trong vũ trụ
của chúng ta. Do đó chúng ta phải sử dụng nguyên tắc tiết
kiệm và loại chúng khỏi lý thuyết. Nếu, mặt khác, chúng
chỉ là những khu vực khác nhau của một vũ trụ duy nhất,
các định luật khoa học sẽ như nhau trong mỗi khu vực, bởi
vì nếu không người ta không thể di chuyển liên tục từ
một khu vực này sang một khu vực khác. Trong trường hợp
này, sự khác biệt duy nhất giữa các khu vực sẽ là hình
dạng sơ khởi của chúng và do đó nguyên tắc vị nhân chủng
mạnh sẽ giảm xuống thành nguyên tắc yếu.
Một
sự phản đối thứ nhì đối với nguyên tắc vị nhân chủng
mạnh là nó chống lại ngọn triều của toàn thể lịch sử
khoa học. Chúng ta đã tiến triển từ các môn vũ trụ học
của Ptolemy và những người đi trước ông, coi trái đất
là trung tâm, qua vũ trụ học của Copernicus và Galileo, coi mặt
trời là trung tâm, tới hình ảnh thời nay trong đó trái đất
là một hành tinh cỡ trung bình quay chung quanh một ngôi sao
cỡ trung bình ở ngoài ven của một thiên hà xoắn ốc bình
thường, chính thiên hà này cũng chỉ là một trong khoảng
một triệu triệu thiên hà trong vũ trụ có thể quan sát được.
Vậy mà nguyên tắc vị nhân chủng mạnh nói rằng toàn thể
kiến trúc rộng lớn này hiện hữu giản dị để phục vụ
chúng ta. Điều này thật khó mà tin được. Thái Dương Hệ
này chắc chắn là một tiền đề cho sự hiện hữu của chúng
ta, và người ta có thể nới rộng điều này cho toàn thể
thiên hà của chúng ta để cho phép một thế hệ các ngôi
sao trước đây tạo ra những nguyên tố nặng hơn. Nhưng có
vẻ không có nhu cầu nào cho tất cả những thiên hà khác,
cũng như để cho vũ trụ đồng nhất và tương tự ở mọi
hướng trên một tầm mức lớn.
Người
ta sẽ cảm thấy hài lòng hơn về nguyên tắc vị nhân chủng,
ít ra là ở thể yếu, nếu người ta có thể chứng tỏ rằng
một số các hình dạng sơ khởi khác nhau gán cho vũ trụ sẽ
phải tiến hóa để sản xuất một vũ trụ như cái vũ trụ
mà chúng ta quan sát. Nếu trường hợp này đúng, một vũ trụ
phát triển từ một loại những điều kiện sơ khởi tình
cờ nào đó sẽ phải chứa đựng một số khu vực trơn tru
và đồng đều và thích hợp cho sự tiến hóa của đời sống
thông minh. Mặt khác, nếu tình trạng sơ khởi của vũ trụ
phải được lựa chọn một cách hết sức thận trọng để
đưa tới cái giống như những gì chúng ta nhìn thấy chung
quanh chúng ta, vũ trụ sẽ khó chứa đựng bất cứ khu vực
nào trong đó đời sống sẽ xuất hiện. Trong mô hình nổ
lớn nóng được mô tả ở trên, không có đủ thời gian ở
vũ trụ ban đầu để nhiệt truyền từ khu vực này sang khu
vực khác. Điều này có nghĩa trạng thái ban đầu của vũ
trụ sẽ phải có nhiệt độ đúng y như nhau ở mọi nơi để
giải thích sự kiện rằng nền sóng ngắn có cùng nhiệt độ
ở mọi hướng mà chúng ta nhìn. Nhịp độ bành trướng ban
đầu cũng sẽ phải được lựa chọn thật chính xác để
nhịp độ bành trướng sẽ gần sát với nhịp độ tới hạn
cần thiết để tránh suy sụp trở lại. Điều này có nghĩa
là trạng thái sơ khởi của vũ trụ quả thật đã phải được
lựa chọn thật cẩn thận nếu mô hình nổ lớn nóng là đúng
từ lúc khởi thủy của thời gian. Sẽ rất khó giải thích
tại sao vũ trụ đã phải bắt đầu đúng như vậy, trừ phi
đó là hành động của một Thượng Đế muốn tạo ra những
sinh vật như chúng ta.
Trong
một cố gắng để tìm ra một mô hình vũ trụ trong đó nhiều
hình dạng sơ khởi khác nhau có thể đã tiến hóa tới tình
trạng như vũ trụ hiện nay, một khoa học gia tại Viện Kỹ
Thuật Học Massachusetts (MIT), Alan Guth, đã cho rằng vũ trụ
ban đầu có thể đã trải qua một thời kỳ bành trướng
rất nhanh. Sự bành trướng này được gọi là "lạm phát,"
nghĩa là có một lúc vũ trụ đã bành trướng theo một nhịp
độ ngày càng tăng thay vì nhịp độ giảm dần như ngày nay.
Theo Guth, bán kính của vũ trụ đã gia tăng gấp một triệu
triệu triệu triệu triệu (số 1 với ba mươi số không theo
sau) lần chỉ trong vòng một phần nhỏ của một giây.
Guth
cho rằng vũ trụ đã khởi đầu từ vụ nổ lớn trong một
tình trạng rất nóng, nhưng hơi hỗn loạn. Những nhiệt độ
cao này có nghĩa rằng các hạt trong vũ trụ đã di chuyển
rất nhanh và đãõ có các năng lượng cao. Như chúng ta đã
thảo luận trước đây, người ta sẽ trông đợi rằng ở
những nhiệt độ cao như vậy các lực hạt nhân mạnh và
yếu và lực điện từ sẽ thống nhất tất cả với nhau
thành một lực duy nhất. Khi vũ trụ bành trướng, nó sẽ
nguội lại, và các năng lượng hạt sẽ giảm đi. Cuối cùng
sẽ có điều được gọi là một sự chuyển tiếp pha (phase
transition) và sự đối xứng giữa các lực sẽ bị phá vỡ:
lực mạnh sẽ trở nên khác với các lực yếu và điện từ.
Một thí dụ thông thường của một sự chuyển tiếp pha là
sự đông đá của nước khi bạn làm nguội nó đi. Nước
lỏng có tính cách đối xứng, giống nhau ở mọi điểm và
mọi hướng. Tuy nhiên, khi các tinh thể nước đá hình thành,
chúng sẽ có những vị trí xác định và sẽ được sắp
xếp theo một hướng nào đó. Điều này phá vỡ sự đối
xứng của nước.
Trong
trường hợp nước, nếu người ta cẩn thận, người ta có
thể làm "siêu lạnh" nó, nghĩa là, người ta có thể giảm
nhiệt độ xuống dưới điểm đông đá (0o C) mà không làm
đông đá. Guth cho rằng vũ trụ có thể đã cư xử theo một
đường lối tương tự: nhiệt độ có thể hạ xuống dưới
trị số tới hạn mà sự đối xứng giữa các lực không
bị phá vỡ. Nếu điều này xảy ra, vũ trụ sẽ ở trong một
trạng thái không bền, với nhiều năng lượng hơn là nếu
sự đối xứng đã bị phá vỡ. Năng lượng phụ trội đặc
biệt này có thể được chứng tỏ là có một hậu quả phản
trọng lực: nó sẽ phản ứng giống như hằng số vũ trụ
mà Einstein đã đưa vào thuyết tương đối tổng quát khi ông
cố xây dựng một mô hình tĩnh cho vũ trụ. Bởi vì vũ trụ
đang bành trướng giống như trong một mô hình nổ lớn nóng,
tác dụng đẩy của hằng số vũ trụ này do đó đã làm cho
vũ trụ bành trướng với một nhịp độ ngày càng tăng. Ngay
cả trong những khu vực có nhiều hạt vật chất hơn mức
trung bình, sức hấp dẫn trọng lực của vật chất sẽ bị
đè bẹp bởi sức đẩy của tác dụng hằng số vũ trụ.
Do đó những khu vực này cũng sẽ bành trướng một cách quá
lạm phát. Khi chúng bành trướng và các hạt vật chất trở
nên càng xa nhau, sẽ còn một vũ trụ bành trướng khó còn
chứa đựng hạt nào mà vẫn còn ở trong tình trạng siêu
lạnh. Bất cứ sự bất thường nào trong vũ trụ sẽ giản
dị trở nên trơn tru do sự bành trướng, giống như những
vết nhăn trên một quả bóng trở nên nhẵn nhụi khi người
ta thổi phồng nó lên. Do đó tình trạng trơn tru và đồng
đều của vũ trụ có thể đã tiến hóa từ nhiều tình trạng
sơ khởi không đồng đều khác nhau.
Trong
một vũ trụ như vậy, trong đó sự bành trướng được gia
tốc bởi hằng số vũ trụ thay vì chậm lại bởi hấp dẫn
trọng lực của vật chất, sẽ có đủ thời gian để ánh
sáng di chuyển từ một khu vực này sang một khu vực khác
trong vũ trụ sơ khai. Điều này có thể cung cấp một giải
đáp cho vấn đề, được nêu lên trước đây, là tại sao
những khu vực khác nhau trong vũ trụ ban đầu đã có cùng
các tính chất. Hơn nữa, nhịp độ bành trướng của vũ trụ
sẽ tự động trở thành rất gần với nhịp độ tới hạn
định đoạt bởi mật độ năng lượng của vũ trụ. Điều
này do đó có thể giải thích tại sao nhịp độ bành trướng
vẫn còn gần với nhịp độ tới hạn, mà không phải giả
định rằng nhịp bành trướng ban đầu của vũ trụ đã được
lựa chọn thật cẩn thận.
Ý
niệm lạm phát có thể cũng giải thích được tại sao có
nhiều vật chất trong vũ trụ như vậy. Có vào khoảng mười
triệu triệu triệu triệu triệu triệu triệu triệu triệu
triệu triệu triệu triệu triệu (số 1 với 80 số không theo
sau) hạt ở trong khu vực vũ trụ mà chúng ta có thể quan sát.
Chúng tất cả đã từ đâu đến? Câu trả lời là, trong thuyết
lượng tử, các hạt có thể được tạo ra từ năng lượng
dưới hình thức những cặp hạt/phản hạt. Nhưng điều đó
lại đặt ra vấn đề năng lượng từ đâu mà ra. Câu trả
lời là năng lượng tổng cộng của vũ trụ vừa đúng bằng
số không. Vật chất trong vũ trụ được cấu tạo bởi năng
lượng dương. Tuy nhiên, vật chất tất cả đều tự hấp
dẫn bởi trọng lực. Hai mẩu vật chất nằm gần nhau có
ít năng lượng hơn là cũng hai mẩu đó nằm cách xa nhau, bởi
vì người ta phải tốn năng lượng để tách rời chúng chống
lại hấp lực kéo chúng lại gần nhau. Như vậy, theo một
nghĩa nào đó, trọng trường có năng lượng âm. Trong trường
hợp một vũ trụ gần như đồng đều trong không gian, người
ta có thể chứng tỏ rằng năng lượng hấp dẫn âm này vừa
đúng triệt tiêu năng lượng dương biểu hiện bởi vật chất.
Do đó năng lượng tổng cộng của vũ trụ là số không.
Mà
hai lần số không cũng là số không. Như vậy vũ trụ có thể
tăng gấp đôi số năng lượng vật chất dương và cũng tăng
gấp đôi năng lượng hấp dẫn âm mà không vi phạm sự bảo
tồn năng lượng. Điều này không xảy ra trong sự bành trướng
bình thường của vũ trụ trong đó mật độ năng lượng của
vật chất giảm đi khi vũ trụ trở nên lớn hơn. Tuy nhiên,
nó xảy ra trong sự bành trướng quá lạm phát bởi vì mật
độ năng lượng của tình trạng siêu lạnh vẫn không đổi
trong khi vũ trụ bành trướng: khi vũ trụ lớn gấp đôi, năng
lượng vật chất dương và năng lượng hấp dẫn âm cả hai
đều tăng gấp đôi, do đó năng lượng tổng cộng vẫn bằng
0. Trong giai đoạn quá lạm phát, vũ trụ gia tăng độ lớn
bởi một lượng rất lớn. Do đó số năng lượng tổng cộng
để làm ra các hạt trở nên rất lớn.
Vũ
trụ ngày nay không bành trướng theo kiểu quá lạm. Như vậy
phải có một cơ chế nào đó đã loại trừ hằng số vũ
trụ rất lớn và do đó thay đổi nhịp độ bành trướng
từ nhanh dần thành chậm dần bởi hấp lực, như chúng ta
có ngày nay. Trong sự bành trướng quá lạm phát người ta
có thể trông đợi rằng cuối cùng sự đối xứng giữa các
lực sẽ bị phá vỡ, giống như nước siêu lạnh cuối cùng
luôn luôn đông lại. Năng lượng phụ trội của tình trạng
đối xứng không bị phá vỡ khi đó sẽ được giải phóng
và sẽ làm nóng trở lại vũ trụ tới một nhiệt độ chỉ
dưới nhiệt độ tới hạn cho sự đối xứng giữa các lực.
Vũ trụ khi đó sẽ tiếp tục bành trướng và nguội lại
giống như mô hình nổ lớn nóng, nhưng bây giờ sẽ có một
sự giải thích tại sao vũ trụ lại bành trướng ở đúng
nhịp độ tới hạn và tại sao các khu vực khác nhau lại
có cùng nhiệt độ.
Trong
đề xuất sơ khởi của Guth sự chuyển tiếp pha được coi
như xảy ra bất ngờ, hơi giống như sự xuất hiện của các
tinh thể nước đá trong nước thật lạnh. Ông đã cho rằng
các "bong bóng" của giai đoạn mới của sự đối xứng bị
phá vỡ đã hình thành trong giai đoạn trước, giống như những
bong bóng hơi nước bị bao quanh bởi nước sôi. Những bong
bóng được cho là sẽ bành trướng và kết hợp với nhau
cho tới khi toàn thể vũ trụ ở trong giai đoạn mới. Điều
trục trặc là, như tôi và vài người khác đã vạch ra, vũ
trụ đã bành trướng nhanh đến độ dù cho các bong bóng lớn
lên với tốc độ ánh sáng, chúng sẽ di chuyển rời xa nhau
và do đó không thể kết hợp được. Vũ trụ sẽ ở trong
một tình trạng không đồng đều, với vài khu vực vẫn còn
có sự đối xứng giữa những lực khác nhau. Một mô hình
vũ trụ như vậy sẽ không phù hợp với những gì mà chúng
ta thấy.
Vào
tháng Mười năm 1981, tôi đã đi Moscow để tham dự một hội
nghị về hấp lực lượng tử, Sau hội nghị tôi đã tổ
chức một cuộc hội thảo về mô hình lạm phát và những
vấn nạn của nó tại Viện Thiên Văn Sternberg. Trước đó,
tôi đã nhờ người khác đọc giùm những bài viết của tôi,
bởi vì hầu hết mọi người không hiểu được giọng nói
của tôi. Nhưng đã không có thì giờ để sửa soạn cuộc
hội thảo này, do đó tôi đã tự đọc, với một trong số
những sinh viên tốt nghiệp của tôi nhắc lại lời tôi nói.
Cách đó rất tốt, và đã giúp tôi tiếp xúc được nhiều
hơn với thính giả của tôi. Trong đám thính giả có một
người Nga trẻ tuổi, Andrei Linde, thuộc Viện Lebedev ở Moscow.
Ông nói sự khó khăn về chuyện các bong bóng không thể kết
hợp với nhau có thể tránh được nếu các bong bóng lớn
đến độ khu vực vũ trụ của chúng ta tất cả đều được
chứa đựng bên trong một bong bóng duy nhất. Để điều này
xảy ra, sự thay đổi từ tình trạngï đối xứng tới tình
trạngï đối xứng bị phá vỡ phải đã diễn ra rất chậm
chạp bên trong bong bóng, nhưng điều này hầu như có thể
xảy ra theo các lý thuyết thống nhất lớn. Ý kiến của Linde
về một sự phá vỡ chậm sự đối xứng tỏ ra rất tốt,
nhưng sau đó tôi nhận thấy rằng những bong bóng của ông
ta sẽ phải lớn hơn cỡ của vũ trụ lúc đó! Tôi đã chứng
tỏ rằng đúng ra sự đối xứng sẽ sụp đổ tại mọi nơi
cùng một lúc, thay vì chỉ bên trong các bong bóng. Điều này
sẽ đưa tới một vũ trụ đồng nhất, như chúng ta quan sát.
Tôi đã rất hứng khởi bởi ý tưởng này và đã thảo luận
nó với một trong những sinh viên của tôi, Ian Moss. Tuy nhiên,
với tư cách một người bạn của Linde, tôi đã hơi bối
rối, khi sau đó tôi nhận được một luận văn của ông,
do một đặc san khoa học gửi tới, và hỏi liệu có thích
hợp để đăng hay không. Tôi đã trả lời rằng có khuyết
điểm này về chuyện các bong bóng lớn hơn vũ trụ, nhưng
ý niệm căn bản về một phá vỡ chậm của sự đối xứng
là điều rất tốt. Tôi đã khuyến cáo là cứ đăng nguyên
văn tài liệu bởi vì Linde sẽ cần vài tháng để sửa lại,
vì bất cứ cái gì ông gửi cho Tây phương cũng phải qua cơ
quan kiểm duyệt của Xô Viết, vốn không chuyên môn lắm và
cũng không nhanh nhẹn đối với các tài liệu khoa học. Thay
vào đó, tôi đã viết một tài liệu ngắn cùng với Ian Moss
cũng trong đặc san này trong đó chúng tôi đã vạch ra vấn
nạn này về bong bóng và cho thấy nó có thể được giải
quyết như thế nào.
Một
ngày sau khi từ Moscow trở về, tôi khởi hành đi Philadelphia,
nơi tôi sẽ nhận một huy chương do Viện Franklin trao tặng.
Cô thư ký của tôi, Judy Fella, đã dùng sự khả ái để thuyết
phục hãng hàng không British Airways cho nàng và tôi hai chỗ
ngồi miễn phí trên một chuyến máy bay Concord như là một
hành động quảng cáo. Tuy nhiên, trên đường tới phi trường
tôi bị một trận mưa lớn gây chậm trễ và đã bị lỡ
chuyến bay. Dù sao, cuối cùng tôi cũng đã tới được Philadelphia
để nhận huy chương. Rồi tôi được yêu cầu tổ chức một
buổi hội thảo về vũ trụ lạm phát tại trường Đại Học
Drexel ở Philadelphia. Tôi đã nói về những vấn nạn của
vũ trụ lạm phát, giống như đã nói ở Moscow.
Một
ý tưởng rất giống với ý tưởng của Linde đã được đưa
ra một cách độc lập một vài tháng sau bởi Paul Steinhardt
và Andreas Albrecht thuộc trường đại học Pennsylvania. Họ
hiện giờ được coi như cùng với Linde có công nghĩ ra cái
được gọi là "mô hình lạm phát mới," căn cứ vào ý tưởng
về một phá vỡ chậm của sự đối xứng. (Mô hình lạm
phát cũ là đề xuất nguyên thủy của Guth về sự phá vỡ
đối xứng nhanh với sự hình thành các bong bóng.)
Mô
hình lạm phát mới là một cố gắng tốt để giải thích
tại sao vũ trụ lại như ngày nay. Tuy nhiên, tôi và vài người
khác đã chứng tỏ rằng, ít nhất trong hình thức nguyên thủy,
nó đã tiên đoán những biến đổi lớn lao hơn nhiều về
nhiệt độ của bối cảnh bức xạ vi ba so với kết quả
được quan sát. Công trình sau này cũng đã đặt ra sự ngờ
vực về chuyện liệu có thể có một chuyển tiếp pha ở
chính vũ trụ ban đầu hay không. Theo quan điểm cá nhân của
tôi, mô hình lạm phát mới hiện giờ là một lý thuyết khoa
học đã chết, mặc dù nhiều người có vẻ như đã không
nghe nói về cái chết của nó và vẫn còn đang viết tài liệu
như thể nó sống được. Một mô hình tốt hơn, được gọi
là mô hình lạm phát hỗn loạn, đã được đưa ra bởi Linde
năm 1983. Trong mô hình này không có chuyển tiếp pha hoặc siêu
lạnh. Thay vào đó, có một trường số quay 0, mà, bởi vì
những biến đổi lượng tử, sẽ có những trị sốù lớn
ở vài khu vực của vũ trụ ban đầu. Năng lượng của trường
ở những khu vực đó sẽ phản ứng như một hằng số vũ
trụ. Nó sẽ có một hiệu ứng hấp lực đẩy, và do đó
làm cho những khu vực đó bành trướng theo lối lạm phát.
Khi chúng bành trướng, năng lượng của trường bên trong chúng
sẽ từ từ giảm bớt cho tới khi sự bành trướng lạm phát
thay đổi sang một sự bành trướng như trong mô hình nổ lớn
nóng. Một trong số những khu vực này sẽ trở thành những
gì mà hiện nay chúng ta thấy với tính cách vũ trụ có thể
quan sát được. Mô hình này có tất cả những ưu điểm của
những mô hình lạm phát trước đây, nhưng nó không tùy thuộc
vào một chuyển tiếp pha khó tin, và hơn nữa nó có thể cho
một tầm cỡ vừa phải cho những biến đổi về nhiệt độ
của bối cảnh bức xạ vi ba vốn phù hợp với sự quan sát.
Công
trình về các mô hình lạm phát đã chứng tỏ rằng tình trạng
hiện giờ của vũ trụ có thể đã nổi lên từ một con số
khá lớn các hình dạng sơ khởi khác nhau. Điều này rất
quan trọng, bởi vì nó chứng tỏ rằng tình trạng ban đầu
của phần vũ trụ mà chúng ta đang sống đã không được
lựa chọn với sự thận trọng lớn lao. Do đó chúng ta có
thể, nếu chúng ta muốn, sử dụng nguyên tắc vị nhân chủng
yếu để giải thích tại sao vũ trụ trông giống như hiện
nay. Tuy nhiên, nó không thể là trường hợp cho rằng mọi
hình dạng ban đầu sẽ đưa tới một vũ trụ giống như vũ
trụ chúng ta quan sát. Người ta có thể chứng tỏ điều này
bằng cách xem xét một tình trạng rất khác đối với vũ
trụ hiện thời, thí dụ, một tình trạng rất xô bồ và
bất thường. Người ta có thể sử dụng những định luật
khoa học để quay vũ trụ ngược thời gian để xác định
hình dạng của nó vào những lúc đầu. Theo những định lý
về điểm kỳ dị của thuyết tương đối tổng quát cổ
điển, cũng vẫn có một điểm kỳ dị nổ lớn. Nếu bạn
khiến cho một vũ trụ như vậy tiến hóa theo thời gian, theo
các định luật khoa học, cuối cùng bạn sẽ có một tình
trạng xô bồ và bất thường mà bạn đã khởi đầu. Như
vậy đã phải có những hình dạng ban đầu không đưa tới
một vũ trụ như chúng ta thấy ngày nay. Do đó ngay cả mô
hình lạm phát cũng không cho chúng ta biết tại sao hình dạng
sơ khởi đã không phát sinh ra cái khác biệt nhiều với những
gì chúng ta quan sát. Chúng ta có phải quay trở lại nguyên
tác vị nhân chủng để tìm một sự giải thích hay không?
Phải chăng tất cả chỉ là một tình cờ may mắn? Điều
đó sẽ có vẻ là một ý kiến đáng thất vọng, một sự
phủ định mọi hy vọng của chúng ta để hiểu biết về
trật tự tiềm ẩn của vũ trụ.
Để
tiên đoán việc vũ trụ đã phải khởi đầu như thế nào,
người ta cần những định luật có giá trị ở lúc khởi
đầu thời gian. Nếu thuyết tương đối tổng quát cổ điển
là đúng, những định lý điểm kỳ dị mà Roger Penrose và
tôi đã chứng minh cho thấy rằng sự khởi đầu của thời
gian sẽ phải ở một điểm mật độ vô hạn và độ cong
không-thời gian vô hạn. Mọi định luật khoa học đã biết
sẽ sụp đổ ở một điểm như vậy. Người ta có thể giả
thử rằng có những định luật mới có giá trị ở những
điểm kỳ dị, nhưng sẽ rất khó khăn để hình thành những
định luật như vậy tại những điểm bất bình thường như
vậy, và chúng ta sẽ không có sự hướng dẫn từ những quan
sát để xem những định luật đó có thể như thế nào. Tuy
nhiên, những gì các định lý điểm kỳ dị thực sự cho
thấy là trường hấp lực trở thành mạnh đến độ các
hiệu quả hấp lực lượng tử trở thành quan trọng: lý thuyết
cổ điển không còn là một mô tả tốt về vũ trụ. Do đó
người ta phải sử dụng một thuyết trọng lực lượng tử
để thảo luận chính những giai đoạn đầu của vũ trụ.
Như chúng ta sẽ thấy, những định luật khoa học thông thường
có thể có giá trị ở mọi nơi trong thuyết lượng tử, kể
cả lúc khởi đầu thời gian: không cần phải đề xuất những
định luật mới cho các điểm kỳ dị, bởi vì không cần
có bất cứ điểm kỳ dị nào trong thuyết lượng tử.
Chúng
ta chưa có một lý thuyết trọn vẹn và phù hợp để tổng
hợp cơ học lượng tử và hấp lực. Tuy nhiên, chúng ta khá
chắc chắn về vài đặc tính mà một thuyết thống nhất
như vậy phải có. Một đặc điểm là nó phải hội nhập
ý kiến của Feynman để hình thành thuyết lượng tử liên
quan đến suốt lịch sử vũ trụ. Theo phương pháp này, một
hạt không phải chỉ có một lịch sử duy nhất, như trong
một lý thuyết cổ điển. Thay vào đó, nó được coi như
đi theo mọi con đường có thể có trong không-thời gian, và
với mỗi lịch sử trong số các lịch sử này, có liên kết
một cặp số, một số chỉ cỡ của một sóng và số kia
chỉ vị trí của nó trong chu kỳ (pha) của nó. Xác suất để
hạt đó đi qua một điểm đặc biệt nào đó được tìm
thấy bằng cách cộng các sóng kết hợp với mọi lịch sử
có thể đi qua điểm đó. Tuy nhiên, khi người ta thực sự
cố thực hiện những tổng số này, người ta gặp phải những
khó khăn kỹ thuật trầm trọng. Cách duy nhất để tránh những
khó khăn này là đi theo sự chỉ dẫn đặc biệt: Người ta
phải cộng tất cả những sóng cho các lịch sử hạt không
nằm trong thời gian "thực" mà bạn và tôi trải qua nhưng xảy
ra trong cái được gọi là thời gian tưởng tượng. Thời
gian tưởng tượng có thể nghe như khoa học giả tưởng nhưng
thực ra nó là một ý niệm toán học được định nghĩa rõ
ràng. Nếu chúng ta lấy bất cứ con số bình thường nào (hay
số "thực") và nhân với chính nó, kết quả là một số dương.
(Thí dụ, 2 nhân với 2 là 4, nhưng -2 nhân với -2 cũng là 4).
Tuy nhiên, có những con số đặc biệt (gọi là ảo) cho những
số âm khi được nhân bởi chính nó. (Số được gọi là
i, khi nhân với chính nó, cho ta -1, 2i nhân với chính nó cho
ta -4, và cứ thế.) Để tránh những khó khăn kỹ thuật với
tổng số lịch sử của Feynman, người ta phải dùng thời
gian tưởng tượng. Nghĩa là, vì các mục đích tính toán người
ta phải dùng các số ảo để đo thời gian, thay vì các số
thật. Điều này có một hậu quả đáng chú ý về không-thời
gian: sự phân biệt giữa thời gian và không gian biến mất
hoàn toàn. Một không-thời gian trong đó những biến cố có
những trị giá ảo về tọa độ thời gian được gọi là
thuộc hình học Euclide, gọi theo tên của nhà toán học Hy
Lạp Euclide, người đã lập ra sự nghiên cứu hình học của
các bề mặt hai chiều. Những gì mà hiện giờ chúng ta gọi
là không thời gian theo hình học Euclide rất tương tự ngoại
trừ nó có bốn chiều thay vì hai chiều. Trong không-thời gian
Euclide không có sự khác biệt giữa chiều thời gian và các
chiều không gian. Mặt khác, trong không-thời gian thực, trong
đó các biến cố được gán cho những trị số thực, bình
thường về tọa độ thời gian, rất dễ nhìn ra sự khác
biệt -- hướng thời gian ở mọi điểm nằm bên trong hình
nón ánh sáng, và các chiều không gian nằm bên ngoài. Trong
bất cứ trường hợp nào, nói về cơ học lượng tử thường
ngày, chúng ta có thể coi việc chúng ta sử dụng thời gian
tưởng tượng và không-thời gian Euclide như chỉ là một công
cụ toán học (hay mánh lới) để tính toán những giải đáp
về không-thời gian thực.
Một
đặc điểm thứ nhì mà chúng ta nghĩ phải nằm trong bất
cứ lịch sử tối hậu nào là ý tưởng của Einstein cho rằng
trường hấp lực được biểu diễn bởi không-thời gian cong:
những hạt cố đi theo cái gần gũi nhất với một con đường
thẳng trong một không gian cong, nhưng bởi vì không-thời gian
không phẳng, những đường đi của chúng có vẻ bị cong,
như thể bị uốn cong bởi một trường hấp lực. Khi chúng
ta áp dụng tổng số lịch sử của Feynman cho quan điểm của
Einstein về hấp lực, sự tương tự về lịch sử của một
hạt hiện giờ là một không-thời gian cong hoàn toàn biểu
hiện lịch sử của toàn thể vũ trụ. Để tránh những khó
khăn kỹ thuật trong việc tính toán thực sự tổng số lịch
sử, những không-thời gian cong này phải được coi như thuộc
hình học Euclide. Nghĩa là, thời gian là ảo và không thể
phân biệt được với những chiều trong không gian. Để tính
toán xác suất tìm ra một không-thời gian thực với một đặc
tính chắc chắn nào đó, như nhìn giống nhau tại mọi điểm
và theo mọi hướng, người ta cộng tất cả những sóng kết
hợp với mọi lịch sử có đặc điểm đó.
Trong
thuyết tương đối tổng quát cổ điển, có nhiều không-thời
gian cong khác nhau, mỗi cái tương ứng với một tình trạng
sơ khởi khác nhau của vũ trụ. Nếu chúng ta biết tình trạng
sơ khởi của vũ trụ, chúng ta sẽ biết trọn lịch sử của
nó. Tương tự, trong thuyết hấp lực lượng tử, có nhiều
tình trạng lượng tử có thể có cho vũ trụ. Một lần nữa,
nếu chúng ta biết các không-thời gian cong theo hình học Euclide
trong tổng số lịch sử phản ứng ở những thời gian ban
đầu, chúng ta sẽ biết tình trạng lượng tử của vũ trụ.
Trong
thuyết hấp lực cổ điển, căn cứ vào không-thời gian thực,
chỉ có hai cách mà vũ trụ có thể phản ứng: hoặc nó đã
tồn tại trong một thời gian vô tận, hoặc nếu không thì
nó đã có một khởi đầu tại một điểm kỳ dị ở một
thời điểm nhất định nào đó trong quá khứ. Trong thuyết
hấp lực lượng tử, mặt khác, một khả dĩ thứ ba nổi
lên. Bởi vì người ta sử dụng không-thời gian Euclide, trong
đó chiều thời gian có cùng căn bản như các chiều trong không
gian, không-thời gian có thể hữu hạn mà vẫn không có những
điểm kỳ dị để hình thành một biên giới hoặc bờ. Không-thời
gian sẽ giống như bề mặt của trái đất, chỉ khác là có
thêm hai chiều nữa. Bề mặt của trái đất là hữu hạn
nhưng nó không có một biên giới hoặc bờ: nếu bạn khởi
đi về hướng mặt trời lặn, bạn không rơi ra ngoài bờ
hoặc gặp một điểm kỳ dị. (Tôi biết, bởi vì tôi đã
đi vòng quanh thế giới!)
Nếu
không-thời gian Euclide rút ngắn lại tới thời gian tưởng
tượng vô hạn, hoặc khởi đầu tại một điểm kỳ dị
trong thời gian tưởng tượng, chúng ta cũng có cùng vấn nạn
như trong lý thuyết cổ điển khi muốn định rõ tình trạng
sơ khởi của vũ trụ: chỉ có Trời mới biết vũ trụ đã
bắt đầu như thế nào, nhưng chúng ta không thể đưa ra bất
cứ lý do nào để cho rằng nó đã khởi sự bằng cách này
thay vì bằng cách kia. Mặt khác, thuyết hấp lực lượng tử
đã mở ra một sự khả dĩ mới, trong đó sẽ không có biên
giới cho không-thời gian và do đó sẽ không cần định rõ
phản ứng tại biên giới. Sẽ không có các điểm kỳ dị
tại đó các định luật khoa học sụp đổ và không có bờ
không-thời gian tại đó người ta sẽ phải kêu gọi Thượng
Đế hoặc một định luật mới nào đó để đặt ra những
điều kiện biên giới cho không-thời gian. Người ta có thể
nói: "Điều kiện biên giới của vũ trụ là nó không có biên
giới nào cả." Vũ trụ sẽ hoàn toàn tự chứa đựng và không
bị ảnh hưởng bởi bất cứ cái gì bên ngoài nó. Nó không
được tạo ra cũng không bị hủy diệt. Nó chỉ HIỆN HỮU.
Chính
tại cuộc hội thảo ở Vatican như đã được đề cập ở
trên, tôi đã đưa ra đầu tiên ý kiến rằng có thể thời
gian và không gian cùng nhau làm thành một bề mặt hữu hạn
về tầm cỡ nhưng đã không có biên giới hoặc bờ bến nào.
Tuy nhiên, tài liệu của tôi hơi thiên về toán học, do đó
những hàm ý của nó về vai trò của Thượng Đế trong sự
sáng tạo ra vũ trụ lúc đó đã không được thừa nhận rộng
rãi. Vào thời gian cuộc hội thảo Vatican, tôi đã không biết
làm thế nào để đưa ý niệm "không biên giới" vào việc
thực hiện những tiên đoán về vũ trụ. Tuy nhiên, tôi đã
trải qua mùa hè sau đó tại trường đại học Santa Barbara
của California. Tại đó, một người bạn và cũng là đồng
nghiệp của tôi, Jim Hartle, đã nghiên cứu cùng với tôi những
điều kiện mà vũ trụ phải thỏa mãn nếu không-thời gian
không có giới hạn. Khi tôi trở về Cambridge, tôi đã tiếp
tục công việc này với hai trong số những nghiên cứu sinh
của tôi, Julian Luttrel và Jonathan Halliwell.
Tôi
cũng muốn nhấn mạnh rằng ý tưởng thời gian và không gian
phải hữu hạn mà không có biên giới chỉ là một đề nghị:
nó không thể được suy ra từ một nguyên tắc nào khác. Giống
như bất cứ lý thuyết khoa học nào khác, nó có thể lúc
đầu được đưa ra vì những lý do thẩm mỹ hoặc siêu hình,
nhưng sự thử thách thực sự là liệu nó có khiến những
tiên đoán phù hợp với sự quan sát hay không. Tuy nhiên, điều
này rất khó xác định trong trường hợp hấp lực lượng
tử, vì hai lý do. Trước hết, như sẽ được giải thích
trong chương kế tiếp, chúng ta chưa biết chắc chắn đúng
ra lý thuyết nào phối hợp một cách thành công thuyết tương
đối tổng quát và cơ học lượng tử, mặc dù chúng ta biết
hầu như rất nhiều về hình thức mà một lý thuyết như
vậy phải có. Thứ nhì, bất cứ mô hình nào mô tả chi tiết
toàn thể vũ trụ cũng sẽ quá phức tạp về phương diện
toán học để chúng ta có thể tính toán đúng những tiên
đoán. Do đó người ta phải thực hiện những giả thiết
và ước lượng được đơn giản hóa -- và ngay cả khi đó,
vấn đề rút ra những tiên đoán vẫn còn là một vấn đề
khó khăn.
Mỗi
lịch sử trong tổng cộng lịch sử sẽ mô tả không phải
chỉ không-thời gian mà cả mọi thứ trong đó, kể cả bất
cứ sinh vật phức tạp nào như con người, là sinh vật có
thể quan sát lịch sử của vũ trụ. Điều này có thể cung
cấp một sự biện minh khác cho nguyên tắc vị nhân chủng,
bởi vì nếu mọi lịch sử đều có thể xảy ra, thì chừng
nào chúng ta hiện hữu trong một trong số những lịch sử
đó, chúng ta có thể sử dụng nguyên tắc vị nhân chủng
để giải thích tại sao vũ trụ lại được thấy như tình
trạng của nó hiện nay. Ý nghĩa nào là đúng để có thể
được gán cho những lịch sử khác, trong đó chúng ta không
hiện hữu, là điều không rõ ràng. Tuy nhiên, quan điểm này
về thuyết hấp lực lượng tử sẽ hài lòng hơn nhiều, nếu
người ta có thể chứng tỏ rằng, dùng tổng số lịch sử,
vũ trụ của chúng ta không phải chỉ là một trong những lịch
sử có thể xảy ra nhưng là một trong những lịch sử có
thể xảy ra nhất. Để làm điều này, chúng ta phải thực
hiện việc cộng các lịch sử có thể xảy ra cho mọi không-thời
gian Euclide không có biên giới.
Theo
đề xuất không biên giới, người ta biết rằng cơ hội để
vũ trụ được coi như đi theo hầu hết các lịch sử có thể
xảy ra không đáng kể, nhưng có một nhóm đặc biệt các
lịch sử có cơ hội xảy ra nhiều hơn các nhóm khác. Những
lịch sử này có thể được hình dung như giống bề mặt
của trái đất, với khoảng cách từ Bắc Cực đại diện
thời gian tưởng tượng và cỡ của một vòng tròn cách một
khoảng cố định từ Bắc Cực đại diện cỡ không gian của
vũ trụ. Vũ trụ khởi đầu tại Bắc Cực như một điểm
duy nhất. Khi người ta di chuyển về phía nam, các vòng tròn
vĩ tuyến ở khoảng cách cố định từ Bắc Cực trở nên
lớn hơn, tương ứng với vũ trụ bành trướng với thời
gian tưởng tượng (Hình 8.1). Vũ trụ sẽ đạt tới một cỡ
tối đa ở đường xích đạo và sẽ thu rút lại với thời
gian tưởng tượng tăng lên tới một điểm duy nhất ở Nam
Cực. Mặc dù vũ trụ sẽ có cỡ bằng 0 tại các cực Bắc
và Nam, những điểm này sẽ không phải là các điểm kỳ
dị. Các định luật khoa học sẽ có giá trị tại những
điểm đó, cũng như chúng có giá trị tại Bắc và Nam Cực
trên trái đất.
Tuy
nhiên, lịch sử của vũ trụ ở thời gian thực, trông sẽ
rất khác. Ở vào khoảng mười hoặc hai mươi ngàn triệu
năm về trước, nó sẽ có một cỡ tối thiểu, bằng với
bán kính tối đa của lịch sử trong thời gian tưởng tượng.
Ở những thời gian thực sau này, vũ trụ sẽ bành trướng
như mô hình lạm phát hỗn loạn đề xuất bởi Linde (nhưng
bây giờ người ta sẽ không phải giả sử rằng vũ trụ đã
được tạo ra bằng cách nào đó trong tình trạng thích hợp).
Vũ trụ sẽ bành trướng tới một cỡ rất lớn và cuối
cùng nó sẽ suy sụp trở lại thành cái giống như một điểm
kỳ dị trong thời gian thực. Như vậy, theo một ý nghĩa nào
đó, tất cả chúng ta vẫn đi tới tận thế, dù cho chúng
ta tránh xa các hố đen. Chỉ trong trường hợp chúng ta có
thể hình dung vũ trụ theo thời gian tưởng tượng thì mới
không có những điểm kỳ dị.
Nếu
vũ trụ thực sự ở trong một tình trạng lượng tử như
vậy, sẽ không có các điểm kỳ dị trong lịch sử của vũ
trụ trong thời gian tưởng tượng. Do đó có vẻ rằng công
trình mới đây hơn của tôi đã hoàn toàn phủ nhận các kết
quả của công trình trước đây của tôi về các điểm kỳ
dị. Nhưng, như nói ở trên, tầm quan trọng thực sự của
các định lý điểm kỳ dị là chúng đã chứng tỏ rằng
trường hấp lực phải trở nên mạnh đến độ các hậu
quả hấp lực lượng tử không thể bị bỏ qua. Điều này
do đó lại đưa tới ý niệm rằng vũ trụ có thể hữu hạn
trong thời gian tưởng tượng nhưng không có các biên giới
hoặc các điểm kỳ dị. Tuy nhiên, khi người ta quay trở lại
thời gian thực trong đó chúng ta sinh sống, có vẻ vẫn sẽ
có những điểm kỳ dị. Nhà du hành vũ trụ bất hạnh nào
rơi vào một hố đen vẫn sẽ đi tới một kết cuộc khó
chịu, chỉ khi nào ông ta sống trong thời gian tưởng tượng
mới không gặp các điểm kỳ dị.
Điều
này có thể gợi ý rằng cái được gọi là thời gian tưởng
tượng thực ra là thời gian thực, và rằng điều mà chúng
ta gọi là thời gian thực chỉ là một ảo ảnh của những
tưởng tượng của chúng ta. Trong thời gian thực, vũ trụ
có một khởi đầu và một kết cuộc ở các điểm kỳ dị
để hình thành một biên giới cho không-thời gian và tại
đó các định luật khoa học sụp đổ. Nhưng trong thời gian
tưởng tượng, không có những điểm kỳ dị hoặc biên giới.
Như vậy có thể những gì chúng ta gọi là thời gian tưởng
tượng thực ra có căn bản hơn, và cái mà chúng ta gọi là
thực chỉ là một ý niệm mà chúng ta tạo ra để giúp chúng
ta mô tả những gì mà chúng ta nghĩ giống vũ trụ. Nhưng theo
phương pháp mà tôi đã mô tả trong chương 1, một lý thuyết
khoa học chỉ là một mô hình toán học mà chúng ta tạo ra
để mô tả những quan sát của chúng ta: nó chỉ hiện hữu
trong trí của chúng ta. Do đó thật là vô nghĩa khi hỏi: Cái
nào là thật, thời gian "thật" hay thời gian "ảo"? Điều đóù
giản dị chỉ là một vấn đề cái nào mô tả có ích hơn.
Người
ta cũng có thể sử dụng tổng số các lịch sử, cùng với
đề xuất không biên giới, để tìm ra những tính chất nào
của vũ trụ có thể cùng xảy ra. Thí dụ, người ta có thể
tính toán xác suất mà vũ trụ bành trướng gần như cùng
nhịp độ ở mọi hướng khác nhau tại một thời điểm mà
mật độ của vũ trụ có trị số hiện nay. Trong những mô
hình được đơn giản hóa từng được quan sát cho tới nay,
xác suất này hóa ra rất cao; nghĩa là, điều kiện không biên
giới như đã được đề xuất đưa tới sự tiên đoán rằng
rất có thể nhịp độ bành trướng hiện nay của vũ trụ
hầu như giống nhau ở mọi hướng. Điều này phù hợp với
những quan sát bức xạ nền sóng ngắn, chứng tỏ rằng nó
có cường độ hầu như giống hệt nhau ở mọi hướng. Nếu
vũ trụ đã bành trướng nhanh hơn ở vài hướng so với những
hướng khác, cường độ của bức xạ ở những hướng đó
sẽ bị giảm đi bởi một chuyển dịch thêm về phía đỏ.
Những
tiên toán thêm về điều kiện không biên giới hiện đang
được nghiên cứu. Một vấn đề đặc biệt đáng chú ý
là tầm cỡ của những phần tử rời bỏ mật độ đồng
đều trong vũ trụ ban đầu đã đưa đến sự hình thành những
thiên hà đầu tiên, rồi những ngôi sao, và cuối cùng là
con người chúng ta. Nguyên tắc bất định ngụ ý rằng vũ
trụ ban đầu không thể đã hoàn toàn đồng đều bởi vì
phải có vài sự bất trắc hoặc biến động về các vị
trí và tốc độ của các hạt. Sử dụng điều kiện không
biên giới, chúng ta thấy rằng vũ trụ thực ra đã khởi đầu
với sự không đồng đều tối thiểu có thể được cho phép
bởi nguyên tắc bất định. Vũ trụ khi đó sẽ trải qua một
thời kỳ bành trướng nhanh, như trong các mô hình lạm phát.
Trong thời kỳ này, những sự không đồng đều ban đầu sẽ
được củng cố cho tới khi chúng đủ lớn để giải thích
nguồn gốc của những cơ cấu mà chúng ta quan sát chung quanh
chúng ta. Trong một vũ trụ bành trướng trong đó mật độ
của vật chất thay đổi đôi chút ở nơi này so với nơi
khác, hấp lực đã khiến những khu vực đậm đặc hơn bành
trướng chậm lại và khởi sự co rút. Điều này sẽ đưa
tới sự hình thành các thiên hà, các ngôi sao, và cuối cùng
ngay cả những sinh vật nhỏ nhoi như chúng ta. Do đó mọi cơ
cấu phức tạp mà chúng ta thấy trong vũ trụ có thể được
giải thích bởi điều kiện không biên giới cho vũ trụ cùng
với nguyên tắc bất trắc của cơ học lượng tử.
Ý
tưởng rằng không gian và thời gian có thể hình thành một
bề mặt kín mà không có biên giới cũng có những hàm ý sâu
xa cho vai trò của Thượng Đế trong công việc của vũ trụ.
Với sự thành công của những lý thuyết khoa học trong việc
mô tả các biến cố, hầu hết mọi người đã đi tới tin
tưởng rằng Thượng Đế cho phép vũ trụ tiến hóa theo một
bộ các định luật và không can thiệp vào vũ trụ để phá
vỡ những định luật này. Tuy nhiên, các định luật không
cho chúng ta biết vũ trụ phải giống như cái gì khi nó bắt
đầu -- nó vẫn còn tùy thuộc vào Thượng Đế để lên dây
thiều và lựa chọn cách khởi đầu. Chừng nào mà vũ trụ
còn có một khởi đầu, chúng ta còn có thể giả định nó
có một đấng sáng tạo. Nhưng nếu vũ trụ thực sự tự
chứa, không có biên giới hoặc bờ bến, nó sẽ không có
khởi đầu cũng như không có kết cuộc: nó giản dị hiện
hữu. Như vậy thì đâu có nơi nào dành cho một đấng sáng
thế?