CHƯƠNG
5
NHỮNG
HẠT CƠ BẢN VÀ CÁC LỰC THIÊN NHIÊN
Aristotle
tin rằng mọi vật chất trong vũ trụ được tạo thành bởi
bốn thành phần căn bản là đất, không khí, lửa, và nước.
Những thành phần này bị tác động bởi hai lực: hấp lực,
là khuynh hướng khiến đất và nước chìm xuống, và phù
lực, là khuynh hướng khiến không khí và lửa bay lên. Sự
phân chia các thành phần của vũ trụ thành vật chất và các
lực vẫn còn được sử dụng ngày nay.
Aristotle
tin rằng vật chất có tính cách liên tục, nghĩa là, người
ta có thể chia một mẩu vật chất thành những mẩu càng ngày
càng nhỏ hơn mà không có một giới hạn nào: người ta không
bao giờ đi tới một hạt vật chất mà không thể phân chia
được nữa. Tuy nhiên, một vài người Hy Lạp, như Democritus,
cho rằng vật chất tự nó là hạt và rằng mọi vật được
tạo thành bởi những con số lớn lao các loại nguyên tử
khác nhau. (Trong tiếng Hy Lạp chữ nguyên tử có nghĩa là "không
thể phân chia.") Trong bao nhiêu thế kỷ, sự tranh luận tiếp
tục mà không có bằng chứng thực sự nào ở mọi phe, nhưng
năm 1803 nhà hóa học kiêm vật lý người Anh, John Dalton, đã
vạch ra rằng sự kiện các chất tổng hợp hóa học luôn
luôn kết hợp theo những tỉ lệ nào đó có thể được giải
thích bằng cách gom những nguyên tử lại để làm thành những
đơn vị gọi là phân tử. Tuy nhiên, cuộc tranh luận giữa
hai trường phái tư tưởng đã không được giải quyết dứt
khoát nghiêng về những người theo thuyết nguyên tử cho tới
những năm đầu của thế kỷ 20. Một trong những công trình
quan trọng về bằng chứng vật lý đã được cung cấp bởi
Einstein. Trong một tài liệu được viết vào năm 1905, một
vài tuần trước khi có tài liệu nổi tiếng về thuyết tương
đối đặc biệt, Einstein đã vạch ra rằng điều được gọi
là chuyển động Brown – chuyển động không đều, bất kỳ
của những hạt bụi nhỏ lơ lửng trong một chất lỏng –
có thể được giải thích như hậu quả của các nguyên tử
của chất lỏng đụng chạm với các hạt bụi.
Vào
lúc này đã có những nghi ngờ rằng những nguyên tử này
rốt cuộc không phải là không phân chia được. Vài năm trước
đó, J. J. Thomson, một giáo sư vật lý của trường Trinity
College, Cambridge, đã chứng minh sự hiện hữu của một hạt
vật chất, gọi là điện tử, có một khối lượng chưa tới
một phần ngàn khối lượng của nguyên tử nhẹ nhất. Ông
đã sử dụng một thiết bị hơi giống như một đèn hình
TV ngày này: một sợi kim loại nóng đỏ phát ra các điện
tử, và bởi vì những điện tử này có một điện tích âm,
một điện trường có thể được sử dụng để gia tốc
chúng về phía một tấm màn phủ lưu huỳnh. Khi chúng chạm
vào màn, những chớp sáng đã được phát ra. Chẳng bao lâu
người ta nhận thức rằng những điện tử này phải xuất
phát từ bên trong chính các nguyên tử, và trong năm 1911 vật
lý gia người Anh Ernest Rutherford cuối cùng đã chứng tỏ rằng
những nguyên tử vật chất quả thật có một cơ cấu bên
trong: chúng được cấu tạo bởi một cái nhân cực kỳ nhỏ
bé, mang điện dương, quay chung quanh nhân là một số các điện
tử. Ông đã suy luận ra điều này bằng cách phân tích đường
lối trong đó các hạt ?, là những hạt mang điện tích dương
phát ra bởi các nguyên tử có tính phát xạ, bị lệch đi
khi chúng chạm vào các nguyên tử.
Lúc
đầu người ta đã nghĩ rằng nhân của nguyên tử được
cấu tạo bởi các điện tử và những con số khác nhau các
hạt mang điện tích dương gọi là proton (chất tử), gốc
tiếng Hy Lạp có nghĩa là "đầu tiên," bởi vì người ta tin
rằng nó phải là đơn vị căn bản từ đó vật chất được
cấu tạo. Tuy nhiên, trong năm 1932 một đồng nghiệp của Rutherford
ở Cambridge, James Chadwick, khám phá ra rằng nguyên tử chứa
một hạt khác, gọi là trung hòa tử, hầu như có cùng khối
lượng với một proton nhưng không mang điện tích. Chadwick
đã nhận được giải Nobel nhờ khám phá của ông, và được
bầu làm viện trưởng Phân Khoa Gonville & Caius của Đại
Học Cambridge (đây là phân khoa mà hiện nay tôi là một thành
viên). Sau này ông đã từ chức viện trưởng vì những bất
đồng ý kiến với các thành viên. Hồi đó đã có những
tranh cãi gay gắt trong phân khoa kể từ khi một nhóm các thành
viên trẻ hồi hương sau Đệ Nhị Thế Chiến đã bỏ phiếu
loại trừ nhiều thành viên ra khỏi những chức vụ trong phân
khoa mà họ đã giữ từ lâu. Điều này xẩy ra trước thời
của tôi; tôi gia nhập phân khoa năm 1965 vào lúc sắp chấm
dứt cuộc tranh chấp cay đắng, khi những bất đồng ý kiến
đã buộc một viện trưởng được giải Nobel khác, Sir Nevill
Mott, phải từ chức.
Cho
tới hai mươi năm về trước, người ta đã nghĩ rằng các
proton và trung hòa tử là những hạt "cơ bản," nhưng những
thực nghiệm trong đó các proton được cho đụng chạm với
với proton khác hoặc với các âm điện tử ở tốc độ cao
cho thấy rằng thực ra chúng được cấu tạo bởi những hạt
nhỏ hơn nữa. Những hạt này được gọi là quark bởi nhà
vật lý Murray Gell-Mann của trường Caltech, người đã đoạt
giải Nobel năm 1969 do công trình nghiên cứu của ông về những
hạt này. Nguồn gốc của cái tên này là một câu trích dẫn
khó hiểu từ tác phẩm của James Joyce: "Three quarks for Muster
Mark!" Chữ quark đúng ra phải được phát âm giống như chữ
"quart" (nhưng tận cùng bằng chữ k thay vì chữ t), nhưng người
ta thường phát âm chữ này cùng một vần với chữ "lark."
Có
một số những thay đổi khác nhau về các quark, người ta
nghĩ có ít nhất sáu "mùi vị" mà chúng ta gọi là lên, xuống,
kỳ lạ, mê hoặc, đáy, và đỉnh. Mỗi vị có ba "mầu" là
đỏ, xanh lá cây và xanh dương. (Cũng nên nhấn mạnh rằng
những từ ngữ này chỉ là những cái "nhãn hiệu": các quark
nhỏ hơn nhiều so với độ dài sóng của ánh sáng nhìn thấy
được và do đó không có màu nào cả trong ý nghĩa thông thường.
Chỉ vì các nhà vật lý hiện đại dường như có nhiều phương
cách giầu tưởng tượng hơn để đặt tên cho những hạt
và những hiện tượng mới – họ không còn tự giới hạn
vào tiếng Hy Lạp!) Một proton hoặc trung hòa tử được cấu
tạo bởi 3 quark, mỗi quark có một màu. Một proton chứa hai
quark lên và một quark xuống; một trung hòa tử chứa hai xuống
và một lên. Chúng ta có thể tạo ra những hạt được cấu
tạo bởi những quark kia (kỳ lạ, mê hoặc, đáy, và đỉnh),
nhưng những hạt này có một khối lượng lớn hơn nhiều
và sẽ hủy hoại rất nhanh thành các proton và các trung hòa
tử.
Hiện
chúng ta biết rằng cả các nguyên tử lẫn các proton và các
trung hòa tử bên trong các nguyên tử đều có thể phân chia
được. Do đó câu hỏi là: Cái gì thật sự là những hạt
cơ bản, những viên gạch xây dựng căn bản từ đó mọi
vật được cấu tạo? Bởi vì độ dài sóng của ánh sáng
lớn hơn nhiều so với cỡ của một nguyên tử, chúng ta không
thể hy vọng sẽ "nhìn" vào những thành phần của một nguyên
tử theo cách thông thường. Chúng ta cần sử dụng một cái
gì đó với một độ dài sóng nhỏ hơn nhiều. Như chúng ta
đã thấy trong chương vừa rồi, cơ học lượng tử cho chúng
ta biết rằng mọi hạt thực ra là những sóng, và rằng năng
lượng của một hạt càng cao, độ dài sóng của sóng tương
ứng càng nhỏ. Do đó câu trả lời tốt nhất mà chúng ta
có thể đưa ra cho câu hỏi của chúng ta tùy thuộc vào chuyện
chúng ta có trong tay một năng lượng hạt cao đến mức nào,
bởi vì điều này quyết định chuyện một chiều dài nhỏ
tới mức nào đểø chúng ta có thể nhìn. Các năng lượng
hạt thường được đo bằng các đơn vị gọi là electron
volt (điện tử thái). (Trong các thí nghiệm của Thomson với
các điện tử, chúng ta đã thấy rằng ông sử dụng một
điện trường để gia tốc các điện tử. Năng lượng mà
một điện tử (electron) nhận được từ một điện trường
1 volt được gọi là một electron volt.) Trong thế kỷ 19, khi
những năng lượng hạt duy nhất mà người ta biết cách sử
dụng là những năng lượng thấp chừng một vài electron volt
phát ra bởi những phản ứng hóa học như sự cháy. Người
ta đã nghĩ rằng nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất. Trong thí
nghiệm của Rutherford, các hạt ? có năng lượng hàng triệu
electron volt. Mới đây hơn, chúng ta đã biết cách sử dụng
các điện từ trường để khiến cho các hạt có những năng
lượng lúc đầu hàng triệu và rồi hàng ngàn triệu electron
volt. Và do đó chúng ta biết rằng những hạt từng được
cho là "cơ bản" hai mươi năm về trước thực ra được làm
thành bởi những hạt nhỏ hơn. Liệu có thể những hạt này,
khi chúng ta đạt tới những năng lượng còn cao hơn nữa,
rồi ra cũng được thấy là được cấu tạo bởi những hạt
còn nhỏ hơn nữa? Điều này đương nhiên có thể, nhưng chúng
ta quả thật có vài lý do về lý thuyết để tin rằng chúng
ta có, hoặc rất gần đạt tới, một sự hiểu biết về
những viên gạch xây dựng tối hậu của thiên nhiên.
Sử
dụng sự lưỡng tính sóng/hạt được thảo luận trong chương
vừa rồi, mọi vật trong vũ trụ, kể cả ánh sáng và trọng
lực, có thể được mô tả bằng các hạt. Những hạt này
có một đặc tính gọi là số quay. Một cách để nghĩ về
số quay là tưởng tượng những hạt như những con quay bông
vụ nhỏ quay quanh một trục. Tuy nhiên, điều này có thể
gây hiểu lầm, bởi vì cơ học lượng tử cho chúng ta biết
rằng các hạt không có một trục được xác định rõ. Những
gì số quay của một hạt thực sự cho ta biết là hạt trông
giống như cái gì từ những hướng khác nhau. Một hạt có
số quay 0 giống như một cái chấm: nó trông giống nhau từ
mọi hướng (H. 5.1-i). Mặt khác, một hạt có số quay 1 giống
như một mũi tên: nó trông khác nhau từ những hướng khác
(H. 5.1-ii). Chỉ khi người ta quay tròn nó trọn một vòng (360
độ) hạt mới trông giống. Một hạt có số quay 2 giống
như một mũi tên có hai đầu (H. 5.1-iii): nó trông giống nhau
nếu người ta quay tròn nó nửa vòng (180 độ). Tương tự,
những hạt có số quay cao hơn trông giống nhau nếu người
ta quay chúng theo những phân số của một vòng trọn vẹn.
Tất cả điều này có vẻ khá dễ hiểu, nhưng sự kiện quan
trọng là có những hạt không trông giống nhau nếu người
ta quay chúng đúng một vòng: bạn phải quay chúng đủ hai vòng!
Những hạt như vậy được gọi là có số quay 1/2.
Mọi
hạt đã được biết trong vũ trụ có thể được phân chia
thành hai nhóm: những hạt có số quay 1/2, làm thành vật chất
trong vũ trụ, và những hạt có số quay 0, 1, và 2, như chúng
ta sẽ thấy, gây ra các lực giữa những hạt vật chất. Những
hạt vật chất tuân theo điều được gọi là nguyên tắc
loại trừ của Pauli. Nguyên tắc này được khám phá vào năm
1925 bởi một vật lý gia người Áo, Wolfgang Pauli -- nhờ đó
ông đã nhận được giải Nobel trong năm 1945. Ông là vật
lý gia lý thuyết tiêu biểu: người ta đồn về ông rằng
ngay sự có mặt của ông trong thành phố cũng làm cho các thực
nghiệm trở thành sai lạc! Nguyên tắc loại trừ của Pauli
nói rằng hai hạt tương tự không thể hiện hữu ở cùng
trạng thái, nghĩa là, chúng không thể cùng có vị trí và
tốc độ, bên trong các giới hạn theo nguyên tắc bất định.
Nguyên tắc loại trừ rất quan trọng bởi vì nó giải thích
tại sao các hạt vật chất không co rút lại thành một trạng
thái có mật độ rất cao dưới ảnh hưởng của các lực
gây ra bởi các hạt có số quay 0, 1, và 2: nếu các hạt vật
chất gần như có cùng vị trí, chúng phải có những tốc
độ khác nhau, có nghĩa là chúng sẽ không duy trì lâu ở cùng
vị trí. Nếu thế giới đã được tạo ra mà không có nguyên
tắc loại trừ, các quark sẽ không làm thành các proton, trung
hòa tử riêng biệt. Những hạt này, cùng với các điện tử,
cũng sẽ không hợp thành các nguyên tử được xác định
rõ. Chúng sẽ đều suy sụp để thành một món "súp" khá đồng
nhất, đậm đặc.
Một
sự hiểu biết đúng đắn về các điện tử và những hạt
có số quay 1/2 khác đã không đạt được cho tới năm 1928,
khi một lý thuyết được đưa ra bởi Paul Dirac, người sau
này đã được bầu vào chức vụ Giáo Sư Toán Học Hàm Lucasian
tại Đại Học Cambridge (chức vụ mà Newton từng giữ và hiện
tôi đang giữ). Lý thuyết của Dirac là loại lý thuyết đầu
tiên phù hợp với cả cơ học lượng tử lẫn thuyết tương
đối đặc biệt. Nó giải thích trên phương diện toán học
tại sao điện tử đã có số quay 1/2, nghĩa là, tại sao nó
đã không trông giống nhau nếu bạn chỉ quay nó một vòng,
nhưng nó trông như cũ nếu bạn quay nó đủ hai vòng. Nó cũng
tiên đoán rằng điện tử phải có một đồng bạn: một
phản điện tử, hay positron (dương điện tử). Sự khám phá
ra phản điện tử vào năm 1932 đã xác nhận thuyết của Dirac
và đưa tới việc ông được tặng giải Nobel về vật lý
năm 1933. Hiện giờ chúng ta biết rằng mọi hạt đều có
một phản hạt, nếu hợp lại chúng triệt tiêu lẫn nhau.
(Trong trường hợp những hạt mang lực, các phản hạt cũng
chính là những hạt.) Có thể có những phản thế giới và
phản con người trọn vẹn được cấu tạo bởi các phản
hạt. Tuy nhiên, nếu bạn có gặp phản ngã của bạn, đừng
bắt tay! Cả hai sẽ biến mất trong chớp mắt. Vấn đề tại
sao có vẻ có nhiều hạt như vậy so với các phản hạt chung
quanh chúng ta là điều vô cùng quan trọng, và tôi sẽ trở
lại vấn đề này vào cuối chương.
Trong
cơ học lượng tử, các lực hoặc các tương tác giữa các
hạt vật chất tất cả đều được coi như được mang bởi
những hạt có số quay là số nguyên -- 0, 1, hoặc 2. Điều
phát sinh là một hạt vật chất, như một điện tử hoặc
một quark, phóng ra một hạt mang lực. Sức giật lùi do sự
phóng đi này thay đổi tốc độ của hạt vật chất. Hạt
mang lực sau đó va chạm với một hạt vật chất khác và
bị hấp thụ. Sự va chạm thay đổi tốc độ của hạt thứ
nhì, như thể đã có một lực giữa hai hạt vật chất.
Đó
là một tính chất quan trọng của các hạt mang lực khiến
chúng không tuân theo nguyên tắc loại trừ. Điều này có nghĩa
là không có giới hạn đối với con số có thể được trao
đổi, và do đó chúng không thể làm phát sinh một lực mạnh.
Tuy nhiên, nếu các hạt mang lực có một khối lượng cao,
sẽ khó sản xuất và trao đổi chúng đối với những khoảng
cách lớn. Như vậy các lực mà chúng mang sẽ chỉ có một
tầm ngắn. Mặt khác, nếu các hạt mang lực không có khối
lượng của chính nó, các lực sẽ có tầm xa. Các hạt mang
lực được trao đổi giữa những hạt vật chất được coi
như những hạt ảo bởi vì, không như những hạt "thật" chúng
không thể được phát hiện trực tiếp bởi các dụng cụ
phát hiện hạt. Tuy nhiên, chúng ta biết chúng hiện hữu, chúng
quả thật có một hiệu ứng có thể đo được: chúng làm
phát sinh những lực giữa những hạt vật chất. Các hạt
có số quay 0, 1, hoặc 2 cũng hiện hữu trong vài trường hợp
như những hạt thật, khi chúng có thể được phát hiện trực
tiếp. Khi đó đối với chúng ta chúng có vẻ như là cái mà
một vật lý gia cổ điển sẽ gọi là sóng, như sóng ánh
sáng hoặc sóng trọng lực. Đôi khi chúng có thể được phát
ra khi các hạt vật chất tương tác với nhau bằng cách trao
đổi các hạt ảo mang lực. (Chẳng hạn, lực đẩy về điện
giữa hai điện tử là do sự trao đổi giữa hai quang tử ảo,
nó không bao giờ có thể được phát hiện trực tiếp; nhưng
nếu một điện tử di chuyển ngang một điện tử khác, những
quang tử thật có thể được phát ra, mà chúng ta phát hiện
như những sóng ánh sáng.)
Những
hạt mang lực có thể được xếp vào bốn loại tùy theo sức
mạnh của lực mà chúng mang và những hạt mà chúng tương
tác. Cũng nên nhấn mạnh rằng sự phân chia thành bốn loại
chỉ có tính cách nhân tạo, thuận tiện để xây dựng các
lý thuyết từng phần, nhưng nó có thể không phù hợp với
bất cứ lý thuyết nào đi xa hơn. Cuối cùng, hầu hết các
vật lý gia hy vọng tìm ra một lý thuyết thống nhất sẽ
giải thích cả bốn loại lực như những hình thức khác nhau
của một lực duy nhất. Thật vậy, nhiều người sẽ nói
đây là mục tiêu chính của vật lý học ngày nay. Mới đây,
người ta đã thành công trong những cố gắng để thống nhất
ba trong số bốn loại lực -- và tôi sẽ mô tả những cố
gắng đó trong chương này. Vấn đề thống nhất loại lực
còn lại là trọng lực chúng ta sẽ để lại sau.
Loại
thứ nhất là trọng lực. Loại lực này có tính cách phổ
quát, nghĩa là, mọi hạt đều chịu ảnh hưởng của lực
hấp dẫn, tùy theo khối lượng hay năng lượng của nó. Trọng
lực là lực yếu nhất trong bốn loại lực; nó yếu đến
độ chúng ta sẽ không nhận thấy nó nếu không nhờ hai tính
chất đặc biệt mà nó có: nó có thể tác động trên những
khoảng cách lớn, và nó luôn luôn thu hút. Điều này có nghĩa
là những lực hấp dẫn rất yếu giữa những hạt riêng rẽ
ở hai vật thể lớn, như trái đất và mặt trời, có thể
cộng tất cả lại để sinh ra một lực đáng kể. Ba lực
kia thì hoặc là có tầm ngắn, hoặc đôi khi hút đôi khi đẩy,
do đó chúng có khuynh hướng triệt tiêu lẫn nhau. Trong cách
nhìn của cơ học lượng tử đối với trọng trường, lực
giữa hai hạt vật chất được hình dung như mang bởi một
hạt có số quay 2 được gọi là graviton. Hạt này không có
khối lượng riêng của nó, do đó lực nó mang có tầm xa.
Trọng lực giữa mặt trời và trái đất được cho là gây
ra sự trao đổi các graviton giữa những hạt làm thành hai
vật thể này. Mặc dù những hạt được trao đổi là ảo,
chúng chắc chắn có sinh ra một hiệu ứng có thể đo được
-- chúng làm trái đất quay chung quanh mặt trời! Những graviton
thật làm thành cái mà các vật lý gia cổ điển sẽ gọi
là sóng trọng lực, chúng rất yếu -- và do đó khó được
phát hiện đến độ chúng chưa bao giờ được quan sát.
Loại
kế tiếp là lực điện từ, tương tác với những hạt mang
điện tích như điện tử và quark, nhưng không tương tác với
những hạt không mang điện như các graviton. Nó mạnh hơn nhiều
so với trọng lực: lực điện từ giữa hai điện tử lớn
hơn vào khoảng một triệu triệu triệu triệu triệu triệu
triệu (số 1 với bốn mươi hai số 0 phía sau) lần so với
trọng lực. Tuy nhiên, có hai loại điện tích, dương và âm.
Lực giữa hai điện tích dương thì đẩy nhau, cũng như lực
giữa hai điện tích âm, nhưng lực là một lực hút giữa
một điện tích dương và một điện tích âm. Một vật thể
lớn, như trái đất hoặc mặt trời, chứa những con số gần
bằng nhau các điện tích dương và điện tích âm. Do đó các
lực hút và đẩy giữa những hạt riêng biệt gần như triệt
tiêu lẫn nhau, và có rất ít lực điện từ thuần. Tuy nhiên,
trên những tầm mức nhỏ của các nguyên tử và các phân
tử, các lực điện từ vượt trội lên. Sự hấp dẫn điện
từ giữa các điện tử mang điện tích âm và các proton ở
trong nhân mang điện tích dương khiến các điện tử quay chung
quanh nhân của nguyên tử, giống như sự hấp dẫn của trọng
lực khiến trái đất quay chung quanh mặt trời. Sự hấp dẫn
về điện từ được hình dung như gây ra bởi sự trao đổi
với con số lớn các hạt ảo không có khối lượng có số
quay 1 gọi là các quang tử (photon). Một lần nữa, các quang
tử được trao đổi là những hạt ảo. Tuy nhiên, khi một
điện tử thay đổi từ một quỹ đạo cho phép tới một
quỹ đạo khác gần với nhân hơn, năng lượng được phóng
thích và một quang tử thật được phát ra -- có thể được
quan sát như ánh sáng mà mắt người nhìn thấy được, nếu
nó có độ dài sóng thích hợp, hoặc bởi một dụng cụ phát
hiện quang tử như phim chụp ảnh. Cũng vậy, nếu một quang
tử thật va chạm với một nguyên tử, nó có thể đẩy một
điện tử từ một quỹ đạo gần nhân tới một quỹ đạo
xa hơn. Hiện tượng này tiêu thụ hết năng lượng của quang
tử, do đó nó bị hấp thụ.
Loại
thứ ba được gọi là "lực hạt nhân yếu," chịu trách nhiệm
về sự phát xạ và tác động lên mọi hạt vật chất có
số quay 1/2, nhưng không tác động lên các hạt có số quay
0, 1, hoặc 2, như các quang tử và graviton. Lực hạt nhân yếu
đã không được biết rõ cho tới năm 1967, khi Abdus Salam tại
trường Imperial College, Luân Đôn, và Steven Weinberg tại Harvard
đều đưa ra các lý thuyết kết hợp sự tương tác này với
lực điện từ, giống như Maxwell đã kết hợp điện và từ
khoảng một trăm năm trước. Họ cho rằng cộng thêm với
quang tử, có ba hạt có số quay 1 khác, được biết một cách
tập thể như là các hạt boson (pha sắc tử), mang lực yếu.
Những hạt này được gọi là W+ (đọc là W cộng), W- (đọc
là W trừ), và Z? (đọc là W không), và mỗi boson có một khối
lượng khoảng 100 GeV (GeV viết tắt của giga electron volt, hay
một ngàn triệu electron volt). Thuyết Weinberg-Salam chứng tỏ
một đặc tính được biết như là sự phá vỡ cân đối
tức thì. Điều này có nghĩa là những gì có vẻ như một
số những hạt hoàn toàn khác nhau ở năng lượng thấp thực
ra tất cả đều thuộc về một loại hạt, chỉ là ở những
trạng thái khác nhau. Ở năng lượng cao tất cả những hạt
này tác động tương tự nhau. Hiệu quả hơi giống như trái
banh ru-lét trên một bàn quay ru-lét. Ở các năng lượng cao
(khi bàn quay quay nhanh) trái banh xử sự chính yếu chỉ theo
một cách -- nó quay tròn, quay tròn. Nhưng khi bàn quay chậm
lại, năng lượng của trái banh giảm, và cuối cùng trái banh
rơi vào một trong 37 lỗ trên bàn quay. Nói cách khác, ở các
năng lượng thấp có 37 tình huống khác nhau trong đó trái
banh có thể có. Nếu, vì lý do nào đó, chúng ta chỉ có thể
quan sát trái banh ở các năng lượng thấp, khi đó chúng ta
sẽ nghĩ rằng có 37 loại banh khác nhau!
Trong
lý thuyết Weinberg-Salam, ở những năng lượng lớn hơn 100
GeV, ba hạt mới và quang tử sẽ phản ứng một cách tương
tự. Nhưng ở những năng lượng hạt thấp hơn xảy ra trong
hầu hết các tình huống bình thường, sự đối xứng này
giữa các hạt sẽ bị phá vỡ, W+, W-, và Z? sẽ nhận được
những khối lượng lớn, khiến những lực mà chúng mang có
một tầm rất ngắn. Vào thời Salam và Weinberg đưa ra lý thuyết
của họ, ít có ai tin họ, và những máy gia tốc hạt đã
không đủ mạnh để đạt tới những năng lượng tới 100
GeV cần thiết để sinh ra những hạt thật là W+, W-, hoặc
Z?. Tuy nhiên, trong khoảng mười năm kế tiếp, những tiên
đoán khác của lý thuyết ở các năng lượng thấp hơn đã
phù hợp với thực nghiệm đến độ trong năm 1979, Salam và
Weinberg đã được tặng giải Nobel vật lý, cùng với Sheldon
Glashow, cũng ở Harvard, người đã đề xuất những lý thuyết
thống nhất tương tự về các lực điện từ và hạt nhân
yếu. Ủy ban Nobel đã tránh được sự bối rối là đã phạm
sai lầm nhờ sự khám phá trong năm 1983 tại Trung Tâm Nghiên
Cứu Hạt Nhân Âu Châu (CERN, Conseil Européen pour la Recherche
Nucléaire) về 3 đồng bạn khổng lồ của quang tử, với những
khối lượng và những đặc tính khác được tiên đoán đúng.
Carlo Rubbia, người cầm đầu toán vài trăm vật lý gia thực
hiện vụ khám phá, đã nhận được giải Nobel năm 1984, cùng
với Simon van der Meer, kỹ sư tại CERN người đã phát triển
hệ thống chứa phản vật chất đã được sử dụng. (Thật
khó mà ghi được một thành tích trong ngành vật lý thực
nghiệm ngày nay trừ phi bạn đã thuộc những người đứng
hàng đầu!)
Loại
thứ tư là "lực hạt nhân mạnh," giữ các quark lại với
nhau trong proton (chất tử) và trung hòa tử, và giữ các proton
và trung hòa tử với nhau trong nhân của một nguyên tử. Người
ta tin rằng lực này được mang bởi một hạt có số quay
1 khác, gọi là gluon, chỉ tương tác với chính nó và với
các quark. Lực hạt nhân mạnh có một đặc tính kỳ lạ gọi
là giam giữ: nó luôn luôn kết hợp các hạt với nhau thành
những tổ hợp không có màu. Người ta không thể có một
quark duy nhất đứng riêng rẽ bởi vì nó sẽ có một màu
(đỏ, xanh lá cây, hoặc xanh dương). Thay vào đó, một quark
màu đỏ phải kết hợp với một quark màu xanh lá cây và
một quark màu xanh dương bởi một "sợi dây" các gluon (đỏ
+ xanh lá cây + xanh dương = trắng). Một bộ ba như vậy hợp
thành một proton hoặc một trung hòa tử. Một khả dĩ khác
là một cặp gồm có một quark và một phản quark (đỏ + phản
đỏ, hoặc xanh lá cây + phản xanh lá cây, hoặc xanh dương
+ phản xanh dương = trắng). Những tổ hợp như vậy làm thành
những hạt được biết như là những meson (giới tử), là
những hạt không bền bởi vì quark và phản quark có thể triệt
tiêu lẫn nhau, tạo ra những điện tử và những hạt khác.
Tương tự, sự giam hãm ngăn cản người ta có một gluon duy
nhất đứng riêng rẽ, bởi vì các gluon cũng có màu. Thay vào
đó, người ta có thể có một tập hợp những gluon có các
màu cộng lại thành màu trắng. Một tập hợp như vậy từ
một hạt không bền gọi là một glueball (trái banh keo).
Sự
kiện rằng sự giam hãm ngăn cản người ta quan sát một quark
hoặc gluon riêng rẽ có vẻ khiến toàn thể ý niệm về quark
và gluon như những hạt phần nào có tính cách siêu hình. Tuy
nhiên, có một tính chất khác của lực hạt nhân mạnh, được
gọi là tự do tiệm cận, làm cho ý niệm về các quark và
gluon được xác định rõ rệt. Ở những năng lượng bình
thường, lực hạt nhân mạnh quả thật mạnh, và nó kết
hợp các quark với nhau thật chặt. Tuy nhiên, những thí nghiệm
với những máy gia tốc hạt lớn cho thấy rằng ở những
năng lượng cao lực mạnh trở nên yếu hơn nhiều, và các
quark và gluon phản ứng hầu như giống các hạt tự do. Hình
5.2 cho thấy một bức ảnh về một vụ va chạm giữa một
proton năng lượng cao và phản proton. Vài quark hầu như tự
do được sinh ra và phát sinh những "tia" đường đi như được
thấy trong hình.
Thành
công của sự thống nhất các lực điện từ và lực hạt
nhân yếu đã đưa tới một số các cố gắng để phối hợp
hai lực này với lực hạt nhân mạnh thành cái được gọi
là một lý thuyết thống nhất lớn (grand unified theory, hay
GUT). Cái tên này hơi phóng đại: các lý thuyết rút từ đó
ra không phải đều lớn như thế, chúng cũng không phải hoàn
toàn thống nhất, vì chúng không bao gồm trọng lực. Chúng
cũng không phải thực sự hoàn toàn, bởi vì chúng chứa một
số các thông số có các giá trị không thể tiên đoán được
từ lý thuyết mà phải được lựa chọn để thích hợp với
thực nghiệm. Tuy nhiên, chúng có thể là một bước tiến
tới một lý thuyết thống nhất đầy đủ, hoàn toàn. Ý niệm
căn bản của GUT như sau: như được đề cập ở trên, lực
hạt nhân mạnh trở nên yếu hơn ở các năng lượng cao. Mặt
khác, các lực điện từ và yếu không phải không tiệm cận,
trở nên mạnh hơn ở các năng lượng cao. Ở một năng lượng
thật cao nào đó, được gọi là năng lượng thống nhất
lớn, ba lực này sẽ có cùng sức mạnh và do đó chỉ là
những phương diện khác nhau của một lực duy nhất. Thuyết
thống nhất lớn cũng tiên đoán rằng ở mức năng lượng
này, những hạt vật chất có số quay 1/2 khác nhau, như các
quark và các điện tử, cũng sẽ đều giống nhau về căn bản,
như vậy là đạt được một sự thống nhất khác.
Trị
giá của năng lượng thống nhất lớn không được biết tới
nhiều, nhưng nó có thể phải ít nhất một ngàn triệu triệu
GeV. Thế hệ hiện nay của các máy gia tốc hạt có thể làm
va chạm các hạt ở các mức năng lượng khoảng một trăm
GeV, và các máy đang được dự trù sẽ nâng tới vài ngàn
GeV. Nhưng một máy đủ mạnh để gia tốc các hạt tới năng
lượng thống nhất lớn sẽ phải lớn bằng Thái Dương Hệ
-- và khó có thể được tài trợ trong không khí kinh tế hiện
nay. Do đó không thể nào thí nghiệm các lý thuyết thống
nhất lớn trực tiếp trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, cũng
như trong trường hợp lý thuyết thống nhất điện từ và
yếu, có những hậu quả ở mức năng lượng thấp của lý
thuyết có thể thí nghiệm được.
Điều
đáng lưu ý nhất của những hậu quả này là sự tiên đoán
rằng các proton, làm thành phần lớn khối lượng của vật
chất bình thường, có thể tức thì phân rã thành những hạt
nhẹ hơn như các phản điện tử. Lý do khiến điều này có
thể xảy ra là ở năng lượng thống nhất lớn không có sự
khác biệt chính yếu giữa một quark và một phản điện tử.
Ba quark bên trong một proton bình thường không có đủ năng
lượng để biến thành các phản điện tử, nhưng trong trường
hợp rất hiếm hoi một trong số chúng có thể nhận được
đủ năng lượng để thực hiện việc chuyển tiếp bởi vì
nguyên tắc bất định có nghĩa rằng năng lượng của các
quark bên trong proton không thể hoàn toàn cố định. Proton khi
đó sẽ suy đồi. Xác xuất để một quark nhận thêm đủ
năng lượng thấp đến độ người ta có thể phải chờ đợi
ít nhất một triệu triệu triệu triệu triệu năm (số 1 theo
sau bởi ba mươi số không). Thời gian này dài hơn nhiều so
với thời gian từ vụ nổ lớn, chỉ vào khoảng 10 ngàn triệu
năm (số 1 theo sau bởi mười số không). Do đó người ta có
thể nghĩ rằng sự khả dĩ xảy ra sự phân rã proton tức
thì không thể được thử bằng thực nghiệm. Tuy nhiên, người
ta có thể gia tăng các cơ may phát hiện một sự phân rã bằng
cách quan sát một số lượng lớn vật chất chứa một con
số rất lớn các proton. (Nếu, chẳng hạn, người ta quan sát
một số proton bằng 1 theo sau bởi 31 số không trong thời gian
một năm, người ta sẽ hy vọng, theo thuyết thống nhất lớn
đơn giản nhất, sẽ quan sát được hơn một proton phân rã.)
Một
số những thí nghiệm như vậy đã được thực hiện, nhưng
không có thí nghiệm nào cho bằng chứng rõ rệt là proton hoặc
trung hòa tử phân rã. Một thí nghiệm đã sử dụng tám ngàn
tấn nước và được thực hiện ở mỏ muối Morton ở Ohio
(để tránh những sự kiện khác phát sinh, gây ra bởi những
tia vũ trụ, có thể bị lầm với sự phân rã proton). Bởi
vì không có sự phân rã proton tức thì nào đã được quan
sát trong thí nghiệm, người ta có thể tính toán rằng đời
sống có thể của proton phải lớn hơn mười triệu triệu
triệu triệu triệu năm (số 1 với ba mươi số không). Thời
gian này dài hơn đời sống tiên đoán bởi lý thuyết thống
nhất lớn đơn giản nhất, nhưng có những lý thuyết phức
tạp hơn trong đó đời sống tiên đoán dài hơn. Tuy vậy những
thí nghiệm tinh vi hơn liên quan tới những lượng vật chất
lớn lao hơn sẽ cần tới để thử nghiệm chúng.
Mặc
dù rất khó quan sát sự phân rã proton tức khắc, có thể
rằng chính sự hiện hữu của chúng ta là một hậu quả của
tiến trình đảo ngược, sự sản xuất các proton, hay giản
dị hơn, các quark, từ một tình trạng sơ khởi trong đó không
có nhiều quark hơn phản quark, là phương cách tự nhiên nhất
để tưởng tượng vũ trụ ra đời. Vật chất trên trái đất
được cấu tạo chính yếu bởi các proton và trung hòa tử,
chính những hạt này lại được cấu tạo bởi các quark.
Không có các phản proton hoặc phản trung hòa tử, được làm
thành từ các phản quark, trừ một số ít mà các vật lý
gia sản xuất trong những máy gia tốc hạt cỡ lớn. Chúng
ta có bằng chứng từ các tia vũ trụ rằng điều đó cũng
đúng đối với mọi vật chất trong thiên hà của chúng ta:
không có các phản proton hoặc phản trung hòa tử ngoài một
số nhỏ được sản xuất như những cặp hạt/phản hạt
trong những va chạm ở năng lượng cao. Nếu có những vùng
rộng lớn gồm phản vật chất trong thiên hà của chúng ta,
chúng ta sẽ trông đợi quan sát được những số lượng lớn
sự phát xạ từ những biên giới giữa những vùng vật chất
và phản vật chất, nơi nhiều hạt sẽ va chạm với những
phản hạt của chúng, triệt tiêu lẫn nhau và phát ra những
bức xạ năng lượng cao.
Chúng
ta không có bằng chứng trực tiếp là liệu vật chất ở
những thiên hà khác có được cấu tạo bởi các proton và
trung hòa tử hoặc phản proton và phản trung hòa tử hay không,
nhưng nó phải là loại này hay loại kia: không thể có một
hỗn hợp trong một thiên hà duy nhất bởi vì trong trường
hợp đó chúng ta sẽ lại quan sát được nhiều sự phát xạ
và diệt trừ lẫn nhau. Do đó chúng ta tin rằng mọi thiên
hà bao gồm những quark thay vì phản quark; có vẻ không thể
có vài thiên hà bao gồm vật chất và một ít phản vật chất.
Vậy
thì tại sao có nhiều quark như vậy so với phản quark? Tại
sao mỗi loại không có những con số đồng đều? Chắc chắn
may mắn cho chúng ta là những con số không bằng nhau bởi vì,
nếu chúng giống nhau, gần như tất cả các quark và phản
quark sẽ triệt tiêu lẫn nhau trong vũ trụ thời đầu và để
lại một vũ trụ đầy những bức xạ mà khó có vật chất
nào. Khi đó sẽ không có các thiên hà, các ngôi sao, hoặc
những hành tinh trên đó đời sống con người có thể phát
triển. May mắn thay, các lý thuyết thống nhất lớn có thể
cung cấp một sự giải thích về chuyện tại sao vũ trụ hiện
nay phải chứa nhiều quark hơn là phản quark, cho dù nó đã
khởi đầu với những con số bằng nhau. Như chúng ta đã thấy,
các thuyết thống nhất lớn cho phép các quark biến thành các
phản điện tử ở năng lượng cao. Chúng cũng cho phép những
tiến trình đảo ngược, phản quark biến thành điện tử,
và các điện tử và phản điện tử biến thành phản quark
và quark. Có một lúc ngay đúng lúc khởi thủy vũ trụ khi
nhiệt độ nóng đến độ các năng lượng hạt sẽ đủ cao
để những biến đổi này diễn ra. Nhưng tại sao lại đưa
tới nhiều quark hơn là phản quark? Lý do là những định luật
vật lý không hoàn toàn giống nhau đối với các hạt và phản
hạt.
Cho
tới năm 1956 người ta tin rằng các định luật vật lý tuân
theo mỗi trong ba sự đối xứng riêng biệt gọi là C, P, và
T. Sự đối xứng C có nghĩa là các định luật giống nhau
đối với các hạt và phản hạt. Đối xứng P có nghĩa các
định luật giống nhau đối với bất cứ tình trạng nào
mà hình ảnh phản chiếu của nó (hình ảnh phản chiếu của
một hạt quay theo chiều phải là một hình ảnh quay theo chiều
trái). Đối xứng T có nghĩa là nếu bạn đảo ngược chiều
chuyển động của tất cả các hạt và phản hạt, hệ thống
sẽ trở lại tình trạng lúc đầu, nói cách khác, các định
luật giống nhau trong các chiều đi tới và đi lui của thời
gian.
Năm
1956 hai vật lý gia người Mỹ, Lý Chánh Đạo (Lee Tsung-Dao)
và Dương Chấn Ninh (Yang Chen Ning), cho rằng lực yếu thực
ra không tuân theo đối xứng P. Nói cách khác, lực yếu sẽ
làm cho vũ trụ phát triển theo một hướng khác với chiều
hướng trong đó hình ảnh phản chiếu của vũ trụ sẽ phát
triển. Cũng trong năm đó, một đồng nghiệp, Chien-Shiung Wu,
đã chứng tỏ sự tiên đoán của họ là đúng. Bà đã thực
hiện điều này bằng cách xếp hàng các nhân của các nguyên
tử phóng xạ trong một từ trường, để chúng tất cả đều
quay theo một hướng, và đã chứng tỏ rằng các điện tử
đã được phát ra theo một chiều này nhiều hơn theo chiều
kia. Năm sau, Lee và Yang đã nhận được giải Nobel nhờ ý
tưởng của họ. Người ta cũng đã thấy rằng lực yếu không
tuân theo đối xứng C. Nghĩa là, nó sẽ làm cho một vũ trụ
gồm những phản hạt cư xử khác so với vũ trụ của chúng
ta. Tuy nhiên, có vẻ như lực yếu quả thật tuân theo đối
xứng tổng hợp CP. Nghĩa là, vũ trụ sẽ phát triển giống
như hình ảnh phản chiếu của nó nếu, thêm vào đó, mọi
hạt đều được bọc bằng những phản hạt của chúng! Tuy
nhiên, trong năm 1964, thêm hai người Mỹ, J. W. Cronin và Val
Fitch, đã khám phá rằng trong sự phân rã một số hạt gọi
là K-meson, ngay cả đối xứng CP cũng không được tuân theo.
Năm 1980 Cronin và Fitch đã nhận được giải Nobel cho công
trình của họ. (Nhiều giải đã được ban thưởng vì chứng
tỏ rằng vũ trụ không phải đơn giản như chúng ta có thể
đã nghĩ!)
Có
một định lý toán học nói rằng bất cứ lý thuyết nào
tuân theo cơ học lượng tử và thuyết tương đối cũng phải
luôn luôn tuân theo sự đối xứng tổng hợp CPT. Nói khác
đi, vũ trụ sẽ phải phản ứng như nhau nếu người ta thay
thế các hạt bằng các phản hạt, dùng hình ảnh phản chiếu,
và cũng đảo ngược chiều thời gian. Nhưng Cronin và Fitch
đã chứng tỏ rằng nếu người ta thay thế các hạt bằng
các phản hạt và dùng hình ảnh phản chiếu, nhưng không đảo
ngược chiều thời gian, khi đó vũ trụ không phản ứng như
cũ. Các định luật vật lý, do đó, phải thay đổi nếu người
ta đảo ngược chiều thời gian -- chúng không tuân theo đối
xứng T.
Đương
nhiên vũ trụ sơ khai không tuân theo đối xứng T: khi thời
gian tiến tới thì vũ trụ bành trướng -- nếu nó chạy ngược
chiều thì vũ trụ sẽ co rút. Và bởi vì có những lực không
tuân theo đối xứng T, ta suy ra rằng khi vũ trụ bành trướng,
những lực này có thể khiến các phản điện tử biến thành
quark nhiều hơn các điện tử biến thành phản-quark. Sau đó,
khi vũ trụ bành trướng và nguội lại, các phản-quark sẽ
triệt tiêu với các quark, nhưng bởi vì sẽ có nhiều quark
hơn phản-quark, sẽ còn một lượng nhỏ các quark dư lại.
Chính các quark này tạo thành vật chất mà chúng ta thấy ngày
nay và từ đó chính chúng ta được tạo thành. Như vậy chính
sự hiện hữu của chúng ta có thể được coi như một sự
xác nhận của các thuyết thống nhất lớn, mặc dù chỉ là
một sự xác nhận về giá trị; những bất trắc là người
ta không thể tiên đoán những con số các quark còn lại sau
khi có sự triệt tiêu, hoặc ngay cả đến việc tiên đoán
liệu sẽ còn lại các quark hay phản-quark. (Tuy nhiên, nếu
đã có một sự thặng dư các phản quark, chúng ta chỉ việc
gọi các phản-quark là quark, và các quark là phản-quark.)
Các
lý thuyết thống nhất lớn không bao gồm lực hấp dẫn. Điều
này không quan trọng lắm, bởi vì trọng lực là một lực
yếu đến độ các ảnh hưởng của nó có thể thường được
bỏ qua khi chúng ta bàn tới những hạt cơ bản hoặc nguyên
tử. Tuy nhiên, sự kiện nó vừa có tầm xa vừa luôn luôn
thu hút có nghĩa rằng các ảnh hưởng của nó cộng cả lại.
Do đó đối với một con số đủ lớn các hạt vật chất,
trọng lực có thể vượt trội hơn mọi lực khác. Đây là
lý do tại sao chính trọng lực là cái quyết định sự tiến
hóa của vũ trụ. Ngay cả đối với những vật cỡ các ngôi
sao, lực hấp dẫn của trọng lực có thể thắng được mọi
lực khác và khiến ngôi sao bị suy sụp. Công trình của tôi
trong thập niên 1970 chú trọng vào các hố đen có thể phát
sinh từ sự suy sụp tinh tú như vậy và các trọng trường
mạnh xung quanh chúng. Chính điều này đã đưa tới những
chỉ dẫn đầu tiên về chuyện các thuyết cơ học lượng
tử và thuyết tương đối có thể ảnh hưởng lẫn nhau như
thế nào -- một cái nhìn sơ qua về sự phác họa của một
thuyết hấp dẫn lượng tử trong tương lai.